1204-world.gif (4030 bytes)

posted: 29.11.04

   NGUYÊN ĐỊNH

MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ ĐẠI TẠNG KINH VIỆT NAM  

Mỗi dân tộc đều có một thứ tiếng nói và chữ viết chính thức. Như thế thì mọi sinh hoạt có liên quan đến chữ viết của cộng đồng dân tộc ấy - kể cả sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, đều phải dựa trên thứ chữ viết chính thức kia.

Người Việt Nam theo Phật Giáo, học hỏi, tu tập, tụng niệm, thực hiện các nghi lễ, giảng dạy Phật pháp, in ấn kinh sách v.v.. . tất cả đều phải sử dụng tiếng Việt Nam, chữ viết Việt Nam, là điều hầu như tự nhiên, hợp lẽ. Tuy vậy, trong thực tế lịch sử gần hai ngàn năm đạo Phật đã truyền bá và phát triền trên đất nước ta, cùng với sự biến chuyển của chữ viết Việt Nam, chữ viết dùng để ghi chép kinh điển Phật Giáo ở nước ta cũng diễn biến không đơn giản. Cho đến hôm nay, để chuẩn bị bước vào thế kỷ 21, Phật Giáo Việt Nam đang cố gắng để hoàn thành Đại Tạng Kinh Chữ Việt trên cơ sở Tạng Pali và Tạng Hán, làm cơ sở vững chắc cho sự tu học của người Phật tử Việt Nam.

Bài viết này, chúng tôi xin điểm qua tình hình diễn tiến của Đại Tạng Kinh Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh đến sự cần thiết, cấp bách của việc góp phần hoàn thành Đại Tạng Kinh ấy.

 I. ĐẠI TẠNG KINH CHỮ HÁN

Chữ Hán là văn tự của người Trung Hoa. Điều đáng nói là ông cha ta, từ xa xưa do hoàn cảnh lịch sử, đã từng học tập và sử dụng thứ chữ ấy - tất nhiên là phát âm theo cách của mình - xem nó như một thứ quốc ngữ. Ông cha chúng ta, trải qua nhiều thế hệ, đã dùng chữ Hán để sáng tác, chép sử, viết sách khảo cứu, bày tỏ tư tưởng v.v... và coi đấy là chuyện bình thường. Văn học chữ Hán chẳng hạn, đã tồn tại và phát triển trên 1500 năm là một bộ phận trong gia tài văn học Việt Nam mà nhà nghiên cứu văn học không thể bỏ qua.

Trước đây ở miền Nam, một số người viết lịch sử văn học Việt Nam, tiêu biểu là ông Phạm Văn Diêu đã chủ trương gạt bỏ phần văn học chữ Hán ra khỏi văn học Việt Nam. Trong sách Văn Học Việt Nam I, nhà xuất bản Tân Việt, S, 1960, ông Diêu đưa ra luận điểm sau đây để làm nền tảng cho sự gạt bỏ của mình: "Văn học một quốc gia, một dân tộc không thể viết bằng chữ nước ngoài được" (sđd, tr.31). Lập luận như thế là đúng nhưng chưa đủ, lại càng không thấu tình đạt lý vì không xét tới hoàn cảnh đặc thù của ông cha ta ngày trước đã học tập sử dụng chữ Hán, cũng như không bàn đến phần nội dung đậm đà tính chất dân tộc của mảng văn học ấy. Thực tế lịch sử đã hoàn toàn bác bỏ một thứ quan điểm lệch lạc như vậy. Văn học còn thế huống chi là các lãnh vực lịch sử, học thuật, tư tưởng v.v... Muốn tìm hiểu người xưa chúng ta không thể không tham khảo các tác phẩm chữ Hán, mặc dầu phần lớn đã được dịch ra chữ Quốc ngữ.

Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc, ở đó, với mảnh đất rộng lớn, dân cư đông đúc, và một nền văn hóa sớm phát triển, đạo Phật đã gặp được một số điều kiện thuận lợi để phát huy cả về chiều sâu, chiều rộng của mình. Kinh điển của Phật Giáo bằng tiếng Phạn đã được đưa vào Trung Quốc qua nhiều ngả và bằng nhiều cách, đồng thời phong trào dịch thuật kinh điển Phật Giáo đã phát triển sớm và liên tục, với những gương mặt dịch giả nổi danh như Trúc Pháp Hộ (thế kỷ 3-4), Cưu Ma La Thập (344-413), Huyền Tráng (602-664), v.v. .. dẫn tới việc hình thành sớm Đại Tạng Kinh chữ Hán đầu tiên vào năm 983 đời Triệu Tống (960-1276).

Theo giáo sư Nguyễn Lang, Đại Tạng Kinh này do vua Tống Thái Tổ ban chiếu khắc từ năm 972 đến năm 983 thì hoàn thành, gồm 13 ngàn bản gổ, 1076 Kinh, 480 tập và 5048 quyển. Ấn bản Đại Tạng Kinh thứ hai của Trung Hoa bắt đầu từ năm 1080 đến năm l176 mới hoàn thành, gồm 6434 quyển, gọi là Sùng Ninh Vạn Thọ Đại Tạng, cũng được thực hiện trong triều Triệu Tống (VNPGSL, T.1, tr.213-214). Các đời Nguyên (1277-1368), Minh (1368-1643), Thanh (1644-1911) lần lượt đều có khắc in Đại Tạng Kinh một cách  trang trọng.

Cũng theo sách Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, T.1, thì trong đời Lý ở nước ta (1010-1225), Đại Việt đã cho sứ thần sang Trung Quốc bốn lần để thỉnh Đại Tạng Kinh chữ Hán, vào các năm 1018, 1034, 1081 và 1098. Đồng thời vào các năm 1023, 1027, 1036, các vua Lý cũng ra lệnh cho chép thêm Đại Tạng Kinh để hỗ trợ cho nhu cầu tham khảo, học hỏi của giới Phật tử bấy giờ (sđd, tr.213-214). Dưới triều Trần (1225-1400), Đại Tạng Kinh Chữ Hán được thỉnh Trung Quốc vào năm 1295, đó là ấn bản đầu tiên được thực hiện trong đời Nguyên, năm 1278 đến năm 1294 thì hoàn tất, gồm 1422 mục, 6010 quyển, đóng lại  trong 587 tập. Dựa theo ấn bản này, nhà Trần đã cho khắc in lại, bắt đầu từ năm 1296, bị gián đoạn vào năm 1308 khi vua Trần Nhân Tông tức Trúc Lâm Đệ Nhất Tổ qua đời, đến năm 1319 thì xong, dưới sự trông coi của thiền sư Bảo Sát, đệ tử đầu của Trúc Lâm Đệ Nhất Tổ (Nguyễn Lang, Sđd, tr.337-338). Sau Lý Trần, các triều đại Hậu Lê, Trịnh-Nguyễn phân tranh, Tây Sơn, Nguyễn, công việc thỉnh Đại Tạng Kinh từ Trung Quốc, tất nhiên là không quy mô bằng, nhưng thỉnh thoảng vẫn có, hoặc do nhà nước, hoặc do các thiền sư Trung Hoa mang sang.

Sách Tang Thương Ngẫu Lục, nơi truyện Thiền sư Chuyết Công do Tùng Niên Phạm Đình Hổ (1768-1839) viết, có đoạn: "Hồi tiên triều trung hưng, có người thầy tu ở bên Trung Hoa là thiền sư Chuyết Công, đi thuyền chở hơn ba vạn quyển kinh Tam Tạng sang Nam, lên núi Lan Kha, bỗng chợt có ý nghĩ gì đó, liền trụ trì ở đấy. Ở được hơn một năm, kinh Tam Tạng bị chuột gặm mất nửa, sư lại về Trung Hoa lấy kinh đem sang. Sau đời Lý Trần, đạo Phật được hưng thịnh lên là nhờ công đức của vị sư này". Tang Thương Ngẫu Lục còn cho biết là thiền sư Chuyết Chuyết đã từng trao sách bí mật cho Trạng Nguyên Nguyễn Đăng Đạo lúc ông này còn là thư sinh. Và có người còn ngờ rằng thiền sư là hậu thân của vua Lý Anh Tôn (cả hai đều cùng tên là Lý Thiên Tộ) " (Tang Thương Ngẫu Lục, Đạm Nguyên dịch, Bộ GD xb, S, 1970, T2, tr.228).

Sự việc này, sách VNPGSL của giáo sư Nguyễn Lang viết: "Đến năm 1633, Thầy trò thiền sư Chuyết Chuyết và đệ tử tới được kinh thành Thăng Long, Thầy trò ông cũng có mang theo một số kinh điển. Sau một thời gian, Chuyết Chuyết dời về chùa Phật Tích, huyện Tiên Du, Bắc Ninh. Vì chúa Trịnh Tráng muốn có thêm kinh điển Phật Giáo để lưu hành trong nước, cho nên thiền sư Chuyết Chuyết đã ủy đệ tử mình là Minh Hành trở về Trung Hoa để thỉnh kinh"  (VNPGSL, T2, Sđd, tr. l16). Rõ ràng là sách Tang Thương Ngẫu Lục, như tên sách đã khơi gợi (Ngẫu hứng chép chuyện bể dâu) đã cố tình khai thác khía cạnh dân gian-quái dị của sự việc, nhưng điều đáng nói là cái âm vang đáng kể của thiền sư Chuyết Chuyết (1590-1644), người được xem là mở đầu cho phong trào phục hưng Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ 17, đối với xã hội đương thời.

Ở Nam Hà thì vào năm 1714, chúa Nguyễn Phúc Chu (1675-1725), sau khi trùng tu Tổ đình Thiên Mụ, đã tổ chức đại hội tại chùa, trai đàn chẩn tế, và thỉnh một bộ Đại Tạng Kinh từ Trung Hoa đem về trưng bày ở Tàng Kinh Lâu của ngôi Tổ đình ấy (VNPGSL, T2, sđd, tr.241).

Sang thế kỷ 20, cùng với Phong trào chấn hưng Phật Giáo, một số thư viện của các Hội Nghiên Cứu Phật Học, Phật Học Đường,… cũng đã vận động để mua Đại Tạng Kinh chữ Hán, làm tài liệu nghiên cứu, học tập cho Phật tử, các học giả v.v... như thư viện Pháp Bảo Phương của Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học (l932), thư  viện của Phật Học Đường Lưỡng Xuyên (1934).

Nhìn chung, giới Phật tử Việt Nam ngày trước, học chữ Hán, tụng niệm cũng như học hỏi, nghiên cứu  kinh điển Phật qua Đại Tạng Kinh chữ Hán là điều bình thường, hợp lẽ. Điều đáng nói thêm là không hề  vì học chữ Hán, chú trọng chữ Hán mà cửa Thiền tỏ ra lơ là với tinh thần dân tộc, vì văn học dân tộc. Văn học chữ Nôm chẳng hạn, đã có sự đóng góp rất đáng kể từ cửa Thiền. Câu nói của giáo sư Trần Văn Giàu: "Bình minh của lịch sử dân tộc ta đã gắn với Phật Giáo" (Bài: Đạo Phật và một số vấn đề của lịch sử tư tưởng Việt Nam, in trong: Mấy Vấn Đề Về Phật Giáo Và Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam, Viện Triết Học xb, H,1986, tr. 15) nếu đúng cho văn học Việt Nam, thì lại càng đúng với văn học chữ Nôm.

Các tài liệu về văn học chữ Nôm đời Trần còn lại mà chúng ta hiện có gồm bốn bài: ba bài phú : Cư Trần Lạc Đạo của vua Trần Nhân Tông, Vịnh Hoa Yên Tự của thiền sư Huyền Quang, Giáo Tử Phú, tương truyền là của Mạc Đỉnh Chi, và một bài ca: Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo, của vua Trần Nhân Tôn, tất cả đều là từ cửa Thiền. Bài thơ chữ Nôm đánh dấu cho thời kỳ trưởng thành của văn học chữ Nôm ở đầu thế kỷ 15 cũng được sáng tác từ cửa Thiền, đó là bài thơ Cầu Siêu cho Nguyễn Biểu của nhà sư chùa Yên Quốc (xem Thơ Văn Lý Trần, T3, nhà xb KHXH, H, 1978, tr.515-516). Bản thân một số các vị thiền sư cũng đã dùng chữ Nôm để sáng tác hoặc dịch thuật, như thiền sư Tuệ Tĩnh (thế kỷ 17) dịch sách Khóa Hư Lục của vua Trần Thái Tông ra chữ Nôm, viết phú về thuốc Nam (Nam dược quốc ngữ phú); thiền sư Hương Hải (1628-1715 ) với tập thơ Sự Lý Dung Thông; thiền sư Chân Nguyên (1646-1726) với các tác phẩm Thiền Tông Bản Hạnh, Thiền Tịch phú ; thiền sư Toàn Nhật (thế kỷ 18) với tác phẩm Hứa Sử Truyện Vãn gồm đến 4486 câu thơ Nôm lục bát.  Tất cả đủ chứng tỏ là cửa Thiền không hề xem chữ Nôm là nôm na mách qué.

Đại Tạng Kinh chữ Hán mang tính hiện đại, quy   được sưu tập đầy đủ, đối chiếu kỹ lưỡng, là Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh được thực hiện từ năm 1922 đến năm 1934, gồm 100 tập, mỗi tập trên dưới 800 trang, khổ 23 x 26, mỗi trang gồm 3 ô, với 2920 danh mục Kinh, Luật, Luận, Sớ giải, sử truyện v.v... được sắp xếp theo thứ tự 31 Bộ như sau :

1 A HÀM BỘ (TẬP 1, 2 )

2 BẢN DUYÊN BỘ (TẬP 3, 4)

3 BÁT NHÃ BỘ (TẬP 5, 6, 7, 8)

4 PHÁP HOA BỘ (TẬP 9)

5 HOA NGHIÊM BỘ (TẬP 9, 10)

6 BẢO TÍCH BỘ (TẬP 11, 12)

7 NIẾT BÀN BỘ (TẬP 12)

8 ĐẠI TẬP BỘ (TẬP 13 )

9 KINH TẬP BỘ (TẬP 14, 15, 16, 17 )

10 MẬT GIÁO BỘ (TẬP 18, 19, 20, 21)

11 LUẬT BỘ (TẬP 22, 23, 24)

12 THÍCH KINH LUẬN BỘ (TẬP 25, 26)

13 TỲ ĐÀM BỘ (TẬP 27, 28, 29)

14 TRUNG QUÁN BỘ (TẬP 30)

15 DU GIÀ BỘ (TẬP 30, 31)

16 LUẬN TẬP BỘ (TẬP 32)

17 KINH SỚ BỘ (TẬP 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39)

18 LUẬT SỚ BỘ (TẬP 40)

19 LUẬN SỚ BỘ (TẬP 40, 41, 42, 43, 44)

20 CHƯ TÔNG BỘ (TẬP 44, 45, 46, 47, 48)

21 SỬ TRUYỆN BỘ (TẬP 49, 50, 51, 52)

22 SỰ VỰNG BỘ (TẬP 53, 54)

23 NGOẠI GIÁO BỘ (TẬP 54)

24 MỤC LỤC BỘ (TẬP 55)

25 TỤC KINH SỚ BỘ (TẬP 56, 57, 58, 59, 60, 61)

26 TỤC LUẬT SỚ BỘ (TẬP 62)

27 TỤC LUẬN SỚ BỘ (TẬP 63, 64, 65, 66, 67 ,68, 69, 70)

28 TỤC CHƯ TÔNG BỘ (TẬP 70,7l, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78,79, 80, 81, 82, 83, 84)

29 TẤT ĐÀM BỘ (TẬP 84) 

30 CỔ DẬT BỘ (TẬP 85)

31 NGHI TỰ BỘ (TẬP 85);

15 tập còn lại (từ tập 86-100) của ĐCTT gồm: Tập 86-97: ghi chép dẫn giải về các đồ hình và tượng v.v… (12 Tập); Tập 98-l00 (3 Tập): Chiêu Hòa Pháp Bảo Tổng Mục Lục.

   Chúng ta đều biết, mọi sự phân loại, sắp xếp đều chỉ có giá trị tương đối, nhưng phân loại và sắp xếp toàn bộ hệ thống sách như Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh đã làm như trên là hợp lý. Vì vậy, mọi dịch thuật về Hán Tạng hiện nay ở Việt Nam nên căn cứ trên ĐTK ấy để thực hiện. Nhiều năm qua, một số nhà Phật học Việt Nam đã dựa trên ấn bản của ĐTK này để dịch các Kinh, Luật, Luận v.v…như học giả Lê Mạnh Thát (Lục Độ Tập…), Hòa Thượng Trí Quang (Pháp Hoa, Kim Cương, Viên Giác, Duy Ma, Giải Thâm Mật, Ánh Sáng Hoàng Kim v.v...; Luận: Nhiếp Đại Thừa, Đại Thừa Khởi Tín; Luật: Sa Di, Tỳ Kheo, Bồ Tát Giới v.v...).

 II. ĐẠI TẠNG KINH CHỮ VIỆT

   Chữ Việt ở đây là chỉ cho chữ Quốc Ngữ. Vào mấy thập kỷ đầu của thế kỷ 20, một trong số các biến chuyển có liên quan đến chữ viết ở nước ta, đáng kể nhất là định hình của chữ Quốc Ngữ, chứng tỏ khả năng có thể dùng để sáng tác cũng như diễn đạt mọi lãnh vực học thuật, tư tưởng. Cùng với việc chữ Hán không còn thông dụng trong sinh hoạt xã hội nữa, thì đối với cửa Thiền, nhu cầu cần dịch kinh điển từ chữ Hán sang chữ Quốc Ngữ đã được đặt ra và thực  hiện liên tục thời kỳ Chấn hưng Phật Giáo ( 1930) đến hôm nay.

   Nhìn chung, hơn 60 năm qua, lý do chính khiến cho Phật Giáo Việt Nam chưa hoàn thành đầy đủ Đại Tạng Kinh chữ Việt, gồm cả Nam truyền và Bắc truyền, nằm ở phía khách quan: chúng ta chưa có thời gian tương đối ổn định và dài hạn để huy động  mọi nỗ lực cho Phật sự lớn lao ấy. Trước 1945, dự tính về Đại Tòng Lâm Kim Sơn - Huế – đã nằm trong tầm khả thi, nhưng rồi đành gác lại với biến chuyển lớn và dồn dập của thời cuộc: cách mạng tháng tám 1945, rồi kháng chiến… Ở miền Nam, thời kỳ 1965- 1975, Phật Giáo đã có được một số hoàn cảnh tương đối thuận tiện, Giáo Hội Phật Giáo đã có nhiều quan tâm đồng kể, Hội Đồng phiên dịch Đại Tạng Kinh đã được thành lập, hội đồng này đã hoạch định chương trình làm việc, phần công v.v... Rất tiếc, là chưa tạo được cơ sở tài chính, rồi tiếp đến là những biến chuyển đưa tới đất nước thống nhất .v.v... nên Phật sự lớn lao ấy cũng phải đình lại.

   Tất nhiên là từ thời kỳ chấn hưng Phật Giáo đến nay, có những đóng góp lẻ tẻ, liên tục của các bậc tôn túc, các học giả, các nhà nghiên cứu v.v... cho quá trình hình thành Đại Tạng Kinh Việt Nam. Để có một cái nhìn tổng quát về tiến trình ấy, chúng tôi xin ghi nhận sơ lược như sau:

1. Thời Kỳ 1932-1954:

   a. Ở miền Nam: Cùng với tạp chí Từ Bi âm (1932) của Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học (1931), các thiền sư Bích Liên (1876-1950), Liên Tôn (1882-1951) đã dịch kinh Thủ Lăng Nghiêm, diễn nghĩa các kinh A Di Đà, Kim Cang Bát Nhã, Luật Sa Di. Tạp chí Duy tâm của Hội Lưỡng Xuyên Phật Học (1934), ngay khi ra đời (1935) đã dịch các kinh Ưu Bà Tắc Giới, Quản Vô Lượng Thọ Phật. Thiền sư Thiện Chiếu (1898-1974), cây bút chính của tạp chí Tiến Hóa (1938) cơ quan của Hội Phật Học Kiêm Tế (1937), ngoài việc biên soạn, trước tác, cũng đã dịch các Kinh Lăng Nghiêm, Pháp Cú. Cư sĩ Đoàn Trung Còn, với cơ sở xuất bản Phật Học Tùng Thư ra đời ở Sài Gòn từ năm 1932, hoạt động liên tục đến năm 1975, cũng đã có nhiều đóng góp vào lãnh vực dịch Kinh, Luật cũng như ấn hành Từ điển Phật Học.

   b.  Ở miền Trung: Cùng tạp chí Viên âm (1933) cơ quan của Hội An Nam Phật Học (1932), Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám (1897-1969) đã dịch các Kinh, Luận: Thủ Lăng Nghiêm, Chỉ Quán, viết bài giới thiệu về Nhân Minh. Thiền sư Trí Độ (1895- 1979), lúc còn làm việc cho tạp chí Từ Bi âm, đã dịch và chú giải các Kinh A Di Đà, Phổ Môn, Vu Lan Bồn. Từ năm 1935, giữ cương vị Đốc giáo trường An Nam Phật Học, Huế, thiền sư đã viết bài giới thiệu về Nhân Minh, dịch Luận Chỉ Quán...

   c. Ở miền Bắc: Hội Bắc Kỳ Phật Giáo được thành lập năm 1934, và trong buổi lễ suy tôn thiền sư Thanh Hanh (1840-1936) làm Thiền Gia Pháp Chủ, tổ chức vào ngày 23-12-1934, Hội đã làm dâng cúng Phật cuốn Kinh Thiện Sinh mới được Hội dịch và cho ấn hành. Cư sĩ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha, một trong hai cây bút chính của tạp chí Đuốc Tuệ (1935), cơ quan của Hội Bắc Kỳ Phật Giáo, ngoài việc biên soạn Tự Điển Hán Việt, trước tác các sách, còn dịch các Kinh như: Lễ Sáu Phương, Di Giáo, Di Đà, Tứ Thập Nhị Chương. Thiều Chửu cũng là người đầu tiên dịch sách Khóa Hư Lục của vua Trần Thái Tông ra chữ Quốc Ngữ (1935). Thiền sư Trí Hải (1906-1979), một trong số các vị tôn túc sáng lập Hội Bắc Kỳ Phật Giáo, dù rất bận bịu với Phật sự, cũng đã dịch: Kinh Lục Độ Tập, sách Khóa Hư Lục, sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh của Ngô Thì Nhậm (1746-1803), cùng với Nguyễn Trọng Thuật biên khảo về Việt Nam Thiền Tông Thế Hệ (Đuốc Tuệ), bình luận về sách Khóa Hư Lục (Nam phong).

   Việc Hội Phật Giáo Bắc Kỳ ấn hành bộ Việt Nam Phật Điển Tùng San và các thiền sư Trí Hải, cư sĩ Thiều Chửu dịch các sách Khóa Hư Lục, Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, chứng tỏ một sự quan tâm đáng kể đối với các tác phẩm văn học Phật Giáo Việt Nam. Ngoài ra, nên kể thêm Hội Phật Tử Việt Nam được thành lập tại Hà Nội năm 1949 với Bán nguyệt san Bồ Đề ra đời từ 22-9-1949, hoạt động đến năm 1954 do cư sĩ Tuệ Nhuận Văn Quang Thùy làm chủ nhiệm kiêm chủ bút; thông qua tạp chí này, ông đã dịch, chú giải Duy Thức Tam Thập Tụng, Thập Mục Ngưu Đồ...

2. Thời Kỳ 1954-1975:

   a. Ở miền Bắc: Các phật sự liên quan đến việc dịch thuật kinh sách ở miền Bắc trong thời gian này hầu như không có  gì, chỉ có ba trường hợp đáng chú ý: Năm 1961, toàn bộ Kinh Thủ Lăng Nghiêm do cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám dịch và chú giải đăng trên tạp chí Viên âm trước đây, giờ được xuất bản; ấn bản này, vào năm 1973, gia đình của cư sĩ Tâm Minh ở Sài Gòn đã cho tái bản 3000 cuốn (500 cuốn ấn tống) góp phần phổ biến bản dịch công phu, có giá trị của một bộ Kinh quý, bộ Kinh mà nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) đã hết lời ca ngợi (Kiến Văn Tiểu Lục, Phạm Trọng Điềm dịch, nhà xb KHXH, H, 1977, tr.369). Tác phẩm Khóa Hư Lục của vua Trần Thái Tông đã được học giả Đào Duy Anh dịch, chú giải (1972) và nhà xb KHXH ấn hành năm 1974. Tác phẩm Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh của Ngô Thì Nhậm đã được giáo sư Cao Xuân Huy dịch, chú giải, giới thiệu (1975) và sau đấy thì xuất bản .

   b. Ở miền Nam: Mọi hoạt động của Phật Giáo tương đối phát triển, nhất là sau ngày chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ (1963). Chúng tôi xin ghi nhận những nét chính:

   Một số Kinh Luận tiêu biểu của Phật Giáo Bắc truyền đã được dịch, giới thiệu như: Kinh Pháp Hoa (thiền sư Trí Tịnh, cư sĩ Đoàn Trung Còn, thiền sư Trí Quang, cư sĩ Mai Thọ Truyền, thiền sư Trí Quảng), Kinh Hoa Nghiêm (thiền sư Trí Tịnh), Kinh Kim Cương (thiền sư Thiện Hoa, thiền sư Trí Quang, thiền sư Thanh Từ, v.v...), Kinh Viên Giác (thiền sư Trí Hữu, thiền sư Thiện Hoa, thiền sư Trí Quang), Kinh Lăng Già (Sư bà Diệu Không, thiền sư Thanh Từ), Kinh Thủ Lăng Nghiêm (thiền sư Thiện Hoa, cư sĩ Tuệ Quang ), Kinh Lục Độ Tập, Kinh Cựu Tạp Thí Dụ, Kinh An Ban Thủ Ý ( Lê Mạnh Thát), Kinh Trường A Hàm (thiền sư Thiện Siêu ), Kinh Giải Thâm Mật (thiền sư Mật Nguyện, thiền sư Trí Quang), Kinh Pháp Cú (Thiền sư Thiện Siêu, thiền sư Minh Châu, cụ Á Nam Trần Tuấn Khải, cư sĩ Phạm Kim Khánh), Kinh Pháp Bảo Đàn (cư sĩ Đoàn Trung Còn, thiền sư Trí Quang, thiền sư Thanh Từ ), Kinh Tâm Địa Quán (thiền sư Tâm Châu), Kinh Bách Dụ (thiền sư Tâm Châu ), Kinh Đại Bát Niết Bàn (cư sĩ Đoàn Trung Còn, thiền sư Tâm Châu, thiền sư Trí Tịnh), Kinh Duy Ma Cật (thiền sư Huệ Hưng, thiền sư Trí Quang), Kinh Na Tiên Tỳ Kheo (cư sĩ Đoàn Trung Còn, cư sĩ Cao Hữu Đính), Kinh Địa Tạng (thiền sư Trí Tịnh, thiền sư Trí Quang, cư sĩ Đoàn Trung Còn, cư sĩ Mai Thọ Truyền ).

   Một số bản kinh ngắn vẫn thường được dùng để giảng dạy cho các lớp sơ cấp Phật học, cũng được nhiều vị dịch như Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Kinh Di Giáo, Kinh Bát Đại Nhân Giác, Kinh Thập Thiện, Tâm Kinh Bát Nhã v.v...

   Các bộ Luận được dịch như: Luận Đại Thừa Khởi Tín (thiền sư Thiện Hoa, thiền sư Trí Quang, cư sĩ Cao Hữu Đính), Luận Chỉ Quán (thiền sư Trí Quang), Luận Nhiếp Đại Thừa (thiền sư Trí Quang), các sách cơ bản về Duy Thức Học (Thiện Hoa, Nhất Hạnh, Tâm Giác), sách giới thiệu về Nhân Minh Học (Nhất Hạnh, Thiện Hoa, Thiện Siêu).

   Mảng Luật cũng được chú ý dịch giải: Giới Đàn Tăng (Thiện Hòa), Tư Phần Giới Bổn Như Thích, Sa Di Luật Gíải (Hành Trụ), Phạm Võng Bồ Tát Giới (Hành Trụ, Trí Quang), Tỳ Kheo Giới, Tỳ Kheo Ni Giới, Sa Di-Sa Di Ni Giới  (Trí Quang).

   Riêng thiền sư Minh Châu, đã dựa vào Tạng Pali để dịch các bộ Kinh Trường Bộ , Kinh Trung Bộ .v.v...  làm phong phú thêm cho Đại Tạng Kinh Việt Nam.

   Các bộ sách về nghi thức sám hối nổi tiếng đều được dịch: Từ Bi Thủy Sám (Huyền Dung, Trí Quang), Lương Hoàng Sám (Viên Giác, Trí Quang), Dược Sư Kinh Sám (Trí Quang). 

   Một số tác phẩm trong kho tàng văn học Phật Giáo Việt Nam cũng được dịch, chú giải : Khóa Hư Lục (Nguyễn Đăng Thục dịch), Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục (Trúc Thiên dịch), Tam Tổ Hành Trạng tức Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh (Trần Tuấn Khải dịch). Một vài bộ sách khảo cứu có giá trị của các học giả Phật Giáo nước ngoài cũng được giới dịch thuật Phật Học Việt Nam chú ý, như Đại Cương Triết Học Phật Giáo của Tưởng Duy Kiều (Thích Đạo Quang dịch), bộ Thiền Luận 3 tập của DT Suzuki (Trúc Thiên, Tuệ Sỹ dịch).

3. Thời Kỳ Đất Nước Thống Nhất

   Sau ngày đất nước thống nhất, nhất là từ khi cả nước chuyển mình theo hướng đổi mới, sinh hoạt Phật Giáo nói chung cũng như riêng về mặt dịch thuật, in ấn, kinh sách đã có nhiều tiến triển thuận lợi. Ban In ấn của Thành Hội Phật Giáo thành phố HCM đã lần lượt ấn hành các bản dịch về Kinh, Luận, Ngữ Lục của các bậc tôn túc, như: Kinh Đại Bảo Tích (thiền sư Trí Tịnh ), Kinh Phật Bản Hạnh (thiền sư Trung Quán), Kinh Lăng Già (thiền sư Thanh Từ), Bộ Mật Tông (thiền sư Viên Đức), Luận Đại Trí Độ (thiền sư Trung Quán), Khóa Hư Lục (thiền sư Thanh Kiểm), Bích Nham Lục (thiền sư Thanh Từ), Lược giải Kinh Pháp Hoa, Lược  giải Kinh Duy Ma (thiền sư Trí Quảng). Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam đã ấn hành một số các dịch phẩm, biên soạn của thiền sư Thiện Siêu về Luận, Luật như: Đại Cương Luận Câu Xá, Luận Thành Duy Thức, Luận Đại Trí Độ, Cương Yếu Giới Luật.

   Một số vị tu sĩ Phật Giáo Việt Nam ở nước ngoài cũng có những đóng góp cho Đại Tạng Kinh Việt Nam như bản dịch Luận Trung Quán(Viên Lý), đáng chú ý nhất là các bản dịch của thiền sư Nhất Hạnh (Kinh Người Biết Sống Một Mình, Kinh Bát Đại Nhân Giác, Kinh Kim Cương, Kinh Tâm Kinh Bát Nhã vv...).

   Ban In ấn và Phát Hành Đại Tạng Kinh Việt Nam, trong nhiều năm qua đã in và phát hành được 24 tập, gồm các Kinh thuộc Tạng Pali do thiền sư Minh Châu dịch: Kinh Trường Bộ, Kinh Trung Bộ, Kinh Tương Ưng Bộ, Kinh Tăng Chi Bộ, và các Kinh thuộc Bộ A Hàm, do thiền sư Thiện Siêu, thượng tọa Tuệ Sỹ cùng Viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức Nha Trang dịch .

   Riêng thiền sư Trí Quang, với khoảng 25 danh mục về Kinh, Luật, Luận, đã được dịch trước 1975, sau này bổ sung, sửa chữa, hoặc mới dịch, tất cả đều dựa theo ấn bản của Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu để dịch, có tham khảo, đối chiếu nơi các tài liệu, kể cả Tục Tạng Kinh, Thái Hư Toàn Tập vv... để chú giải đầy đủ, kỹ lưỡng, tham bác văn phong dịch rất sáng sủa, hiện đại, theo chúng tôi, là đỉnh cao nhất của sự thành công trong quá trình hình thành Đại Tạng Kinh Việt Nam.

II. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ ĐỀ XUẤT

1. Chúng tôi xin đưa ra một số nhận xét về hiện tình của Đại Tạng Kinh Việt Nam như sau (Phần nhận xét này chỉ bàn đến các dịch phẩm từ Đại Tạng Kinh chữ Hán):

    a. Về Số Lượng: Nhìn chung, các bộ Kinh lớn, tiêu biểu của Phật Giáo Bắc truyền như A Hàm, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Bảo Tích, Niết Bàn đều đã được dịch. Riêng bộ Kinh lớn nhất của Đại Tạng Kinh chữ Hán là Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa (600 quyển, do Pháp sư Huyền Tráng dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán, chiếm đến 3 tập 5,6,7 của  Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu, No 220) cũng đã được một bậc tôn túc là thiền sư Trí Nghiêm dịch xong từ lâu, hiện đang được gia công biên tập, nhuận sắc để tiến tới xuất bản. Hiện tượng một bản Kinh, Luận vv... có nhiều người dịch, cũng không có gì đáng phàn nàn, trái lại, còn làm tăng sự dồi dào, phong phú cho Đại Tạng Kinh Việt Nam, nhất là khi các bản dịch ấy phản ánh được khía cạnh ngôn ngữ của từng thời kỳ, hoặc thể hiện những cố gắng, những nỗ lực nhằm tiếp cận các vấn đề thuộc lãnh vực cao xa, thâm diệu. Điều đáng tiếc là chúng ta có quá nhiều bản dịch trùng nhau không cần thiết, những việc làm hơi phí phạm thời gian và công sức vì còn biết bao bộ Kinh, Luận, Sớ giải vv...trong Đại Tạng Kinh chữ Hán cần được dịch.

   b. Về Chất Lượng: Trừ một số thành tựu đáng kể nơi các dịch phẩm của thiền sư Trí Quang, Nhất Hạnh, Lê Mạnh Thát, v.v… số đông dịch phẩm được đem in ấn, chúng ta hầu như không đi qua khâu biên tập cần phải có của quá trình xuất bản. Do vì chúng ta không có người làm công việc này, hay là do sự cung kính đối với các bậc tôn túc mà không dám sửa chữa, biên tập câu văn dịch của quý vị ấy? Đây là việc làm mang tính khoa học, thủ tục trong công tác dịch thuật, in ấn xuất bản đối với mọi tác phẩm dịch thuật từ một thứ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt, không riêng gì chữ Hán, thành thử không hề có chuyện cung kính hay bất kính ở đây. Chính vì thiếu khâu biên tập mà phần lớn các bản dịch Kinh, Luật, Luận của chúng ta còn giẫm lại ở mức độ trực dịch, nặng từ ngữ Hán Việt chưa thông dụng, câu văn dịch chưa được sáng sủa, ý tưởng chưa được diễn đạt khúc chiết nên khó lãnh hội.

   Ở đây không hề có sự khen chê, ở đây chỉ có sự thật của chánh pháp, và những người làm công việc dịch thuật phải cố gắng làm cho tốt để phục vụ chánh pháp. Trên tinh thần ấy, chúng tôi mong rằng, các cơ sở in ấn, xuất bản Kinh sách Phật Giáo Việt Nam, nên chú trọng đến khâu biên tập hơn nữa, bản thân các vị dịch giả cũng cần có ý thức khiêm tốn, cầu toàn, nên liên hệ, hợp tác, hoặc nhờ các vị có trình độ chuyên môn về văn, văn học hỗ trợ giúp mình ở khâu nhuận sắc, góp ý.

2. Chúng tôi xin đề xuất một số khơi gợi như sau:

a.        Trong tương lai, hay bắt đầu từ giờ, chúng ta sẽ hình thành Đại Tạng Kinh Việt Nam trên cơ sở nào? Tất nhiên là tham khảo chính nơi Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu, nhưng sự dựa theo ấy sẽ đến mức nào? - Nơi Tập Văn THÀNH ĐẠO - XUÂN 1997, số 37, trang bìa 2, có cho biết: Ban In ấn và Phát Hành Đại Tạng Kinh Việt Nam đã in được 24 tập, Kinh Tăng Nhất A Hàm sẽ in và phát hành cùng nhiều tập tiếp theo trong năm 1997. Chưa thấy ghi rõ nhiều tập tiếp theo ấy là những gì, nhất là việc in ấn tiếp các kinh thuộc Phật Giáo Bắc truyền sẽ bắt đầu từ Kinh nào? Trên một số báo Giác Ngộ trước đây, chúng tôi có đọc được tin cho biết Hội Đồng phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam đã cung thỉnh thiền sư Thiện Siêu, phó ban phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam, làm trưởng ban biên dịch Hán Tạng. Nhưng chúng tôi cũng chưa được thấy về kế hoạch cùng chương trình hoạt động của Ban phiên dịch Hán Tạng ấy.

b.       Tham khảo cung cách sưu tập, phân loại của Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu, thì phải chăng toàn bộ các dịch phẩm về Kinh, Luật, Luận tờ Hán sang Việt đã có từ trước tới nay đều được đưa vào Đại Tạng Kinh Việt Nam? - Tất nhiên là được biên tập và sắp xếp theo thứ tự thời gian. Ví như hiện chúng ta có ít nhất trên 10 bản dịch Tâm Kinh Bát Nhã với những văn phong, cách diễn đạt khác nhau, phải chăng tất cả đều được đưa hết vào Đại Tạng Kinh Việt Nam? Cũng trên tinh thần của Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu, toàn bộ các dịch phẩm dịch từ các tác phẩm trong kho tàng văn học Phật Giáo Việt Nam, toàn bộ các tác phẩm về Phật học, được biên soạn, trước tác, bình luận, sưu tập giảng giải, v.v…  viết bằng tiếng Việt của các bậc tôn túc, các cư sĩ, các vị học giả Phật Giáo có uy tín, hàm chứa ít nhiều giá trị v.v…   được xuất bản từ trước đến nay đều được đưa vào Đại Tạng Kinh Việt Nam? Tất nhiên là cũng như vừa nêu trên, đều được biên tập lại và sắp xếp theo thứ tự thời gian, phân loại. Một vài dẫn chứng để chúng ta thấy tinh thần trân trọng đối với các dịch phẩm, các trước tác của quá khứ, nơi Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu: Kinh Tát Đàm Phân Đà Lợi, No 265, mất tên người dịch, được cho vào dịch phẩm đời Tây Tấn, thuộc Pháp Hoa Bộ, T9, số lượng chưa đầy 3,5 ô (hơn một trang), dịch ra tiếng Việt khoảng 3 trang đánh máy, nội dung là một đoạn nhỏ, rất nhỏ của kinh Pháp Hoa. Bài Ngự Chế Quan Thế Âm Phổ Môn Phẩm Kinh Tự do vua Minh Thành Tổ viết vào tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ chín (1411), số lượng không đầy một ô, chưa bằng l/3 trang, dịch ra chữ Việt chưa đầy một trang đánh máy.  Cả hai Kinh và bài Tự ấy đều có mặt trong Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu.

c.        Vấn đề được nêu lên sau cùng: Thế thì đến lúc nào chúng ta bắt đầu cho sự thành hình Đại Tạng Kinh Việt Nam dịch từ Hán Tạng? Những ai sẽ đứng ra làm công việc tập hợp, sắp xếp, phân loại, biên tập v.v…? Nếu thế hệ chúng ta chưa làm được thì các thế hệ tiếp theo sẽ làm, Phật Giáo Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ 20, Phật Giáo Việt Nam thế kỷ 21, chúng ta có thể có được những thành tựu về xây dựng các ngôi phạm vũ tôn nghiêm nhiều tầng, trên một diện tích hàng trăm héc ta, chúng ta có thể đào tạo nhiều vị Tăng Ni thông thạo năm bảy ngoại ngữ, sử dụng thành thạo mọi lãnh vực của vi tính… nhưng nếu Đại Tạng Kinh Việt Nam chưa được hoàn thành, hoặc thực hiện một cách trì trệ, cục bộ  thì Phật Giáo Việt Nam chúng ta vẫn chưa thoát ra khỏi tình trạng mất cân đối kéo dài trong bao nhiêu năm qua.

3. Một việc làm âm thầm nhưng lớn lao: Theo chỗ chúng tôi được biết, từ năm 1994, Thượng Tọa Tịnh Hạnh ở Đài Loan, dựa vào ngân khoản mà bản thân mình tạo được, đã đứng ra hỗ trợ tài chính, hình thành hai nhóm dịch Đại Tạng Kinh, một ở Nha Trang và một ở thành phố HCM. Hai nhóm này đã quy tụ được một số Tăng, Ni, cư sĩ trẻ, có trình độ nội và ngoại điển, hầu hết đều xuất thân từ các Phật Học Viện, Phật Học Đường ở Trung, Nam trước đây, mỗi nhóm do một vị tôn túc điều khiển tổng quát và lo phần chứng nghĩa, đã hoạt động liên tục từ đó đến nay và đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng phấn khởi.- Phương pháp làm việc là căn cứ vào Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu, dựa theo sự đánh dấu của Đại Tạng Kinh ấy (lược bỏ bớt một số trùng, lặp) để lần lượt theo No của Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu mà dịch, những Kinh nào đã được dịch rồi thì khỏi dịch, phần đầu mỗi kinh được dịch đều ghi rõ :

Tên Kinh,

Số (theo No trong Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu),

Hán dịch: Tên vị dịch giả từ chữ Phạn sang chữ Hán, dịch vào đời nào v.v...

Việt dịch: Tên dịch giả dịch sang Việt văn, năm dịch…

   Ở bộ phận điều khiển tổng quát đã cố gắng tham khảo tối đa , để tránh sự dịch trùng nhau, tuy vậy vẫn không tránh khỏi. Sau đây là một vài thí dụ :

a) Kinh Lục Độ Tập, No 152 , Tập 3, thuộc Bản Duyên Bộ, gồm 8 quyển. Kinh này đã được học giả Lê Mạnh Thát dịch từ trước 1975, in trong sách Khương Tăng Hội Toàn Tập, T l, nhưng sách ấy mới được in ra năm 1995. Về phía nhóm dịch Đại Tạng Kinh ở Nha Trang: Kinh Lục Độ Tập được cư sĩ Tuệ Khai dịch xong từ đầu năm 1975.

b) Kinh Bi Hoa, No 157 , T3 , thuộc Bản Duyên Bộ, gồm 10 quyển, sư cô Tâm Thường thuộc nhóm dịch Đại Tạng Kinh ở Nha Trang đã dịch xong từ cuối 1995, sau đấy thì có bản dịch của ni sư Thích Nữ Như Hải được xuất bản.

c) Kinh Phật Bản Hạnh, No 190, T3, cũng thuộc Bản Duyên Bộ, gồm 60 quyển, nhóm dịch Nha Trang đã giao cho TT Quảng Bửu, Trường CB Phật Học Bình Định dịch, và đã dịch xong vào đầu năm 1997, thì cũng trong thời gian này, Thành Hội Phật Giáo thành phố HCM đã in ra với bản dịch của HT Trung Quán.

Đó là một số trường hợp chúng tôi được biết.

   Như chúng tôi đã nêu ở trước, trường hợp một bản Kinh có nhiều bản dịch là tốt, về khía cạnh ngôn ngữ, nó giúp chúng ta thấy được ít nhiều cách sử dụng ngôn từ, cách diễn đạt vấn đề qua từng thời kỳ; và về khía cạnh nhận thức, nó giúp chúng ta có thêm sự phong phú, dồi dào trong quá trình tiếp cận đối tượng, nhất là các đối tượng thuộc lãnh vực uyên ảo thâm diệu. Điều đáng nói ở đây là đối với nhóm dịch Đại Tạng Kinh ở Nha Trang, dưới sự bảo trợ của Thượng Tọa Tịnh Hạnh, nếu biết được Kinh A,B, đã có người dịch, thì họ sẽ dành thì giờ để dịch sang Kinh khác.

   Cũng theo chỗ chúng tôi được biết, thì hiện nay (tháng 5-1997), nhóm dịch Đại Tạng Kinh ở Nha Trang đã dịch đến Tập 17 của Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu. Trong tinh thần phục vụ đạo pháp, đóng góp chút ít công sức nhỏ nhoi vào việc hình thành Đại Tạng Kinh Việt Nam, chúng tôi mong các bậc tôn túc, các bậc học giả, các dịch giả, trong khi chọn Kinh, Luật thuộc Hán Tạng để dịch, xin các vị nên có sự liên lạc với nhóm Nha Trang để tránh sự trùng hợp không cần thiết, (Liên lạc với HT Đỗng Minh, chùa Long Sơn, Nha Trang, Khánh Hòa, ĐT 058/ 82 72 39).

   Đại Tạng Kinh Đại Chính Tân Tu còn rất nhiều, còn quá nhiều các mảng phải dịch, cần dịch, nên dịch, rất cần sự đóng góp công sức và trí tuệ của chư vị. Mong ước về sự hoàn thành Đại Tạng Kinh Việt Nam phải là một trong số các mong ước hàng đầu của Phật Giáo Việt Nam chúng ta cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 vậy.

Nguyên Định

Hà Nội, Mùa Phật Đản 97.

 

     


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com