
posted: 29.11.04
QUÁN NHƯ SỨ ĐIỆP
XÃ HỘI CỦA PHẬT GIÁO Tại Tây Phương hiện nay, phần lớn
những Phật tử tìm đến Phật Giáo như tìm một con đường giải thoát
tâm linh. Bị "kềm kẹp" lâu năm trong truyền thống Do Thái Ky Tô -
Hy Lạp, Phật Giáo là một khám phá nội tâm mở ra những chân trời mới
lạ, giúp họ trốn tránh những ồn ào của xã hội vật chất xô bồ khiến
họ nhức đầu, hay nhiều khi còn bị khủng hoảng tâm thần. Những học
giả nghiên cứu Phật Giáo vào cuối thế kỷ 19 lại bị ảnh hưởng của
Tiểu thừa vốn xem việc tu hành trì giới để đạt đến "nát
bàn" là mục tiêu chính yếu của Phật tử. Những thành ngữ như "mũ ni che
tai", "việc đời gác bỏ ngoài tai", cái lối giải thích Phật
Giáo qua ngã Nho Giáo kiểu Dương Quảng Hàm (trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu)
hay kiểu "xuyên tạc" của Thanh Lãng (Biểu Nhất Lãm Văn Học Hiện
Đại) hay vô số sách vở theo quan điểm Mác Xít (đọc Lữ Phương là đọc
tất cả những nhận thức hời hợt về Phật Giáo), làm cho ấn tượng này
càng thêm sâu đậm. Có nhiều người không để ý là, chính trong các quốc
gia Tiểu thừa, như Tích Lan, Miến Điện, Tăng Già có liên hệ rất nhiều
đến chính sự và xã hội. Sự kiện này có nhiều nguyên do, và một trong
những nguyên do là Phật Giáo vốn là quốc giáo tại các quốc gia này. Việt Thực dân Pháp nghĩ là Nho Giáo và nho
sĩ mới là đối tượng chính cần triệt hạ, nên tìm mọi cách để hạ
uy tín của Nho giáo (bãi bỏ chế độ thi cử), đàn áp không thương tiếc
(Văn Thân, Cần Vương, Đông Du, Dân Biến...), hoặc ban ân tước và quyền
lợi cho những người chịu hợp tác (Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân, Tôn Thọ
Tường). Ngoài Bắc, họ tạo một nền giáo dục nửa nạc nửa mỡ để
đào tạo ra một thành phần thư lại "không giống ai", Tây
không ra Tây, Tàu không ra Tàu (Phạm Quỳnh). Ở miền Nam, vì là đất thuộc
địa, nên một nền giáo dục do các nhà giòng Thiên Chúa Giáo (gọi nôm na
là các trường Đạo) được thành lập nằm trong âm mưu cải đạo tập
thể, để củng cố chế độ thực dân. Cao Huy Thuần cho là Không thể
nào hiểu được lịch sử chế độ thực dân nếu không nhắc tới lịch
sử truyền bá đạo Thiên Chúa (2). Trong khi đó Phật Giáo Hậu Lê đã suy
thoái "tụt hậu”, thành một mớ tư tưởng mê tín dị đoan, mất tất
cả sinh khí của một đạo Phật nhập thế thời Lý Trần. Chính vì vậy mà Đạo Phật bị
"xem thường": thực dân và các thừa sai chỉ nhắm tới tấp
"chụp mũ" các nhà nho (từ chương, bế môn tỏa cảng, gàn bát
sách, quá khích trong việc chống Thiên Chúa Giáo...) mà quên vai trò các
ông sư già trong làng trong xóm. Không chịu nghiên cứu kỹ cấu trúc xã hội
và văn hóa đại chúng, có nhiều người không thấy được một điểm
quan trọng là Nho Giáo chính thống chỉ ảnh hưởng đến tầng lớp quan lại,
nhưng chỉ ảnh hưởng rất hời hợt trong tâm thức của người binh dân,
như nhà nghiên cứu Sử chính trị Buttinger đã thấy. Văn hóa sống của người
bình dân là Nho Giáo bình dân, pha trộn những yếu tố của xã hội nông
nghiệp và nhất là của Phật Giáo: Hạ tầng cơ sở của các phong trào
kháng Pháp trong các phong trào chống thực dân là các ngôi chùa và các nhà
sư, là những người "giao liên" phối hợp các nhà nho và dân quân
kháng chiến. Nhờ ít bị để ý và bị "coi thường"
nên Phật Giáo Việt Nam mới có cơ hội "cách mạng giáo lý – cách mạng
giáo chế" theo mô thức của Thái Hư để "thanh quy" hàng ngũ
tăng già và tổ chức quần chúng Phật tử theo lề lối mới, lĩnh hội đến
khuôn hội. Nguyễn Văn Xuân là một nhà nghiên cứu sắc bén đã nhận ra
được điểm này. Ông nhận xét là không có phong trào Phật Giáo phục hưng
vào những năm 30, không thể có được phong trào Phật Giáo 63, lúc mà Tăng
già và Phật tử đã đủ nội lực đứng ra làm lịch sử (3). Queen trong
quyển Phật Giáo Nhập Thế phê bình là "không có biến cố nào đã
cho thấy khía cạnh xã hội và chính trị của Phật Giáo hiện đại hơn là
hình ảnh của T.T. Quảng Đức ngồi an lạc tự thiêu giữa đường phố Sài
Gòn" (4) . Tổng Thống Kennedy đã phải sửng sốt hỏi các cố
vấn thân cận: "Họ là ai vậy? Tại sao chúng ta không biết gì về
họ cả?”. Dĩ
nhiên là CIA biết sơn môn là ai, Phật tử là ai. Tuy nhiên vì thành kiến
nên họ dễ ngươi cho Phật Giáo là "mê tín", Phật tử là
"tiêu cực chán đời", lúc nào cũng chấp nhận định mệnh (mà họ
lầm lẫn với quan niệm nghiệp) chỉ lo tu hành để "lên" nát
bàn! Dĩ nhiên cũng có những tu sĩ mà
Ambedkar mỉa mai là "đạo quân ăn không ngồi rồi" cả đời chỉ
làm một thứ thầy cúng như trong phái Cổ Sơn Môn. Các Tăng già tốt nghiệp
trong các Phật Học Viện thì biết mình phải làm gì để trả nợ tam bảo
và đất nước (tứ ân). Quý Thầy không thể "ngồi thiền" hay
vào "kiết hạ" khi vụ Yên Bái xảy ra, khi thấy Phật tử bị
chôn sống ở Phú Yên như theo tài liệu của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật
Giáo, khi Ngô Đình Diệm tiếp tục cái âm mưu cải đạo từ thời Thực Dân
(5) và nhất là khi chiến tranh đến hồi ác liệt. Sơn môn
không thể nhắm mắt bịt tai không nghe tiếng bom đạn, tìm lãng
"quên" chuyện đời trong câu kinh tiếng kệ. Tăng già biết là tôn
giáo sẽ trở thành vô nghĩa nếu nhà sư cứ tiếp tục mũ ni che tai như thế.
Phật Giáo lên tiếng nói cho những người dân đang là cái bia đỡ đạn
cho một cuộc chiến tranh ý thức hệ ủy nhiệm: Ai đang lắng
nghe hãy là nhân chứng. Tôi không thể
chấp nhận cuộc chiến tranh này (6). Tác giả bài thơ trên cũng là người đặt ra vấn đề đạo Phật Đi Vào Cuộc
Đời (Engaged Buddhism), từ ngữ mà các nhà nghiên cứu hiện nay đang dùng. Có nhiều người e ngại là nếu các
nhà sư tham dự thế sự (chuyện đời) thì làm sao tu hành hay giải thoát?
Lời Phật dạy có phù hợp với các hoạt động thế sự không? Những lời
chỉ trích này không có gì mới khi nào Phật Giáo hay Tăng già tham dự vào
việc chống đối bất công (Phong trào Phật Giáo 63 bắt đầu cũng chỉ là
một phong trào chống đối bất công xã hội) hay ngoại xâm là thế nào cũng
có người chỉ trích kiểu này. Tại Tích Lan 1946 trước khi được độc lập,
báo chí và chính trị gia lên tiếng yêu cầu cấm "các sư chính trị"
tham gia vào các "việc công”. Walpola Rahula, một học giả, cũng
là một Tăng già cấp tiến, lên tiếng trả lời, biện hộ cho một giáo hội
nhập thế và các Tăng già tham gia "chính sự". Tiền đề Rahula đưa ra là Nền tảng
của Phật Giáo là phục vụ người khác (7), đúng theo lý tưởng Bồ Tát
đạo. Tăng già phải làm tất cả các công việc nào làm lợi cho người
khác (lợi tha), cho dù chuyện đó được gọi là thế sự hay không.
Rahula dẫn lời Phật dạy trong các kinh Digha, Samyutta-nikaya, Dhammapada để chứng tỏ
khía cạnh xã hội trong giáo pháp của Đức Phật. Ngài đã
đưa những nguyên tắc trị nước của các ông vua Bồ Tát. Ngài đã dạy
những cách sống cho các cư sĩ để đạt tới hạnh phúc ở đời này,
Ngài đã dạy nhiều điều liên quan tới sức khỏe, công ăn việc làm
(chính mệnh), nguyên tắc giữa các mối liên hệ như vợ chồng, cha con, thầy
trò không khác gì Khổng tử (8). Viện dẫn lịch sử Tích Lan, ngài Rahula
chứng minh là trong quá khứ, các nhà sư tham gia rất nhiều việc công,
kể cả chuyện làm cố vấn quân sự, triều chính và cũng giống như trong lịch sử đời Lý “đảo chánh”
các ông vua vô đạo. Chuyện tách nhà chùa ra khỏi chính sự là âm mưu của
thực dân Anh để loại ảnh hưởng của Phật Giáo trong xã hội để dành
chỗ cho Ky Tô Giáo (9) Các phong trào Phật Giáo nhập thế
ở Á Châu không có phong trào nào đặt vấn đề có nên can dự vào thế sự
hay không nhưng can dự vào bằng cách nào: Ambedkar ở Ấn độ tranh đấu
cho quyền lợi của dân Untouchables (giới
cùng đinh), lập Đảng Cộng Hòa Ấn; Đức Đạt Lai Lạt Ma đi tất tả từ
nước này sang nước khác vận động cho Tây Tạng tự trị; Thầy Nhất Hạnh
bao năm lên tiếng cho hòa bình và quyền sống của con người; trước 1975,
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tranh đấu cho công bằng xã hội
và đi tìm một giải pháp hòa bình công chính cho Việt Nam; Sulak ở Thái
Lan bị bỏ tù, sống lưu vong vì chống với đám quân phiệt Thái, để bảo
vệ cho nền văn hóa dân tộc và Phật Giáo trước sự tàn phá của cái gọi
là phát triển kinh tế thị trường (10) .
Không có ai
ngồi ở cái gối tọa thiền, bịt tai nhắm mắt trước những bất công
và đàn áp mà quần chúng phải chịu. Dĩ
nhiên mục đích tối hậu của Phật tử là giải thoát khỏi chấp thủ căn
bản là chấp ngã, nhưng thay đổi xã hội là trọng tâm của Tôn Giáo như
Sulak nói (11). Một hoàn cảnh công bằng, dân chủ, trong đó nhân quyền của
con người được tôn trọng để con người có thể chuyển hóa tâm thức
và nhận ra là, còn chấp thủ thì còn khổ đau. Không một Phật tử nào có thể nào
ngoảnh mặt làm ngơ đối với nhu cầu của đại chúng ở đây và bây giờ:
Phật không chịu thuyết pháp trước khi một thính chúng đang bị đói được
ăn. Phật thành đạo sau khi bỏ con đường khổ hạnh để nhận sữa cúng
dường. Không nghe được những Hải Triều âm, Thế gian âm, Phật Giáo
không còn là Phật Giáo nữa. Có nhiều Phật tử đồng hóa chuyện Trì giới
và ngồi thiền là cốt tủy của đạo Phật. Ngồi thiền chỉ là phương tiện,
không phải là mục đích rốt ráo. Không thấy điểm rốt ráo, muốn
ngồi thiền để "ngộ” cũng chẳng khác nào muốn lấy ngói mài
thành gương. Những Phật tử không chịu dời "cái bàn tọa" khỏi
cái ghế ngồi thiền, nói theo Ken Jones, họ chỉ tìm đến Phật Giáo như một
thứ thuốc an thần mới mà thôi (12). Quán Như Chú thích: (1). C.
Queen and S. King, Engaged Buddhism, (2). Xem
thêm Cao Huy Thuần, Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân ở Việt Nam, Luận
Án Tiến Sĩ Đại Học Paris, bản Việt Ngữ. (3). Xem Nguyễn
Văn Xuân, Phong Trào Duy Tân, Lá Bối xuất bản. (4). C. Queen,
ibid. p. 1. (5).
Xem Tuệ Giác, Phật Giáo Tranh Đấu Sử, Hoa Nghiêm, Sài Gòn, 1965. Phần phụ
đính của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo. (6). Nhất Hạnh,
Love in Action, Parallax, (7). Walpola
Rahula, The Heritage of Bikkhu, Grove Press, (8). Xem thêm
Chơn Thiện, Phật Học Khái luận, Thanh Văn, 1992, pp. 479-489. (9). Walpola
Rahula, op. cil., p. xii. (10).
Trong năm 1997 kinh tế Thái bị sụp đổ phải cầu mượn 37 tỉ Mỹ kim từ
Ngân Hàng Thế Giới để hồi phục. Tuy nhiên các nhà phê bình kinh tế nghĩ
là Thái cần gấp đôi số tiền đó mới gượng dậy nổi. Phát triển ngược
đầu nên thành cọp giấy là phải! (11). Sulak, Seeds
of Peace, Parallax, (l2).
Ken Jones, The Social
Face of Buddhism, Wisdom Publication, |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com