
posted: 29.11.04
TRẦN CHUNG
NGỌC PHẬT TỬ ĐÓNG
GÓP ĐƯỢC GÌ TRONG CÔNG CUỘC GÌN GIỮ VÀ PHÁT HUY NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC Ở Việt Nam, trong chánh điện những
chùa ở miền Bắc và Trung chúng ta thường thấy tượng hai vị hộ Pháp
đứng hai bên, phía trước bàn thờ Phật. Từ ngoài nhìn vào thì vị hộ
Pháp mặt trắng hiền hòa đứng bên phải, vị mặt đen trông có vẻ dữ
tợn đứng bên trái. Đó là ông Thiện và ông Ác, danh từ quen
thuộc của giới bình dân gọi hai vị Thần (God) Hộ Pháp. Ông Thiện là
để trải rộng giáo lý từ bi hỉ xả của đức Phật ra khắp nhân loại,
khuyên con người làm thiện; và ông Ác là để bảo vệ Chánh Pháp, ngăn
chặn tà thuyết xâm nhập, mê hoặc tâm tư con người khiến cho con người
xa lìa Chánh Pháp, cùng răn đe trừng phạt những kẻ xấu ác. Cho nên, dân
gian còn gọi hai vị hộ Pháp này là Khuyến Thiện và Trừng Ác. Vì
là hộ Pháp của nhà Phật cho nên tuy mang tiếng là ông Ác với mặt
mũi dữ dằn, tâm của ông lại hiền như Bụt, và tất cả hành động
của ông đều bắt nguồn từ thiện tâm. Thanh long đao trên tay ông chưa từng
chém ai, vì đó là thanh long đao trí tuệ dùng để ngăn chặn tà thuyết
và phá vỡ vô minh. Ai cũng biết một trong những nhiệm vụ
chính yếu của người Phật tử là hộ pháp. Do đó, người cư sĩ Phật
Giáo mang trên vai một trọng trách hộ Pháp nặng nề vì phải gánh cả hai
phần: hoằng dương Đạo Pháp (ông Thiện) và ngăn chặn ma quân (ông Ác).
Hiển nhiển, những hành động của cư sĩ PG cũng phải bắt nguồn từ thiện
tâm và cái vũ khí cư sĩ dùng trong trọng trách Hộ Pháp này không gì khác
là trí tuệ. Đôi khi người Phật tử, muốn giải
trừ một số bệnh kinh niên đã ăn sâu vào đầu óc con người, phải dùng
tới những liều thuốc đắng, nhưng tâm nguyện của người Phật tử
luôn luôn chỉ là hi vọng có thể trục bệnh ra khỏi con người chứ không
bao giờ chủ trương hủy diệt con người để trừ bệnh. Phật Giáo
không thể đứng ngoài dân tộc, do đó, ngoài bổn phận đối với Phật
Giáo, người Phật tứ, Tăng cũng như tục, còn có bổn phận đối với quốc
gia dân tộc, một bổn phận nặng nề hơn, vì sự tồn vinh củạ dân tộc
cũng là sự tồn vinh của Phật Giáo. Nếu chúng ta không hiểu được điều
này thì không bao giờ có thể hiểu được cái sinh lực Phật Giáo trong
lòng dân tộc. Chúng ta đều biết, ảnh hưởng của
Phật Giáo trên nền văn hóa dân tộc thực là sâu đậm, sâu đậm đến
độ người ta không còn phân biệt được đâu là văn hóa Phật Giáo và
đâu là văn hóa dân tộc. Đây là một sự kiện không ai có thể phủ
bác. Sở dĩ như vậy là vì Phật Giáo đã đi vào dân tộc Việt Nam, không
bằng con đường giáo điều khô cứng, không bằng con đường ru ngủ dân
chúng (có tác dụng như thuốc phiện) với những hứa hẹn hão huyền, mà
bằng con đường trí thức, con đường phát triển trí tuệ, tự lực tự
cường, và nhất là không chống lại những truyền thống của dân tộc Việt
Nam. Với những giáo lý nhân bản và những triết thuyết cao siêu, phù hợp
với tinh thần khoa học, Phật Giáo đã đáp ứng được những đòi hỏi
suy luận trí thức của giới có học. Với bản chất hòa bình, bao dung,
bình đẳng, và những giáo lý giản dị, Phật Giáo cũng đã đáp ứng được
khao khát của giới bình dân, ít học. Từ đó, Phật Giáo đã đi vào dân
gian, hội nhập trong dân gian, trên mọi giới, đề tạo nên một tinh thần
Phật Giáo dính liền với một tinh thần yêu nước cao độ. Phật Giáo chưa bao giờ phản bội dân
tộc, liên kết với kẻ ngoại xâm tiêu diệt kháng chiến, giết hại đồng
bào. Phật Giáo Việt Hẳn nhiên trong một bài tham luận nho
nhỏ cỡ này tôi không thể đưa ra những tài liệu thuộc các bộ môn văn
học, nghệ thuật, kiến trúc v.v... để chứng minh những nhận định trên,
vì như vậy, bài tham luận này sẽ trở nên rất dài và đi xa chủ đề.
Trong bài này tôi xin tự giới hạn trong vài nét đại cương về chủ đề
"Phật tử có thể đóng góp được gì trong vấn đề gìn giữ và
phát huy nền văn hóa dân tộc". Trong bài "Phật Giáo Việt Nam và
Vấn Đề Gìn Giữ và Phát Huy Nền Văn Hóa Dân Tộc", đãng trong tập
I của tuyển tập "Phật Giáo Trong Thế Kỷ Mới" (link http://giaodiem.com/mluc/mluc_III04/904_Pgiao_IV.htm ) , với mục đích ngăn chặn
mưu toan huyễn hoặc dân chúng Việt Nam bằng một ý hệ không phù hợp với
nền văn hóa và truyền thống Việt Nam, tôi đã bắt buộc phải đóng vai
ông Ác, đưa ra những tài liệu bất khả phủ bác về những sự thực
của Ki-Tô Giáo (Christianity), đặc biệt là Ca-Tô Giáo Rô-Ma, một tôn giáo
toàn cầu mà lịch sử thế giới đã chứng minh rằng đi tới đâu cũng
mang tới sự chia rẽ, thù hận, giết chóc v.v. . , kéo dài cho tới tận
ngày nay ở nhiều nơi trên thế giới, chưa kể đến những mưu toan và
hành động thực sự để phá hủy các nền văn hóa địa phương. Tôi quan niệm rằng, nếu những tài
liệu tôi dẫn chứng mà phần lớn là kết quả của những công cuộc
nghiên cứu nghiêm túc của các vị Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục, Linh
Mục, các nhà Thần Học trong Ca-Tô Giáo Rô Ma, khoan kể đến những tác phẩm
nghiên cứu của các chuyên gia về tôn giáo cùng những giáo sư đại học
nổi tiếng, hiện có đầy trong các thư viện của các trường đại học,
trong các tiệm sách, trong Internet v.v. .. mà không thành vấn đề ở âu Mỹ,
ở trong những quốc gia mà đa số theo KiTô Giáo, thì không có lý do gì
chúng lại trở thành vấn đề đối với người dân Việt Người Việt Muốn gìn giữ và phát huy nền văn hóa
dân tộc, tôi thiển nghĩ con đường duy nhất để đi đến thành công là mở
mang dân trí và giáo dục quần chúng. Mở mang dân trí để Việt Nam có
thể học những kinh nghiệm lịch sử, theo kịp những tiến bộ của nhân
loại, và giáo dục quần chúng để duy trì tinh thần yêu nước, tạo nên
căn bản dựng nước và giữ nước, và nhất là để gìn giữ và phát huy
nền văn hóa cổ truyền dân tộc, coi đây như là một cách bảo tồn phẩm
cách quốc gia. Giáo dục phải được đặt lên hàng ưu tiên trong những quốc
sách. Tại các nước tân tiến, ngân sách quốc gia dành cho giáo dục bao giờ
cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể. Nhưng mở mang
dân trí và giáo dục qụần chúng như thế nào, theo những tiêu chuẩn
nào? Những ý kiến sau đây xin được coi như là để gợi ý, bởi lẽ như
đã nói ở trên, vấn đề này cần có một sự cộng tác của nhiều người,
nhiều cơ quan chính quyền, nhiều đoàn thể dân tộc, và đòi hỏi một
công cuộc nghiên cứu cẩn thận và sâu rộng về các vấn đề liên hệ,
dựa trên hoàn cảnh lịch sử, địạ lý, nhu cầu và truyền thống của
dân tộc Việt Nam, để đưa ra một sách lược khả thi. Trong thời đại của những tiến bộ
khoa học làm cho con người chóng mặt ngày nay, Việt Nam không còn chọn lựa
nào khác ngoài việc đi theo con đường hiện đại hóa, kỹ thuật hóa, vì
chỉ có những kiến thức khoa học cập nhật hóa mới có thể làm cho Việt
Nam trở thành dân giàu nước mạnh, một căn bản vững chắc để giữ nước
và xây dựng nước. Có lẽ đây là mục tiêu đứng hàng đầu trong việc
mở mang dân trí. Nhưng hiện đại hóa không có nghĩa là Âu Mỹ hóa,
mang nếp sống thiên về vật chất và cá nhân của Âu Mỹ, quan niệm tôn
giáo Âu Mỹ, và ngay cả quan niệm về dân chủ và nhân quyền của Âu Mỹ,
về cấy trên đồng ruộng, làng xóm Việt Nam. Và kỹ thuật hóa cũng không
có nghĩa là đầu tư vào những kỹ thuật hay dự án có tính cách giai đoạn
mà không có lợi ích trực tiếp cho Việt Nhiều người, nhất là ở các nước
đang mở mang, chỉ biết nước Mỹ qua những thành quả khoa học hoặc qua
một vài chuyến công du ngắn ngủi, nhìn nước Mỹ với một cặp mắt
ngưỡng mộ về đời sống vật chất và tự do dân chủ, đầy đủ nhân
quyền, nhưng rất ít người để ý đến một sự kiện là về phương diện
xã hội, nước Mỹ cũng là nước giật giải quán quân trên thế giới
về tội ác, băng đảng giết người, xì ke ma túy, trộm cướp, đĩ điếm,
cưỡng dâm, vị thành niên mang thai hoang, con giết cha mẹ, cha mẹ giết
con, vô luân, linh mục cưỡng bức tình dục trẻ em và nữ tín đồ, kỳ
thị và ly dị v.v... Các nhà truyền giáo Ki-Tô Giáo đi khắp
thế giới để truyền đạo, chỉ quảng cáo vài đoạn trích dẫn lạc
lõng trong Thánh Kinh và cái vỏ vật chất của Âu Mỹ chứ không bao giờ
đưa ra những sự thực về những tệ đoan xã hội, và lẽ dĩ nhiên không
bao giờ giải thích được câu hỏi: Ki Tô Giáo nói chung là lực lượng chỉ
đạo tinh thần của Âu Mỹ trong 2000 năm qua, truyền bá những cái mà họ
gọi là tình thương và đạo đức của Thượng Đế dạy trong Thánh Kinh,
mà tại sao về phương diện đạo đức xã hội lại quá suy đồi đến mức
như vậy? 5l% các cuộc hôn nhân do Chúa kết hợp trở thành ly dị, và các
tệ đoan trong xã hội như vừa nêu ở trên đã đưa đến bao nhiêu vấn đề
xã hội, tiêu tốn không biết bao nhiêu tiền của chính phủ mà phần lớn
do dân chúng đóng góp qua thuế má. Cho nên, chúng ta phải biết rằng, nếu
đi vào con đường hiện đại hóa, mở mang kinh tế, không có cách nào
chúng ta có thể tránh khỏi ảnh hưởng của những nền văn hóa ngoại
lai, điển hình là nền văn hóa mà các nhà truyền giáo Tây phương vẫn
thường nhập nhằng liên kết với những tiến bộ của khoa học Tây
phương để mà hãnh diện gọi là nền văn minh KiTô Tây phương (Westem
Christian Civilization). Vấn đề là làm sao giảm thiểu những
ảnh hưởng này và gìn giữ tối đa nền văn hóa dân tộc. Việc này có
thể thực hiện được nếu chính quyền khôn ngoan trong chính sách đối
ngoại và đối nội. Hiển nhiên sự đóng góp của Phật tử trong lãnh vực
này không phải là nhỏ, nếu Phật tử biết gìn giữ đạo đức và quảng
bá tinh thần, đạo đức Phật Giáo trong quần chúng. Một mặt khác, chúng ta cũng cần phải ý
thức được rằng: chưa đủ kinh nghiệm mà lao vào những bước nhảy vọt
kinh tế tùy thuộc vào đầu tư của ngoại quốc là "đánh đu với
tinh". Không phải là cái gì tiến mau cũng hay, cổ nhân đã dạy: dục
tốc bất đạt. Một nền kinh tế dựa vào ngoại bang như vậy có thể
sụp đổ bất cứ lúc nào, kết quả là nợ nần chồng chất, tài nguyên
hao hụt, và phẩm cách quốc gia bị coi thường. Bài học đồng tiền sụt giá, khủng
khoảng kinh tế ở Thái Lan vừa qua đáng để cho chúng ta suy ngẫm, học
hỏi và đừng đi vào vết chân của Thái Lan, hoặc nếu đã đi vào rồi
thì phải kịp thời chuyển hướng. Tưởng chúng ta cũng nên duyệt qua
nguyên nhân làm đồng tiền sụt giá ở Thái Lan, với hậu quả là nền
kinh tế trở nên trì trệ, và ảnh hưởng đến những nền kinh tế
Singapore, Malaysia, Philippines, và Indonesia. Sự việc có thể tóm tắt như sau: Cũng
như các nuớc đang mở mang, Thái Lan chọn sách lược phát triển kinh tế
qua quyết định mở cửa, nhận đầu tư của ngoại quốc, và cố ý lơ là
luật lệ kiểm soát, để cho các ngân hàng phát triển tự do, không có kế
hoạch thích đáng để phục vụ quốc gia. Năm 1984, để cho đồng "baht" được
ổn định và có giá trị, chính phủ Thái đã đóng dính đồng
"baht" với đồng đô-la. Công thức trên thành công vượt tiêu chỉ.
Vốn ngoại quốc đổ vào Thái Lan và Thái Lan trở thành một nuớc mà nền
kinh tế tăng trưởng mau nhất. Một khi có nhiều tiền vào, các ông chủ
ngân hàng bắt đầu tài trợ ngành địa ốc mà không nghiên cứu kỹ
luỡng, đi đến tình trạng xây cất quá mức, kết quả là nhiều món tiền
cho vay không lấy lại được. Nhiều công ty Thái đổ xô vào vay tiền. Thế
rồi, hai năm trước đây, Mỹ tăng giá đồng đô la đối với đông Yen của
Nhật. Việc này làm cho nhân công Thái trở nên đắt hơn và giảm đi sức
mạnh cạnh tranh. Những chuyên viên buôn bán tiền tệ
quốc tế, còn được biết dưới tên "đầu cơ tiền tệ" (Georges
Soros,…), nhìn thấy rõ cái nền tảng yếu ớt của nền kinh tế Thái Lan,
đánh cá đồng baht một cách tiêu cực, ép đồng baht phải sụt giá. Trong
hai tháng 5 và 6, 1997, Bangkok phải đi
vay nhiều tỷ đô la để chống đỡ cho đồng baht, nhưng rồi đến ngày 2
tháng 7, 1997, đã phải quyết định tách rời đồng baht ra khỏi đồng đôla,
cho thả nổi đồng baht. Trong vòng một tháng, đồng baht sụt giá 1/3, từ
24 đồng bath một đô la xuống tới 32 đồng. Kết quả là dân Thái phải
trở lại sống theo những tiêu chuẩn của những thời buổi khó khăn: dự
trữ lương thực, để dành tiền, tiêu pha ít đi, chưa kể đến những dịch
vụ của chính phủ để phục vụ dân chúng bị cắt giảm. Sự phân tích sau đây của R. C.
Longworth trên tờ Chicago Tribune, ngày 28 tháng 9, 1997 , sẽ cho chúng ta thấy
rõ nhiều chi tiết hơn: “Sự khủng khoảng ở Đông Nam Á đặc biệt là ở Thái Lan và Mã Lai Á, là
các thí dụ giáo khoa về thị trường quốc tế: mới đầu là đưa đến thịnh vượng, rồi xuống
thành thoải mái, rồi sụp đổ và dễ bị
tiêu tán, ở các nước không biết đối phó với những tình trạng trên. Giống như ở Mề Tây Cơ
và các nước đang ngoi lên, Thái Lan
và Mã Lai quyết định mang vào nước
những công trình đầu tư ngoại quốc.
Họ thông qua những đạo luật để thu hút vốn ngoại quốc. Họ cố ý giữ
một hệ thống luật lao động và thuế má yếu kém. Mục đích của
chính sách trên là dùng tiền của ngoại quốc để hiện đại hóa nền
kinh tế. Trong một thời gian ngắn, chính sách
này có hiệu quả. Đầu tư ngoại quốc đổ vào từ Hoa Kỳ, Nhật Bản,
và các nước giàu có khác. Các hãng sản xuất, để bớt đi chi phí., dựng
lên các xưởng chế tạo xe hơi, đồ
điện tử và các hàng tiêu thụ hầu hết là để xuất cảng. Những nuớc
này biết rằng lúc đầu họ sẽ bị thâm hụt trong vấn đề giao thương
vì họ phải nhập cảng máy móc để làm ra các hàng hóa truớc khi họ có
thể tự lực làm ra các hàng hóa này. Các ngân hàng ngoại quốc, bị quyến
rũ bởi mức độ phát triển của những nước này, sẵn sàng cho vay tiền.
Rồi quá trình trên tiến đến độ không kiểm soát được. Điều này đã
xảy ra tại nhiều quốc gia đang mở mang. Sự phát triển tăng quá mau. Quá
nhiều máy móc được nhập cảng để sản xuất hàng hóa trước khi các
quốc gia này có thể tự lực sản xuất ra hàng hóa đủ để trả những
phí tổn nhập cảng này. Các chủ ngân hàng cho vay quá nhiều tiền cho những
quốc gia chỉ biết sốt sắng đi vay tiền. Ở Thái Lan và Mã Lai Á, nhiều người
trở thành giàu có, và họ dùng những tài sản mới này để nhập cảng
những món hàng ngoại quốc đắt tiền. Hai quốc gia này trở thành những
thị trường tiêu thụ tốt nhất trên
thế giới về loại xe hơi đắt tiền Mercedes. Một vài món tiền vay của
ngân hàng được dùng trong những nhu cầu hạ tầng cơ sở và xưởng máy tối cần
thiết. Nhưng phần lớn đổ vào địa ốc và những dự án vĩ đại của
chính phủ và nhiều dịch vụ đầu tư khác không mang lại lợi nhuận.
Thế rồi sự thâm hụt trong vấn đề giao thuơng và nợ nần trở nên quá
lớn. Các ngân hàng lo sợ, ngưng lại không cho vay nữa. Vào lúc này, các
chuyên gia trong thị trường tiền tệ quốc tế, nhìn rõ được sự yếu kém
của nền kinh tế phát triển quá nhanh, nhảy vào đánh một đòn dứt điểm.
Những con buôn tiền tệ ở Nữu ước ( Cái đòn kinh tế đánh vào các nước
đang mở mang trên đã làm cho Thủ Tướng Mã Lai Á Mahathir giận giữ nhận
định: “Người ta bảo chúng tôi phải mở cửa để cho giao thương
và thương mại hoàn toàn tự do. Tự do cho ai? Cho những kẻ đầu cơ xảo
quyệt lưu manh?” (We are told we must open up, that trade and commerce must
be totally free” said Mahathir, the angry Malaysian prime minister. “Free for whom”
For rogue speculators?"). Thủ tướng Mahathir đã nêu đích danh tên
đầu cơ tiền tệ George Soros ra chỉ trích, nhưng thật là khôi hài,
Soros, kẻ đầu cơ tiền tệ đã kiếm ra bạc tỷ qua những thủ đoạn ép
buộc tư bản, đã không ngần ngại, vạch trần những nguy hiểm của thị
trường tự do: "Thị Trường tiền tệ, bản chất của chúng là
không ổn định. Quá nhiểu cạnh tranh và quá ít hợp tác có thể gây nên
những sự bất công và bất ổn đáng kể. Kẻ thù chính cuả xã hội mở cửa (dân chủ)
không còn là cộng sản nữa mà chính là những sự đe dọa của tư bản".
(Financial markets are inherently unstable. Too much competition and too little
cooperation can cause considerable inequities and instability. The main enemy of the open
(democratic) society is no longer the communist but the capitalist threat). Soros và một
số kinh tế gia cũng như nhiều nhà doanh nghiệp đều đồng ý là sự can
thiệp của chính phủ vào nền kinh tế thị trường quốc gia thực sự cần
thiết. Chúng ta thấy rằng, bài học về sự
khủng khoảng kinh tế ở Thái Lan này thật rõ ràng: Khi tiền tệ luân chuyển
trên thế giới với vận tốc của ánh sáng, các quốc gia đang mở mang không
còn có thể tin cậy vào những vốn đầu tư cửa ngoại quốc, nhân công rẻ,
khả năng xuất cảng, và các nhà ngân hàng tự tung tự tác, với hi vọng
làm cho nền kinh tế phát triển. Một sách lược phát triển kinh tế
dài hạn phải đặt căn bản trên một chính sách tiền tệ và ngân sách hợp
lý, coi chừng và kiểm soát các dịch vụ ngân hàng, và sự đầu tư vào
giáo dục và huấn nghiệp quần chúng. Trong tương lai dài, chính sách
này sẽ đưa đến sự tăng gia sản suất và nâng cao đời sống của dân
chúng. Các nhà cầm quyền phải nghĩ đến những chương trình dài hạn mở
mang đất nước, phải chuyển thói quen tiêu thụ hàng ngoại quốc thành
chính sách tự túc, tiêu thụ hàng nội hóa, làm nghiêng cán cân về phía
xuất cảng thay vì nhập cảng, nhất lại là sự nhập cảng những món
hàng xa xỉ đắt tiền, không cần thiết. Trong một chuyến đi thăm Trung Quốc tôi
nhận thấy đó là những sách lược mà Trung quốc đã và đang thực thi.
Trừ thành phố Thượng Hải, một trung tâm quốc tế, nơi mỗi ngày có khoảng
2 triệu người ra vào mua bán, tôi thấy ở 11 tỉnh khác mà tôi thăm viếng,
kể cả Bắc Kinh, rất hiếm hàng ngoại quốc. Đặc biệt ở Bắc Kinh, chính
phủ cấm lưu hành xe gắn máy. Người dân được khuyến khích dùng
hàng nội hóa. Cũng vì vậy, năm vừa qua, trong vấn đề giao thương với
Trung Quốc, Mỹ đã thâm hụt trên 5 tỷ đô-la. (Trade deficit). Và cả thế
giới đều đồng ý là Trung Hoa sẽ trở thành một siêu cường kinh tế
trong tương lai gần. Thật ra thì Thái Lan, cũng như các nước
trong vùng Đông Nam Á trong đó có Việt Nam, vẫn có nhiều tiềm lực để
thoát ra khỏi cảnh khó khăn trên bằng một chính sách : tiết kiệm, thắt
lưng buộc bụng, hạn chế nhập cảng các sàn phẩm không thuộc loại tối
cần thiết, khai thác tài nguyên phong phú, sử dụng hợp lý lực lượng nhân
công khéo léo, và nhất là đầu tư vào giáo dục cũng như huấn nghiệp
ở trình độ cao. Nếu biết khai thác những tiềm lực này, nền kinh tế rất
có thể tái phát triển. Và đây cũng là lời khuyên và nhận định của
chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc, UNDP (United Nations Development
Plan). Nhưng chính sách này chỉ thành công nếu quốc gia có một nền luật
pháp nghiêm minh, chính quyền cương quyết trong chính sách giáo dục người
dân, bảo vệ nhân vị và quyền lợi của công nhân, và diệt trừ tham nhũng.
Những chính sách về kinh tế và giáo dục nói trên nằm trong tay chính quyền.
Nhưng không phải vì vậy mà Phật tử không cần quan tâm gì đến hay không
có trách nhiệm gì đến vấn đề này. Trái lại, Phật tử có thể đóng
góp rất nhiều trong việc thực thi những chính sách xây dựng nước. Hơn 80 phần trăm dân Việt Đức Phật đã thấy rõ không phải
ai cũng có thể sống một đời sống tu hành cho nên Người đã đưa ra những
tiêu chỉ cho những Phật tử thông thường trong đời sống xã hội, thường
ngày va chạm với những thực tế phũ phàng trong xã hội. Trong Trường Bộ
Kinh , Đức Phật đã vạch rõ cho chúng ta thấy sự nghèo khổ là nguồn gốc
của vô luân và tội ác như trộm cướp, gian lận, bạo hành, sân hận, độc
ác v.v... Đức Phật đề nghị rằng muốn giải quyết vấn đề tội ác,
điều kiện kinh tế của dân chúng phải được tăng tiến. Người đã chỉ
rõ cho Phật tử tầm quan trọng của sự cải tiến tình trạng kinh tế của
con người. Nhưng điều này không có nghĩa là Đức Phật khuyên mọi người
đi tích lũy của cải bằng bất cứ phương tiện nào để thỏa lòng tham
và chấp vào vật chất vì đây là điều trái ngược với giáo lý căn bản
của Người. Đức Phật đã dạy một người dân
thường tên là Dighajanu là có bốn điều kiện đưa hạnh phúc đến cho
con người ở trên cõi đời: Thứ nhất: chăm chỉ, cố gắng đạt tới
"nhất nghệ tinh nhất thân vinh"; Thứ nhì : phải bảo vệ tài sản
kiếm dược một cách chính đáng bằng mồ hôi, nước mắt; Thứ ba: kết
bạn với các thiện tri thức nghĩa là những người đạo đức, học rộng
biết nhiều, phóng khoáng và thông minh, để giúp mình tiến bộ trên Chánh
Đạo, xa lánh ác nghiệp; và Thứ tư: tiêu pha trong khả năng và dành một
phần cho những việc thiện, không bần tiện mà cũng không hoang phí.
Sau đó Đức Phật nêu ra 4 đức tính đưa đến hạnh phúc trong tương lai
của con người, và đây mới là những mối "phúc thật" chính
tông: (l): phải
có lòng tin vào những giá trị đạo đức, tinh thần và trí thức (Saddha);
(2): phải giữ
năm giới căn bản của Phật tử (Sila); (3): Thực hành
hạnh bố thí, lòng quảng đại, không bám chặt vào của cải (Caga); (4): Phát
triển trí tuệ trên con đường diệt khổ, nhằm cứu cánh Niết Bàn
(Panna). Như vậy chúng ta thấy rằng giáo lý
của Đức Phật nhằm tạo ra sự ổn định kinh tế gia đình và từ đó
đưa đến sự ổn định và phát triển kinh tế quốc gia mang lại hạnh
phúc cho dân chúng. Song song với việc mở mang dân trí là việc giáo dục
quần chúng. Không ai có thể phủ nhận giáo dục là căn bản xây dựng nước
và giữ nước. Theo truyền thống Việt Ở Việt Vì vai trò của giáo chức trong xă hội
Việt Nam rất quan trọng, có ảnh hưởng đến tương lai dân tộc cho nên một
sự suy sụp đạo đức trong giới giáo chức là một điều bất hạnh nhất
cho dân tộc. Một nền giáo dục có phẩm chất tùy thuộc hoàn toàn vào
giáo giới với sự cộng tác của gia đình học sinh, sinh viên. Cho nên, muốn
cải tiến hay sửa chữa một nền giáo dục; chúng ta phải chữa ở gốc
chứ không chỉ để ý đến ngọn. Chúng ta phải để ý đến đời sống
kinh tế của giáo chức sao cho họ có một mức sống đủ để họ không
còn phải lo nghĩ ra những phương cách, nhiều khi không được đẹp đứng
trên cương vị của một giáo chức, để kiếm thêm tiền cho đủ sống và
nuôi gia đình. Một
cái cây mà gốc èo ẹt thì không có hi vọng gì tạo ra cành lá xum xuê, khỏe
mạnh tươi tốt. Trong các nước tân tiến, sự mở mang đầu óc và phát
triển giáo dục quần chúng luôn luôn dựa vào hai yếu tố: khả năng và
đời sống kinh tế của giáo chức, và thư viện đầy đủ sách vở. Muốn
cho đầu óc lớp trẻ mở mang, không gì bằng đầu tư vào sách vở trong
thư viện các trường cũng như các thư viện công cộng, song song với một
chương trình giáo dục đặt nặng vào sự suy cứu tìm tòi của học sinh,
bỏ lối học từ chương. Các sách vở thuộc loại nghiên cứu
với đầy đủ tài liệu, dù có đụng chạm đến vấn đề tế nhị tôn
giáo, tín ngưỡng, cũng phải để cho tự do phổ biến. Chỉ có như vậy
người Việt mới có thể nhìn thấy rõ sự thực, rút ra những kinh
nghiêïm lịch sử, củng cố lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Trong một
nền giáo dục mà tài liệu phong phú, cập nhật hóa sáng kiến mới nẩy nở
để có thể đưa nước nhà tới chỗ giàu, mạnh. Một mặt khác, giáo dục học đường
không không đủ, vì thời gian các em ở học đường quá ít và các thầy,
cô nếu làm tròn nhiệm vụ hàng ngày của giáo chức cũng đủ mệt rồi.
Cho nên, giáo dục gia đình cũng là một phần quan trọng trong vấn đề giáo
dục toàn bộ con người. Trong lãnh vực này, Phật tử có thể đóng góp rất
nhiều. Đại cương thì các bậc cha mẹ, anh chị trong gia đình phải kiểm
soát đời sống của các em nhỏ để kịp thời ngăn chặn những ảnh hưởng
xấu do bọn người vô lương kiếm lợi bằng cách làm ô nhiễm đầu óc lớp
trẻ qua sách báo, phim ảnh đồi trụy, hoặc đầu độc các em bàng ma
túy, thuốc lá hay rượu. Phụ huynh học sinh cần đòi hỏi chính quyền ra
những đạo luật nghiêm trị những kẻ phạm pháp trong lãnh vực đầu độc
đầu óc và thân thể lớp trẻ này. Phụ huynh học sinh cũng phải đòi hỏi
chính quyền ra những đạo luật ngăn cấm trẻ em vị thành niên uống rượu,
hút thuốc lá, lái xe hơi, xe gắn máy.v.v... và đưa ra những chính sách
lành mạnh hóa xã hội, cấm nhập cảng phim ảnh, sách báo mà nội dung có
tính cách bạo tàn hay khiêu dâm. Phụ huynh cũng phải tự mình làm gương
cho con em qua một lối sống lành mạnh và đạo đức, khuyến khích con em học
những ngành hữu dụng, gia nhập những đoàn thể để có những sinh hoạt
tập thể lành mạnh như Hướng đạo, Gia Đình Phật Tử v.v... Phụ huynh cũng
nên góp ý cùng chính quyền và đóng góp vào việc thành hình một chương
trình giáo dục hợp lý. Chương trình giáo dục nàv phải phù hợp với
hoàn cảnh lịch sử, địa lý, kinh tế của đất nước. Việt Nam nặng về nông nghiệp và ngư
nghiệp, cho nên mọi chính sách kinh tế không thể bỏ qua hai lãnh vực
này. Sự phát triển kinh tế phải đồng đều : phát triển thành thị song
song với cải tiến và phát triển nông thôn đề hố cách biệt giữa nông
thôn và thành thị không quá sâu và quá xa, dễ đưa đến sự bất mãn so
bì và hiện tượng nông thôn đổ lên thành thị, làm suy yếu nền tảng hạ
tầng cơ sở xã hội và gây nên nhưng vấn đề xã hội nơi thành thị. Vấn đề mở mang dân trí và giáo dục quần
chúng là một vấn đề rộng lớn. Trên đây tôi chỉ nêu ra vài ý kiến
đại cương, coi như là để gợi ý. Tôi mong rằng giới Phật tử, Tăng
cũng như tục, hãy tập trung nỗ lực vào con đường mở mang dân trí và
giáo dục quần chúng, góp sức cùng chính quyền, nghiên cứu sâu rộng vấn
đề để đưa ra một quốc sách về giáo dục. Đường hướng giáo dục,
bất kể theo sách lược nào, đều nên hướng về mục tiêu bảo vệ và
phát huy nền văn hóa dân tộc. Thật vậy, "Văn hóa là linh hồn Dân
Tộc: mất văn hóa là mối nguy hại lớn nhất, vì nó làm tê liệt sức sống
của một Dân Tộc, ví như người mắc bệnh lao, bệnh ung thư đục khoét
cơ thể dần mòn để chỉ còn có chờ cái chết" (Lê Trọng Văn,
"Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng Hay Đến Bờ ảo Vọng", trang 159)
. Để kết luận, tôi xin phép được
trích dẫn nơi đây hai điểm đầu trong bản "Đường Hướng Của
Phật Giáo Việt Nam" do Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đề xướng,
coi như là một Chánh Đạo mà mọi Phật tử và mọi người dân yêu nước
cùng bước trên đó trong nhiệm vụ bảo vệ quê hương và nền văn hóa
dân tộc: 1. Bảo vệ tài sản thiên nhiên của
tổ quốc :
"Phật tử Việt Nam nguyện bảo
vệ sự toàn vẹn của lãnh thồ Việt Nam, bảo vệ đất, núi, rừng, sông
biển và không khí Việt Nam, nguyện làm tất cả những gì có thể làm
được để bảo vệ môi sinh, bảo vệ mọi loài cầm thú và thảo mộc
trên đất nuớc Việt Nam, nguyện chận đứng nạn ô nhiễm và phá hoại
di sản thiên nhiên của tổ quốc Việt Nam. Phật tử Việt Nam kêu gọi đồng
bào, chính quyền và các bạn yêu Việt Nam trên thế giới góp sức vào
công việc bảo vệ này. Phật tử Việt Nam đòi hỏí rằng những nỗ lực
phát triển nông nghiệp, phát triển kỹ nghệ; đầu tư ngoại quốc và
khai thác tài nguyên... cần được thực hiện trên nguyên tắc bảo vệ di
sản thiên nhiên này". (Điều này có nghĩa là mọi kế hoạch
khai thác phải đi song song với kế hoạch phục hồi di sản thiên nhiên.
TCN). 2. Bảo vệ di sản văn hóa truyền thống
của dân tộc :
"Phật tử Việt Nam nguyện ghi nhớ
công ơn khai sáng của tổ tiên, nguyện không từ bỏ gốc rễ văn hóa truyền
thống của tổ tiên và dân tộc, nguyện bảo vệ dòng văn hóa dân tộc. Tất
cả những di sản văn hóa như kiến trúc (chùa, đình, lăng mộ, miếu. ..)
thư tịch, thi văn âm nhạc, vũ điệu, tập tục, y phục. . . đều phải
được bảo tồn, tái thiết không được phá hủy, để mọi người dân
bây giờ và sau này có thể tham cứu và tiếp xúc với văn hóa cổ truyền.
Phật tử kêu gọi dồng bào, chính quyền và các bạn yêu Việt Nam góp sức
vào công việc bảo vệ này. Sự du nhập các tư tuởng mới, các lối sống
mới, tín ngưỡng mới cần được thực hiện trong tinh thần và nguyên tắc
tôn trọng di sản văn hóa truyền thống ấy. Con người ở thời đại mới của Tây
phương cũng như Đông phương sở dĩ khổ
dau và bơ vơ là vì đánh mất liên lạc với gốc rễ văn hóa truyền thống
của mình. Phật tử Việt Nam kêu gọi về nguồn để khám phá lại
niềm tin nơi các giá trị truyền thống để bồi đắp và làm sáng hơn lên
những giá trị ấy, cá nhân không phải là cái gì biệt lập mà là sự tiếp
nối tổ tiên, giòng họ và văn hóa; điều này phản chiếu sự nhận thức
duyên sinh và vô ngã của đạo Phật". Trần
Chung Ngọc Wisconsin,
10-1997 |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com