1204-world.gif (4030 bytes)

posted: 29.11.04

  Minh Ngọc

   PHÁC THẢO VỀ TÌNH HÌNH PHẬT GIÁO    MỘT VÀI NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 

I. PHẬT GIÁO VẪN LÀ TÔN GIÁO CHÍNH THỐNG, SINH ĐỘNG VÀ BẤT DIỆT TẠI ĐÔNG PHƯƠNG

Hai ngàn năm trăm năm trước, Đức Thích Ca sáng lập Phật Giáo tại Ấn Độ. Đó là tôn giáo xây dựng trên Từ Bi, Trí Tuệ, Dũng Mãnh, Tinh Tiến, Nhân Bản, Tự Do, Bình Đẳng, Chân Lý và Khoa Học; và chống lại sự phân chia giai cấp, phản tiến bộ, phản đạo đức, phi luân lý, vô minh và thần quyền. Suốt thời gian triền miên ấy với luật vô thường trong vũ trụ, vạn hữu sự vật đều phải trải qua bốn thời kỳ : thành - trụ – hoại - không.

Phật Giáo cũng như vạn vật, còn ở trong thế gian nên cũng phải trải qua những thời : thịnh – suy - hưng - phế. Nhưng thời cực thịnh hay hưng pháp hoặc thời cực suy hay mạt pháp, Phật Giáo vẫn tồn tại với quốc gia, dân tộc mà Phật Giáo đã một lần được truyền bá đến. Phật Giáo vẫn tồn tại vì dễ dàng thích nghi với hoàn cảnh, lịch sử, địa lý, tâm lý, tư tưởng, phong tục, tập quán và lễ nghi của quốc gia mà Phật Giáo hội nhập. Phật Giáo không có những giáo điều khô cứng, những tín lý vô nghĩa để mâu thuẫn với quốc gia ấy. Phật Giáo phát xuất từ Ấn Độ là Phật Giáo Ấn Độ, truyền bá sang Việt Nam là Phật Giáo Việt Nam, sang Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Tây Tạng, Mông Cổ hay Tích Lan, Miến Điện, Thái, Lào, Kampuchia là Phật Giáo của các nước này.

Ngày nay, mạnh mẽ truyền bá sang các nước Tây Phương khoa học thì Phật Giáo lại thích hợp với tính duy lý và tính thực nghiệm để trở thành Phật Giáo của các nước Âu, Mỹ và Úc Châu, nghĩa là với những yếu tính đặc thù của từng nước mà thành Phật Giáo nước ấy.   Chính vì thế mà Phật Giáo dễ dàng hội nhập vào bất cứ lúc nào và dễ dàng lan rộng ra bất cứ nơi nào. Kalinga Senevirathne, tác giả sách "A Brief History of Buddhism" viết :

   "Trong 25 thế kỷ qua, Phật Giáo đã hội  nhập với các niềm tin cổ truyền và các tôn giáo của nhiều vùng đất, hài hòa chúng với bản chất thanh khiết của nền triết học Phật Giáo. Cùng một lúc Phật Giáo đã nẩy nở trên khắp Á Châu cho đến nay, Phật Giáo vẫn là tôn giáo chính của các dân tộc Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện, Tây Tạng, Lào, Kampuchia, Đài Loan, Việt Nam, Đại Hàn, Trung Quốc, Mông Cổ và một số nước Trung Á như Bhutan, Sikkim và Siberia. Cũng còn nhiều cộng đồng Phật tử lớn ở Mã Lai, Tân Gia Ba và Ấn Độ, cũng như ở các nước Tây Phương như Anh Quốc, Hoa Kỳ, Thụy Sĩ, Đức, Pháp, các nước Bắc Âu và Úc" (During the last 25 centuries Buddhism has mingled with the traditional beliefs and religions of many lands, enchanting them with the purity of its philosophy. At one time, Buddhism flourished all over Asia. Even today, ỉt is the major religion of the people of Thailand, Sri-Lanka, Burma, Tibet, Laos, Kampuchia, Taiwan, Vietnam, Korea, China, Mongolia and some Central Asian countries like Bhutan, Sikkim and Siberia. There are also large communities of Buddhism in Malaysia, Singapore, and India, as well as in Western countries like Britain, U.S.A., Switzerland, Germany, France, Scandinavia and Australia) .

            Hoặc như Giáo Sư Bapat nhận định trong sách 2500  years of Buddhism: "Một trong những nét nổi bật nhất của lịch sử Phật Giáo là làm ảnh hưởng đến tâm con người và làm thay đổi cách sống của họ mà không phá hủy hay làm xáo trộn nghiêm trọng đến cơ cấu xã hội đang tồn tại, hay đến nền văn hóa ở những vùng đất mà Phật Giáo lan truyền đến. Tại hầu hết các nước Phật giáo ở Á Châu, Phật Giáo đã thấm nhuần vào tất cả các nền văn hóa và truyền thống có trước Phật Giáo, đồng thời không làm mất đi bản sắc triết học (của Phật Giáo) " (One of the most striking features of the history of Buddnism is its power to influence peoples' minds and change their lifestyles, without trying to destroy or seriously disturb the existing social fabric or the culture of the lands it spread to. In most of the Buddist countries in Asia; Buddhism has absorbed most of the pre-Buddhist culture and traditions of these lands, without at the same time losing track with its (Buddhism's) philosophy).

Khác với nhiều tôn giáo độc thần khác, Phật Giáo không cần và không bao giờ phải dựa vào các thế lực ngoại bang, thực dân, đế quốc, bạo quyền, chính trị, kinh tế và quân sự để áp đặt hay mở mang tôn giáo. Có thể ví Phật Giáo như tờ giấy trắng tinh khiết không một vết nhơ. Hai ngàn năm trăm năm, Phật Giáo chưa có một cuộc thánh chiến hay chiến tranh tôn giáo, không có các tòa án để xử những người theo tôn giáo khác, không có tra tấn cũng chẳng thiêu sống những ai không phải là Phật tử… Phật Giáo cũng chưa và sẽ không bao giờ gây tang thương cho bất cứ một đất nước nào, một dân tộc nào, một tôn giáo nào. Giáo lý Phật Giáo lấy Từ Bi, Trí tuệ làm gốc nên không có bạo động, nhất là dùng bạo động để tôn giáo hóa một nước, một dân tộc hoặc một đạo khác như một số tôn giáo đã và đang làm.

Cũng trong sách nêu trên, Giáo Sư Bapat đã có một cái nhìn khách quan của một sử gia về Phật Giáo: "Không một trang sử nào của Phật Giáo bị nhạt nhòa với ánh lửa thiêu đốt của tòa án Dị Giáo, hoặc bị bôi đen với làn khói thiêu sống kẻ bị kết án tà giáo, hoặc đốt cháy những thành phố không chịu theo đạo, hoặc đỏ thắm với máu của những nạn nhân vô tội vì hận thù tôn giáo. Phật Giáo chỉ múa một lưỡi gươm, gươm Trí Tuệ, và chỉ công nhận một kẻ thù - vô minh. Đây là minh chứng lịch sử chứ không phải là những lời nói cho có" (Not a single page of Buddhist history has ever been lurid with the light of inquisitorial fires, or darkened with smoke of neretic or heathen cities ablaze or red with blood of the guiltless victims of religious hatred. Buddhism wield only one sword, the sword of Wisdom, and recognises onIy one enemy - ignorance. This is testimony of history, and is not to be gainsaid).

Phật Giáo vẫn tồn tại và bất diệt tại các nước Đông Phương đã gặp rất nhiều Pháp Nạn  do các thế lực đế quốc Trắng, đế quốc Đen, và các chính quyền tay sai bản xứ của hai thế lực trên manh tâm tìm cách tiêu diệt Phật Giáo.

l. Phật Giáo Ấn Độ

           Thời mạt pháp của Phật Giáo Ấn Độ kéo dài tám thế kỷ. Khởi đầu vào năm 1192, giặc Hồi Giáo từ Thổ Nhĩ Kỳ do tướng Mohammed Al Glanli đem quân tấn công, tiêu diệt, tàn phá tận nền tảng, khiến Phật Giáo Ấn Độ gần như biến mất. Sau này người ta còn thấy những điêu tàn, đổ nát, hoang phế của các chùa, tháp, tịnh xá, tu viện ở khắp Ấn Độ. Sử kể ràng giặc Hồi Giáo đã chất từng đống kinh sách cao tới ngọn dừa và châm đốt, lửa cháy suốt mấy tháng mới hết. Cuộc xâm lăng của giặc Hồi vừa chấm dứt thì Bà La Môn Giáo và Hồi Giáo lợi dụng sự suy yếu của Phật Giáo để chèn ép phá hoại liên tiếp 800 năm. Đến thế kỷ 19, Ấn Độ lại bị đế quốc Trắng và đế quốc Đen hợp tác thống trị. Đế quốc Đen dùng thủ đoạn áp đặt Ki Tô Giáo lên các tầng lớp dân chúng. Do các tình trạng này mà Phật Giáo triền miên vắng bóng tại chính quê hương Ấn Độ của Phật Giáo. Sau đệ nhị thế chiến Phật Giáo Ấn Độ chỉ có vài vị Tăng Ni và hơn 2000 Phật tử trên khắp đất nước với ba hay bốn ngôi chùa hư hỏng.

Thời chấn hưng Phất Giáo Ấn Độ bắt đầu vào giữa thập niên 1950-60 do công đức vô lượng, vô biên của Tiến Sĩ Bhimrao Ramji Ambedkar. Tuy là đại trí thức khoa bảng với ba bằng Tiến Sĩ ở đại học danh tiếng Anh Quốc và Hoa Kỳ, có địa vị cao là Bộ Trưởng Tư Pháp thời Thủ Tướng Jawaharlal Nehru (1889-1964), nổi danh khắp nước là cha đẻ bản Hiến Pháp Ấn Độ, nhưng ông vẫn bị khinh khi vì xuất thân từ giai cấp Cùng Đinh (untouchable caste) là giai cấp thấp hèn nhất dưới ba giai cấp khác trong hệ thống giai cấp của Ấn Giáo (caste Hindus). Do đó, Tiến Sĩ Ambedkar nhận thấy Ấn Giáo chính là hàng rào ngăn cản sự tiến bộ của con người và xã hội nên muốn từ bỏ tôn giáo này và đi tìm một tôn giáo khác.

Sau hơn hai mươi năm nghiên cứu nghiêm minh và cẩn trọng các đạo: Phật, Ca Tô Giáo La Mã, Phản Thệ Giáo, Chính Thống, Hồi, Ba Tư... Tiến sĩ Ambedkar quyết định chọn Phật Giáo là chân lý vì đáp ứng được nhu cầu tâm linh, tri thức, khoa học, tiến bộ, nhân bản, luân lý, đạo đức và xã hội của con người. Trước khi quy y Phật Giáo, Tiến sĩ Ambedkar lại kêu gọi những người cùng giai cấp hãy tỉnh ngộ, trở về với Phật Giáo là tôn giáo tôn trọng nhân vị và nhân quyền; chống lại sự phân chia giai cấp bất công và bất bình đẳng giữa con người và con người.

Tại buổi quy y Tam Bảo tổ chức ngày 14-10-1956, gia đình Tiến sĩ và hơn 350 nghìn người Ấn đã phát tâm quy ngưỡng Phật Giáo. Đại lễ này đã thức tĩnh được hàng triệu người Ấn khác vì họ nhận thức được những bất công, kỳ thị, bóc lột, phản tiến hóa, vô đạo đức và gian ác trong hệ thống tôn giáo cố hữu của họ, nên đã theo gương Tiến Sĩ Ambedkar bỏ tôn giáo cũ, trở thành Phật tử. Nhiều lễ quy y đã được tổ chức liên tiếp. Chỉ trong vòng ba tháng, đã có hơn 4 triệu người thuộc các tôn giáo Ca Tô La Mã, Phản Thệ Giáo, Hồi, Ấn Giáo v.v... quy y Phật Giáo. Báo chí và cơ quan  truyền thông khắp thế giới đều loan tin về biến cố to lớn này. Đây là sự cải đạo độc đáo nhất, đông đảo nhất, đúng đắn nhất chưa từng có trong lịch sử tôn giáo nhân loại mà Phật Giáo đã thực hiện được.

            Các lễ quy y tập thể này ảnh hưởng vô cùng tất đẹp đến đại cuộc chấn hưng Phật Giáo tại Ấn Độ. Trải qua 40 năm chấn hưng, Phật Giáo Ấn Độ đang hồi  sinh. Cho đến nay vẫn còn nhiều lễ quy y tập thể khác mà số người xin thụ giới có khi đông tới hàng trăm nghìn người. Số Phật tử gia tăng rất cao ước lượng 20 triệu người. Chùa tháp tịnh xá được xây dựng ở nhiều nơi. Các cộng đồng Phật Gtáo được thành lập ở khắp nước Ấn Độ dành cho các Phật tử mới quy y mà báo chí Tây Phương gọi họ là "new Buddhists"  (Phật tử mới). Các Phật Địa, Thánh Tích bị hủy hoại đã được các nước Phật Giáo Á Châu và các đoàn thể Phật Giáo Tây Phương cùng các phật tử khắp thế giới phát tâm cúng dường tu bổ, bảo trì. Cơ quan Văn Hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) và chính phủ Nepal bảo trợ nhiều dự án đáng giá hàng trăm triệu Mỹ kim để chỉnh trang, phát triển Đại Công Viên Lumbini (Vườn Lâm Tì Ni) là nơi Đức Phật Đản Sinh. Bodhi-Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng) – nơi Đức Phật Thành Đạo - từng bị cả Hồi Giáo lẫn Ấn Giáo chiếm cứ và âm mưu biến thành Thánh Địa của họ - đã được hoàn trả lại cho  Phật Giáo. Hai Phật Địa lịch sử này hàng năm có tới chục triệu người tới hành hương, chiêm bái.

Các nước Phật Giáo Á Châu khác cũng gặp nhiều tai ương trong thời Pháp nạn hoặc do các vua chúa và giới Nho sĩ bảo thủ như ở Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn và Việt Nam, hoặc do các tôn giáo ngoại bang và tay sai bản xứ mất gốc dựa vào thế lực thực dân.  Chẳng hạn đời nhà Thanh, Hồng Tú Toàn (tên Ca Tô cuồng tín) cầm đầu những tên đồng đạo, tay cầm gươm súng, tay vác   Thập-ác chém giết những người đạo khác suốt bao năm trời, ở bao nhiêu nơi vì "mù quáng muốn mở mang nước Trời". Sử Trung Hoa gọi là  giặc ‘Thái Bình Thiên Quốc’. Hoặc như ở Nhật Bản, các giáo sĩ, mục sư âm mưu biến nhiều thị trấn, phố quận, làng mạc thành các xứ đạo Ki Tô Giáo. Nhờ lòng "ái quốc, trung quân" và tinh thần "bảo vệ chính pháp" của các hàng Phật tử nên mưu đồ của ngoại đạo không thành.

 2. Việt Nam

Đời nhà Nguyễn, đa số người Ca Tô Giáo La Mã theo giặc Pháp dưới sự chỉ huy của các  “vít vồ, cố đạo” tấn công các phong trào Cần Vương, Văn Thân, các chiến khu chống Pháp và các làng Phật Giáo. Đời nhà Ngô (Đình), đạo Ca Tô La Mã được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi, đặc ân; tự tung, tự tác; làm mưa, làm gió. Các tôn giáo khác bị kỳ thị, chèn ép, hạn chế bởi Đạo Dụ số 10. Ai muốn công danh hoạn lộ thênh thang, "xênh xang mũ áo" cứ việc rửa tội theo đạo hay vào đảng Cần Lao là "vinh thân phì gia" ngay. Ai không có cái mác "Công Giáo" hay "Cần Lao" thì bị áp bức, kèn cựa, suốt đời không ngóc đầu lên nổi. Có những sĩ quan mang lon lâu đến 11 hay 12 năm mà không được thăng cấp chỉ vì "chối Chúa, chối Đảng". Trong khi cấp dưới kém tới hai, ba cấp nhưng chịu "vào Đạo, vào Đảng", chỉ ba, bốn năm thăng thưởng liên tiếp, đặc cách đã vượt cấp chỉ huy nhiều cấp bậc.

Còn dân quê ở xa thành thị cũng đau khổ không kém, bị tập trung vào khu "Trù Mật", khu Dinh Điền, ấp Chiến Lược. Những nơi này chung quanh là dây kẽm gai và hàng rào tre ở giữa là nhà thờ, không có chùa Phật Giáo, chùa Hòa Hảo, không có Thánh Thất Cao Dài. Đa số ai cũng phải rửa tội, đi lễ nhà thờ. Ai thờ Phật, đọc tụng kinh Phật là bị điêu đứng, khốn khổ ngay. Bàn thờ Phật bị tịch thu, đập phá coi như ma quỷ. Đó là chưa kể những đòn thù khác như bỗng nhiên nhà bị mật vụ, dân vệ đến bao vây khám xét rồi ở đâu không biết lòi ra nào là cờ, truyền đơn Cộng Sản dấu từ lúc nào, không ai hay. Thế là  cả nhà bị vu cáo là “Việt Cộng” rồi bị bắt  bị đánh đập, tra tấn, nhưng nếu khôn lanh biết thoát nạn bằng cách "xin Cha rũ lòng bác ái,  cho cả nhà rửa tội theo Chúa" thì cái tội Việt Cộng tự nhiên biến mất và cả nhà lại ấm no, thoải mái vì "theo đạo có gạo mà ăn”, lại  khỏi phải đi "làm xâu" cực nhọc vì đã có bọn Phật tử cứng đầu bị bắt đi làm thế rồi.

Đời  nhà Nguyễn (Văn Thiệu). Ca Tô Giáo cũng được nhiều ân sủng và cũng tác oai, tác quái không thua gì đời nhà Ngô (Đình), đến nỗi báo chí ngoại quốc gọi là chế độ "Diệm, không Diệm". Những nhân vật cột trụ của nhà Ngô lại xuất hiện phục vụ nhà Nguyễn từ hành pháp, lập pháp đến tư pháp. Bao quanh Nguyễn  Văn Thiệu là những cái áo chùng thâm mà người dân không lạ mặt. Từ các giáo xứ, họ đạo những con quạ đen cũng thường bay về Dinh Độc Lập hay Tòa Quốc Hội đòi đặc quyền này, đặc lợi nọ, đặc ân kia. Tham vọng mở mang được nước Trời  của  họ thật thâm sâu. Họ chỉ muốn nhuộm đỏ cả dân Việt, chỉ muốn cắm Thập ác khắp nước Việt Nam. Nếu vì quyền lợi của quốc gia mà va chạm đến quyền lợi của tôn giáo họ, thì họ xách động và khuyến dụ con chiên xuống đường biểu tình bạo  động với gậy gộc, dao búa. Thảm cảnh của đất nước với 80 năm đô hộ bởi đế quốc Trắng một  phần là do bọn mất gốc, mất Tổ này. Và sau nầy, cuộc chiến "Quốc-Cộng” cũng một phần từ đó mà ra.

3. Thái Lan:

Các giáo sĩ dụ dỗ vua chúa, triều đình bỏ đạo Phật. Nhưng thất bại  hoàn toàn. Từ quốc vương, triều thần đến người dân Thái đều một lòng tin Phật mà thôi. Dù không thành công nhưng chúng vẫn tiếp tục phá ngầm Phật Giáo bằng các chiến dịch tạo ra những ngộ nhận xuyên tạc. Giáo Hội Phật Giáo Thái Lan đã vạch trần những thủ đoạn đê hèn của chúng.

4. Tích Lan:

Ca Tô Giáo La Mã và Phản Thệ Giáo cũng dựa vào đế quốc áp  đặt nhiều quyền lợi ưu đãi dành cho người Ki Tô. Một thập niên trước, nhóm cố đạo, mục sư thuộc “The Lighthouse Church Assembly of God” huênh hoang tuyên bố sẽ “Ki Tô hóa hòn đảo vào năm 2000” (Christianise the island by the year 2000). Thế là một chiến dịch truyền đạo bằng tiền gạo, bơ sữa, quần áo,   thuốc men được tung ra để mua chuộc, dụ dỗ những người nghèo khó, đói kém,  thất nghiệp. Nhưng số người bị “dụ theo đạo” chẳng được là bao. Và gần đến năm 2000 rồi mà chẳng thấy đảo Tích Lan bị Ki Tô hóa chút nào. Ngược lại, chỉ thấy đảo càng ngày càng có nhiều cờ Phật Giáo tung bay, càng ngày càng có nhiều chùa tháp được kiến tạo; càng ngày càng có nhiều đoàn rước Phật cổ truyền đông đảo đầy mầu sắc vui tươi với lòng người hoan hỷ, an lành trong các ngày lễ Phật. Đã vậy quốc dân Tích Lan còn cho nhóm ngoại đạo một bài học. Trong cuộc trưng cầu dân ý, dân chúng đã tôn vinh Phật Giáo là quốc giáo và đổi tên nước Ceylon thành Sri - Lanka (Hoa Sen: tượng trưng cho Phật Giáo).

Khi đế quốc ‘Trắng’ chấm dứt sự đô hộ thì bất hạnh vẫn tiếp nối ở nhiều nước Phật Giáo Á Châu. Các chính quyền bản xứ vong bản lại làm tay sai vừa cho đế quốc Trắng vừa cho đế quốc Đen đem xương máu, tài nguyên của đất nước chống lại dân tộc, gây cảnh huynh đệ tương tàn. Nhưng dù Trắng hay Đen, thì Phật Giáo và Dân Tộc vẫn là một, Phật Giáo chịu chung nỗi đau với Dân Tộc. Dân Tộc chịu chung nỗi khổ với Phật Giáo. Dù có bị đàn áp, khống chế, Phật Giáo vẫn tồn tại, bất biến trong lòng Dân Tộc. Dù có bị trù dập, ngăn cấm, Dân Tộc vẫn sắt son, không từ bỏ Phật Giáo.

Hãy xem sự bất diệt, trường tồn của Phật Giáo tại Trung Hoa, Tây Tạng, Mông Cổ, Việt Nam, Lào, Kampuchia và Miến Điện thì rõ. Các nước Phật Giáo cùng cổ vũ sự chấn hưng và bảo vệ Phật Giáo; tổ chức liên tiếp các đại lễ Buddha Jayanti và đại hội Phật Giáo thế giới. Phật Giáo vẫn chiếm tuyệt đại đa số dân chúng. Khi Lào và Kampuchia trở thành các nước xã hội chủ nghĩa, Phật Giáo vẫn được dân chúng tôn kính và chính phủ các nước này vẫn phải tôn vinh Phật Giáo là quốc giáo như truyền thống lâu đời. Miến Điện đang do chế độ quân phiệt cai trị nhưng vẫn phải chấp nhận Phật Giáo như là tôn giáo của quốc gia. Mông Cổ dù theo Cộng Sản từ đầu thập niên 1920; nhưng qua hơn 60 năm Phật Giáo vẫn tồn tại. Ngược lại, ý thức hệ Cộng Sản lại vắng bóng để nhường chỗ cho giáo lý Phật Giáo bừng sáng, rực rỡ như ngọn đuốc tâm linh cho toàn quốc dân Mông Cổ. 

5. Tây Tạng:

Tây Tạng đã bị Trung Quốc xâm lăng từ năm 1950 khiến Đức Đạt Lai La Ma - vị lãnh đạo của Tây Tạng - phải lưu vong cùng với gần 100 nghìn dân tại Ấn Độ. Quân Trung Quốc tàn bạo - qua  50 năm đô hộ - đã giết hơn 1 triệu Phật tử Tây Tạng. Toàn nước có 6013 chùa, tháp, tu viện và các cơ sở Phật Giáo thì Trung Quốc đã phá hủy 6000. Hiện  chỉ còn 13 ngôi chùa trên toàn nước Tây Tạng mà thôi. Mục đích là tận diệt nền Phật Giáo và văn hóa Tây Tạng. Nhưng Phật Giáo và văn hóa Tây Tạng lại được truyền bá rộng rãi trên khắp thế giới do sự hoằng pháp của Đức Đạt Lai La Ma và các vị Tăng, Ni Tây Tạng. Hiện tại, cuộc tranh đấu giành độc lập cho Tây Tạng và bảo vệ Phật Giáo ở Tây Tạng đang lan rộng và được nhiều chính phủ và các tổ chức ở nhiều nước ủng hộ.

Nhìn chung, Phật Giáo tại các nước Á Châu vẫn tồn tại với tuyệt đại đa số dân là Phật tử. Ngược lại, Tôn Giáo La Mã dù đã có mặt tại các nước này từ nhiều thế kỷ; lại dựa vào các thế lực ngoại bang và các tay sai bản xứ với đầy đủ phương tiện truyền đạo, nhất là vật chất dồi dào để mua chuộc, dụ dỗ, ép buộc. Nhưng qua thời gian lâu dài và tốn kém, số tín đồ tân tòng cũng chỉ được từ 0,0l đến 0,5% tại hầu hết các nước Phật Giáo Á Châu. Trừ Phi Luật Tân là nước nghèo đói, dân trí còn thấp nên Ca Tô La Mã mới đạt được 80%. Việt Nam dù Ca Tô Giáo đã có mặt từ thời Chúa Trịnh, thế mà qua 400 năm truyền giáo, lại được sự trợ lực bởi bộ máy cai trị khổng lồ của thực dân và các chế độ tay sai bản xứ, số giáo dân cũng chỉ đạt được gần 10% dân số mà thôi. Tóm lại, qua các dữ kiện và sự kiện vừa kể, có thể khẳng định được rằng Phật Giáo vẫn là tôn giáo chính thống, sinh động và bất diệt tại Đông Phương.

III. PHẬT GIÁO LẠI LÀ TÔN GLÁO PHÁT TRIỂN NHANH, MẠNH VÀ VỮNG NHẤT TẠI TÂY PHƯƠNG

Hơn 2500 năm trước, Đức Thích Ca nói với Thần Vinila như sau: "Hai ngàn năm trăm năm sau, khi Như Lai Nhập Niết Bàn thì đạo của Như Lai sẽ truyền bá đến tận vùng đất của người có màu da đỏ" (người Da Đỏ ở Tây Phương). Cũng nhiều thế kỷ trước, một vị Thánh Tăng Tây Tạng tiên tri: "Bao giờ chim sắt biết bay, ngựa sắt biết chạy, thì đạo của Đức Thế Tôn sẽ lan rộng ở vùng đất của người da đỏ". Lời của Đức Phật và vị Thánh Tăng đã ứng nghiệm. Hai ngàn năm trăm năm đã tới. Và là thời đại của "Chim sắt biết bay" (máy bay, phi thuyền, vệ tinh...), "Ngựa sắt biết chạy" (xe hơi, xe lửa, cơ giới...). Và ngày nay ai cũng thấy Phật Giáo được truyền bá sâu rộng ở khắp nước Mỹ là đất nguyên thủy của người Da đỏ. Không nước nào là không có sự hiện diện của Phật Giáo. Không nước nào là không có người quy y Phật Giáo.

Stephen Batchelor - Viện Trưởng Viện Cao Đẳng Phật Giáo The Sharpham Buddhist College ở Anh Quốc và là tác giả sách "The Awakening of The West" - đã viết như sau về tình hình Phật Giáo ở Tây Phương: “Phật Giáo được coi là tôn giáo phát triển nhanh nhất và là một trong những phong trào có nhiều ảnh hưởng nhất  tại Tây Phương”. (Buddhist is said to be the fastest growing religion and one of the most influential spiritual movements in the West). Rich Fields, trong tác  phẩm “How The Swan Came to The Lake”, nhận định rằng Phật Giáo như là một tôn giáo quốc tế rất phổ quát: “Hiện tại càng rõ ràng là Phật Giáo đang đóng vai trò sinh động trong việc quốc tế hóa thế giới của chúng ta” (It is now increasingly clear that Buddhism is playing a vital role in the intenationalization of our world). Trong tương lai, Phật Giáo được coi là một tôn giáo chính ở Tây phương vì sẽ thay thế các tôn giáo thần quyền đã lỗi thời và đang bị chính người Tây Phương phế thải như một vật không còn giá trị. Kalinga Senevirathne nhận định trong sách: "A Brief History of Buddhism" như sau: “Ngày nay, ta thấy có sự chú ý nhiều đến Phật Giáo hơn trước ở Tây Phương. Nhiều học giả đã tiên đoán rằng trong thế kỷ tới, Phật Giáo có thể trở thành một lực tôn giáo chính ở Tây Phương”. (There is today, a gleater interest shown in the West in Buddhism, than ever before. Some scholars have predicted that within the next century Buddhism could become a major religious force in the West).

Hãy quan sát hình ảnh sự tăng trưởng sâu rộng của Phật Giáo vào các tầng  lớp dân chúng ở một số nước điển hình tại Tây Phương.

1. Hoa Kỳ:

Phật Giáo được coi là tôn giáo có sức lôi kéo mãnh liệt từ giới trí thức đến giới bình dân, từ giới chính trị đến giới kinh doanh, từ giới nghệ sĩ đến giới quân nhân. Các cơ quan truyền thông nói rất nhiều về Phật Giáo và đề tài về Phật Giáo thì không bao giờ cạn. Số người Hoa Kỳ theo Phật Giáo tăng với thời gian 5 triệu ở thập niên 1980, hơn 7 triệu ở thập niên 1990, và sẽ lên tới 10 triệu Phật tử ở thập niên 2000. Trong số những Phật tử này lại có nhiều nhân vật nổi tiếng như ứng cử viên tổng thống Jerry Brown, nhà dìu dắt bóng rổ Phil Jackson, các nghệ sĩ Richard Gere, Steven Seagal (cả hai là đệ tử quy y với Đức Đạt Lai La Ma), Chuck Norris, Patrick Duffy, Lary Hagman, nhạc sĩ Adam Yauch, nữ hoàng nhạc Rock Tina Tumer, văn hào Jack Kerouac, thi sĩ Allen Ginsberg, tài danh Golf Tiger Woods. . .

Tại Quốc Hội Hoa Kỳ có nhiều thượng nghị sĩ và dân biểu là tín đồ Phật Giáo. Ngay cả cựu Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện Earl Warren cũng là Phật tử, tu học Thiền từ 30 năm. Số quân nhân Phật tử cũng chiếm một tỉ lệ quan trọng trong Quân Lực Hoa Kỳ nên đã được thành lập Nha Tuyên Úy Phật Giáo từ năm 1988. Tracy Cochran, chủ nhiệm báo Phật Giáo “Tricyle: The Buddhist Review” cho biết rằng ông Ed. Winchester là người sáng lập Câu Lạc Bộ Thiền ở ngay tại Bộ Quốc Phòng gọi là The Pentagon Meditation Club. Ông Ed. Winchester, trong cuộc phỏng vấn của báo nói trên, cũng cho biết trong số những người tu Thiền có nhiều sĩ quan cao cấp ông nói: "Sự thật là ở một thời điểm nào đó, tôi nghĩ có khoảng 16 vị tướng lãnh và đô đốc hải quân là những Thiền sinh". (The fact is at one point I think there were about sixteen generals and admirals who were meditators). Đây chỉ là nói riêng ở Bộ Quốc Phòng, nếu kể chung toàn quân lực Hoa Kỳ thì số quân nhân Phật Giáo còn rất nhiều.

Về ngành giáo dục cao cấp, năm 1966, cả Hoa Kỳ chỉ có ba trường đại học mở chương trình giảng dạy Phật Giáo. Nhưng năm 1996 đã có 145 đại học mở Phân khoa Phật Giáo và cấp văn bằng Tiến Sĩ Phật Học. Chủ đề Phật Giáo được đề cập trong 1300 mạng lưới Web Sites Internet. Bảy mươi chủ đề Thiền trong Zen Base CD và CD Rom Disk. Phật Giáo ở Hoa Kỳ đã có bốn trường đại học. Về sinh hoạt thanh thiếu niên, giáo lý Phật Giáo được giảng dạy cho hướng đạo sinh Hoa Kỳ. Đặc biệt giới trí thức rất quan tâm đến Phật Giáo và tu học rất đông. Trong buổi thuyết pháp ngày 26-3-1991 ở Viện Đại Học Cornell University, đã có 25 nghìn giáo sư và sinh viên đại học đến nghe Đức Đạt Lai La Ma thuyết pháp.

Số lượng cơ sở Phật Giáo như chùa, thiền viện, giảng đường, tu viện, trung tâm Phật Giáo, thư viện... chỉ riêng miền Tây Hoa Kỳ đã có 400 và các miền khác là 380. Riêng thành phố Seattle ở tiểu bang Washington, có tới 53 ngôi chùa. Trong số gần 800 cơ sở này có rất nhiều nhà thờ, tu viện của Ca Tô Giáo và Phản Thệ Giáo vì các đạo này đang suy thoái nên phải đem bán vì không còn tín hữu đến dự lễ hay không có người chịu đi tu nữa. Các đoàn thể Phật Giáo đã mua được và biến cải thành chùa, hay các cơ sở Phật Giáo. Ví dụ: Tu Viện Thiền Sơn (The Zen Mountain Monastery) ở Tremper Mountain, New York do Đại Đức John Daido Loori (người Mỹ) là tu viện trưởng, trước kia lại là tu viện của Ca Tô Giáo La Mã, trên khu đất rộng 235 acres (mẫu), xây bằng đá xanh. Hiện nay đó là tu viện nổi tiếng của Phật Giáo Hoa Kỳ vì lề lối tổ chức và tu học rất nghiêm minh, quy củ. Hàng năm có độ 12 đến 15 nghìn người đến tu học và từ 8 đến 12 người đến xin thụ lễ quy y mỗi tháng. Hoặc như Hội Thiền Minh Sát (The Insight Meditation Society) ở Barre, Massachusetts, nguyên là giáo đường Phản Thệ Giáo rộng 85 acres, hiện được điều hành bởi các cư sĩ Joseph Goldstein, Sharon Salzberg, Jack Kornfield và Christina Fedman.

Canada, Mexico, Brazil, Argentina và nhiều nước Châu Mỹ, Phật Giáo cũng được truyền bá đến dân chúng mỗi ngày một sâu rộng.

2. Úc Đại Lợi:

               Phật Giáo đang đạt được nhiều thành quả viên mãn. Số người Úc theo Phật Giáo gia tăng rất nhiều. Thống kê 1991 của tạp chí Sun Herald, 30 March cho biết số Phật tử người Úc là 200.000 so với 80.387 (năm 1986), như vậy là tăng 250% trong 15 năm. Văn Phòng Thống Kê Úc (The Australian Bureau of Statistics) ghi nhận: "Phật tử đang gia tăng ở mức độ nhanh hơn cả Hồi Giáo và có thể còn hơn cả Ki Tô Giáo. Phật Giáo hiện nay đã đạt được l% của tổng số dân". (Buddishts, therefore, are increasing at a much faster rate than Isalam and possibly also Christianity. Buddhists now constitute l% of the total population).

Graeme Lyall đã phúc trình trước Hội Đồng Phật Giáo New South Wales (Buddhist Council of New South Wales) về tình hình Phật Giáo ở Úc như sau: "Phật Giáo được trình bày qua phương tiện truyền thông rộng rãi và được sự chú ý sâu xa của công chúng Úc. Nhiều người Úc đang chú ý đến Phật Giáo như là tôn giáo sẽ thay thế những tôn giáo cổ truyền đầy tính giáo điều. Trong xã hội cuồng loạn hiện nay nhiều người đi tìm Thiền như là phương cách tĩnh tâm và thắng lướt được cuộc sống hàng ngày. Phật Giáo là tôn giáo phát triển nhanh nhất tại Úc. Một trong những sự chú ý chính của Hội Đồng Phật Giáo là giáo dục tôn giáo cho các Phật tử trẻ. Tương lai của Phật Giáo ở Úc và các nơi khác đều nằm trong giới trẻ". (Buddhism has had wide media exposure as it gains interest among the Australian public at large. Many Australians are becoming attracted to the Dhama as an altemative to the dogmatic traditional religions. In the modern day frenetic society, many people find meditation a means of calming the mind and coping with their day to day life. Buddhism is the fastest growing religion in Australia. One of the major concerns of the Buddhist Council is in the religious education of our young Buddhists. The future of Buddhism, both in Australia and elsewhere, lies with young people).

Báo The Australian Magazine loan tin: Ngôi chùa lớn nhất Nam Bán Cầu ở Berley, Wollongong mà tổng phí xây cất hơn 50 triệu Úc kim, phải mất 10 năm mới hoàn tất, đã được 20 nghìn Phật tử Úc và đại biểu của 50 nước dự lễ khánh thành hồi tháng 9-1995. Chùa nằm trên khu đất rộng 22 hectars. Ngoài ra còn có 190 cơ sở Phật Giáo trên toàn nước Úc, trong đó có hai viện Cao Đẳng Phật Học.

3. Pháp:

Phật Giáo phát triển rất mạnh trong hai thập niên vừa qua và còn phát triển không ngừng trong những thập niên tới. Ảnh hưởng Phật Giáo mỗi lúc mỗi nhân rộng ra trong xã hội Pháp và hiện nay càng ngày càng có nhiều người Pháp tìm đến với Phật Giáo. Số người Pháp tin theo Phật Giáo đang gia tăng vượt mọi tiên liệu. Cộng đồng Phật Giáo Pháp đã có 600 nghìn Phật tử. Số lượng cơ sở lên tới 200 ở khắp nước Pháp. Đa số các chùa, thiền viện mới được xây trong vòng 20 năm, trong đó có tu viện Monastère Nalanda đóng vai trò quan trọng vì là nơi đào tạo, huấn luyện các Tăng, Ni cho các nước Âu Châu. Điểm đáng chú ý nữa là cuộc thãm dò dư luận năm 1994 cho thấy hơn 2 triệu người Pháp đã đặt Phật Giáo lên hàng đầu trong các tôn giáo mà họ tự thấy gần gũi. Như vậy là số người quy hướng về Phật Giáo chiếm tỷ lệ 5%, Phản Thệ Giáo 6% và Ca Tô Giáo La Mã chỉ còn hơn 12%. Với tỷ lệ như vậy người ta tiên đoán chỉ vài thập niên nữa số người  Pháp theo Phật Giáo sẽ vượt qua Phản Thệ Giáo và Ca Tô Giáo.

4. Ý Đại Lợi:

Dù có Tòa Thánh Vatican, có đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo, có sự hỗ trợ tối đa về mọi mặt của Đảng Phát Xít thời Benito Mussolini, có quốc gia Vatican với đầy đủ phương tiện tiền bạc để phát triển Ca Tô Giáo, nhưng Phật Giáo lại đang được dân chúng ý quy y mỗi ngày một nhiều và tu học thật nhiệt tâm, nhiệt thành. Hiện diện ở Ý chỉ ba thập niên, thế mà Phật Giáo đã gia tăng hơn 1000%, từ 20 Phật tử năm 1960 đến 39 nghìn Phật tử năm 1996. Các cơ sở Phật Giáo được xây dựng, thiết lập từ thủ đô Rome đến tận làng mạc xa xôi. Người Phật tử Ý lại có đạo tâm rất cao trong việc hoằng dương chính pháp. Chẳng hạn như nhà điện ảnh kiêm đạo diễn Bernado Bertolucci đã giới thiệu Phật Giáo với thế giới bằng cuốn phim "Little Buddha" phí tổn tới 33 triệu Mỹ kim. Hoặc như cầu thủ bóng đá nổi tiếng với giải tượng vàng Golden Football 1993, đó là Roberto Baggio đã đóng góp nhiều công đức cho Phật Giáo ở Ý và nhiều nước khác.

5. Anh quốc:

Hàng trăm nghìn Phật tử quy tụ trong hơn 340 cơ sở, đoàn thể, tổ chức, hội đoàn Phật Giáo trên khắp nước Anh, trong đó phải kể tới hai tu viện Phật Giáo nổi tiếng do Thượng Tọa Ajahn Sumedho (người Mỹ) điều hành là tu viện Amaravati có 33 vị Tăng, 12 vị Ni, 16 Sa Di và Sa Di Ni tu học và Tu viện Chithurst có 65 vị Tăng. Hội Phật Giáo The Buddhist Society được thành lập do Tiến Sĩ luật khoa Christmas Humphreys - nguyên Cố Vấn Pháp luật của Hoàng Gia Anh - là một trong các tổ chức có công truyền bá Phật Giáo tại nước Anh và Âu Châu. Hội xuất bản tạp chí " The Middle Way" (Trung đạo) phát hành khắp thế giới. Phật Giáo còn được chính phủ cho giảng dạy từ cấp tiểu học đến đại học. Hiện nay Phật Giáo ở nựớc Anh đã có hai viện Cao Đẳng Phật Học, có chương trình truyền bá Phật Giáo hàng ngày trên đài truyền hình và truyền thanh B.B.C.

Tác giả John Snelling trong sách "The Buddhist Handbook" đã nói về sự lớn mạnh của Phật Giáo ở  nước Anh nói riêng và ở Tây Phương nói chung: "Phật Giáo đã đạt được nền tảng to lớn ở Tây phương trong vòng hai mươi năm qua. Mới đây, Phật Giáo đã được đón nhận như là tôn giáo phát triển nhanh nhất ở Anh Quốc. Đã có trên 100 đoàn thể (Phật Giáo) và các trung tâm được thiết lập ở nước này hiện nay, ở Hoa Kỳ còn nhiều hơn, và con số lại gia tăng ở Âu Châu nữa. Đó là từng chỉ dấu cho thấy sự chú ý đến Phật Giáo sẽ còn tiếp tục lớn mạnh, vì Phật Giáo rõ ràng cung ứng được một số nhu cầu sâu xa về tinh thần cho con người của thế giới Tây Phương mà các tôn giáo truyền thống của họ đã thất bại hoàn toàn. Người ta có thể hỏi : "Phật Giáo có gì đặc biệt giá trị và hữu ích vậy?" (Buddhism has gained enormous ground in the West during the past twenty years. Recently, it was hailed as the fastest growing religion in Britain. There ae ever one hundred groupe and centers established here by now, more in the United States, and an ever-increasing number in Europe too. There is every indication that the interest in Buddhism will continue to grow, for it clearly supplies some deep spriritual need in the people of the Westem world that their established religious traditions fail to fully supply. One might well ask, then: “What does Buddhism possess that is especially valuable and helpful?" .

6. Ba Lan:

Vốn là quê hương của Giáo Hoàng John Paul II, lại là nước Ca Tô Giáo toàn tông, thế mà Phật Giáo cũng được dân chúng quy kính tu học đông đảo và thuần thành. Không phải chỉ sau 1989 mà ngay cả khi chế độ Cộng Sản còn đương quyền, người Ba Lan cũng đã tu học sốt sắng dù bị rất nhiều ngăn cấm và gặp rất nhiều khó khăn. Thiền Tông rất được dân chúng tu tập. Thiền Sư Philip Kapleau (người Mỹ) là vị Tăng đầu tiên tới truyền bá Phật Giáo ở Ba Lan. Thiền Viện Falenica vừa mới xây cất một thư viện tàng trữ một số lượng lớn về kinh sách Phật Giáo. Một trung tâm Phật Giáo khác cũng vừa được thành lập ở thủ đô thuộc giáo đoàn của Ngài, đó là Trung Tâm The Zwigzeg Buddystow Zen Center. Vị Thiền Sư người Mỹ khác là Genpo Sensei thuộc Trung Tâm Thiền Los Angeles (The Los Angeles Zen Center) cũng thường xuyên đến giáo hóa. Thiền Sư Seung Sahn, người Đại Hàn, thuộc Thiền Trường Quan âm (The Kwan Yin School of Zen) đã thành lập 8 Thiền Viện cho Phật tử Ba Lan. Cư sĩ Ole Nyadahl, người Đan Mạch vẫn đến giảng dạy các khóa Phật pháp tại Trung Tâm Phật Giáo The Warsaw Zen Center do Đại Đức Andreij Czarnecki , người Ba Lan, là giám đốc. Các cư sĩ Beru Khyentse và Tenga Rinpoche, đều là người Tây Tạng, hàng năm tổ chức các khóa tu học dài hạn tại Trung Tâm Thiền The Lubli Zen Center do Đại Đức Darek Gorzumski (người Ba Lan) là tu viện trưởng. Đạo hữu Jacek Kojlowski, thuộc Tịnh Độ Tông Ba Lan, cho biết một thư viện lớn sẽ được xây cất cho tất cả cộng đồng Phật Giáo ở thủ đô. Đoàn thể Phật Giáo lớn nhất là Vajrayana đã có 4000 Phật tử quy y, Đoàn đã mua khu đất rộng 7 hectares ở ngoại ô Warszawa để xây chùa tháp và các cơ sở cần thiết.

Đại lễ Phật Đản vẫn được tổ chức hàng năm ở thủ đô với sự tham dự đông đảo của hàng Phật tử, có năm đông tới 5 nghìn người. Theo tài liệu The lnternational Buddhist Directory thì đã có 30 cơ sở Phật Giáo phục vụ cho Phật tử ở khắp Ba Lan. Các cơ sở này không những phục vụ Phật tử Ba Lan mà còn cho cả những người ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa láng giềng đến tu học nữa (Different Buddhist Centers in Poland very often have visitors from other socialist countries interested in practised). Phật Giáo ở Ba Lan được coi là phát triển nhất và mạnh nhất so với nhiều nước Đông âu. Sự kiện này có ảnh hưởng rộng lớn đến sự chú ý gia tăng về Phật Giáo tại nhiều nước khác ở Đông âu sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt.

7. Scotland :

Phật Giáo cũng phát triển một cách rất khả quan. Cộng đồng Phật Giáo từ 8 năm trước đã hoàn thành việc xây cất ngôi chùa Samye Ling khang trang, tráng lệ nhất nước. Các Phật tử Ái Nhĩ Lan hiện đang chú tâm vào một Phật sự được coi là quan trọng hàng đầu, đó là việc mua nguyên hòn đảo Thánh (Holy Island) rất rộng lớn ở phía Tây ngoài khơi Firth of Clyde để thành lập Đại Tùng Lâm Phật Giáo. Đảo này là tài sản của Ca Tô Giáo La Mã ở thế kỷ thứ 6. Gọi là đảo Thánh vì trên đảo có nhiều hang động rất đẹp mà bên trong thờ các Thánh và nhiều cơ sở của Ca Tô Giáo. Đây còn là trung tâm hành hương của các giáo hữu Ca Tô Giáo, nhưng giáo hội Scotland đã phải đem bán vì từ lâu người Ca Tô Giáo không còn tới đây cầu nguyện nữa. Phật Giáo Scotland đã gây quỹ và mua được hòn đảo này. Hiện nay công tác chỉnh trang, chia khu, san bằng mặt đất đã hoàn tất. Phật Giáo Scotland đã mở cuộc thi vẽ họa đồ kiến trúc Đại Tùng Lâm và đã được 200 kiến trúc sư khắp thế giới gửi đồ án dự thi. Tin cho biết đại Phật sự này phải mất từ 20 đến 30 năm mới hoàn tất được tất cả các kiến trúc lớn nhỏ trên khắp hòn đảo, và lúc đó đảo này sẽ trở thành hòn đảo Phật Quốc.

8. Tiệp Khắc:

Sau khi trở thành nước tự do, dân chủ, vào tháng 2-1990, Tổng Thống Vaclav Havel đã mời Đức Đạt Lai La Ma viếng thăm nước Tiệp 5 ngày. Chính cuộc viếng thăm này đã khai mở đầu tiên đại cuộc hoằng dương chỉnh pháp tại nước Tiệp. Cũng trong cuộc viếng thăm này, nhiều sự việc đã xảy ra làm nhiều người ngạc nhiên và là nhân tố tốt đẹp cho việc hoằng truyền Phật Pháp tới dân chúng Tiệp. Tổng thống đã đón tiếp Đức Đạt Lai La Ma như một vị quốc khách. Hàng trăm nghìn dân chúng đứng hai bên đường từ phi trường đến dinh Tổng Thống để chiêm bái Ngài. Tổng Thống lại thỉnh cầu Ngài hướng dẫn một khóa Thiền cho Tổng Thống và các vị Tổng Trưởng mà Tổng Thống rất ưa thích và hứa sẽ học hỏi. Ngài còn cống hiến cho các vị một buổi thuyết pháp căn bản về Phật Giáo. Điều ngạc nhiên nữa là ông Sasha Newman - Cố Vấn Tối Cao của Tổng Thống - lại là một Phật tử đã quy y từ lâu. Dân chúng Tiệp cũng rất chú ý đến Phật Giáo và nhiều dịp gặp Đức Đạt Lại La Ma, họ đều hỏi Ngài rất nhiều về Phật Giáo. Họ cũng yêu cầu Ngài gửi các đoàn hoằng pháp và các Tăng, Ni đến truyền bá Phật Giáo nước Tiệp. Dù chưa có thống kê chính thức nhưng theo báo cáo của 12 trung tâm Phật Giáo thì số lượng Phật tử người Tiệp khoảng trên 10 nghìn. Các cộng đồng Phật Giáo đã thành lập Liên Đoàn Phật Giáo Tiệp Khắc (The Czechoslovakian Buddhist Union) và Liên Đoàn đã xin gia nhập vào Cộng đồng Phật Giáo Âu Châu, trở thành một trong 21 nước hội viên của Liên Đoàn Phật Giáo Âu Châu (The European Buddhist Union).

9. Nga:

Từ trước biến cố tháng 10-1917, cũng đã có sự hiện diện vô cùng phong phú của Phật Giáo. Em ruột của Nga Hoàng Nicholas II là Hoàng Thân Ukhtomaky rất uyên bác về Phật Học. Chùa Kuntsechoine là ngôi chùa đầu tiên ở nước Nga và Âu Châu được xây cất ở St. Petersburg từ năm 1908 đến năm 1915 mới hoàn tất. Các nhà Phật Học và các Phật tử nổi danh thời đó như Thượng Tọa Bandido Khampo, Đại Đức Bidya Dandaron, các cư sĩ Ivan Minayev, Sergei Oldenburg, Fyodor Stcherbasky, Theodore Stcherbasky, và Cibikov. Các vùng Buriyatia, Chiva, Tuva, Irkutsk có 2 triệu dân hoàn toàn là Phật tử, còn nhiều vùng khác ở Trung Á thuộc Nga dân cư đều là tín đồ Phật Giáo.

Nhưng Cộng Sản Nga đã cướp chính quyền và đặc biệt Stalin đã thi hành chính sách loại bỏ các tôn giáo khiến Phật Giáo Nga phái chìm đắm trong Pháp nạn dài lâu. Dù vậy, Phật tử Nga vẫn tích cực tu học thầm lặng nhất là sau thời Stalin. Họ tổ chức luân phiên tại nhà riêng các đạo hữu những buổi lễ tụng niệm, Thiền, thuyết pháp, trao đổi những tin sinh hoạt Phật Giáo trong nước và thế giới, hay chuyển cho nhau những sách báo Phật Giáo từ nước ngoài. Mỗi khi tổ chức như vậy phải đặt người canh gác mật vụ NKVD vì, nếu bị bắt, sẽ lãnh án cải tạo khó có ngày về vì tội truyền bá tôn giáo. Nỗ lực tu học của Phật tử Nga rất đáng khâm phục. Có người phải đi bộ hàng chục cây số dù nắng, mưa, bảo tuyết để đến nơi kể trên. Có người cố học thuộc các đoạn kinh Phật, sách, hay tin Phật sự ở các báo nước ngoài, vì không thể đem theo các tài liệu này sợ bị bắt, để phổ biến cho các Phật tử khác. Những chuyện như thế sau này được kể ra làm xúc động thế giới.

Trong bầu không khí "glasnost" tự do ở cuối thập niên 1980, và cuộc chuyển đổi ôn hòa từ Cộng Sản sang Dân chủ của ông Mikhail Gorbachev rồi Yeltsin, người dân đã được hưởng đầy đủ các quyền tự do. Nhờ đó Phật Giáo đang sinh động lại. Nhiều đoàn thề, hội đoàn, tổ chức Phật Giáo được thành lập ở khắp nước Nga. Chính phủ cũng trả lại tất cả các cơ sở Phật Giáo bị tịch thu trước kia. Trong bước đầu, các Phật tử Nga được các tổ chức Phật Giáo Tây Phương và các nước Phật Giáo Á Châu cung cấp kinh sách và yểm trợ dồi dào về vật chất như gây quỹ cúng dường tài chính để Phật Giáo Nga có phương tiện tổ chức và sinh hoạt, hoặc về tinh thần như đề cử các vị Tăng, Ni, giảng sư, cư sĩ thường xuyên đến viếng thăm, giúp đỡ, giảng dạy Phật pháp cho các Phật tử Nga. Hòa Thượng Tiến Sĩ Saddhattissa và các tăng ni, chùa Chiswick ở nước Anh có chương trình "hoằng dương Phật Giáo".

Phật Giáo Finland, Phật Giáo Scotland và Giáo Đoàn Phật Giáo Tây phương (The Western Buddhist Order) đang hoạt động tại 90 nước cũng đặt kế hoạch "phát triển Phật Giáo". Các tổ chức Phật Giáo Hoa Kỳ đề ra 12 phương hướng “khôi phục Phật Giáo". Nhờ vậy, Phật Giáo ở Nga đang hồi phục và phát triển rất nhanh. Hội Phật Giáo St. Peterburg (Leningrad cũ) (The St. Peterburg Society of Buddhists) - đã có 5 nghìn Phật tử hội viên. Chùa Kuntsechoine được hoàn trả lại, đã sửa chữa và do Thượng tọa Samayev, người Nga, trụ trì , hiện có 20 Sa di tu học. Hội Phật Giáo Estonia (The Estonian Buddhist Association) với 2 nghìn Phật tử mà vị lãnh đạo của hội đã được bầu làm cố vấn trong hội đồng chính phủ. Các cộng đồng Phật Giáo ở Novosibirsk, Kiev, Khalov và Tashkent cũng được thành lập. Hai ngôi chùa Ivolga và Ago đã được trùng tu và là nơi sinh hoạt cho 20 đoàn thể Phật tử ở Siberia. Một trung tâm Phật Giáo cũng được thành lập ở Kalmykia.

Các hội Phật Học ở MoscowLatvia trước kia cũng tái lập lại và đang tích cực sinh hoạt. Các Phật tử ở thủ đô Moscow ước nguỵện một ngôi chùa nguy nga, đồ sộ nhưng không thể tìm được khu đất nào rộng rãi nên đã mua một khu cao ốc ba tầng ở gần điện Kremlin (Cẩm Linh), giá trị l triệu Mỹ kim. Cao ốc đang được sửa chữa biến cải thành ngôi chùa cho Phật tử ở thủ đô đang gia tăng. Tại thủ đô nước Nga, một tạp chí Phật Giáo với 10 nghìn độc giả do cô Sasha Iakovleva làm chủ nhiệm cũng đã ra đời. Thượng Tọa Samayev cho biết các đài truyền thánh và truyền hình đều có chương trình Phật Giáo hàng tuần. Sự khôi phục và phát triển Phật Giáo ở Nga đang đạt được những thành công. Điều này chứng tỏ là người Nga đang có một sự lựa chọn mới cho cuộc sống tâm linh của họ.

10. Phi Châu:

Vì trình độ dân trí còn thích hợp với các tôn giáo thần quyền hoặc đa thần hoặc nhất thần nên Phật Giáo chưa phát triển khả quan mà còn chờ một thời gian nữa, đến khi dân trí đã cao, chắc chắn Phật Giáo sẽ hiển dương như tại các châu khác. Tuy nhiên, ở một số nước Phi Châu như Ghama, Mozambique, Zimbabwe, Phật Giáo lại phát triển vô cùng tốt đẹp, nhất là tại Nam phi (South Africa) ở các thành phố lớn như Ixopo, Johannesburg, Eastem Cape, Port Elizabeth, Pretoria, Durban, Cape Town, Somerset West, Nieu Bethesda, Cape Province, Swaziland… đều có các cơ sở Phật Giáo.

Trung Tâm Phật Giáo The Buddhist Retreat Center ở Ixopo trên khu đất rộng 300 acres do gia đình cư sĩ Louis và Molly Van Loon cúng dường và làm công quả. Đến cuối tuần là cả gia đình lái xe đến khu đất cách xa nhà 200 miles để phát cỏ, đốn cây, san bằng những chỗ trũng, chỉnh trang mặt đất. Sau đó trung tâm Phật Giáo được xây cất và trở thành một nơi tu học đông đảo. Hàng năm độ 5 nghìn người đến tham dự các khóa Phật Pháp, khóa Thiền ở trung tâm, trong đó có nhiều Phật tử đến từ nước láng giềng Zimbabwe. Trung tâm vẫn thường được các vị Tăng, Ni, cư sĩ, các nhà Phật Học đến thuyết pháp, giảng dạy như Ni Sư Ayya Khema (người Đức), các Đại Đức Sucitto và Anando (người Anh), Olande Thera (người Sri-Lanka), Geshe Damcho Yonten (người Tây Tạng), cư sĩ Tiến Sĩ Alex Berzin (người Mỹ). Mới đây trung tâm an vị pho tượng Đức Phật Thích Ca lộ thiên, có thể nói lớn nhất ngoài Á Châu. Trung tâm có kế hoạch xây cất một tu viện Phật giáo đào tạo Tăng, Ni để hoằng dương chính pháp tại các nước Phi Châu. Trung tâm Phật Giáo The Nieu Bethesda Center đang kiến tạo một cảnh chùa ở vùng núi Sneeuberg. Thiền Sư Seung Sahn, người Đại Hàn, lại mở Trung Tâm The Dharma Center ở vùng biển False Bay.

Tóm lại, qua các dữ kiện và sự kiện vừa kể, có thể khẳng định được rằng Phật Giáo đang là tôn giáo phát triển nhanh, mạnh và vững nhất tại Tây Phương.

MINH NGỌC

            California, 8 - 1997

 

     


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com