
posted: 29.11.04
NGUYÊN ĐỊNH MỘT VÀI SUY
NGHĨ VỀ ĐẠI TẠNG KINH VIỆT Mỗi dân tộc
đều có một thứ tiếng nói và chữ viết chính thức. Như thế thì mọi
sinh hoạt có liên quan đến chữ viết của cộng đồng dân tộc ấy - kể
cả sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, đều phải dựa trên thứ chữ viết
chính thức kia. Người Việt Bài viết
này, chúng tôi xin điểm qua tình hình diễn tiến của Đại Tạng
Kinh Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh đến sự cần thiết, cấp bách
của việc góp phần hoàn thành Đại Tạng Kinh ấy. Chữ Hán là văn
tự của người Trung Hoa. Điều đáng nói là ông cha ta, từ xa xưa do hoàn
cảnh lịch sử, đã từng học tập và sử dụng thứ chữ ấy - tất
nhiên là phát âm theo cách của mình - xem nó như một thứ quốc ngữ. Ông
cha chúng ta, trải qua nhiều thế hệ, đã dùng chữ Hán để sáng tác,
chép sử, viết sách khảo cứu, bày tỏ tư tưởng v.v... và coi đấy là
chuyện bình thường. Văn học chữ Hán chẳng hạn, đã tồn tại và phát
triển trên 1500 năm là một bộ phận trong gia tài văn học Việt Trước đây
ở miền Nam, một số người viết lịch sử văn học Việt Nam, tiêu biểu
là ông Phạm Văn Diêu đã chủ trương gạt bỏ phần văn học chữ Hán ra
khỏi văn học Việt Nam. Trong sách Văn Học Việt Nam I, nhà xuất bản
Tân Việt, S, 1960, ông Diêu đưa ra luận điểm sau đây để làm nền tảng
cho sự gạt bỏ của mình: "Văn học một quốc gia, một dân tộc
không thể viết bằng chữ nước ngoài được" (sđd, tr.31). Lập luận
như thế là đúng nhưng chưa đủ, lại càng không thấu tình đạt lý
vì không xét tới hoàn cảnh đặc thù của ông cha ta ngày trước đã học
tập sử dụng chữ Hán, cũng như không bàn đến phần nội dung đậm đà
tính chất dân tộc của mảng văn học ấy. Thực tế lịch sử đã hoàn
toàn bác bỏ một thứ quan điểm lệch lạc như vậy. Văn học còn thế huống
chi là các lãnh vực lịch sử, học thuật, tư tưởng v.v... Muốn tìm hiểu
người xưa chúng ta không thể không tham khảo các tác phẩm chữ Hán, mặc
dầu phần lớn đã được dịch ra chữ Quốc ngữ. Phật Giáo
được truyền vào Trung Quốc, ở đó, với mảnh đất rộng lớn, dân
cư đông đúc, và một nền văn hóa sớm phát triển, đạo Phật đã gặp
được một số điều kiện thuận lợi để phát huy cả về chiều sâu,
chiều rộng của mình. Kinh điển của Phật Giáo bằng tiếng Phạn đã
được đưa vào Trung Quốc qua nhiều ngả và bằng nhiều cách, đồng thời
phong trào dịch thuật kinh điển Phật Giáo đã phát triển sớm và liên tục,
với những gương mặt dịch giả nổi danh như Trúc Pháp Hộ (thế kỷ
3-4), Cưu Ma La Thập (344-413), Huyền Tráng (602-664), v.v. .. dẫn tới
việc hình thành sớm Đại Tạng Kinh chữ Hán đầu tiên vào năm 983 đời
Triệu Tống (960-1276). Theo giáo sư
Nguyễn Lang, Đại Tạng Kinh này do vua Tống Thái Tổ ban chiếu khắc
từ năm 972 đến năm 983 thì hoàn thành, gồm 13 ngàn bản gổ, 1076 Kinh, 480
tập và 5048 quyển. Ấn bản Đại Tạng Kinh thứ hai của Trung Hoa bắt đầu
từ năm 1080 đến năm l176 mới hoàn thành, gồm 6434 quyển, gọi là Sùng
Ninh Vạn Thọ Đại Tạng, cũng được thực hiện trong triều Triệu Tống
(VNPGSL, T.1, tr.213-214). Các đời Nguyên (1277-1368), Minh (1368-1643), Thanh
(1644-1911) lần lượt đều có khắc in Đại Tạng Kinh một cách trang trọng. Cũng theo sách
Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, T.1, thì trong đời Lý ở nước ta
(1010-1225), Đại Việt đã cho sứ thần sang Trung Quốc
bốn lần để thỉnh Đại Tạng Kinh chữ Hán, vào các năm 1018, 1034,
1081 và 1098. Đồng thời
vào các năm 1023, 1027, 1036, các vua Lý cũng ra lệnh cho chép thêm Đại Tạng
Kinh để hỗ trợ cho nhu cầu tham khảo, học hỏi của giới Phật tử bấy
giờ (sđd, tr.213-214). Dưới triều Trần (1225-1400), Đại Tạng Kinh Chữ Hán
được thỉnh Trung Quốc vào năm 1295, đó là ấn bản đầu tiên được thực hiện trong đời Nguyên, năm 1278
đến năm 1294 thì hoàn tất, gồm 1422 mục, 6010 quyển, đóng lại trong 587 tập. Dựa theo ấn bản này, nhà
Trần đã cho khắc in lại, bắt đầu từ năm 1296, bị gián đoạn vào năm
1308 khi vua Trần Nhân Tông tức Trúc Lâm Đệ Nhất Tổ qua đời, đến
năm 1319 thì xong, dưới sự trông coi của thiền sư Bảo Sát, đệ tử đầu
của Trúc Lâm Đệ Nhất
Tổ (Nguyễn Lang, Sđd, tr.337-338). Sau Lý Trần, các triều đại Hậu Lê, Trịnh-Nguyễn
phân tranh, Tây Sơn,
Nguyễn, công việc thỉnh Đại Tạng Kinh từ Trung Quốc, tất nhiên là
không quy mô bằng, nhưng
thỉnh thoảng vẫn có, hoặc do nhà nước, hoặc do các thiền sư Trung Hoa
mang sang. Sách
Tang Thương Ngẫu Lục, nơi truyện Thiền sư
Chuyết Công do Tùng Niên Phạm Đình Hổ (1768-1839) viết, có đoạn: "Hồi tiên triều trung hưng, có người thầy tu ở bên Trung
Hoa là thiền sư Chuyết Công, đi thuyền chở hơn ba vạn quyển kinh Tam Tạng sang Nam, lên núi Lan
Kha, bỗng chợt có ý nghĩ gì đó, liền trụ trì ở đấy. Ở được hơn
một năm, kinh Tam Tạng
bị chuột gặm mất nửa, sư lại về Trung Hoa lấy kinh đem sang. Sau đời Lý Trần, đạo Phật được hưng thịnh lên là nhờ công đức của vị
sư này". Tang Thương Ngẫu Lục còn cho
biết là thiền sư Chuyết Chuyết đã từng trao sách bí mật cho Trạng Nguyên
Nguyễn Đăng Đạo lúc ông này còn là thư sinh. Và có người còn ngờ rằng
thiền sư là hậu thân của vua Lý Anh Tôn (cả hai đều cùng tên là Lý
Thiên Tộ) " (Tang Thương Ngẫu Lục, Đạm
Nguyên dịch, Bộ GD xb, S, 1970, T2, tr.228). Sự
việc này, sách VNPGSL của giáo sư Nguyễn Lang viết: "Đến năm 1633, Thầy trò thiền sư Chuyết Chuyết và đệ
tử tới được kinh thành Thăng Long, Thầy trò ông cũng có mang theo một số
kinh điển. Sau một thời gian, Chuyết Chuyết dời về chùa Phật Tích, huyện
Tiên Du, Bắc Ninh. Vì chúa Trịnh Tráng muốn có thêm kinh điển Phật Giáo
để lưu hành trong nước, cho nên thiền sư Chuyết Chuyết đã ủy đệ tử
mình là Minh Hành trở về Trung Hoa để thỉnh kinh" (VNPGSL, T2, Sđd, tr. l16). Rõ ràng là sách Tang Thương
Ngẫu Lục, như tên sách đã khơi gợi (Ngẫu hứng chép chuyện bể dâu)
đã cố tình khai thác khía cạnh dân gian-quái dị của sự việc, nhưng điều
đáng nói là cái âm vang đáng kể của thiền sư Chuyết Chuyết (1590-1644),
người được xem là mở đầu cho phong trào phục hưng Phật Giáo Việt Nam
ở thế kỷ 17, đối với xã hội đương thời. Ở
Nam Hà thì vào năm 1714, chúa Nguyễn Phúc Chu (1675-1725), sau khi trùng
tu Tổ đình Thiên Mụ, đã tổ chức đại hội tại chùa, trai đàn chẩn tế,
và thỉnh một bộ Đại Tạng Kinh từ Trung Hoa đem về trưng bày ở Tàng
Kinh Lâu của ngôi Tổ đình ấy (VNPGSL, T2, sđd, tr.241). Sang
thế kỷ 20, cùng với Phong trào chấn hưng Phật Giáo, một số thư
viện của các
Hội Nghiên Cứu Phật Học, Phật Học Đường,… cũng đã vận động để
mua Đại Tạng Kinh chữ Hán, làm tài liệu nghiên cứu, học tập cho Phật
tử, các học giả v.v... như thư viện Pháp Bảo Phương của Hội Nam Kỳ
Nghiên Cứu Phật Học (l932), thư viện
của Phật Học Đường Lưỡng Xuyên (1934). Nhìn
chung, giới Phật tử Việt Nam ngày trước, học chữ Hán, tụng niệm cũng
như học hỏi, nghiên cứu kinh điển
Phật qua Đại Tạng Kinh chữ Hán là điều bình thường, hợp lẽ. Điều
đáng nói thêm là không hề vì học chữ
Hán, chú trọng chữ Hán mà cửa Thiền tỏ ra lơ là với tinh thần dân tộc,
vì văn học dân tộc. Văn học chữ Nôm chẳng hạn, đã có sự đóng góp
rất đáng kể từ cửa Thiền. Câu nói của giáo sư Trần Văn Giàu: "Bình minh của lịch sử dân tộc ta đã gắn với Phật
Giáo" (Bài: Đạo Phật và một số vấn
đề của lịch sử tư tưởng Việt Nam, in trong: Mấy Vấn Đề Về Phật
Giáo Và Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam, Viện Triết Học xb, H,1986, tr. 15) nếu
đúng cho văn học Việt Nam, thì lại càng đúng với văn học chữ Nôm. Các
tài liệu về văn học chữ Nôm đời Trần còn lại mà chúng ta hiện có gồm
bốn bài: ba bài phú : Cư Trần Lạc Đạo của vua Trần Nhân Tông, Vịnh
Hoa Yên Tự của thiền sư Huyền Quang, Giáo Tử Phú, tương truyền là của
Mạc Đỉnh Chi, và một bài ca: Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo, của
vua Trần Nhân Tôn, tất cả đều là từ cửa Thiền. Bài thơ chữ Nôm đánh
dấu cho thời kỳ trưởng thành của văn học chữ Nôm ở đầu thế kỷ
15 cũng được sáng tác từ cửa Thiền, đó là bài thơ Cầu Siêu cho
Nguyễn Biểu của nhà sư chùa Yên Quốc (xem Thơ Văn Lý Trần, T3, nhà
xb KHXH, H, 1978, tr.515-516). Bản thân một số các vị thiền sư cũng đã
dùng chữ Nôm để sáng tác hoặc dịch thuật, như thiền sư Tuệ Tĩnh
(thế kỷ 17) dịch sách Khóa Hư Lục của vua Trần Thái Tông ra chữ Nôm,
viết phú về thuốc Nam (Nam dược quốc ngữ phú); thiền sư Hương Hải
(1628-1715
) với tập thơ Sự Lý Dung Thông; thiền sư Chân Nguyên (1646-1726) với
các tác phẩm Thiền Tông Bản Hạnh, Thiền Tịch phú ; thiền sư Toàn Nhật
(thế kỷ 18) với tác phẩm Hứa Sử Truyện Vãn gồm đến 4486 câu thơ Nôm
lục bát. Tất cả đủ chứng tỏ là
cửa Thiền không hề xem chữ Nôm là nôm na
mách qué. Đại
Tạng Kinh chữ Hán mang tính hiện đại, quy mô được sưu tập đầy đủ, đối chiếu kỹ
lưỡng, là Đại Chính Tân
Tu Đại Tạng Kinh
được thực hiện từ năm 1922 đến
năm 1934, gồm 100 tập, mỗi tập trên dưới 800 trang, khổ 23 x 26, mỗi
trang gồm 3 ô, với 2920 danh
mục Kinh, Luật, Luận, Sớ giải, sử truyện v.v... được sắp xếp theo thứ
tự 31 Bộ như sau : 1
A HÀM BỘ (TẬP 1, 2 ) 2
BẢN DUYÊN
BỘ (TẬP 3, 4) 3
BÁT NHÃ BỘ (TẬP 5, 6, 7, 8) 4
PHÁP HOA BỘ (TẬP 9) 5
HOA NGHIÊM BỘ (TẬP 9, 10) 6
BẢO TÍCH BỘ (TẬP 11, 12) 7
NIẾT BÀN BỘ (TẬP 12) 8
ĐẠI TẬP BỘ (TẬP 13 ) 9
KINH TẬP BỘ (TẬP 14, 15, 16, 17 ) 10
MẬT GIÁO BỘ (TẬP 18, 19, 20, 21) 11
LUẬT BỘ (TẬP 22, 23, 24) 12
THÍCH KINH LUẬN BỘ (TẬP 25,
26) 13
TỲ ĐÀM BỘ (TẬP 27, 28, 29) 14
TRUNG QUÁN BỘ (TẬP 30) 15
DU GIÀ BỘ (TẬP 30, 31) 16
LUẬN TẬP BỘ (TẬP 32) 17
KINH SỚ BỘ (TẬP 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39) 18
LUẬT SỚ BỘ (TẬP 40) 19
LUẬN SỚ BỘ (TẬP 40, 41, 42, 43, 44) 20
CHƯ TÔNG BỘ (TẬP 44, 45, 46, 47, 48) 21
SỬ TRUYỆN BỘ (TẬP 49, 50, 51, 52) 22
SỰ VỰNG BỘ (TẬP 53, 54) 23
NGOẠI GIÁO BỘ (TẬP 54) 24
MỤC LỤC BỘ (TẬP 55) 25
TỤC KINH SỚ BỘ (TẬP 56, 57, 58, 59, 60, 61) 26
TỤC LUẬT SỚ BỘ (TẬP 62) 27
TỤC LUẬN SỚ BỘ (TẬP 63, 64, 65, 66, 67 ,68, 69, 70) 28
TỤC CHƯ TÔNG BỘ (TẬP 70,7l, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78,79, 80, 81, 82, 83, 84) 29
TẤT ĐÀM BỘ (TẬP 84) 30
CỔ DẬT BỘ (TẬP 85) 31
NGHI TỰ BỘ (TẬP 85); 15
tập còn lại (từ tập 86-100) của ĐCTT gồm:
Tập 86-97: ghi chép dẫn giải về các đồ hình và tượng v.v… (12 Tập);
Tập 98-l00 (3 Tập): Chiêu Hòa Pháp Bảo Tổng Mục Lục. Chúng ta đều biết, mọi sự phân loại,
sắp xếp đều chỉ có giá trị tương đối, nhưng phân loại và sắp xếp
toàn bộ hệ thống sách như Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh đã làm như
trên là hợp lý. Vì vậy, mọi dịch thuật về Hán Tạng hiện nay ở Việt
II. ĐẠI TẠNG KINH CHỮ VIỆT Chữ Việt ở đây là chỉ cho chữ Quốc
Ngữ. Vào mấy
thập kỷ đầu của thế kỷ 20, một trong số các biến chuyển có liên
quan đến chữ viết ở nước ta, đáng kể nhất là định hình của chữ
Quốc Ngữ, chứng tỏ khả năng có thể dùng để sáng tác cũng như diễn
đạt mọi lãnh vực học thuật, tư tưởng. Cùng với việc chữ Hán không
còn thông dụng trong sinh hoạt xã hội nữa, thì
đối với cửa Thiền, nhu cầu cần dịch kinh điển từ chữ Hán sang chữ
Quốc Ngữ đã được đặt ra và thực hiện
liên tục thời kỳ Chấn hưng Phật Giáo ( 1930) đến hôm nay. Nhìn chung, hơn 60 năm qua, lý do chính
khiến cho Phật Giáo Việt Nam chưa hoàn thành đầy đủ Đại Tạng Kinh chữ
Việt, gồm cả Nam truyền và Bắc truyền, nằm ở phía khách quan: chúng ta
chưa có thời gian tương đối ổn định và dài hạn để huy động mọi nỗ lực cho Phật sự lớn lao ấy. Trước
1945, dự tính về Đại Tòng Lâm Kim Sơn - Huế – đã nằm trong tầm
khả thi, nhưng rồi đành gác lại với biến chuyển lớn và dồn dập của
thời cuộc: cách mạng tháng tám 1945, rồi kháng chiến… Ở miền
Nam, thời kỳ 1965- 1975, Phật
Giáo đã có được một số hoàn cảnh tương đối thuận tiện,
Giáo Hội Phật Giáo đã có nhiều quan tâm đồng kể, Hội Đồng phiên
dịch Đại Tạng Kinh đã được thành lập, hội đồng này đã hoạch
định chương trình làm việc, phần công v.v... Rất tiếc, là chưa tạo
được cơ sở tài chính, rồi tiếp đến là những biến chuyển đưa tới
đất nước thống nhất .v.v... nên Phật sự lớn lao ấy cũng phải đình
lại. Tất nhiên là từ thời kỳ chấn hưng
Phật Giáo đến nay, có những đóng góp lẻ tẻ, liên tục của các bậc
tôn túc, các học giả, các nhà nghiên cứu v.v... cho quá trình hình thành
Đại Tạng Kinh Việt 1.
Thời Kỳ
1932-1954: a. Ở miền Nam:
Cùng với tạp chí Từ Bi âm (1932) của Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật
Học (1931), các thiền sư Bích Liên
(1876-1950), Liên Tôn (1882-1951) đã dịch kinh Thủ Lăng Nghiêm, diễn
nghĩa các kinh A Di Đà, Kim Cang
Bát Nhã, Luật Sa Di. Tạp chí Duy tâm của Hội Lưỡng Xuyên Phật Học
(1934), ngay khi ra đời (1935) đã dịch các kinh Ưu Bà Tắc Giới, Quản Vô Lượng Thọ
Phật. Thiền sư Thiện Chiếu (1898-1974), cây bút chính của tạp chí Tiến
Hóa (1938) cơ quan của Hội Phật Học Kiêm Tế (1937), ngoài việc biên
soạn, trước tác, cũng đã dịch các Kinh Lăng Nghiêm, Pháp Cú. Cư sĩ Đoàn
Trung Còn, với cơ sở xuất bản Phật Học Tùng Thư
ra đời ở Sài Gòn từ năm 1932, hoạt
động liên tục đến năm 1975, cũng đã có nhiều đóng góp vào lãnh vực
dịch Kinh, Luật cũng như ấn hành Từ điển Phật Học. b. Ở
miền Trung: Cùng tạp chí Viên âm (1933) cơ quan của Hội An Nam Phật
Học (1932), Cư sĩ
Tâm
Minh Lê Đình Thám (1897-1969)
đã
dịch các Kinh, Luận: Thủ Lăng Nghiêm, Chỉ Quán, viết bài giới thiệu
về Nhân Minh. Thiền sư Trí Độ (1895- 1979), lúc còn làm việc cho tạp
chí Từ Bi âm, đã dịch và chú giải các Kinh A Di Đà, Phổ Môn, Vu
Lan Bồn. Từ
năm
1935, giữ cương vị Đốc giáo trường An Nam Phật Học, Huế, thiền sư đã
viết bài giới thiệu về Nhân Minh, dịch Luận Chỉ Quán... c. Ở miền Bắc:
Hội Bắc Kỳ Phật Giáo được thành lập năm 1934, và trong buổi lễ suy
tôn thiền sư Thanh Hanh (1840-1936) làm Thiền Gia Pháp Chủ, tổ chức vào
ngày 23-12-1934, Hội đã làm dâng cúng Phật cuốn Kinh Thiện Sinh mới được
Hội dịch và cho ấn hành. Cư sĩ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha, một
trong hai cây bút chính của tạp chí Đuốc Tuệ (1935), cơ quan của Hội
Bắc Kỳ Phật Giáo, ngoài việc biên soạn Tự Điển Hán Việt, trước tác
các sách, còn dịch các Kinh như: Lễ Sáu Phương, Di Giáo, Di Đà, Tứ Thập
Nhị Chương. Thiều Chửu cũng là người đầu tiên dịch sách Khóa Hư Lục
của vua Trần Thái Tông ra chữ Quốc Ngữ (1935). Thiền sư Trí Hải (1906-1979),
một trong số các vị tôn túc sáng lập Hội Bắc Kỳ Phật Giáo, dù rất
bận bịu với Phật sự, cũng đã dịch: Kinh Lục Độ Tập, sách Khóa Hư
Lục, sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên
Thanh
của Ngô Thì Nhậm (1746-1803), cùng với Nguyễn Trọng Thuật biên khảo
về Việt Nam Thiền Tông Thế Hệ
(Đuốc
Tuệ), bình
luận về sách Khóa Hư Lục (Nam phong). Việc Hội Phật Giáo Bắc Kỳ ấn
hành bộ Việt
Nam
Phật Điển Tùng San
và các thiền sư Trí Hải,
cư
sĩ Thiều Chửu dịch các sách Khóa Hư Lục, Trúc
Lâm
Tông Chỉ Nguyên Thanh, chứng tỏ một sự quan tâm đáng kể đối với các
tác phẩm văn học Phật Giáo Việt Nam. Ngoài ra, nên kể thêm Hội Phật Tử
Việt Nam được thành lập tại Hà Nội năm 1949 với Bán nguyệt san Bồ
Đề ra đời từ 22-9-1949, hoạt động đến năm 1954 do cư sĩ Tuệ Nhuận
Văn Quang Thùy làm chủ nhiệm kiêm chủ bút; thông qua tạp chí này, ông đã
dịch, chú giải Duy Thức Tam Thập Tụng, Thập Mục Ngưu Đồ... 2.
Thời Kỳ 1954-1975: a. Ở miền Bắc:
Các
phật sự liên quan đến việc dịch thuật kinh sách ở miền Bắc trong thời
gian này hầu như không có gì, chỉ có
ba trường hợp đáng chú ý: Năm 1961, toàn bộ Kinh Thủ Lăng Nghiêm
do cư sĩ Tâm Minh Lê
Đình
Thám
dịch và chú giải đăng trên tạp chí Viên âm trước đây, giờ được
xuất bản; ấn bản này, vào năm 1973, gia đình của cư sĩ Tâm Minh ở Sài
Gòn đã cho tái bản 3000 cuốn (500 cuốn ấn tống)
góp
phần phổ biến bản dịch công phu, có giá trị của một bộ Kinh quý, bộ
Kinh mà nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) đã hết lời ca ngợi (Kiến
Văn
Tiểu Lục, Phạm Trọng Điềm dịch, nhà xb KHXH, H, 1977, tr.369). Tác phẩm
Khóa
Hư Lục
của vua Trần Thái Tông đã được học giả Đào Duy Anh dịch, chú
giải (1972) và nhà xb KHXH
ấn
hành năm 1974. Tác phẩm
Trúc
Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh của Ngô Thì Nhậm đã được giáo sư Cao
Xuân Huy dịch, chú giải, giới thiệu (1975) và sau
đấy
thì xuất bản . b. Ở miền Nam:
Mọi hoạt động của Phật Giáo tương đối phát triển, nhất
là
sau ngày chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ (1963). Chúng tôi
xin
ghi nhận những nét chính: Một số Kinh Luận tiêu biểu của
Phật
Giáo Bắc truyền đã được dịch, giới thiệu như: Kinh Pháp Hoa (thiền sư
Trí Tịnh, cư sĩ Đoàn Trung Còn, thiền sư Trí Quang, cư sĩ Mai Thọ Truyền,
thiền sư Trí Quảng), Kinh Hoa Nghiêm (thiền sư Trí Tịnh), Kinh Kim Cương
(thiền sư Thiện Hoa, thiền sư Trí Quang, thiền sư Thanh Từ, v.v...), Kinh Viên
Giác (thiền sư Trí Hữu, thiền sư Thiện Hoa, thiền sư Trí Quang), Kinh Lăng
Già (Sư bà Diệu Không, thiền sư Thanh Từ), Kinh Thủ Lăng Nghiêm (thiền sư
Thiện Hoa, cư sĩ Tuệ Quang ), Kinh Lục Độ Tập, Kinh Cựu Tạp Thí Dụ,
Kinh An Ban Thủ Ý ( Lê Mạnh Thát), Kinh Trường A Hàm (thiền sư Thiện Siêu
), Kinh Giải Thâm Mật (thiền sư Mật Nguyện, thiền sư Trí Quang), Kinh
Pháp Cú (Thiền
sư
Thiện Siêu, thiền sư Minh Châu, cụ Á Nam Trần Tuấn Khải, cư sĩ Phạm
Kim Khánh), Kinh Pháp Bảo Đàn (cư sĩ Đoàn Trung Còn, thiền sư Trí Quang,
thiền sư Thanh Từ ), Kinh Tâm Địa Quán (thiền sư Tâm Châu), Kinh Bách Dụ
(thiền sư Tâm Châu ), Kinh
Đại
Bát Niết Bàn (cư sĩ Đoàn Trung Còn, thiền sư Tâm Châu, thiền sư Trí Tịnh),
Kinh Duy Ma Cật (thiền sư Huệ Hưng, thiền sư Trí Quang), Kinh Na Tiên Tỳ
Kheo (cư sĩ Đoàn Trung Còn, cư sĩ Cao Hữu Đính), Kinh Địa Tạng (thiền
sư Trí Tịnh, thiền sư Trí Quang, cư sĩ Đoàn Trung Còn, cư sĩ Mai Thọ Truyền
). Một số bản kinh ngắn vẫn thường
được dùng để giảng dạy cho
các
lớp sơ cấp Phật học, cũng được nhiều vị dịch như
Kinh
Tứ Thập
Nhị
Chương, Kinh Di Giáo, Kinh Bát Đại Nhân Giác, Kinh Thập Thiện, Tâm Kinh Bát
Nhã v.v... Các bộ Luận được dịch như: Luận
Đại Thừa Khởi Tín (thiền sư Thiện Hoa, thiền sư Trí Quang, cư sĩ Cao Hữu
Đính), Luận Chỉ Quán (thiền sư Trí Quang), Luận Nhiếp Đại Thừa (thiền
sư Trí Quang), các sách cơ bản về Duy Thức Học (Thiện Hoa, Nhất Hạnh, Tâm
Giác), sách giới thiệu về Nhân Minh Học (Nhất Hạnh, Thiện Hoa, Thiện
Siêu). Mảng Luật cũng được chú ý dịch
giải: Giới Đàn Tăng (Thiện Hòa), Tư Phần Giới Bổn Như Thích, Sa Di Luật
Gíải (Hành Trụ), Phạm Võng Bồ Tát Giới (Hành Trụ, Trí Quang), Tỳ Kheo
Giới, Tỳ Kheo Ni Giới, Sa Di-Sa Di Ni Giới (Trí
Quang). Riêng thiền sư Minh Châu, đã dựa
vào Tạng Pali để dịch các bộ Kinh Trường Bộ , Kinh Trung Bộ .v.v... làm
phong phú thêm cho Đại Tạng Kinh Việt Các bộ sách về nghi thức sám hối nổi
tiếng đều được dịch: Từ Bi Thủy Sám (Huyền Dung, Trí Quang), Lương
Hoàng Sám (Viên Giác, Trí Quang), Dược Sư Kinh Sám (Trí Quang). Một số tác phẩm trong kho tàng văn học
Phật Giáo Việt 3.
Thời Kỳ Đất Nước Thống Nhất Sau ngày đất nước thống nhất, nhất
là từ khi cả nước chuyển mình theo hướng đổi mới, sinh hoạt Phật Giáo
nói chung cũng như riêng về mặt dịch thuật, in ấn, kinh sách đã có nhiều
tiến triển thuận lợi. Ban In ấn của Thành Hội Phật Giáo thành phố HCM
đã lần lượt ấn hành các bản dịch về Kinh, Luận, Ngữ Lục của các
bậc tôn túc, như: Kinh Đại Bảo Tích (thiền sư Trí Tịnh ), Kinh Phật Bản
Hạnh (thiền sư Trung Quán), Kinh Lăng Già (thiền sư Thanh Từ), Bộ Mật Tông
(thiền sư Viên Đức), Luận Đại Trí Độ (thiền sư Trung Quán), Khóa Hư
Lục (thiền sư Thanh Kiểm), Bích Nham Lục (thiền sư Thanh Từ), Lược giải
Kinh Pháp Hoa, Lược giải Kinh Duy Ma
(thiền sư
Trí Quảng). Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Một số vị tu sĩ Phật Giáo Việt
Nam ở nước ngoài cũng có những đóng góp cho Đại Tạng Kinh Việt Nam
như bản dịch Luận Trung Quán(Viên Lý),
đáng chú ý nhất là các bản dịch của thiền sư Nhất Hạnh (Kinh Người
Biết Sống Một Mình, Kinh Bát Đại Nhân Giác, Kinh Kim Cương, Kinh Tâm Kinh
Bát Nhã vv...). Ban In ấn và Phát Hành Đại Tạng
Kinh Việt Nam, trong nhiều năm qua đã in và phát hành được 24
tập, gồm các Kinh thuộc Tạng Pali do thiền sư Minh Châu dịch: Kinh
Trường Bộ, Kinh Trung Bộ, Kinh Tương Ưng Bộ,
Kinh Tăng Chi Bộ, và các Kinh thuộc Bộ A Hàm, do thiền sư Thiện Siêu, thượng
tọa Tuệ Sỹ cùng Viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức Nha Trang dịch . Riêng thiền sư Trí Quang, với
khoảng 25 danh mục về Kinh, Luật, Luận, đã được dịch trước 1975, sau
này bổ sung, sửa chữa, hoặc mới dịch, tất cả đều dựa theo ấn bản
của Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu để dịch, có tham khảo, đối chiếu
nơi các tài liệu, kể cả Tục Tạng Kinh, Thái Hư Toàn Tập vv... để chú
giải đầy đủ, kỹ lưỡng, tham bác văn phong dịch rất sáng sủa, hiện
đại, theo chúng tôi, là đỉnh cao nhất của sự thành công trong quá trình
hình thành Đại Tạng Kinh Việt Nam. II.
MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ ĐỀ XUẤT 1.
Chúng tôi xin đưa
ra một số nhận xét về hiện tình của
Đại Tạng Kinh Việt a. Về Số Lượng: Nhìn
chung, các bộ Kinh lớn, tiêu biểu của Phật Giáo
Bắc truyền như A Hàm, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Bảo Tích, Niết Bàn đều đã
được dịch. Riêng bộ Kinh lớn nhất của Đại Tạng Kinh chữ Hán là Đại
Bát Nhã
Ba La Mật Đa (600 quyển, do Pháp sư Huyền Tráng dịch từ chữ Phạn ra chữ
Hán, chiếm đến 3 tập
5,6,7 của Đại
Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu, No 220) cũng đã được một bậc tôn túc là
thiền sư Trí Nghiêm dịch xong từ lâu, hiện đang được gia công biên tập, nhuận
sắc để tiến tới xuất bản. Hiện tượng một bản Kinh, Luận vv... có
nhiều người dịch, cũng không có gì đáng phàn nàn, trái lại, còn làm tăng
sự dồi dào, phong phú cho Đại Tạng Kinh Việt Nam, nhất là khi các bản dịch
ấy phản ánh được khía cạnh ngôn ngữ của từng thời kỳ, hoặc thể
hiện những cố gắng, những nỗ lực nhằm tiếp cận các vấn đề thuộc
lãnh vực cao xa, thâm diệu. Điều đáng tiếc là chúng ta có quá nhiều bản
dịch trùng nhau không cần thiết, những việc làm hơi phí phạm thời gian và
công sức vì còn biết bao bộ Kinh, Luận, Sớ giải vv...trong Đại Tạng
Kinh chữ Hán cần được dịch. b. Về Chất Lượng: Trừ
một số thành tựu đáng kể nơi các dịch phẩm của thiền sư Trí Quang,
Nhất Hạnh, Lê Mạnh Thát, v.v… số đông dịch phẩm được đem in ấn,
chúng ta hầu như không đi qua khâu biên tập cần phải có của quá trình
xuất bản. Do vì chúng ta không có người làm công việc này, hay là do sự
cung kính đối với các bậc tôn túc mà không dám sửa chữa, biên tập
câu văn dịch của quý vị ấy? Đây là việc làm mang tính khoa học, thủ
tục trong công tác dịch thuật, in ấn xuất bản đối với mọi tác phẩm
dịch thuật từ một thứ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt, không
riêng gì chữ Hán, thành thử không hề có chuyện cung kính hay bất kính
ở đây. Chính vì thiếu khâu biên tập mà phần lớn các bản dịch Kinh,
Luật, Luận của chúng ta còn giẫm lại ở mức độ trực dịch, nặng từ
ngữ Hán Việt chưa thông dụng, câu văn dịch chưa được sáng sủa, ý tưởng
chưa được diễn đạt khúc chiết nên khó lãnh hội. Ở đây không hề có sự khen chê, ở
đây chỉ có sự thật của chánh pháp, và những người làm công việc dịch
thuật phải cố gắng làm cho tốt để phục vụ chánh pháp. Trên tinh thần
ấy, chúng tôi mong rằng, các cơ sở in ấn, xuất bản Kinh
sách Phật Giáo Việt Nam, nên chú trọng đến khâu biên tập hơn nữa, bản
thân các vị dịch giả cũng cần có ý thức khiêm tốn, cầu toàn, nên
liên hệ, hợp tác, hoặc nhờ các vị có trình độ chuyên môn về văn,
văn học hỗ trợ giúp mình ở khâu nhuận sắc, góp ý. 2.
Chúng tôi xin đề xuất một số khơi gợi như sau: a.
Trong
tương lai, hay bắt đầu từ giờ, chúng ta sẽ hình thành Đại Tạng Kinh
Việt b.
Tham
khảo cung cách sưu tập, phân loại của Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân
Tu, thì phải chăng toàn bộ các dịch phẩm về Kinh, Luật, Luận tờ Hán
sang Việt đã có từ trước tới nay đều được đưa vào Đại Tạng
Kinh Việt Nam? - Tất nhiên
là được biên tập và sắp xếp theo thứ tự thời gian. Ví như hiện chúng
ta có ít nhất trên 10 bản dịch Tâm Kinh Bát Nhã với những văn
phong, cách diễn đạt khác nhau, phải chăng tất cả đều được đưa hết
vào Đại Tạng Kinh Việt Nam? Cũng trên tinh thần của Đại Tạng Kinh Đại
Chính Tân Tu, toàn bộ các dịch phẩm dịch từ các tác phẩm trong kho tàng
văn học Phật Giáo Việt Nam, toàn bộ các tác phẩm về Phật học, được
biên soạn, trước tác, bình luận, sưu tập giảng giải, v.v… viết bằng tiếng Việt của các bậc tôn
túc, các cư sĩ, các vị học giả Phật Giáo có uy tín, hàm chứa ít nhiều
giá trị v.v… được xuất bản
từ trước đến nay đều được đưa vào Đại Tạng Kinh Việt Nam? Tất
nhiên là cũng như vừa nêu trên, đều được biên tập lại và sắp xếp
theo thứ tự thời gian, phân loại. Một vài dẫn chứng để chúng ta thấy
tinh thần trân trọng đối với các dịch phẩm, các trước tác của quá
khứ, nơi Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu: Kinh Tát Đàm Phân Đà Lợi,
No 265, mất tên người dịch, được cho vào dịch phẩm đời Tây Tấn, thuộc
Pháp Hoa Bộ, T9, số lượng chưa đầy 3,5 ô (hơn một trang), dịch ra tiếng
Việt khoảng 3 trang đánh máy, nội dung là một đoạn nhỏ, rất nhỏ của
kinh Pháp
Hoa. Bài Ngự Chế Quan Thế Âm Phổ Môn Phẩm Kinh Tự do vua Minh Thành
Tổ viết vào tháng 5 năm Vĩnh Lạc
thứ chín (1411), số lượng không đầy một ô, chưa bằng
l/3 trang, dịch ra chữ Việt chưa đầy một trang đánh máy. Cả hai Kinh và bài Tự ấy đều có mặt
trong Đại Tạng Kinh Đại Chính
Tân Tu. c.
Vấn
đề được nêu lên sau cùng: Thế thì đến lúc nào chúng ta bắt đầu
cho sự thành hình Đại Tạng
Kinh Việt 3.
Một việc làm âm thầm nhưng lớn lao: Theo chỗ chúng tôi được biết, từ
năm 1994, Thượng Tọa Tịnh Hạnh ở Đài Loan, dựa vào ngân khoản mà bản
thân mình tạo được, đã đứng ra hỗ trợ tài chính, hình thành hai
nhóm dịch Đại Tạng Kinh, một ở Nha Trang và
một ở thành phố HCM. Hai nhóm này đã quy tụ được một số Tăng, Ni,
cư sĩ trẻ, có trình độ nội và ngoại điển, hầu hết đều xuất thân
từ các Phật Học Viện, Phật Học Đường ở Trung, Nam trước đây, mỗi
nhóm do một vị tôn túc điều khiển tổng quát và lo phần chứng nghĩa, đã
hoạt động liên tục từ đó đến nay và đã đạt được những kết quả
bước đầu rất đáng phấn khởi.- Phương pháp làm việc là căn cứ vào
Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu, dựa theo sự đánh dấu của Đại Tạng
Kinh ấy (lược bỏ bớt một số trùng, lặp) để lần lượt theo No của
Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu mà dịch, những Kinh nào đã được dịch
rồi thì khỏi dịch, phần đầu mỗi kinh được
dịch đều ghi rõ : Tên
Kinh, Số
(theo No trong Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu), Hán
dịch:
Tên vị dịch giả từ chữ Phạn sang chữ Hán, dịch vào đời nào v.v... Việt
dịch:
Tên dịch giả dịch sang Việt văn, năm dịch… Ở bộ phận điều khiển tổng quát
đã cố gắng tham khảo tối đa , để tránh sự dịch trùng nhau, tuy vậy vẫn
không tránh khỏi. Sau đây là một vài thí dụ : a)
Kinh Lục Độ Tập, No 152 , Tập 3, thuộc Bản Duyên Bộ, gồm 8 quyển.
Kinh này đã được học giả Lê Mạnh Thát dịch từ trước 1975, in trong sách
Khương Tăng Hội Toàn Tập, T l, nhưng sách ấy mới được in ra năm 1995. Về
phía nhóm dịch Đại Tạng Kinh ở Nha Trang: Kinh Lục Độ Tập được cư
sĩ Tuệ Khai dịch xong từ đầu năm 1975. b)
Kinh Bi Hoa, No 157 , T3 , thuộc Bản Duyên Bộ, gồm 10 quyển, sư cô
Tâm Thường thuộc nhóm dịch Đại Tạng Kinh ở Nha Trang đã dịch xong từ
cuối 1995, sau đấy thì có bản dịch của ni sư Thích Nữ Như Hải được
xuất bản. c)
Kinh Phật Bản Hạnh, No 190, T3, cũng thuộc Bản Duyên Bộ, gồm 60 quyển,
nhóm dịch Nha Trang đã giao cho TT Quảng Bửu, Trường CB Phật Học Bình Định
dịch, và đã dịch xong vào đầu năm 1997, thì cũng trong thời gian này,
Thành Hội Phật Giáo thành phố HCM đã in ra với bản dịch của HT Trung
Quán. Đó
là một số trường hợp chúng tôi được biết. Như chúng tôi đã nêu ở trước, trường
hợp một bản Kinh có nhiều bản dịch là tốt, về khía cạnh ngôn ngữ,
nó giúp chúng ta thấy được ít nhiều cách sử dụng ngôn từ, cách diễn
đạt vấn đề qua từng thời kỳ; và về khía cạnh nhận thức, nó giúp
chúng ta có thêm sự phong phú, dồi dào trong quá trình tiếp cận đối tượng,
nhất là các đối tượng thuộc lãnh vực uyên ảo thâm diệu. Điều đáng
nói ở đây là đối với nhóm dịch Đại Tạng Kinh ở Nha Trang, dưới sự
bảo trợ của Thượng Tọa Tịnh Hạnh, nếu biết được Kinh A,B, đã có
người dịch, thì họ sẽ dành thì giờ để dịch sang Kinh khác. Cũng theo chỗ chúng tôi được biết,
thì hiện nay (tháng 5-1997),
nhóm dịch Đại Tạng Kinh ở Nha Trang đã dịch đến Tập 17 của Đại Tạng
Kinh Đại Chính Tân Tu. Trong tinh thần phục vụ đạo pháp, đóng góp chút
ít công sức nhỏ nhoi vào việc hình thành Đại Tạng Kinh Việt
Nam, chúng tôi mong các bậc tôn túc, các bậc học giả, các dịch giả,
trong khi chọn Kinh, Luật thuộc Hán Tạng để dịch, xin các vị nên có sự
liên lạc với nhóm Nha Trang để tránh sự trùng hợp không cần thiết,
(Liên lạc với HT Đỗng Minh, chùa Long Sơn, Nha Trang, Khánh Hòa, ĐT 058/ 82
72 39). Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu còn
rất nhiều, còn quá nhiều các mảng phải dịch, cần dịch, nên dịch, rất
cần sự đóng góp công sức và trí tuệ của chư vị. Mong ước về sự
hoàn thành Đại Tạng Kinh Việt Nguyên
Định Hà
Nội, Mùa
Phật Đản 97. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com