1204-world.gif (4030 bytes)

posted: 29.11.04

   PHẦN BỐN
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỤ THỂ
__________

TINH TIẾN

   THẤY GÌ VÀ LÀ M GÌ CHO … CẢNH CHÙA 

   Đầu những năm 80, trong chuyến đi chơi các tỉnh phía Nam, tôi thường hay thơ thẩn vãng cảnh chùa chiền. Thú thực hồi đó tôi chưa hề có đạo tâm, đạo hạnh gì cả, mà đơn giản chỉ do lòng hiếu kỳ, không phải một thứ hiếu kỳ chung chung trước mọi cảnh lạ, đất xa, mà của. .. Cũng như tuyệt đa phần người Việt từ khi sinh ra đến lúc lớn lên, tôi rất thân quen với hồi chuông thu không trong bóng chiều chạng vạng, với tiếng mõ đều dặn, hiền hòa làm nền cho tiếng tụng kinh ngân nga, trầm bổng, với mái chùa rêu phong nép mình dưới dùm cây đa, cây đại cả bóng, những nhà sư nâu sòng lặng lẽ bên hàng cột trên thềm hay cúi đầu nhẹ bước đến bên bể nước, những tượng Phật thếp vàng lung linh trong ánh đèn, nến, khói hương, cái không khí thanh êm ả, vắng lặng nơi tăng phòng, nhà tổ...

Tất cả những cái đó một thời gian dài, với tôi chỉ còn ý nghĩa của một kiến trúc thượng tầng dựng trên một cơ sở kinh tế khép kín, tự sản tự tiêu, thị tộc, gia trưởng, thủ công v.v… Nhưng bất chấp mọi luận cứ hiện đại và khoa học ấy, chúng vẫn kết tủa đâu đó trong tiềm thức tôi để rồi, vào đầu những năm 80 ấy, khi tôi đã bắt đầu già và cũng chán hiện đại rồi, chúng lại nổi lên, mù mờ thôi, trong cái mà tôi vừa gọi là lòng hiếu kỳ.

   Không kể những chùa cũ danh tiếng như Thiên Mụ, Từ Đàm, Diệu Đế... tôi rất chú ý đến những ngôi mới xây, nhất là ở các thành phố lớn. Nhiều lắm, hầu như phố nào cũng có, những cổng tam quan diêm dúa, những dao dốc cong tớn và đặc biệt màu sắc technicolor thật tân kỳ, có thể bắt kịp một kiến trúc vốn là niềm tự hào của đồng bào phía Tây châu thổ sông Cửu Long. Dù sao đấy chỉ là công trình của những nhóm, những hội đoàn Phật Giáo nhỏ, còn của Giáo Hội Phật Giáo Trung ương thì ắt phải...

Quả thật từ xa chùa Vĩnh Nghiêm sừng sững hiện lên, nguy nga như một tòa cung điện, mà lại không phải cái thứ cung điện tiều tụy còn sót lại trong Thành Nội. Bước trên những bậc đá dẫn lên sân tiến rất cao, tôi tự hào thầm nghĩ... Nhà Thờ Lớn Hà Nội không đi đến đâu hết! Quả thực, từ cái sân tiền thênh thang ấy, dựa tay vào hàng lan can nhìn xuống và nhìn qua cổng Tam Quan ra ngoài đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, một du khách vô thần hay ngoại đạo bất kỳ cũng phải ngẫu hứng những tình cảm văn học và tôn giáo.

   Bước vào điện thờ Tam Bảo, thênh thang không kém, chỉ khác nền sàn được lát toàn bằng đá men bóng lộn, trần chùa cao ngất trong một thánh đường ngoại giáo, ngoài ra không có gì nữa; không phướn, không phan, không y môn, không cửa võng, không hoành phi, không câu đối, không cả ... Tam Bảo, vì chỉ thấy độ một pho tượng Phật khá đồ sộ, toát ra tất cả cái Đại Hùng, Đại Lực, nhưng hầu như hoàn toàn thiếu vắng cái Đại Bi, Đại Trí, tức là những cái làm Đức Phật là Đức Phật: vì thế tôi không rõ đó là Đức Phật gì. A Di Đà? Tỳ Lô Giá Na? Thích Ca Mâu Ni? hay chắc hẳn đây là Đức Phật của một thời "Bão táp và xung kích" (Sturm und Drang).

Tôi lững thững thả bộ trong hành lang bóng lộn quanh chùa, thỉnh thoảng ngó ngang vào các tăng phòng: sáng sủa quá, sang trọng quá, tiện nghi quá, với các vị sư rất mượt mà trong bộ đồ màu beige cắt rất khéo, y hệt thư phòng của các nhà học giả tư sản, và thực xứng đáng với vị thế của Giáo Hội Phật Giáo một thời oanh liệt, rồi nay một thời tàn lụi.

   Và tôi chợt liên tưởng đến chùa Vĩnh Nghiêm "cội nguồn", ở vùng quê Lục Nam, lộng gió Côn Sơn, Phả Lại, mà tôi mới lên thăm cách lúc ấy không lâu. Chùa thuộc loại danh lam lớn, nhưng mái chùa cũng vẫn thấp tè như mọi chùa ở vùng quê miền Bắc, dù theo lối kiến trúc bốn mái, tám mái; đặc biệt sống nóc đang sụm xuống như lưng một bà lão còng dưới sức nặng của một kiếp người nhiều nỗi truân chiên. Các cánh cửa mốc thếch mốc thác chẳng gợi cảm một hoài niệm cổ xưa nào mà chỉ khẳng định một dự báo khoa học: chẳng lâu nữa, nó sẽ nứt tuếch, nứt toác như miệng một ông già 90.

Khuôn viên chùa rất rộng, thế mà đi rạc cẳng vẫn chẳng thấy một ai, cuối cùng may quá mới gặp vị sư già trụ trì. Cụ tiếp chúng tôi ở nhà Tổ, vượt quá mọi chỉ tiêu tối và ẩm. Trong bộ cánh nâu cũ kỹ, quê mùa, và chắc không đạt yêu cầu thanh tịnh, cụ rất ít nói, chẳng phải vì cụ nghiêm trì luật tứ phần giới bổn, ít nói, ít ăn, ít ngủ,... hoặc nhuần nhị phương châm thiền sư, để môi lên mốc, để lưỡi lên meo, mà đơn giản chỉ vì cụ, hoặc quá già lão, lại đang ốm yếu - ít lâu sau chúng tôi được tin cụ mất; hoặc cụ quá tự ti trước lũ người thành phố mà tín tâm từ lâu đã chết nghẹt dưới đủ thứ quyết tâm và tin tưởng; hoặc chút vốn liếng Phật Pháp của cụ đã tiêu hao hết để đổi lấy những công điểm sản xuất, hoặc...

   Dăm năm sau, phúc đức quá, Đổi Mới và Mở Cửa . . Đời sống cư dân vùng đô thị được nâng cao từng bước ngày càng dài hơn, và những người có của mới phát đua nhau đi lễ đủ các loại mẫu, chúa, thần, thánh, tiên, quỷ. Nói riêng lễ Phật. Đây là một tín hiệu hết sức đáng mừng một cách nghiêm túc, và trước hết môt cách thực tiễn: đầu vào của các chùa tăng mạnh. Từ đó, ở miền Bắc, xây chùa mới thì ít thôi, nhưng tôn tạo, đúng hơn tân trang, mông má các chùa cũ thì nhiều. Thế là bên ngoài sân chùa, sừng sững mọc lên các pho tượng Phật Bà Quan âm bằng thạch cao nổi bật "trời ơi, trắng rợn người" trên nền tối xám của mái chùa xưa cũ.

Bên trong, thay đổi không nhiều nhưng lại là những thay đổi cách mạng: sàn điện được lát bằng các loại đá hoa nội hay ngoại, tương phản một cách dữ dội theo một quan niệm về cái đẹp bất đối xứng, với những rầm, những cột lủng củng; với những phướn, những y môn lòng thòng. Các tượng Phật, tượng Bồ Tát, tượng La Hán, tượng Đức ông,... vẫn còn cả đấy, đủ lể bộ, có điều hơn xưa, các ngài được tích cực nâng cao uy thế bằng đủ kiểu đèn quả ớt, quả nho xanh, đỏ, tím, vàng. Đặc biệt những vòng hào quang loe lóe ánh điện ngũ sắc quanh đầu các đấng Tam Thế, A Di Đà, khiến cho thập phương tín chủ phải xuýt xoa rằng Đức Phật quả thật có Lục Thông!

   Các chùa ở vùng quê phần lớn đều tọa lạc trong một khu đất cách biệt với xóm làng bằng một đoạn đường ngắn. Người nông dân Việt Nam còn lâu mới có được mức thu nhập theo kịp người thành thị hiện nay, vì thế cảnh chùa không trông vào một khả năng tài chính nào để cách tân cả. Điều này, may hay không, lại phù hợp với người thôn quê còn lạc hậu một cách tương ứng. Còn chùa chiền ở thành phố thì, may hay không, thì như thế đấy. Vậy nếu không nên như thế thì phải nên như thế nào? Chúng tôi không phải là nhà kiến trúc, nhà mỹ học, nhà văn hóa... gì gì hết, nhưng trộm nghĩ cảnh chùa phải nên như thế nào là tùy theo Ta quan niệm. Thế thì chùa là thế nào?

   Đối với người xuất gia: Chùa là trú xứ để tu. Tu cái gì? Tu đạo giải thoát. Giải thoát khỏi cái gì? Giải thoát khỏi kiếp sống ở cõi Ta Bà. Kiếp sống ấy, cõi Ta Bà ấy có thực khổ không mà cần giải thoát? Một câu hỏi. Giải thoát cụ thể bằng những phương pháp gì? Giải thoát bằng tam học Giới, Định,  Tuệ. Tam học ấy yêu cầu những gì để thành tựu? Hai câu hỏi mà chùa, trú xứ ấy, phải trả lời minh bạch, chính xác, mới đáng gọi là chùa.

   Đối với thập phương thí chủ: Chùa là nơi đến để cầu xin chư Phật, chư Bồ Tát ban cho ân huệ, hoặc tiêu tai, hoặc giải hạn, hoặc cầu tài hoặc thăng quan... gì gì cũng được. Chính vì thế cảnh chùa phải thể hiện, không phải cái hiện đại, cái tân kỳ, cái cập nhật, mà cái siêu nhiên, cái thần bí, cái thiêng liêng vốn là yếu tính của đức tin tôn giáo, phi lý đấy mà lại hữu hiệu.

   Chùa là nơi tìm đến để cầu Đạo, để học Đạo, để tu Đạo. Mà muốn đi trên con đường của Đức Thích Ca thì chí ít không thể giải đãi, không thể bất tín ngay từ đầu, cho nên không cần và không nên bê những chiếc ghế dài của Nhà Thờ Thiên Chúa vào đặt trước điện Tam Bảo để tín chủ tựa cho đỡ mỏi lưng, không cần và không nên xài quá mức những xảo thuật điện tử rẻ tiền hay những tiện nghi hiện đại tinh vi để lưu giữ tín chủ. Phương tiện mà! phương tiện với ai? Với người đến cầu lợi cho bản thân, họ cần gì đến phương tiện ngoài cái tiếng linh thiêng, linh ứng. Với người đến cầu Đạo, Đạo Thanh Tịnh, Đạo Tinh Tiến, Đạo Khổ Hạnh, Đạo Thiểu Dục,... Cứ cái đà chạy theo phương tiện thì ngày một, ngày hai, mất tiêu luôn cứu cánh ngay trong trứng nước.

   Chùa là nơi mà người có khuynh hướng trí tuệ, kể cả vô thần, ít nhiều đã cảm thấy phần nào cái trống rỗng và phiền tạp của cuộc sống hiện đại quá xô bồ quá lộn xộn, muốn tìm ra ở đấy một cái gì đó đáp ứng được nhu cầu tịnh tâm của họ, mà họ đã không thể thấy được ở bất kỳ nơi nào trong cuộc đời bên ngoài; muốn xác minh có đúng không những lời xưng tụng Phật Giáo từ cửa miệng nhiều danh nhân thế giới mà các Hội Phật Giáo đua nhau nhắc lại. Là nơi mà những người quá ghê tởm cuộc đời toàn giả dối, quá mỏi mệt cuộc sống đầy thủ đoạn, quá đau khổ những phản trắc của nhân tình, quá chán chường cái dốt nát của thế nhân,... hy vọng tìm thấy ở đấy ít ra những manh nha cho một niềm an ủi, hoặc le lói một lối sống khả dĩ.

   Cho nên Chùa là nơi phải đồng nghĩa với không gian thanh tịnh, vắng lặng, thuần khiết, nghĩa là những tính đặc thù của cứu cánh Niết Bàn, để một khi bước qua cửa Không, khách vãng cảnh phải có cảm tưởng đã trút lại ở bên ngoài rồi tất cả những phiền tạp, những căng thẳng, những nhức nhối của kiếp nhân sinh, một cảm tưởng lờ mờ đang sinh nghiệm cái thanh tịnh, an lạc, vô vị của cõi Phật. Để xứng đáng với vị thế cao quý và sáng lạn của Đạo Phật trên nền tiến triển của Trí Tuệ Nhân Loại, cảnh chùa ít nữa phải hiện thực hóa được... Tất nhiên là khó rồi, khó vì tìm đâu ra một kiến trúc sư vừa giỏi chuyên môn, vừa có đạo tâm thuần thành; khó hơn nữa vì tất cả phụ thuộc vào…  người TU.

   NGƯỜI TU : Từ đáy lòng, trong số hơn 5 tỷ nhân loại đang chen chúc trên Trái Đất này, mẫu người mà tôi kính trọng nhất, ngưỡng mộ nhất, cảm phục nhất, là các vị tăng ni Phật Giáo. Họ theo đuổi một mục tiêu quá trừu tượng đến mức viển vông đối với con người văn minh, bằng cái giá của sự hy sinh mọi lạc thú, mọi yêu cầu tự nhiên của con người sinh học và xã hội. Dù sao thời Đức Thích Ca tại thế đã xa rồi, đã lùi quá xa thời đại của computer, của siêu xa lộ thông tin, của viễn vọng kính Hubble, của máy gia tốc hạt cơ bản...

Cho nên phải hiện đại hóa thôi, phải cập nhật hóa thôi! Thế là những bộ nâu sồng hoại sắc được thay thế bằng các loại soie rất xịn, với các màu nâu non, vàng chóe, xám hẩng,... Thế là những bước đi lặng lẽ như cái bóng lướt trên nền đất phải nhường chỗ cho tiếng rồ nhức nhối làm "khách tang hải giật mình trong giấc mộng" của đủ loại Honda, Kawazaki... Hoặc bước chân, nhanh nhẹn ư? năng động ư? Không, phải nói là rất nghênh ngang, rất ngổ ngáo của một anh thanh niên vừa rút chân khỏi ruộng bùn đã xọc luôn vào đôi Adidas thượng hạng, mà lại không có chút dấu hiệu gì của một bộ phái thuộc sơn môn Thiếu Lâm hay Nga Mi...

   Thế là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đã và đang làm một việc rất cần thiết, rất hữu ích, rất thông minh, là mở ra hàng loạt những lớp trung, cao đủ loại, để đào tạo tăng ni đủ loại. Kết quả khả quan đấy: một đấu thuật ngữ thế học pha trộn với vài bát Hán tự, Phật Đạo đủ trưởng dưỡng Thánh Thai Bát Nhã, Bồ Đề, cho béo chương béo nứt. Thế là.. . "'ăn chay chỉ là phương tiện, sát sinh có nghĩa là không được giết người" theo lời dạy của một thiền sư rất thời danh, cho nên một đệ tử truyền thừa của một cao tăng nổi tiếng trụ trì một ngôi chùa con nổi tiếng hơn nhiều, hàng ngày, mặt tươi roi rói, ra xúc cá trước những người câu, đáp lại câu hỏi, nhà sư trẻ trả lời rất ráo hoảnh, trơn tuột như một câu thần chú đã thuộc lòng: "ăn cá không phải là sát sinh".

   Không có Giới thì không có Định, tức là và càng là không có Tuệ, tóm lại là không có một tí Phật Giáo, Phật Đạo, Phật Học, Phật Thừa,... lấy một vi trần. Trên bình diện xã hội học, đạo đức học, hoặc nói theo tiêu chuẩn kinh tế, về mặt sản xuất và phân phối, không có Giới tức là không có cái tư cách Tỷ Khưu, cái tư cách Khất Sĩ để sống bằng của cúng dàng của thập phương thí chủ.

   Từ đáy lòng, chúng tôi thực tình rất tin tưởng, rất kính phục đạo hạnh, đạo học của chư tôn đức tôn túc. Có điều phải nói rằng các ngài đều đã cao tuổi cả rồi, quá cao tuổi để, hoặc mũ ni che tai, sinh hoạt âm thầm gần như trong trạng thái nhập thất, hoặc đành miệt mài dịch thuật kinh điển từ Hán văn, Phạn văn, bằng một văn phong rất tương ứng với tuổi tác của các ngài, rất tương ứng với nếp sống trong khuôn viên một cổ tự còn gìn giữ cái phong vị của văn hóa dân tộc; hoặc Phật Pháp bất ly thế gian pháp, vì tuổi cao, đức trọng, nên các ngài được “Trên” tín nhiệm giao cho trọng trách gánh vác việc dân, việc nước trong các cuộc họp định kỳ của Quốc Hội, của Mặt Trận, của Hội Đồng Thành Phố... Còn thì giờ, hơi sức đâu mà trực diện với...

   Chúng tôi thực tình không rõ có ai đó trong giới lãnh đạo rất đáng kính của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đang theo dõi hiện trạng Phật Giáo, đặc biệt hiện trạng giới tăng lữ, từ nguyên nhân phát sinh đến xu thế triển khai. Chúng tôi thực tình không rõ có ai đó... biết khẳng định như dao chém gỗ cái vị thế mạnh của Phật Giáo trong thế kỷ tới, trong thiên niên kỷ tới, trong muôn đời nhân loại: có ai đó... nhìn xa được cái lợi thế áp đảo của Phật Giáo trong bối cảnh đương đại của nhân loại nói chung, của xã hội Việt Nam nói riêng để chuẩn bị một lớp tăng lữ xứng đáng đảm nhiệm cái vai trò lịch sử vĩ đại đó. Và chuẩn bị...

   Không ngoài trước hết ý thức và thực tiễn trì giới. Hiển nhiên là mỗi cá nhân người tu hành chỉ có thể thông qua trì giới để biểu thị trách nhiệm đối với lòng tự trọng của chính mình, đối với sứ mệnh cao cả trước chúng sinh trước nhân loại, hiện nay và muôn đời sau này. Kế đó, một căn bản văn hóa thế tục đáng gọi là văn hóa. Hiển nhiên là chính cái văn hóa ấy là một trong không nhiều những phương tiện hữu hiệu để đảm bảo ý thức về lòng tự trọng, về chức năng của vị tỳ khưu đối trước chúng sinh cần hóa độ. Cuối cùng, nhưng trọng yếu nhất, Trí Tuệ Bát Nhã Ba La Mật. Trí tuệ ấy tiềm phục trong mỗi cá thể chúng sinh, bình đẳng và nhất như, nhưng lại bị triền phược bởi một lớp vỏ quá dầy để phát huy được hiệu lực trên trường tục đế. Trí tuệ ấy không đến từ đâu khác ngoài thiền định, mà thiền định đó là và phải là nghiệp vụ, là chuyên môn, là nếp sống, là cứu cánh của mỗi thành viên trong tăng ni chúng. 

   Cập nhật hóa giới luật cho phù hợp với thời đại mới, bồi dưỡng những tri thức hiện đại làm cơ sở cho Phật Học… Làm như thế chẳng bằng cách mạng hóa luôn nội dung của Phật Pháp, chẳng bằng hạ bệ quách cả Đức Phật nữa. Bởi vì , một khi "trong một sát na, ta biết tất cả", bởi vì một khi, vào rạng sáng ngày thiền định thứ 49 dưới gốc cây Bồ Đề, thái tử Siddharta thành Phật, thành bậc Toàn Giác, bậc Chính Biến Tri , bậc Thiền Nhân Sư, bậc Nhất Thiết Chủng Trí, bậc Quán Chiếu vô lượng kiếp quá khứ, vô lượng kiếp vị lai, vô lượng tình huống hiện tại, một khi đã biết như thế, tin như thế thì còn ý nghĩa gì những năm 2000, những năm 3000,.. . để làm cái việc vô nghĩa trong tự thân có tên là cập nhật hóa, hiện đại hóa, khoa học hóa Phật Đạo. Còn nếu không tin như vậy, hoặc giải thích vòng vo theo kiểu thế trí biện thông rằng đó là cách nói ẩn dụ, hoán dụ, hình tượng… của Kinh Luận thì thôi đi, có thể giã từ Phật Giáo được rồi đấy. Chúng tôi thực tình không rõ có ai đó...

   Vâng, đúng thế, tình hình thực tiễn cực kỳ rối, tìm ra đối sách cực kỳ khó. Tuy Phật Giáo Việt Nam đang gặp những thuận lợi lớn, tạm kể: Nguồn thu nhập của chư tăng ni, ít ra ở thành phố, là cao, rất cao nữa. Xã hội ta đang có khuynh hướng đi về tâm linh, mà tâm linh lại là cốt lõi của Đạo Phật. Bản thân Đạo Phật ngày càng được những tinh hoa xã hội ngưỡng mộ, ngay cả những thành viên trong cấp lãnh đạo cao nhất cũng ngày càng chú ý, coi trọng và tìm hiểu Phật Pháp với thái độ ít nhiều thực sự cầu thị, thay vì ném đi trọn gói như cái mà Interpol đang truy lùng.

Bản thân Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, tuy là một tổ chức ngang, vẫn là một tổ chức quan phương giữ một chân trong cái tổ chức ngang lớn nhất là Mặt Trận, có đằng sau lưng nó một lượng rất lớn tín đồ, ít nhiều tín đồ thật sự theo nghĩa cá nhân, vô chính phủ theo nghĩa tập thể; có dưới tay nó một đội ngũ tăng lữ đông đảo, là tăng theo nghĩa cá nhân, dù động cơ đi tu khó xác minh; rất lỏng lẻo, bác tạp theo nghĩa tập thể, trong tương lai gần, không thể không trở thành một tiếng nói ít nhiều đáng xem trọng, miễn là. . .

   Nhưng một hiện thực ngược cũng bày ra trước mắt Giáo Hội: Số người tự nguyện đi vào Cửa Không, rất đông đảo, quá đông đảo trên mức cần thiết. Họ là ai, có động cơ thực sự gì, điều này chẳng còn bí mật với ai hết. Đành rằng Đất Phật từ bi rộng mở cho tất cả, không trừ ngay những người bất hạnh chỉ tìm đến đấy mảnh đất dung thân cuối cùng cho đời họ. Nhưng một khi đã đến thì phải tuân thủ "luật chơi", phải tuân thủ những cam kết. Bởi vì Đất Phật trên Trái Đất, thực tế được tài trợ bởi thập phương tín thí chủ, không thể và không được phép là chỗ cư trú và kiếm ăn một cách quá dễ dàng và hữu hiệu cho những kẻ mà lao động vinh quang từ lâu đă trở thành một khẩu hiệu bị bỏ quên.

   Giáo Hội sẽ xử sự ra sao? Trước hết Giáo Hội phải khẳng định quyền tuyển chọn. Tuyển chọn theo tiêu chuẩn nào? Dễ dàng dung nạp và thu nhận, nhưng đặt ra một thời hạn thử thách rất nghiêm ngặt, rất khổ hạnh, yêu cầu chuyên cần và khinh an (dứt bỏ quá khứ) rất triệt để, yêu cầu hạn chế đến mức cao nhất thùy miên, trạo cử, hôn trầm, bất tín. . . gần như vẫn là thuộc tính bản chất của lớp người này. Ngoài thì giờ dành cho cần, cho lao động thật sự và hành lễ, học kinh, cộng thêm tối thiểu thời gian cho ăn và ngủ , còn lại chỉ để hành thiền. Thời hạn thử thách với nội dung ấy đủ để phát huy, trưởng dưỡng những phẩm chất tốt hiển lộ ra cho Giáo Hội chính thức làm phép thế phát, cũng đủ để mọi thứ Tôn Ngộ Không hiện đại lòi cái đuôi bản chất và để Giáo Hội mời họ ra khỏi chùa, dứt khoát và không khoan nhượng.

Xét cho cùng, cái nóc vẫn là quan trọng nhất. Vấn đề đặt ra cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam và Ban Lãnh Đạo rất đáng kính là đức tin của họ vào tính thù thắng, tính chân lý tuyệt đối của những lời Đức Thế Tôn truyền dạy thực sự cao đến đâu, và thực sự được lĩnh hội đến đâu. Chỉ cần gần đúng với thực chất của vấn đề cũng đủ để cho Ban Lãnh Đạo đứng rất vững hai chân trên Tịnh Thổ của mình. Lúc ấy, đối sách, đối trị trước cái chúng sinh bác tạp này, cái thế giới ô trọc này, còn khó tìm, khó định lắm nữa đâu cho tinh thần vô úy, cho trí tuệ như hải của thậm thâm vi diệu pháp, nói ngắn gọn cho Đạo Pháp.

   ĐẠO PHÁP: Chúng tôi ngày càng cảm nhận rằng Kinh Tạng Phật thực sự !à tối thượng. Dựa theo phương pháp luận "phương tiện chủ nghĩa", Kinh Phật hàm dung đáp án cho mọi tình huống nhân loại, dưới ánh sáng của nhận thức luận "Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc". Kinh Phật rất rốt ráo về mặt bản thể luận, đồng thời vẫn rất “thực dụng chủ nghĩa" về mặt ứng xử luận, giải thích luận. Chúng tôi ngày càng…, nhưng "chúng tôi" là ai đấy? một chữ Hán bẻ làm đôi không biết; một chữ Sanscrit cắt làm năm không hay, một chữ Pali chẻ làm mười không rõ. Từ đáy lòng, thực tình chúng tôi rất tri ân chư tôn túc, chư hòa thượng, thượng tọa và các vị cư sĩ học giả Phật Giáo. Không có những công trình phiên dịch Kinh Luân của chư vị đó , chúng tôi không có được cái phúc duyên hôm nay. Vì vậy công tác phiên dịch phải được Hội coi là .. . là . . . Nhưng nhằm vào đối tượng nào là chính yếu?

Từ quần chúng không màu sắc, đại đa phần tín đồ đến Cửa Phật chỉ để nguyện cầu một điều gì đó, cụ thể và vị kỷ thôi, cho bản thân họ. Trong số đó một thiểu phần gồm các ông già, bà cả hy vọng một niềm trấn an trước cái mà họ còn rất sợ nhưng lại ngày một ngày hai xảy ra lúc nào không biết; hoặc một niềm an ủi, một lãng quên cái cuộc đời mà họ không còn gì để làm nhưng vẫn còn nhiều thứ để dùng, những thứ ấy được cung cấp bởi lũ con cháu mà lòng hiếu thảo đôi khi có thể khiến thầy Mẫn Tử hay ông Lão Lai muốn đập đầu vào tường tự sát. Với lớp tín đồ này, ý nghĩa thâm viễn của Kinh Luận Phật Giáo là món xa xỉ phẩm họ không quan tâm, cái mà họ cần chỉ là Tín Tâm.

   Thực ra Tín Tâm vốn đã tiềm phục nơi mọi người, bởi vì con người cũng là Con Người homo magicus. Nhưng chết nỗi, dăm ba kiến thức khoa học trộn lẫn với kiến thức xã hội và kinh nghiệm đủ làm thành một tấm màn hữu phú khá dày cho chất magicus lộ diện với ý nghĩa tích cực về mặt nhận thức và ứng xử. Cho nên cần gia cố chất magicus nơi họ bằng những bài giảng kinh họa luật nhân quả đơn giản mà hấp dẫn, cộng với vài bộ kinh phổ thông như Địa Tạng, Thủy Sám, Di Đà, Dược Sư. . . được dịch ra thể loại văn vần. Thế thôi, quá tốt cho Tín Tâm của họ có cơ may - "Tín vi đạo nguyên công đức mẫu" - vượt xa rất nhiều lớp trí thức, cả thực lẫn giả, mà nhà Phật thường xếp vào cái rọ Cuồng Tuệ Sở Tri Chướng..

   Gần đây, do nhiều nguyên nhân xã hội, cũng do tác dụng lành mạnh của thông tin thoáng đãng hơn, ngày càng có nhiều người trí thức, những kẻ sĩ đương đại bước đến Cửa Phật để mong tìm hiểu cái Đạo mà họ đã văn kỳ thanh khá nhiều, nhưng kiến kỳ hình thì còn thiếu. Các tổ chức Phật Giáo phải hết sức chú ý săn sóc phần hồn của họ, không phải vì họ là kẻ sang trọng, quyền thế cái gì cả. Đất nước ta xưa kia vẫn có truyền thống tôn vinh kẻ sĩ, có tập tục tuyển lựa kẻ sĩ vào guồng máy Nhà Nước, bẵng một thời gian tưởng đâu tìm được phép lạ khác, bây giờ lại đang đứng trước một triển vọng, một tất yếu trở lại vết xe xưa.

    Vả chăng, khắp nơi trên thế giới này, ở đâu kẻ sĩ được trọng vọng, ở đó dân giàu nước mạnh. Vậy mà không một thứ kẻ sĩ nào lại ích quốc lợi dân hơn thứ kẻ sĩ thấm nhuần, chí ít hiểu qua Đạo Phật. Có điều kẻ sĩ không phải bao giờ cũng thông minh, lịch sử đã hơn một lần trưng bày chứng cớ, lại ngay trên những lĩnh vực còn dễ liễu ngộ hơn Đạo rất nhiều. Mà Kinh Phật lại quá khó, càng khó cho kẻ sĩ vốn dĩ bản chất đã sở tri chướng, lại chướng bằng những thứ sở tri rất thô cứng là chất trược tướng rất hình thức, rất nhị nguyên. Vì vậy công cuộc dịch thuật các Kinh Luận Phật Giáo phải bao gồm cả việc chú giải và bình luận, bình luận rất rộng rãi, rất thoáng đạt, thay vì chỉ nằm trong tay một vài thẩm quyền xơ hóa (sclérosé) trong bộ máy apparachik tăng già. Vả chăng, văn phong của nhiều vị không dễ tiếp cận cho chúng sinh đương đại, tâm của các vị quá trong sáng, không dễ đi thẳng vào cái tâm bác tạp, rất đa nghi rất. . . thôi thì tạm nói là rất không đơn thuần.

   Bên cạnh Kinh Luận chính thức của Phật Đạo, cả hệ Pali lẫn hệ Sanscrit, cả hệ Trung Quốc lẫn hệ Nhật Bản, Tây Tạng, cần giới thiệu, ấn hành những trước tác hiện đại , đặc biệt của các tác giả Phương Tây. Tại sao phương Tây? Đơn giản thôi, văn phong của họ dễ cuốn hút, lập luận của họ dễ thuyết phục đối với giới trí thức mà dù trên đầu lưỡi bài ngoại thế nào, dù trong tâm thức "về nguồn" thế nào, thực ra không mấy ai không tự ti trước nền khoa học, triết học, văn học, kỹ thuật học phương Tây. Vả chăng, phương tiện mà! Cũng là chuyện phương tiện, thái độ và chủ trương của Giáo Hội Phật Giáo đối trước thế học và thế nhân.

   Trên mặt giáo lý, cứu cánh của người Phật tử là Sở Hiển Đắc Niết Bàn và Sở Sinh Đắc Bồ Đề, hai mặt này liên quan sinh thành với nhau như các hạt cơ bản liên quan sinh thành với nhau trong thuyết Đai ủng (bootstrap). Vậy đơn giản cứu cánh là Trí Tuệ Bát Nhã. Trí tuệ ấy (prajna) siêu việt trí tuệ thế tục, Đạo Phật gọi là Thức (vijnana) bất khả thuyết lần hơn, cũng có nghĩa rất khác về bản chất trong chừng mực còn dùng đến tư nghì, thậm chí còn là một trong bát nạn rất bất hạnh, là một trong bốn điều cần dứt bỏ - "học và đọc sách (thế tục)" - theo lời dạy của đại sư Trí Khải. Người ta thường bình luận quá rối rắm, quá rườm rà về Tổ Huệ Năng mà quên khuấy rằng Ngài vốn chỉ là một anh mán mù chữ, và chính điều này đã làm nên Tổ, làm nên tính thù thắng trong tư tưởng của Ngài: "Cái uyên áo của Phật Pháp có liên quan gì đến văn tự" .

Thấm nhuần yếu chỉ đó, Ban Lãnh Đạo Phật Giáo sẽ không bao giờ được tự cho phép mình làm những việc phù hoa và không xứng đáng với tư cách của họ như quá vồ vập, chào mời các nhà học phiệt, viện sĩ, giáo sư vào ban này, bộ nọ để tăng thêm cho mình (?) và cho người lòng tin vào tín ngưỡng Phật Giáo. Sẽ không còn quá rụt rè, tự ti đến mức cầu cạnh khoa học, quá lúng túng, lấn bấn trước kỹ thuật với hai mặt lợi và hại, từ đó tránh được nguy cơ phạm tội ngũ gián, làm Phật chảy máu. Phải đặt lên hàng trọng tâm, hàng chiến lược, công tác minh họa, tiếp cận cái Trí Tuệ Bát Nhã ấy thông qua những biểu thị của Vô Thức, phi lý mà hữu hiệu, hoang đường mà sâu sắc.

Yếu chỉ đó, dĩ nhiên không phải chỉ một Tổ Huệ Năng nói ra, nhiều người trước ngài, sau ngài đều phát biểu tương tự. Nói riêng trong Hội Giảng Lăng Nghiêm, Đức Thế Tôn cũng đã dạy: "Sáu căn của các ngươi là cánh cửa mở vào địa ngục", nhưng ngài không chỉ nói có thế, mà... và đấy chính là trên mặt hiện thực, "sáu căn của các ngươi cũng là con đường dẫn đến Niết Bàn". "Văn tự" của Tổ Huệ Năng và "sáu căn" đều biểu tượng cho cái mà không ai không biết, bởi vì nó chính là mỗi người, tức là Ý THỨC. Ý Thức bọc kín Như Lai Tạng nên Ý Thức là kẻ dẫn đường đến địa ngục. Nhưng rồi cũng thông qua ý thức như qua ngón tay chỉ mặt trăng mà ta thấp thoáng thấy được cái hướng đi về phía Niết Bàn. Cho nên tuy Ý Thức "tội vi khôi", đồng thời Ý Thức cũng là "công vi thủ".

   Thuyết phục, dẫn dụ, giáo dục kẻ sĩ đương đại - một nhiệm vụ chiến lược của mọi Giáo Hội Phật Giáo – không thể không dùng đến ngôn ngữ, đến văn tự, từ đó đến tri thức thế học, đặc biệt nhất đến khoa học hiện đại, sinh học hiện đại, vật lý học hiện đại . .. bên cạnh xã hội học, chính trị học,. .. Chúng tôi e rằng trong tăng ni chúng hiện nay, không dễ gì tìm ra được những người vừa trước hết tuyệt đối tin vào giáo điều của Đức Phật như chân lý duy  nhất, tự đủ cho. .. mục tiêu Tiểu Thừa, đồng thời, sau đó, với tư cách Đại Thừa, hành Bồ Tát Đạo - chưa dám đòi móc mắt, moi tim cho ai cả mà hãy tạm - thông hiểu tri thức thế tục để lấy đó làm chất phụ gia cho cái bè chở nhừng sở tri chướng cuồng tuệ ấy qua bờ bên kia của Bồ Đề Bát Nhã. Mà những tăng ni như vậy lại tuyệt đối cần thiết cho Phật Giáo làm tròn được cái sứ mệnh vĩ đại mà Đức Bổn Sư Thích Ca Mầu Ni đã giao cho, mà Đức Di Lặc Bồ Tát đã được thọ ký luôn luôn hỗ trợ. Tín hiệu của sự hỗ trợ ấy lại đang được nhân ra từ hiện trạng xã hội hết sức lộn xộn đến nhược người, trong đó có hiện trạng của Tín đồ. 

   TÍN ĐỒ: Xã hội Việt Nam ta, nhất là xã hội đô thị, sau một số năm Đổi Mới và Mở Cửa chưa lâu, đang hình thành và ngày càng mở rộng một tầng lớp trung lưu, tạm gọi là phú quý, để từ đó một bộ phận, hoặc sính lễ nghĩa, năng tham gia những hoạt động công cộng ít nhiều cao cấp, đặc biệt năng đi lễ đi bái; hoặc chuyển hướng trí tuệ vào những đề tài học thuật, triết lý khác với cái mà họ đã huân tập và chán ngấy; hoặc nhiệt thành (?) tin vào và chuyên chú luvện tập để thủ đắc cái mà trước đây chưa lâu còn bị nhất loạt xem là mê tín nhảm nhí.

Lễ bái …đông lắm, đặc biệt thanh niên nam nữ lộng lẫy trong những bộ trang phục rất xịn , rất môđéc. Lễ ai? Nói chung không phải các vị anh hùng dân tộc đã được phong thần một cách quan phương nhưng lại ít hiệu ứng theo yêu cầu, nhưng là những vị, tuy hồ sơ lý lịch không rõ ràng, bù lại rất nổi tiếng, vì thế rất được trọng vọng, về mặt hiệu năng thực dụng chủ nghĩa. Các vị này ban phát ân huệ khá dễ dãi, đối lại , các ngài không đòi chứng cớ vật chất của lòng tri ân quá cao. Đám tín đồ này, tuy rất ít vãng lai Cửa Phật, nhưng, không hiểu họ nghe ai, học ở đâu, đều nhất loạt hiểu rằng Đức Phật là đấng cao nhất, các vị thần, vị thánh kia chỉ mới đứng ở hàng đệ tử. Phật là cao nhất, nên khấn ai, cầu ai họ cũng biết bắt đầu bằng lục tự A Di Đà. Đó là điểm cần lưu ý cho những mục đích hoằng dương phật Pháp của các hội đoàn Phật Giáo.

   Đồng thời các hoạt động thiện nguyện, những hành vi vị tha tuy chưa sôi nổi lắm nhưng cũng đã bắt dầu khởi sắc theo chiều hướng rất đáng khích lệ. Phần lớn chúng không xuất phát từ những mẫu tư tưởng nhân bản quá trí tuệ, cũng rất ít từ tư tưởng tập thể, mình vì mọi người, mọi người vì mình, mà phần lớn đều ít nhiều có động cơ tăng cường, bành trướng cái mà Nhà Phật gọi là Phúc Điền. Nói đơn giản, phấn lớn đã bắt đầu tìm phúc từ những nguyên nhân thần bí, tránh tội từ những nguyên nhân thần bí. Sách vở thuộc gần đủ đề tài, đa phần là sách dịch, được ấn hành khá rộng rãi khi những người gác cổng về mặt tư tưởng ngày càng thưa thớt, càng thiếu tự tin và cũng ngày càng bận rộn trong "công tác" thị trường. Giới trí thức được làm quen với các tác giả làm họ tỉnh giấc ngủ giáo điều và bàng hoàng trước những cảnh quan trí tuệ mới lạ. Mâu thuẫn đấy với những tín điều xã hội, thậm chí tự nhiên của họ, nhưng không thể đơn giản gạt bỏ theo một thứ chủ nghĩa sơ lược nông dân.

   Có lẽ dưới tác dụng của những bài báo, những hình ảnh trên TV ngày càng nhiều về đề tài cận tâm lý, về các môn huyền học Yoga, thần công, khí công, dịch học, tử vi..., nhất là tính thuyết phục rất thực dụng chủ nghĩa về mặt kinh tế, ngày nay nhiều cán bộ về hưu, từng có học vị cao, chức vụ lớn trong bộ máy giáo dục, y tế khoa học,... say mê lao vào nghiên cứu, tập luyện, rồi khoe rằng đã chứng đắc được, nào ngoại cảm, nào tiên tri, nào chữa bệnh bằng. . . bằng cái gì đó tuyệt đối xa lạ với phương pháp pavlov một thời độc tôn, thậm chí cả khả năng giao tiếp với cõi âm, thường xuyên nhất với Marx, Lénine, Thánh Trần, Thánh Tản, Chúa Liễu,... thậm chí cả Thượng Đế (cũng thuộc cõi âm?) để truyền lại cho người đời những phán bảo của các vị. Và như một biểu hiện của di căn, khi được hỏi, họ vẫn giải thích rất trơn tru: "ngoại cảm là duy vật, quỷ thần là biện chứng".

Hai trong ba trào lưu trên lan tràn khắp nơi , thâm nhập mọi giới - quả thật chỉ có trật tự xã hội chủ nghĩa mới làm chậm lại hướng phát triển tất yếu cho sự hình thành các giáo phái theo kiểu Aum Shinrikio, Đền Thờ Mặt Trời , . . . đang làm phát sinh những hiệu ứng xã hội tiêu cực mà người học thức -có tư duy lành mạnh, đứng đắn - thực chất chỉ là tư duy trược tướng, máy móc của khoa học Newton - không khỏi chê bai, bài bác, miệt thị. Còn chúng tôi , không phủ định những mặt xấu, lại thấy ngoài ra một dấu hiệu tích cực: dấu hiệu của khuynh hướng đi về tâm linh.

   Gần đây, xă hội ta, trên đài báo, trên sách vở, trong đàm luận, trong chuyện trò, hai từ tâm linh thường xuyên được dùng tới , kể cả trong tình huống không ăn nhằm gì với nó cả. Vậy ta phải minh định : thế thì tâm linh là cái gì vậy? Linh là tính năng gây nên những hiệu ứng vật chất rất cao về cường độ, rất rộng về quy mô, rất lạ về chất lượng ngoài kinh nghiệm hàng ngày và có cơ chế vận hành không thuộc thẩm quyền của khoa học. Tính năng ấy bắt nguồn từ, hoặc là mặt dụng của một thể vô hình, vô tướng, phiếm định, phi vật chết, phi không gian và phi thời gian, thể ấy gọi là Tâm, và nếu gộp cả tính năng của nó, thì gọi là Tâm Linh. Tâm Linh không phải là linh hồn như một đặc hữu vĩnh hằng của mỗi cá nhân, nó hoàn toàn vô ngã, phi nhân cách nhưng vẫn có thể bộc lộ ra trên trường hiện tượng nơi cá nhân này, cá thể kia tùy theo căn nghiệp, nhân duyên của cá nhân ấy cá thể ấy.

Vì "linh" rất phản khoa học trên tính cách và nguồn gốc của hiệu ứng, thí dụ cái "linh" của một Vanga, một Davitasvili, nhìn suốt đến quá khứ hay sang vị lai, mặt khác bất kể một cấu thể hữu sinh nào, như bộ não chẳng hạn, đều khả hoại, khả tử hết, cho nên các công trình khoa học toan tính lý giải tâm linh như phương diện tác dụng của bộ phận này hay bộ phận kia đang rất đắt giá trong giới sinh lý thần kinh chỉ nên xem là một trò lý luận thế gian khá vui và hữu ích, nếu như không kể đến hệ luận lôgic: não hoại là chết, chết là hết và sống là sống tranh thủ.

   Tóm lại, Tâm Linh, đó là một hữu thể, một thực thể siêu cảm, siêu nhiên, có thể tác động quyết định và bất khả tư nghì lên đời sống của mỗi nhân thể, kể cả đời sống của mỗi cộng đồng. Thế mà Tâm Linh lại là cốt lõi của mọi tôn giáo, là mẫu số chung của các tôn giáo, bởi vì mọi tôn giáo, dưới hình thức này hay khác đều bắt nguồn từ lòng tin vào một hiện hữu, siêu cảm, phi vật chất. Cái hiện hữu ấy được nhân cách hóa trong hình tượng Thượng Đế, Allah, Jupiter,.. . hay đặc trưng hóa bằng cái bản thể nhất như gọi là Chân Tâm hay Bát Nhã; thì đấy chỉ là những sai biệt về phong cách miêu tả.

Vậy thì lòng tin vào tính thực hữu của Tâm Linh gần bằng lòng trung thành, trong một biểu thị sơ đẳng, với lời dạy của ngài Milarepa về vũ trụ muôn thể, về cái Ngã vô tướng. Do đó cũng gần như là một Phật tử rồi, vì Đạo Phật là tôn giáo của những tôn giáo khi Đức Phật xem toàn bộ vũ trụ chỉ là sự phóng xuất của Cái Tâm ấy, xem thế giới này chỉ như là một trong vi trần số thế giới. Do đó Phật Giáo có rất nhiều khả năng tập hợp, hướng dẫn, giáo dục các mảng nhân quần ô hợp đó.

   Nói như thế, tuyệt đối không có nghĩa là chúng tôi mong muốn Phật Giáo trở thành một thế lực xã hội khuynh loát các tập đoàn xã hội khác, hoặc một thứ quốc giáo có hiệu lực của một hệ tư tưởng độc tài. Ngay cả một tổ chức Phật Giáo thống nhất như một độc quyền. .. Ngay cả một tổ chức Phật Giáo chặt chẽ như một thứ Vatican "bản địa". Bởi vì Phật Giáo theo hướng đó sớm muộn gì cũng sẽ tự động chuyển thành bộ máy quan liêu apparachik khổng lồ, chuyên quyền và thối nát, một mảnh đất quá màu mỡ cho đủ thứ xấu xa của nhân tính, tạm kể "Cuồng, Xiểm, Dữ, Hại, Kiêu; Vô Tàm cập Vô Quý". Vả chăng, dẫu có muốn cũng chẳng được nào trong một thế giới mà xu thế dân chủ và tự do  không thể kìm hãm được nữa trên mạng lưới chằng chịt những siêu xa lộ thông tin, mà cấu trúc xã hội đang manh mún ra trăm, nghìn lãnh địa cho quyền tự chủ của cá nhân, mà chiều hướng đăng quang cho Trí Tuệ lên ngai thống trị không thể đảo ngược.

   Nói như thế, chúng tôi chỉ muốn biểu đạt mối tương quan sinh thành giữa niềm tin vào tâm linh và khả năng hướng thiện cho con người. Vì Đạo Phật là cả một kho tàng vô tận về tâm linh, từ Yên La Ma Thức như chân không đến Alaya Thức như muôn thể vũ trụ, từ Manas như cái đặc trưng cá thể đến Tiền Ngũ Thức như bằng cớ cho hiện thực trực quan. Vì Đạo Phật là vô vàn những phương tiện cứu người, giúp đời, từ lối tu A La Hán cho trí tuệ thuần túy đến Hạnh Bồ Tát trên trường ứng xử thế gian. Cho nên, đây không phải là chuyện vơ vào vì thiên kiến hay cảm tình, càng không phải vì thói ganh đua hay ưa chơi trội, ai thực hiện được hướng thiện cho nhân quần xã hội tốt hơn được các tổ chức Phật Giáo đại diện cho các vị Bồ Tát, vâng theo chư Phật mười phương và tam thế.

    Trên triển vọng đó, tạm kể một số việc nên làm:

-                  Đầu tư không dè sẻn, không run tay, vào sự nghiệp tập hợp, nghiên cứu, lý giải, quảng bá,... những lợi ích bất khả tư nghì của hành Thiền, niệm Phật, trì Chú,... Riêng về Hành Thiền, cần phải giải thích chi tiết các phép chỉ, quán và tam muội. Song song đối chiếu các sự kiện cận tâm lý, các luận thuyết khoa học hiện đại với các lời dạy trong Kinh Luận. Trình bày, giới thiệu những đối trị của Phật Giáo trước hiện trạng có tính bùng nổ của thực tiễn nhân loại đương đại. Phác họa, đề nghị những mô hình, vĩ mô và vi mô, cho tổ chức xã hội tương lai dựa trên lời dạy của chư Phật, chư Tổ.

-                  Thành lập những tổ chức thiện nguyện do tăng ni chuyên trách, dựa vào "vô hằng tâm, hữu hằng sản" của thiện nam tín nữ, để Phật Giáo hành Bồ Tát Đạo một cách thực tế nhất cho đám chúng sinh cùng khổ. Và những Hội Tư Vấn để đem ánh sáng của Đạo xua tan những đám mây đen của mắc mớ, va vấp, xung đột trong lòng nhân sinh. Đây cũng là cơ hội để tăng ni Đại Thừa thực sự hiểu đời, rồi thực sự giúp đời trên hạnh Pháp Thí Ba La Mật. Đồng thời cũng liễu ngộ hết được cái uyên áo của Phật Pháp ngay trên mảnh đất đầy cạm bẫy, chông gai của Tục Đế.

-                  Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các câu lạc bộ Phật Giáo, cũng là những diễn đàn triết học, tập hợp những nhóm tăng ni và cư sĩ định kỳ trao đổi, bồi dưỡng các tri thức Phật học và Thế học cho nhau, định kỳ hội thảo về các chuyên đề về giáo lý hay về các sự kiện tâm linh đặng tìm ra đường lối, phương cách minh họa, tiếp cận các lời dạy của chư Phật, chư Bồ Tát.

-                  Thu hút các nhóm thanh niên, thiếu niên, văn nhân, nghệ sĩ vào các tiểu ban này nọ để họ có thể, bằng nhiệt tình và tài năng, đem lại cho các buổi lễ lạt của Chùa, cho cảnh quan của Chùa chất xúc tác trưởng dưỡng lòng mộ đạo và niềm an lạc khi tham gia đời sống tôn giáo. Hướng dẫn, giảng dạy, tập thiền cho những nhóm học sinh, sinh viên, văn nghệ sĩ,.. . có chí cầu tiến và có tâm đối với Đạo, chí ít có khuynh hướng tâm linh, ghi nhận thành tựu học tập trên mặt năng lực trí tuệ và phong cách ứng xử bằng cách so sánh với các nhóm đối chứng.

-                  Thái độ phóng khoáng, chủ trương vô phân biệt đối với các cư sĩ, các học giả bên ngoài các giáo đoàn tăng lữ trong việc bình luận, kể cả việc thuyết giảng Phật Pháp trên các diễn đàn của Giáo Hội Phật Giáo quan phương.

  Chư Bồ Tát, chư A La Hán, nhiều như vi trần số, ganh đua nhau, cạnh tranh nhau, mạ lị nhau, là những điều tối tối phi lý ngay trong khái niệm; là những điều hết sức vô nghĩa ngay trong ý nghĩ. Vậy các tông phái, các tổ chức Phật Giáo, Đại Thừa hay Tiểu Thừa, Mật Tông hay Hiển Tông, Thiền Tông hay Tịnh Độ, Trung Ương hay Độc Lập, nếu đều thấm nhuần yếu lĩnh của Đạo thì đều hữu hiệu như nhau trong việc hoằng pháp trên những lãnh địa khác nhau của hiện thực nhân sinh rất manh mún.

   Còn như nếu chỉ biết liến thoắng vài câu Kinh trích dẫn, đồng thời hăng hái tham gia hợp tấu những luận điệu thế tục rẻ tiền thì không bao giờ cả Phật Giáo Việt Nam với tới được một cái gì đó giống như Sứ Mệnh mà Thế Kỷ 21 đang đặt ra cho họ; thì trước đó, như hiện nay, chỉ là một niềm khát vọng, một nỗi cám cảnh cho những người vô cùng ngưỡng mộ, vô cùng tín ngưỡng cái Đạo mà họ thành thực coi như niềm hy vọng cuối cùng cho dân tộc, cho nhân loại.

Tinh Tiến

Hà Nội, 4- 1997

 

     


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com