1204-world.gif (4030 bytes)

posted: 29.11.04

   ĐINH VĂN VINH

KHỔNG GIÁO CÁCH TÂN CUỐI  ĐỜI  ĐƯỜNG, ĐỜI TỐNG VÀ ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO

   Khổng Giáo cách tân là một tư trào triết học tổng hợp, hình thành vào cuối đời Đường và trong đời Tống, và được duy trì như là một hệ triết học ngự trị cuộc sống tinh thần của Trung Quốc mãi cho tới thế kỷ XX, khi nó bị sụp đổ dưới ảnh hưởng của các tư trào phương Tây du nhập.

A. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA NỘI DUNG CÁCH TÂN:

   l. Bài ngoại và trở về truyền thống văn hóa dân tộc:

   Đặc điểm này phản ánh bối cảnh cuộc chiến đấu dai dẳng và thất bại của dân tộc Hán đối với các bộ tộc phi Hán, từ phía Bắc xâm nhập vào, từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XIII Tây lịch. Nó cũng đánh dấu bước chuyển từ tình trạng thời chiến sang thời xây dựng hòa bình. Trung Hoa vào đầu đời Đường là một đế quốc hùng mạnh, luôn bành trướng và tiến công, do đó mà không sợ hãi gì đối với ảnh hưởng của thế lực bên ngoài. Tràng An, kinh đô Trung Quốc vào đầu đời Đường là một kinh đô có tính chất quốc tế. Người Hán lúc bấy giờ thậm chí còn ưa thích cái mới, cái lạ. Năm 713, khi sứ thần các nước Hồi Giáo đến Tràng An đã từ chối không chịu quỳ lạy trước Hoàng Đế Trung Hoa vì lý do tôn giáo, thì triều đình Trung Quốc cũng chấp nhận không đòi hỏi gì.

   Vào cuối đời Đường, nước Trung Hoa bị suy yếu thì ác cảm đối với nước ngoài gia tăng. Phật Giáo bị công kích như là một tôn giáo ngoại quốc. Điển hình là một biểu văn của Hàn Dũ dâng lên vua, có ý phê bình vua  đã cúng dường xá lợi Phật (một đốt xương tay). Vì  biểu văn ấy, Hàn Dũ phải bị đày biệt xứ. Nhưng chỉ vài thập kỷ sau đó, ác cảm đối với đạo Phật gia tăng đến mức xảy ra cuộc đại khủng bố Phật Giáo năm 841-845.

    2. Phục hồi lý tưởng chính trị đời nhà Chu, nhà Hán:

    Lý tưởng một nhà nước quan liêu tập quyền, dựa vào một lớp thư lại có học, dẫn tới phục hồi chế độ khoa cử để tuyển chọn nhân tài. Chế độ khoa cử này đã giúp đắc lực cho sự phục hồi Khổng Giáo, thành hệ tư tưởng chính thống của chính quyền. Từ năm 630, nhà Đường đã sớm ra lệnh cho xây dựng lại các tôn miếu thờ đức Khổng trong khắp các châu huyện. Đến thế kỷ IX, tầng lớp sỹ phu bắt đầu đả kích các khái niệm phi chính trị của Lão Giáo, và các mặt họ cho là phản xă hội của Phật Giáo.

    Tư trào bài ngoại, bài Phật Giáo vào cuối đời Đường và đời Tống là do hoàn cảnh lịch sử vào thời kỳ này: Trung Quốc bị áp lực rất mạnh của những dân tộc phi Hán ở phương Bắc, cụ thể là của các nước Kim, nước Liêu và nước Tây Hạ. Ở các nước này, Phật Giáo rất thịnh hành. Tư trào Khổng Giáo cách tân, nhằm phục hồi những giá trị của Khổng Giáo đời Lưỡng Hán (Tiền và Hậu Hán), thực chất phản ánh chiến lược tự vệ của người Hán, đối với nguy cơ xâm lăng của các dân tộc phi Hán từ phương Bắc.

   Tuy nhiên, như chúng ta có thể thấy rõ, phái gọi là Khổng Giáo cách tân không thể phục hồi lại như cũ những giá trị Khổng Giáo truyền thống khi mà ở các đời Tùy và Đường, Phật Giáo được xem như quốc giáo, và có ảnh hưởng sâu rộng trong mọi từng lớp nhân dân. Do đó, tư trào Khổng Giáo cách tân tuy bề ngoài là bài xích đạo Phật, nhưng bên trong lại là sự tiếp thu những giá trị tâm linh và đạo đức của Phật Giáo, mà Khổng Giáo vốn thiếu. Có thể nói, mặt hình nhi thượng của Khổng Giáo cách tân chịu ảnh hưởng rất rõ nét của triết lý Phật Giáo. Đó là điều được xác nhận hầu như nhất trí bởi các học giả phương Tây, và cả những học giả Trung Quốc về sau này. Trong bài này, tôi muốn bàn chút ít về ảnh hưởng của triết học Phật Giáo đối với phong trào Khổng Giáo cách tân.

B. SỰ ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO VÀO TƯ TRÀO KHỔNG GIÁO CÁCH TÂN

   Phật Giáo Trung Hoa đã có một lịch sử hơn hai nghìn năm. Sụ đóng góp của nó vào cuộc sống của người Trung Hoa, ngay trong hiện tại, trên các mặt tư duy, ngôn ngữ, văn chương, nghệ thuật và khoa học đều rất đáng ghi nhận. Trước hết, cái mà người Trung Hoa vốn tự hào như là sản phẩm bản địa của họ, là Khổng Giáo cách tân, trên thực tế là một sản phẩm của Phật Giáo, mặc dù trên hình thức, đó là một tư trào của một từng lớp trí thức Trung Hoa, nhằm phục hồi những giá trị truyền thống của Khổng Giáo, và loại trừ mọi giá trị của Phật Giáo như là một tôn giáo ngoại lai, phi Hán. Công việc làm này của phái Tống Nho thực không phải là phủ định mà là vĩnh viễn khẳng định vai trò của Phật Giáo trong đời sống văn hóa và tâm linh của Trung Quốc.

   Đúng là phái Tống Nho đã dùng lại những khái niệm và từ ngữ của Khổng Tử, nhưng lại với nội dung mới, mà nội dung mới đó là của Phật Giáo. Một vài thí dụ: khái niệm nhân là lòng nhân. Trương Tải, một Tống Nho đã giải thích là lòng nhân phải bao trùm mọi vật dưới bầu trời. Một khái niệm như vậy chưa từng có trong Khổng Giáo, nó gần gũi với lòng từ của đạo Phật, một lòng từ không phải chỉ bao trùm loài người, mà tất cả mọi loài kể cả loài động vật. Lục Tượng Sơn, một Nho sĩ cách tân khác, khi giải thích cuốn “Mạnh Tử” và cuốn “Đại Học” đều nhấn mạnh cái tâm, theo một chiều sâu và rộng giống như khái niệm Tâm của Thiền Tông Phật Giáo “Phật tức tâm, tâm tức Phật”. Học trò nổi danh của Lục là Vương Dương Minh (1473-1529) đời nhà Minh cũng tán thành một khái niệm tâm như vậy, đến nỗi cả Lục Tượng Sơn và Vương Dương Minh đã bị nhiều Nho sĩ phê phán là Phật tử trá hình, tương tự như ở Ấn Độ, nhà Ấn Độ Giáo trứ danh San-ka-ra (Thương Yết La) cũng bị phê phán là Phật tử trá hình, đã cải biên lại Ấn Độ Giáo theo tinh thần của Phật Giáo. Phái Nho sĩ cách tân cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của định tâm như là phương pháp tốt nhất để tâm làm chủ tâm, không bị ngoại cảnh chi phối.

   Bạn của Trương Tải là hai anh em Trình Hiệu và Trình Di. Hiệu sinh năm 1032, mất năm  1085. Di sinh năm 1033 mất năm 1107. Cả hai anh em đều có nghiên cứu Phật học. Hiệu giảng vũ trụ chỉ là và Khí. Lý là bản thể của vũ trụ. Khí là bản chất của vạn vật. Khái niệm Lý của Hiệu giống khái niệm Tâm của Duy Thức Tông Phật Giáo. Triết thuyết của Hiệu có tính cách là nhất nguyên duy tâm luận (monistic idealism), kiểu như thuyết Advaita của Ấn Độ Giáo cách tân của San-ka-ra bên Ấn Độ vậy. Vì Hiệu và Di ra đời sau San-ka-ra hơn một thế kỷ cho nên có thể nghi ngờ rằng Hiệu và Di không những chịu ảnh hưởng của đạo Phật mà cả ảnh hưởng của triết thuyết Advaita-Vedanta của San-ka-ra nữa.

   Trình Hiệu nói: "Đạo là tĩnh, nhưng khi mới thốt ra chữ tĩnh thì nó không còn là tĩnh nữa" (đạo tức tĩnh giả, ngôn tĩnh di thố; tái thuyết tĩnh thời, tiện dĩ bất thị tĩnh)". Lại nói: "Khi nói đạo thì không còn là đạo nữa" (Thuyết đạo thị sĩ, tiên dĩ bất thị đạo). Câu nói của Trình Hiệu có hơi hướng câu của Lão Tử: "Đạo khả đạo phi thường đạo" (nghĩa là đạo mà nói ra được thì không phải là đạo thường), đồng thời cũng mang một phần ý tứ của câu nhà Phật "ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt", nghĩa là con đường của ngôn ngữ bị đoạn tuyệt, mọi hành tượng của tâm cũng diệt. Ý nói chân lý tối hậu của đạo Phật không những siêu việt ngôn ngữ, mà cũng siêu việt cả tư duy và tư biện nữa. Đó là vấn đề không thể nghĩ bàn, như người Việt Nam thường nói.

   Trình Hiệu lại nói: "Trong ta, có đủ vạn vật trong thiên nhiên. Vạn vật trong trời đất đều là ta" (Tự gia thị thiên nhiên tự túc vật, thiên địa vạn vật giai thị tự ngã). Phải chăng đó là tư tưởng vạn pháp duy thức của tông Duy Thức Phật Giáo. Trình Hiệu lại nói: "Ngoài vật không có đạo, ở ngoài đạo không có vật. Đạo cũng là khí; khí cũng là đạo" (Vật ngoại vô đạo, đạo ngoại vô vật. Đạo diệc khí, khí diệc đạo). Theo Trịnh Hiệu thì đạo tức là Lý, là bản thể của vũ trụ còn cái gọi là khí tức là vạn vật, là bản chất của vạn vật. Tống Nho tuy nói vũ trụ là lý và khí, nhưng khí cũng bắt nguồn từ lý. Đó chính là tư tưởng nhất nguyên của đạo Phật, và cũng là tư tưởng nhất nguyên của Ấn Độ Giáo cách tân, mà người chủ xướng là San-ka-ra.

   Em của Trình Hiệu là Trình Di cũng là một tên tuổi trong hàng ngũ Khổng Giáo cách tân. Ông từng nghiên  cứu Phật học và Kinh Lăng Nghiêm. Ông thú nhận: 'Điều hay nhất mà tôi học được trong đạo Phật là giữ tâm bất động". Nhưng tâm bất động ông gọi là kính, mà không gọi là tĩnh. Ông nói: "Tâm có chủ thì tà không xâm nhập. Tâm không có chủ thì ngoại vật xâm chiếm" (Tâm hữu chủ tắc tà bất nhập, vô chủ tắc ngoại vật lai đoạt). Lại nói "Tâm làm chủ tức là kính" (Vi kỳ chủ giả, kính thị giả). Còn vì sao ông lại dùng Kinh mà không dùng từ Tĩnh, thì ông chỉ nói "Dùng từ Tĩnh tức là theo đạo Phật, vì vậy không nên dùng từ Tĩnh mà dùng từ Kính" (Tài thuyết tĩnh tự tiên nhập Phật thị, bất nghi dụng tĩnh tự chỉ dụng kính tự). Tuy rằng Trình Di có học Phật, dùng các khái niệm của Phật Giáo, thế nhưng Trình Di lại khuyên học trò không nên nghiên cứu Phật Giáo. Di nói:

  "Các ông một cách đơn giản chỉ cần gạt bỏ đạo Phật ra một bên, đừng có thảo luận về nó. Các ông đừng nói: Chúng ta phải nghiên cứu xem đạo Phật như thế nào? Bởi vì khi các ông nghiên cứu xem đạo Phật như thế nào thì các ông sẽ trở thành Phật tử". Lại nói: "Nếu các ông nghiên cứu các chủ thuyết Phật Giáo một cách đầy đủ, rút tỉa cái hay loại bỏ cái không hay, thì trước khi các ông làm xong công việc, các ông nhất định sẽ trở thành Phật tử rồi. Cần phán xét họ theo hành động thực tiễn của họ. Nội dung giáo dục thực tiễn của họ là như vậy, còn tư tưởng của họ thì có giá trị gì?"

   Trình Hiệu và Trình Di loại bỏ đạo Phật vì cho rằng đạo Phật không phù hợp với lối sống của người Trung Hoa, và họ muốn bảo vệ những giá trị của lối sống đó. Họ có hai phê phán chủ yếu đối với đạo Phật. Thứ nhất, đạo Phật phủ định sự sống, còn lối sống của người Trung Hoa là khẳng định sự sống và cuộc sống hiện tại. Trình Di nói:

   "Người là một động vật sống. Còn đạo Phật thì không nói sự sống mà nói sự chết. Mọi công việc của người đều có thể thấy được. Còn người Phật tử không nói cái biểu hiện ra, mà lại nói cái dấu kín. Sau khi người chết, thì người chết gọi là quỷ. Phật tử không nói người mà chỉ nói quỷ. Cái mà con người không né tránh được là cuộc sống bình thường, người Phật tử không nói cuộc sống bình thường mà nói cuộc sống huyền bí kỳ lạ. Nguyên tắc là nhìn cuộc sống bình thường như nó tồn tại. Nhưng nguyên tắc đó, người Phật tử không nói mà nói ảo tưởng. Điều chúng ta phải quan tâm chủ yếu là cuộc sống sau khi con người sinh ra, và trước khi con người chết. Người Phật tử lại không nói cuộc sống hiện tại, mà chỉ nói cuộc sống quá khứ trước khi con người sinh ra, và cuộc sống sau khi con người đã chết. Thấy, nghe, tư duy và tranh luận là những chuyện tất nhiên có thực. Nhưng người Phật tử lại không xem chúng là có thực mà nói về những cái mà ta không nghe được, mắt không thấy được, tư duy và tranh luận không nắm bắt được"(1).

   Những lời phê phán trên của Trình Di đối với đạo Phật chứng tỏ ông có học Phật, nhưng kiến thức về đạo Phật của ông là toàn diện, không sâu. Tất nhiên, đạo Phật không nhìn cuộc sống con người bó hẹp giữa cái nôi và cái mồ, giữa lúc sinh ra họ tới khi con người chết mà thôi. Đạo Phật nhìn cuộc sống như một chuỗi cuộc sống liên tục, quá khứ, hiện tại và vị lai. Và chết đối với đạo Phật là bắt đầu một cuộc sống mới. Đạo Phật còn nói tới cuộc sống trung hữu, sau khi chết và trước khi tái sinh. Đạo Phật nói tới nhiều cõi sống, chứ không riêng một cõi người: cõi sống của loài Trời. Sách Trung Quốc gọi là cõi sống của chư Thiên; ở đây cuộc sống sung sướng hơn, thoải mái hơn, loài Trời sống thọ hơn con người rất nhiều. Một ngày đêm ở những cõi sống đó có thể bằng 100, thậm chí bằng hàng nghìn năm ở cõi người. Lại có những cõi sống cực khổ hơn cõi người như cõi sống của súc sanh, của quỷ đói, của địa ngục…

   Nói tóm lại, quan niệm về sống và cõi sống của đạo Phật rộng lớn hơn nhiều so với khái niệm sống của Khổng Giáo. Đây là mới nói chuyện sống và chết. Cái nhìn hạn hẹp của Khổng Giáo, dù là Khổng Giáo cách tân, không thể nào đem ví với khái niệm sống rộng rãi bao la của đạo Phật được. Ngoài ra còn có mục đích, ý nghĩa của sự sống, bí mật của cuộc sống? Khổng Giáo, kể cả Khổng Giáo cách tân, với cái nhìn hạn hẹn của mình rất thiếu cái nhìn chiều sâu và chiều cao của đạo Phật.

   Khổng Giáo đề cao nhận thức của cảm quan thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ, mó v.v. . . , và nhiều lắm cũng chỉ nói tới ý thức, kèm theo nhận thức của cảm quan, kiểu như Khổng Tử nói: tâm bất tại yên, thị nhi bất kiến..., nghĩa là tâm mà không có đấy thì ngó mà không thấy... Nhưng ngoài nhận thức của cảm quan và của ý thức, đạo Phật còn nói tới tiềm thức, vô thức nghĩa là những lớp tâm thức sâu hơn, rộng hơn nhận thức của cảm quan và của ý thức tất nhiều. Đạo Phật nói "Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn". Nghĩa là thân người khó được, Phật pháp hiếm được nghe. Sao lại nói đạo Phật không coi trọng cuộc sống của con người. Đạo Phật phản đối lối sống buông thả, quay cuồng theo dục vọng... mà dục vọng, theo đạo Phật thì không bao giờ có thể thỏa mãn. Đạo Phật cũng phê phán cuộc sống chỉ hối tiếc quá khứ, hay là cuộc sống chỉ mơ hão về tương lai. Đạo Phật trái lại khuyên khích một cuộc sống hết mình, đầy đủ, tích cực trong hiện tại, dù là trong những công việc bình thường nhất như là ăn mặc, đi lại, lấy nước, nhặt rau, v.v...

   Lời phê phán thứ hai của Tống Nho đối với đạo Phật là đạo Phật tuyên truyền và đề cao một lý tưởng vị kỷ. Lời phê phán này chứng tỏ không hiểu gì về bản chất của đạo Phật là vô ngã. Vô ngă là không có cái Ta, sao lại có thể phê phán đạo Phật là vị ngã hay vị kỷ được. Ngay đối với Phật Giáo Nam Tông, cũng gọi là Phật Giáo Tiểu Thừa, vốn thường bị phê phán là người tu hành chỉ cầu giải thoát và giác ngộ cho bản thân, không có được tâm rộng lớn như người tu hành theo Phật Giáo Đại Thừa, phát nguyện lớn cầu giải thoát cho tất cả chúng sanh, nhưng thế nào là giải thoát theo Phật Giáo Tiểu Thừa? Đó là giải thoát khỏi cái Ta vị kỷ, cái Ta hạn hẹp. Vì vậy, nói Phật Giáo là vị kỷ là không đúng, dù là Phật Giáo Tiểu Thừa cũng vậy. Trình Di không phủ định, thậm chí còn khẳng định tỉnh sâu sắc của giáo lý Phật Giáo. Nhưng ông lập luận: "Trong thế giới này, không thể có sinh mà không có tử, không thể có vui mà không có buồn. Nhưng người Phật tử đi đâu cũng nói là họ muốn đảo lộn chân lý đó họ muốn loại bỏ cả sinh và tử, triệt tiêu cả vui và buồn. Nếu phân tích cho cùng, đó là tư tưởng vị kỷ".

   Như vậy, theo Trịnh Di siêu việt cả sinh và tử, là vị kỷ, mà chấp nhận sinh và tử mới là không vị kỷ? siêu việt lên cả vui và buồn là vị kỷ, chấp nhận có vui và buồn mới là không vị kỷ? Lập luận như vậy tức là không hiểu gì về lý tưởng cao cả của giải thoát, vốn là đặc sắc của đạo Phật, đạo của các bậc Thánh. Sao lại có thể buộc tội Phật Giáo là vị kỷ, khi đức hạnh cao nhất của người Phật là vô ngã, nghĩa là không vị kỷ? Theo đạo Phật, làm tất cả mọi công quả, mọi việc lành mà hoàn toàn không cầu mong gì cho bản thân thì đó là hành đạo chân chính nhất của người Phật tử. Đạo Phật đồng nhất vô vi với vô ngã trong nghĩa đó. Vô vi nhi vô bất tri. Vô vi là vô ngã, không vì cá nhân mình. Làm tất cả mọi sự việc ở đời, không gì không làm nhưng không vì bản thân, không cầu gì cho mình đó tức là vô vi. Ngoài ra, lý tưởng Bồ Tát của Phật Giáo Đại Thừa, thể hiện trong bốn hạnh nguyện lớn, có tính vị tha triệt để (như câu: chúng sanh vô biên thệ nguyện độ. Nghĩa là phát nguyện độ thoát cho tất cả chúng sanh cùng được giác ngộ), một lý tưởng như vậy không thể gọi là vị kỷ hay ích kỷ được.

   Bất quá là khái niệm về cái Ta của Khổng Giáo có tính hạn hẹp hơn, so với cái Ta của đạo Phật. Cái Ta của Khổng Giáo là cái ta đối chiếu với cha mẹ, gia đình, thầy giáo, bộ máy chính quyền... Làm hết bổn phận mình đối với những mối quan hệ xă hội và gia đình tức là không vị kỷ, theo quan điểm của Khổng Giáo. Lý tưởng xuất gia của đạo Phật, gián tiếp có nghĩa là từ bỏ mọi bổn phận đối với xã hội và gia dình, cho nên bị Khổng Giáo phê phán là vị kỷ. Nhưng tăng sỹ Phật Giáo khi cắt đứt những mối liên hệ gia đình và xã hội đó là nhằm một mục đích cao cả hơn, tức là thoát khỏi mọi ràng buộc gia đình và xã hội vì lý tưởng cao cả hơn là độ thoát cho muôn loài. Ngược lại, Phật Giáo lại cho rằng làm bổn phận với cha mẹ, gia đình, thầy giáo, vua chúa thực ra, cũng gián tiếp là hành động vị kỷ, bởi đó là hành động phục vụ cha mẹ của ta, gia của ta, thầy giáo của ta, vua chúa của ta... mà còn cái Ta là còn vị kỷ, còn chấp ngã.

   Trong truyện thơ "Nam Hải Quan Âm", Thiền Sư Chân Nguyên là tác giả, đă khéo vận dụng khái niệm hiếu nhân của Khổng Giáo, theo nghĩa rộng hơn của Phật Giáo:

"Chân Như đạo Phật rất mầu,

Tâm trung chữ hiếu, niệm đầu chữ nhân.

Hiếu là độ được song thân,

Nhân là cứu vớt trầm luân muôn loài".

   Hiếu không phải chỉ là phụng dưỡng cha mẹ, mà còn là độ thoát cha mẹ ra khỏi con đường tội lỗi, và sinh tử luân hồi. Nhân không phải chỉ là thương người, đối đãi tốt với mọi người mà còn là cứu vớt tất cả mọi loài trong đó có loài người. Nói chung lại, giáo lý đạo Phật có nhiều mặt siêu việt hơn những khái niệm lô gíc và đạo đức bình thường của Khổng Giáo. Có lẽ chính vì vậy mà Trịnh Di khuyến khích học trò mình không nên nghiên cứu đào sâu đạo Phật bởi vì nếu nghiên cứu sâu vào đạo Phật thì muốn hay không muốn, học trò Trình Di sẽ bị hấp dẫn và trở thành Phật tử.

    Lớp Nho sĩ, tự cho mình đã nắm chân lý, thực ra đánh mất khả năng thấu hiểu được những chân lý siêu việt của đạo Phật. Trong lớp Nho sĩ đời Tống, có thể Chu Hy là người tiêu biểu nhất cho đầu óc hẹp hòi đó đối với đạo Phật. Chu Hy có tên hiệu Hối Am ( l130- 1200), ông nói một cách thiếu căn cứ: "Học thuyết của Phật xuất phát từ học thuyết của Dương Chu, sau lại ghép thêm học thuyết của Lão Trang vào" (Phật thị chi thuyết, nguyên xuất Dương Chu, hậu phụ dĩ lão Trang chi thuyết). Như vậy theo Chu Hy, Phật Giáo không phải do Phật Thích Ca ở Ấn Độ khởi xướng mà lại do một triết gia Trung Hoa khởi xướng, tức là Dương Chu, có thể là một học trò xa của Lão Tử. Ông nói : "Phật Giáo hủy diệt nhân luân. Phật và Lão phạm tội với tam cương ngũ thường, Lão Trang còn chưa hủy diệt hết nhân luân. Còn Phật Giáo thì hủy diệt nhân luân một cách tuyệt đối. Thiền là diệt hết nghĩa lý. Người học thiền trực chỉ nhân tâm là không biết tâm, nói kiến tánh thành Phật là không biết tánh, cho nên diệt hết nhân luân" (Phật Lão phạm tam cương ngũ thường chi tội. Lão Trang bất diệt tận nhân luân. Phát diệt tận nhân luân. Thiền tắc diệt tận nghĩa lý. Thiền giả trực chỉ nhân tâm thị bất tri tâm, vân kiến tánh thành Phật thị bất tri tánh, cố diệt tận nhân luân ).

   Tất nhiên, biết tâm là việc rất khó. Phật tử làm không được. Nho gia cũng rất là mù mờ. Nhưng ít nhất Phật tử biết là mình không biết để lo tu hành cho hiểu được tâm và biết tâm. Còn Nho Gia như Chu Hy thì tuy không biết mà nói như mình biết, cho nên không hy vọng gì để biết tâm. Nói chung, lời lẽ của Chu Hy rất hồ đồ. Trình Di, người tiền bối của ông, tuy cũng phê phán đạo Phật nhưng lời lẽ mực thước hơn.

   Hiện nay, có một số người muốn để cao họ Trịnh, họ Chu trong việc khởi xướng phong trào Khổng Giáo cách tân, đem lại sự ổn định cho xã hội Trung Hoa trong hàng nhiều thế kỷ, trước khi phong trào đó bị sụp đổ vì các cuộc xâm lược liên tiếp của quân Anh, quân Pháp và Liên quân Đồng Minh. Chỗ yếu và chỗ mạnh của thiết chế Khổng Giáo cách tân cũng là một. Cấu kết với chính quyền, nó tạo ra sự độc tôn của Khổng Giáo, một sự nhất trí hình thức và giả tạo về tư tưởng hệ. Muốn thi đỗ ra làm quan, có chức có phận thì phải làm bài theo nhận thức khuôn  mẫu của họ Chu, họ Trình, nếu không thì bị đánh hỏng. Không có chức, có phận thì nói gì đến ảnh hưởng tới đất nước, tới quốc gia ?

   Độc tôn Nho Giáo dẫn tới làm cho Nho Giáo thoái hóa, mất sức sống và sáng tạo, chỉ còn là một bậc thang của danh và lợi mà thôi. Ổn định là sức mạnh, nhưng cường điệu sự ổn định thành ra trì trệ, thì lại là chỗ yếu. Thống nhất vốn là chỗ mạnh, nhưng cường điệu sự thống nhất thành ra khuôn sáo, hình thức, không còn sáng tạo nữa, mất nhạy bén với cuộc sống thì lại là chỗ yếu. Tất cả những tệ hại này của Khổng Giáo cách tân và độc tôn đã bị phong trào Ngũ Tứ đả kích quyết liệt, không cần bàn thêm nữa ấy thế mà bây giờ vẫn có người   muốn đề cao Khổng Giáo cách tân như là ngọn nguồn của các con rồng Châu Á thì cũng thật lạ kỳ. Chúng ta đặt câu hỏi Khổng Giáo cách tân, chớm nở vào cuối đời và cực thịnh vào đời Tống với hai họ Chu, Trình có trách nhiệm gì không trong sự kiện hai lần cả nước Trung Quốc bị những dân tộc phi Hán là nhà Nguyên và nhà Thanh đô hộ, thống trị những dân tộc phi Hán mà tổng cộng lại, dân số chỉ bằng khoảng 1/24 của dân số người Hán?

C. KHỔNG GIÁO CÁCH TÂN Ở NƯỚC TA

   Chúng ta cũng học Tống Nho, cũng học Khổng Giáo cách tân, nhưng may sao chỉ học một nửa. Cho nên, Nguyên Mông, lật đổ nhà Tống thống trị Trung Quốc và l/2 thế giới thế mà cà ba lần đánh ta đều bị quân dân nhà Trần đánh cho đại bại . Mãn Thanh lật đổ nhà Minh, thống trị Trung Quốc rồi đem 20 vạn binh sang đánh ta cũng bị Nguyễn Huệ đánh cho kinh hồn tán đởm, một số lớn phải nhảy xuống sông Nhị mà chết đuối. Nhưng đó chỉ mới là chiến thắng quân sự, mà cũng là nhờ hồn thiêng sông núi, phúc ngàn đời của tổ tiên, kết tinh lại trong những nhân vật anh hùng như Trần Hưng Đạo và Nguyễn Huệ, đã biết phát huy cao độ tinh thần tự cường dân tộc, lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân ta. Nhưng còn về mặt văn hóa? Sự xâm lược về quân sự bị chặn đứng và đẩy lùi, nhưng sự xâm lược về văn hóa vẫn tiếp tục, lặng lẽ mà kiên trì, và cái đó mới đáng sợ.

   Trong một thế giới và xã hội sôi động, với những phát minh khoa học có tính cách mạng làm đảo lộn biết bao khái niệm truyền thống tưởng chừng bất di dịch như núi Thái Sơn, thế mà Khổng Giáo cách tân lại cung cấp cho chúng ta mô hình một nền văn hóa tĩnh, đòi phục hồi những giá trị đạo đức thời Lưỡng Hán, đề cao tam cương ngũ thường như là một thiết chế cố định, hợp với thiên mệnh... tôi nói cái chết, cái nguy hại của Khổng Giáo cách tân chính là ở chỗ đó. Giặc đến ngoài ngõ mà trong nhà như là không hay, từng lớp hủ Nho thi đua ngâm vịnh, tán tụng Nghiêu Thuấn và Khổng tử, rồi lại mong chờ thiên binh của Thiên triều qua giúp để đánh đuổi  bọn bạch quỷ đi. Francis Garnier với 175 quân đã hạ dễ dàng thành Hà Nội trong khi 70 vạn quân Nguyên phái bó tay trước sự kháng cự ngoan cường của Trần Hưng Đạo và quân nhà Trần. Cùng là người Việt cả, sao mà khác nhau đến thế. Tôi nghĩ: Di hại của Tống Nho thực đáng sợ là vậy.

    Sau này, cụ Phan Chu Trinh, kết án chế độ khoa cử và Hán học, Hán tự không phải không có lý do. Thậm chí, ông viết bài “Bất phế Hán tự, bất túc dĩ cứu Nam quốc", nghĩa là không bỏ chữ Hán, sẽ không đủ để cứu nước Nam. Tất nhiên, cụ Phan không ghét gì Hán tự, thế nhưng cái học khoa cử, tầm chương trích cú, nhồi nhét vào đầu chữ nghĩa của Thánh hiền, rập khuôn theo Tống Nho thì thật là tệ hại. Cụ Phan không thích thú Tống Nho nhưng lại đề cao đạo Phật. Cụ viết: "Nay bà con thử xét, đời Trần sao dân tộc ta hùng dũng như vậy. Quân Nguyên thắng cả Á cả Âu, nuốt bọn Trung Hoa mà qua đến nước ta thì bại tẩu. Nào bị cướp giáo ở Chương Dương độ, nào bị bắt trói ở Bạch Đằng, như vậy chẳng phải là nhờ đạo Phật ở ta thời đó rất thịnh ư, nhờ cái tinh thần tôn giáo của ta ư? " (Đông Kinh Nghĩa Thục – Nguyễn Hiến Lê, Lá Bối, 1974 - chuyển dẫn từ Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, quyển II).

  Cụ Phan Khôi bình luận về tình hình chính trị so sánh bên Trung Quốc và bên ta, cũng đồng ý như cụ Phan Chu Trinh: "Xưa nay, bên Tầu, quốc thể có hai lần hèn yếu nhất, bị lũ mọi rợ phương Bắc vào đè đầu: lần trước vào thời kỳ Tấn Lục Triều, là kết quả của sự sùng thượng Lão Trang, lần sau vào thời kỳ Tống, Minh thì là kết quả của cuộc vận động Lý học. Còn Phật Giáo theo lịch sử chẳng khi nào gây ra sự hèn yếu cả. Ở nước ta cũng vậy, vào thuở nhà Lý, nhà Trần, đạo Phật tràn ngập cả nước, chùa chiền khắp nơi, thầy tu làm dân tráng, nhưng nước nhà chưa hề có cái vẻ tích nhược như hồi Lê trung hưng hay Nguyễn thống nhất là cái thời đại Nho học thịnh hành. Trái lại, nhà Lý nhà Trần mạnh lắm, dân khí còn hăng lắm, mấy phen giặc Tàu sang chúng ta đuổi đi như đuổi vịt. Lịch sử là cái chứng mạnh lắm: Không ai cải được. Nó đã làm bằng chứng cho Phật Giáo: không phải là một thứ thuốc phiện làm mòn yếu con người". (Báo Tiếng Chuông Sớm số 9, ngày 12- 10- 1935 - Chuyển dẫn từ "Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, tập III, tr.29). Tôi nghĩ những trích dẫn trên đây cũng đủ cho chúng ta thấm thía tất cả tệ hại của lối học khoa cử mà phái Tống Nho và tư trào Khổng Giáo cách tân truyền sang cho ta.

   Học giả Đào Duy Anh đã có nhận dịnh rất xác đáng về di hại của Tống Nho đối với từng lớp gọi là sỹ phu nước ta như sau: "Chế độ khoa cử thế ấy thì phải sinh ra phương pháp giáo dục thế kia là lẽ tất nhiên. Học như vậy thì học trò chỉ chăm học thuộc lòng một số ít sách kể trên (Đào Duy Anh muốn nói Tứ Thư, Ngũ Kinh và Bắc Sử tức là Sử Trung Hoa, không phải là Sử Việt Nam), và chăm lựa lời cho khéo, gọt câu cho chỉnh, viết chữ cho tử tế, một ý tứ có thể diễn ra năm, bảy cách miễn là lời văn cho bóng bẩy mà ý tứ dù là bã cặn của Tống Nho cũng không cần gì. Cái thói trọng từ chương, ưa hư văn đã trở thành một thiên tính của dân tộc ta. Với cách giáo dục ấy, thì dù người thiên tư lỗi lạc cũng phải nhạt đi, huống gì những người tư chất tầm thường. Thực là một thứ giáo dục giết chết nhân cách vậy" (Đào Duy Anh, Chữ Nôm, Nhà XB Khoa Học Xã Hội, 1975, tr. 260. Chuyển dẫn từ cuốn “Việt Nam Và Nhật Bản Trong Thế Giới Đông Á”, Vĩnh Sính, tr. 150).

   Tác hại của phong trào Khổng Giáo cách tân tại Việt Nam, đã dẫn tới sự trì trệ yếu kém của triều Nguyễn , và đó cũng là một nguyên nhân chính để Tây phương đô hộ. Nếu ôn lại Phật Giáo thời Lý Trần và những phê phán kịch liệt về Tống Nho của Phan Chu Trinh và Đào Duy Anh, chúng ta sẽ thấy rõ luận điểm nói trên.

GS Minh Chi (Đinh Văn Vinh)

TP Hồ Chí Minh, 12-1996

Chú thích:

(l) Cả đoạn câu trích dẫn của Trình Di, tôi không đọc được nguyên bản chữ Hán mà đọc qua bản dịch Anh ngữ trong cuốn "The Buddhist Tradition - Buddhism in China", tr. 244-245, The Modem Library.

Tư liệu:

l. The Buddhist Tradition - Buddhism in China, tr. 244-245, The Modern Library.

2. Đông Kinh Nghĩa Thục - Nguyễn Hiến Lê, Lá Bối, 1974 - Chuyển dẫn từ Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, quyển III.

3. Báo Tiếng Chuông Sớm, số 9 ngày 12- 10- 1935 – Chuyển dẫn từ Việt Nam Phật Gíáo Sứ Luận, quyển III, tr. 29.

4. Đào Duy Anh - Chữ Nôm. NXB Khoa Học Xã Hội, 1975, tr 260. Chuyển dẫn từ cuốn Việt Nam Và Nhật Bản Trong Thế Giới Đông Á, Vĩnh Sính, tr. 159.

 

     


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com