
posted: 29.11.04
THÍCH
TÂM TỊNH NGHĨ VỀ HỆ THỐNG GIÁO DỤC PHẬT GIÁO VIỆT
NAM l. Giáo Dục Phật Giáo là gì? Giáo dục học là khoa học về việc
giáo dục con người, khoa học về sự huấn luyện đạo đức, huấn luyện
trí tuệ và hình thành nhân cách con người. Giáo dục là khoa học của
các khoa học, đào tạo nên tất cả ngành nghề trong xã hội. Từ góc độ
xã hội học, giáo dục là quá trình hình thành con người dưới tác động
của môi trường xã hội và thực tại xung quanh con người. Từ góc độ
giáo dục học, giáo dục là quá trình hình thành có mục đích và hệ thống
những sức mạnh về thể chất và tinh thần của con người, cho từng cá
nhân, nhằm xây dựng một cộng đồng xã hội có văn hóa, đạo đức, an
bình và thịnh trị. Từ góc độ Phật Giáo, giáo dục
không chỉ là sự dạy và học mà còn là quá trình chuyển hóa nội tại,
cải tạo cái xấu, bồi dưỡng và phát huy cái tốt, trang bị cho mỗi cá
nhân những nhận thức chánh kiến, đức tin chân chánh, những phẩm chất
tâm linh, ý chí và đạo đức nhân bản và siêu thể, để họ làm hành
trang tư lương cho đời sống an lạc, hạnh phúc cá nhân, gia đình và cộng
đồng xã hội. Giáo dục Phật Giáo nhằm trang bị và hoàn bị cho con người
những kiến thức cần phải có, vạch trần bộ mặt của hiện thực khổ
đau và con đường hướng đến sự diệt tận khổ đau. Đó là nền giáo
dục về hiện thực, thể nghiệm hiện thực, nhận chân hiện thực và vượt
lên trên mọi ràng buộc đối đãi của hiện thực, để trở về và thể
nhập hiện thực như thị. 2. Hệ thống giáo dục của Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam Trong các ban ngành của Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam hiện nay và ngay cả các ban ngành thuộc Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam trong các chính thể trước đều xem trọng và đặt ngành giáo dục
lên vị trí hàng đầu, vì tính quan trọng vô song của nó trong chiến lược
duy trì củng cố và phát huy Giáo Hội, góp phần làm đẹp nền giáo dục
nước nhà. Hệ thống giáo dục của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam hiện
nay được xây dựng trên tinh thần của hiến chương Giáo Hội về ngành
giáo dục, có thể cụ thể hóa thành 3 hệ như sau: a.
Hệ giáo dục phổ cập: Đây là hệ giáo dục Phật học dành
cho Phật tử tại gia, bao gồm các trung tâm thuyết pháp, giảng dạy giáo
lý trên toàn quốc, cho mọi đối tượng, trình độ và giới tính. Hệ
giáo dục phổ cập chỉ nhằm đáp ứng những gì phổ thông và phổ quát
nhất cho các phật tử, chưa có điều kiện đáp ứng theo nhu cầu cho từng
lứa tuổi, giới tính và trình độ vì phổ cập chỉ hàm ý là những gì
chung nhất cần thiết nhất mà mọi người cần phải có, để sống và
làm việc đúng chánh pháp. Chắc chắn rằng trong tương lai gần với sự
đổi mới khế cơ, khế thời của Đại Hội 4 của Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam, ngành giáo dục Phật Giáo sẽ đầu tư nghiêm túc vào hệ giáo dục
phổ cập này bằng cách thích ứng kịp thời soạn thảo nhiều chương trình
học khác nhau, phù hợp từng đối tượng, trình độ. Giáo Hội nên biên soạn giáo án
mang tính sư phạm và khoa học cho thiếu nhi, cho thanh thiếu niên, cho thanh
niên, cho người có tuổi, cho người mới theo Đạo và cho người mới phát
tâm. Sự thích hợp từng lứa tuổi, trình độ và giới tính là tính sư
phạm cần thiết, góp phần làm tăng hiệu quả giảng dạy của giảng sư,
pháp sư, giáo lý viên cũng như hiệu quả tiếp thu của học viên hay người
nghe. Đó là những vấn đề bức xúc hiện nay, cần được quan tâm và thực
hiện. b.
Hệ giáo dục cơ bản Phật học: Hệ giáo dục này dành cho đối tượng
là các Tăng Ni sinh với trình độ thế học tối thiểu là lớp 9. Hiện
nay trên toàn quốc có trên 30 trường cơ bản Phật học. Về chương trình,
giáo dục cơ bản Phật học hiện nay bao gồm Sơ đẳng và Trung đẳng
Phật học của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trước 1975 và thời gian học
được rút ngắn từ 8 đến 9 năm thành 4 năm như hiện nay. Cơ bản nên
được hiểu không phải là những cái sơ cơ hay sơ đẳng mà là những gì
thiết yếu nhất và phổ quát nhất trong Phật Giáo như giới thánh uẩn,
định thánh uẩn, tuệ thánh uẩn, giải thoát và giải thoát tri kiến. Các
môn hoặc của kinh tạng Pali như Tiểu Bộ Kinh (năm thứ nhất), Trường
Bộ Kinh (năm thứ hai), Tăng Chi Bộ Kinh (năm thứ ba), Kinh Na Tiên
Tỳ Kheo (năm thứ tư) và Kinh tạng Bắc tông như Kinh Bách Dụ, Kinh
Bát Đại Nhân Giác, Kinh Thập Thiện, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Kim Cang Bát Nhã,
Duy Thức Cương Yếu, Luận Phật Thừa Tông Yếu, Luật Sa Di, Luật Tỳ
Kheo, Luật Bồ Tát v.v. . . đều nhấn mạnh đến giới, định, huệ,
giải thoát và giải thoát tri kiến này. Giáo dục cơ bản Phật học là
nền giáo dục đặt trọng tâm vào năm thánh uẩn ấy để tạo cho Tăng Ni
sinh nền tảng văn huệ, tư huệ, tu huệ, hướng đến đời sống thanh tịnh
và giải thoát cho tự thân, tha nhân và cộng đồng xã hội. Tuy vậy, Ban giáo dục vẫn chưa quan tâm
đúng mức về tính nhất quán của giáo án, tính sư phạm của giáo án và
các phương tiện tham khảo, nghiên cứu và thư viện cho Tăng Ni sinh. Sự kiện
này có thể đã làm phát sanh việc lý giải chánh pháp theo quan điểm cá
nhân của giáo sư và giảng viên, từ đó dẫn đến mâu thuẫn làm hoang
mang Tăng Ni sinh: họ không biết phải theo hệ tư tưởng của giáo sư hay
giảng viên nào và không theo hệ tư tưởng nào. Ngả ba tư tưởng là đầu
mối của sự nghi ngờ và làm suy giảm đức tin chánh pháp tổn thương cho
việc hành trì, tu tập và do đó cần phải được loại ra khỏi hệ thống
giáo dục cơ bản Phật học. c.
Hệ giáo dục Đại học Phật học: Đây là hệ giáo dục Phật học
chuyên sâu cho các Tăng Ni sinh đã tốt nghiệp Cơ bản Phật học. Thời
gian học là 4 năm và trình độ tối thiểu để được thi tuyển là lớp
12 phổ thông hoặc tương đương. Hệ giáo dục Đại học Phật Giáo hiện
nay, do điều kiện khách quan của xã hội Việt Nam, chỉ mới đào tạo cấp
Cử nhân Phật học và giới hạn trong đối tượng Tăng Ni sinh. Một sinh
viên tốt nghiệp cử nhân Phật học sẽ được trang bị các kiến thức cần
thiết về Kinh, Luật, Luận quan trọng của Đại thừa, Tiểu thừa, Nhất
thiết hữu bộ, và các bộ môn ngoại điển như Triết học, Tâm lý
học, Thẩm mỹ học, Sinh thái học, Quản trị học, Lôgíc học, Văn học
Việt Nam, Văn minh Việt Nam, Lịch sử Việt Nam và thế giới v.v. . . Tri
thức cần thiết như vậy giúp các Tăng Ni sinh viên, sau khi tốt nghiệp,
có thể trước tác, dịch thuật, giảng dạy, góp phần hoàn bị sứ mạng
giáo dục phổ cập và cơ bản Phật học. Tuy nhiên, hiện nay, hệ giáo dục Đại
học Phật học vẫn còn nhiều hạn chế như cơ sở vật chất, giới hạn
về số lượng và đối tượng đào tạo, nhất là chưa vạch được
phương hướng cụ thể cho các sinh viên sau khi tốt nghiệp. Có thể nhận
xét rằng chương trình còn quá nặng nề, cồng kềnh và chưa đi sâu vào từng
phương diện hiện đại của các vấn đề phật học như các trường Đại
học Phật Giáo của Tích Lan và Thái Lan đã làm. Học nhiều môn trong một
năm như hiện nay chỉ giúp cho sinh viên hiểu biết rộng từ kiến thức
truyền đạt của Thầy giáo nhưng không giúp cho sinh viên có đủ thời giờ
để chuyên sâu vào những vấn đề đã được học hỏi trong lớp. Đó
là lối học nhồi nhét, giết chết tư duy và sáng tạo của sinh viên, làm
cho sinh viên phải an phận với những kiến thức vô cùng hạn chế của trường lớp, không tiến
xa được trong nghiên cứu và trước tác. Chúng tôi thiết nghĩ, trường nên cải
cách chương trình hiện nay, bằng cách giảm bớt các môn học đi học lại
nhiều lần trong bốn năm. Trường nên tổ chức các nhóm chuyên ngành sau năm
thứ hai nhằm tăng cường các môn học liên hệ với các khoa học hiện đại
như triết học Phật Giáo; tâm lý học Phật Giáo, giáo dục học Phật
Giáo, đạo đức học Phật Giáo, xã hội học Phật Giáo, thẩm mỹ học
Phật Giáo, nghệ thuật, kiến trúc Phật Giáo, quản trị học Phật Giáo, kinh tế học Phật Giáo, chính trị học Phật
Giáo v.v... Được như thế công việc giáo dục của trường sẽ tiến xa
hơn, sẽ đào tạo nhiều nhân tài cho Giáo Hội hơn. Ngoài ra, trường cũng nên biên soạn
quyển "Sổ Tay Trường Đại Học Phật Học Việt Nam", giới thiệu
về trường. Nội dung sổ tay có thể bao gồm các vấn đề sau: Lịch sử
thành lập và mục đích của trường. Hệ thống hành chánh của trường
như Ban giám hiệu, Ban giảng huấn và văn phòng hành chánh. Chương trình Cử
nhân Phật học:- Tuyển sinh và thi cử.- Chương trình học trọn khóa.- Nội
dung học của từng môn.- Sách tham khảo cho từng môn. Chương trình Cao học
Phật học: Tuyển sinh và thi cử. Chương trình học trọn khóa:- Nội dung học
của từng môn. Sách tham khảo
cho từng môn. Qui định về luận văn tốt nghiệp. Chương trình
nghiên cứu sinh Tiến sĩ:- Chế độ tuyển sinh.- Thời gian ghi danh ,- Yêu cầu
bản tóm tắt về chương trình nghiên cứu của luận án.- Qui định về nội
dung của luận án.- Chế độ thi cử và phát văn bằng. 3. Những yêu
cầu cơ bản của Giáo Dục Phật Giáo Để đạt được những mục tiêu
giáo dục trên, hệ thống giáo dục Phật Giáo cần thực hiện những yêu
cầu căn bản sau: a. Mô phạm
và thân giáo: Người thầy giáo Phật học không chỉ
lấy tri thức Phật học truyền trao cho Tăng Ni sinh mà còn phải lấy năng
lực, phẩm chất đạo đức và phẩm hạnh của mình truyền trao cho Tăng
Ni sinh, mà thuật ngữ Phật học gọi là thân giáo. Thân giáo có thể
được xem như bài học giáo dục thâm thúy nhất và thiết thực nhất. Sự
phạm hạnh và thanh tịnh của người thầy có sức tác động mạnh vào
tâm thức Tăng Ni sinh, khiến họ phát khởi chánh tín làm trổi dậy hạt bồ-đề,
làm động lực cho sự tu tập. . . Tất cả hành vi thân giáo của người
thầy như cách đi, đứng, nằm, ngồi, cho đến mặc áo, ăn cơm, rửa mặt
v.v... là những giáo huấn sinh động, không thể tìm thấy qua ngôn ngữ văn
tự trong trường lớp. Và do đó, có thể nói sự mô phạm hay thân giáo của
người thầy Phật học được đánh giá rất cao và đóng vai trò quan trọng
trong sự tu học của Tăng Ni sinh. b. Khế lý
và khế cơ: Khế lý và khế cơ là hai yêu cầu cơ
bản của nền giáo dục Phật học. Khế lý là sự trao truyền xác hợp
với chân lý Phật đà và xiển dương chánh pháp đúng với bản chất của
chánh pháp, không vì lý do gì lại nói trái với chánh pháp. Thể hiện khế
lý là nhằm đào tạo cho Tăng Ni sinh đức tính chánh ngữ, bi-trí-dũng, hay
đức vô sở úy vì sự hoằng truyền chánh pháp. Khế cơ là sự truyền
dạy xác hợp với căn cơ, đối tượng, nhằm xác lập chánh kiến, chánh
tư duy cho Tăng Ni sinh. Khế cơ đóng vai trò quan trọng, vì nó xác định rõ
yếu tố khế lý kia là để phục vụ cho ai. Giáo dục Phật Giáo là nền
giáo dục phục vụ nhân bản. Có khế lý mà thiếu khế cơ thì mục đích
phục vụ đó không thể thành tựu được. Để đạt được yêu cầu khế
lý và khế cơ, người thầy giáo Phật học phải thấu triệt những vấn
đề phật học, nắm rành tâm lý học tăng và nhất là phải chủ động
trong việc triển khai, giảng dạy thật linh động. Không phải biết cái
gì thì dạy cái đó, mà chỉ dạy những gì cần thiết cho căn cơ đối
tượng. Sự thích hợp với căn cơ đối tượng như vậy mới thật sự là
giáo dục sư phạm phật học. c. Sư phạm:
Sư phạm là quá trình khoa học của
giáo dục, được thể hiện và đánh giá của sự vận dụng quy luật
trong quá trình dạy học và còn là yếu tố không thể thiếu trong việc
thành tựu khế lý và khế cơ. Đối tượng của thầy giáo là con người
và do đó đối tượng của người thầy Phật học là Tăng Ni sinh. Muốn
giáo dục con người thì người thầy phải biết thuyết phục, nêu gương,
đồng thời tổ chức các hoạt động thực tiễn để cho các học viên
có dịp rèn luyện. Tính khoa học trong giáo dục sư phạm Phật học được
thể hiện cách chính xác, hợp lý khi nó xác hợp với các quy luật phát
triển của lứa tuổi và đặc điểm của đối tượng. Sư phạm trong giảng
dạy Phật học thật chất là một nghệ thuật truyền trao chánh pháp và
huấn luyện trí tuệ, đạo đức một cách hữu hiệu. Đây là nghệ thuật
đòi hỏi nhiều ở nỗ lực tự trau dồi của người thầy nhiều hơn bất
cứ nghề nào khác. Tính sư phạm hay nghệ thuật giảng dạy
trước hết thể hiện ở khả năng diễn đạt, trình bày kiến thức và
các tư tưởng một cách nhẹ nhàng, thoải mái, giản dị, gần gũi mà đạt
được tác dụng giáo dục sâu sắc. Cái đó Phật Giáo gọi là ngữ biện
tài và nghĩa biện tài. Ngữ biện tài là nghệ thuật sư phạm Phật
học còn được thể hiện ở khả năng sử dụng lời nói, điêu luyện giọng
nói, chỉnh lý tốt oai nghi, dáng điệu, nét mặt, cách đi, cách đứng, cách
nhìn và cả cách ngồi nữa. Thiếu những cái đó thì khó có thể trở
thành nhà giáo dục phật học giỏi được, nghĩa là khó có thể thành tựu
được ngữ biện tài. Ngoài ra, người thầy giáo Phật học còn phải biết
phát huy đồng bộ sức mạnh của các yếu tố giáo dục, tự giáo dục,
di truyền (hay chủng tử câu sanh) và hoàn cảnh. Có như vậy, mục đích
giáo dục phật học mới mong thành tựu mỹ mãn như trận mưa thấm nhuần
và nuôi lớn các loại cỏ cây được. 4. Những Yêu
Cầu đối Với Người Thầy Giáo Phật Học: Nếu giáo dục được quan niệm như một
nghề thì nghề giáo dục được xem là nghề sáng tạo ra các ngành nghề
trên trái đất. Chính vì thế, nhà giáo dục Phật học trước tiên phải
tự giáo dục và hoàn thiện chính mình bằng các yêu cầu sau: a. Thẩm thấu
chánh pháp, phạm hạnh thanh tịnh: Đây là yêu cầu quan trọng bậc nhất
của một nhà giáo dục Phật học. Thẩm thấu chánh pháp tức là sự giác
ngộ chân lý Phật đà; sống, làm việc và giáo dục theo chân lý Phật đà.
Thẩm thấu chánh pháp tức là quán triệt tinh thần nội điển kinh luật
luận của ba hệ giáo lý Đại thừa, Tiểu thừa và Nhất thiết hữu bộ
mà thuật ngữ Phật Giáo gọi là yêu cầu về nội minh. Thẩm thấu
chánh pháp hay nội minh là một trong những yếu tố quan trọng trong ngũ
minh của Phật Giáo Đại thừa. Quán triệt nội minh là điều kiện tất yếu
giúp cho mục đích giáo dục chánh kiến được thành tựu trọn vẹn. Thẩm
thấu chánh pháp đối với người thầy giáo phật học là một đòi hỏi
rất lớn và cần thiết, và không chỉ dừng lại ở đó, người thầy giáo
Phật học còn phải là người gương mẫu trong việc ứng dụng có hiệu
quả những thức ăn chánh pháp vào đời sống thường nhật của mình. Bản
thân người thầy giáo Phật học phải là điểm sáng về "hạnh giải
tương ứng” hay “tri hành hợp nhất”. Người thầy Phật học không thể
là một khối rỗng của tri thức mà là một khối đặc của hành trì. Người thầy Phật học phải là một
hành giả, một nhà tu tập, thể nghiệm chánh pháp. Chính những yêu cầu
đó tạo nên phạm hạnh thanh tịnh nơi thân tâm người thầy Phật học và
tỏa sáng qua tâm linh và sự tu học của Tăng Ni sinh. Người thầy giáo Phật
học phải hội đủ sự giác ngộ lý tưởng Phật Giáo cao độ, có đạo
đức phạm hạnh trong sáng và đức từ ái bao la đối với tất cả chúng
sinh. Giác ngộ lý tưởng Phật Giáo cao độ tạo cho người thầy giáo Phật
học tinh thần vô sở úy trước những bạo lực, uy quyền, trước những
bất công; làm sống dậy khả năng đề kháng; rửa sạch những nhận thức,
chủ trương sai lầm, trái với bốn thánh đế, tám chánh đạo, nhân quả,
duyên khởi, vô ngã và trung đạo.. . trong lãnh vực văn hóa và tư tưởng.
Sứ mạng cải tạo tư tưởng, văn hóa
xă hội của người thầy Phật học chỉ có thể đạt được khi người
ấy thẩm thấu chánh pháp, có phạm hạnh thanh tịnh và truyền trao chánh
pháp bằng bầu nhiệt huyết từ bi , vô ngã của mình. Chính vì thế, ảnh
hưởng chánh kiến đa văn, phạm hạnh, đạo đức, uy tín và sự gương mẫu
của người làm công tác giáo dục Phật học là một sức mạnh mà không
có sách sư phạm nào, không có châm ngôn đạo đức nào hay ngay cả sự
khuyến khích và trừng phạt nào có thể sánh ví, thay thế được. b. Quán triệt
ngoại minh: Ngoại minh là thuật ngữ Phật hoặc
dùng để chỉ cho sự thông suốt các môn thế học. Hay nói khác hơn, đây
là nhu cầu về trình độ học vấn toàn diện, chiều sâu lẫn chiều rộng
đối với nhà giáo dục Phật học. Ngày nay, trước sự phát triển tranh
minh của khoa học và học thuật, Phật Giáo được nhận định như là
tôn giáo của khoa học và triết học. Để việc truyền bá Phật học có
hiệu quả, nhà giáo dục Phật học phải lão thông các vấn đề khoa học
lẫn triết học. Sử dụng ngôn ngữ khoa học và triết học để triển
khai Phật Giáo thì người tiếp thu sẽ thấy dễ hiểu và thâm tín hơn. Đây
chính là yêu cầu cơ bản của ngữ biện tài: ngôn ngữ được trình bày
bằng nhiếu cách khác nhau nhưng chân lý chứa đựng trong đó chỉ là một.
Kiến thức Phật học mà các Tăng Ni
sinh lãnh nạp được từ một trường Phật học chỉ thuần nội điển không
đủ để làm hành trang giáo dục tha nhân trong thời đại khoa học mới.
Người thầy giáo Phật học phải trang bị cho mình và Tăng Ni sinh những
kiến thức từ cơ bản đến chuyên sâu về triết học, tôn giáo học,
khoa học tự nhiên, tâm lý học, sư phạm học, giác dục học, văn minh Việt
Nam và thế giới v.v... Các Tăng Ni sinh cũng như sinh viên Phật
học ngày nay không thể chỉ thỏa mãn những kiến thức thuần nội điển,
mà đòi hỏi nhiều kỹ năng về các khoa học liên hệ. Các đòi hỏi
chính đáng đó còn do ai, nếu không phải là người thầy giáo Phật học
phải có trách nhiệm giải đáp truyền thụ cho họ về những vấn đề đó,
dù ở mức độ nhất định. Người thầy giáo Phật học phải hiểu biết
nhiều hơn những cái được yêu cầu truyền thụ cho Tăng Ni sinh theo
chương trình Phật học viện qui định. Thực tế cho thấy không có một
môn học nào được giảng dạy mà lại không sử dụng những dữ liệu của
các ngành học kế cận, ngay cả ngôn ngữ rút ra từ cuộc sống hiện thực
và từ các lãnh vực tri thức khác nhau. Huống chi Phật Giáo, nền giáo dục
đậm tính triết lý, thâm thúy cao sâu, nếu thiếu những kiến thức cơ bản
về ngoại minh thì khó mà tiếp cận chính xác được. Thuật ngữ Phật học
là ngôn ngữ đặc thù của Phật Giáo, sâu sắc, khó hiểu, cần được
chuyển thể qua ngôn ngữ khoa học, triết học, văn học bác học lẫn
bình dân, để phổ cập cho tất cả đối tượng. Và như vậy, việc giáo
dục Phật học sẽ được lan rộng, lớn mạnh và hiệu quả hơn. c. Nghiệp vụ
sư phạm và sáng tạo: Yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp
giáo dục Phật học, truyền trao chánh pháp đến với mọi giới theo những
điều kiện mới trước sự tiến bộ gia tốc của xã hội, đòi hỏi nhà
giáo dục Phật học phải không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ sư phạm
và tính sáng tạo trong nghệ thuật sư phạm của mình. Phương hướng giảng
dạy sư phạm và sáng tạo của người thầy giáo Phật học có ý nghĩa sâu
sắc và liên hệ mật thiết với tiềm lực tri thức, trí tuệ và đạo đức
tu tập. Đó là mối liên hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức,
ngôn từ và hiện thực, tri và hành. Nghệ thuật sư phạm là nghệ thuật
của sự lựa chọn có tính sáng tạo. Lựa chọn càng thiện xảo thì tác
dụng giáo dục hay khế lý càng cao. Muốn hiệu quả sư phạm càng cao thì
người thầy giáo Phật học phải thường xuyên nghiên cứu, hoàn bị cho
mình trình độ lý luận và kinh nghiệm giảng dạy, bằng cách nghiên cứu
các thành tựu của các khoa học, tâm lý lứa tuổi, sinh lý học và phương
pháp giảng dạy bộ môn... từ những tác giả Phật học và thế học có
uy tín trong lãnh vực chuyên môn trong cũng, như ngoài nước và đặc biệt
là kinh nghiệm giáo dục Phật học ở các nước Phật Giáo tiên tiến. Tất
cả những tham khảo và nghiên cứu này giúp người thầy giáo Phật học
nâng cao trình độ lý luận về khoa học giáo dục Phật học của mình
trong sứ mạng truyền trì huệ mạng, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức.
"Biết mười dạy một" hay "những gì Như Lai giảng dạy như
những chiếc lá trong lòng bàn tay, so với những chiếc lá trong rừng"
là những qui luật có ý nghĩa sư phạm sâu sắc, đáng cho chúng ta lấy
làm phương châm để giáo dục Phật học có hiệu quả. Giảng dạy trường giang đại hải,
không giới hạn, không chọn lọc và có tính sáo mòn, chẳng những không
có ích cho học tăng mà còn làm cho họ rối lên, dẫn đến sự thối thất
trong văn huệ, tư huệ và tu huệ, là điều cần phải tránh đối với nhà
giáo dục Phật học sư phạm. Người thầy giáo Phật học phải biết lựa
chọn và truyền dạy những gì cần thiết nhất trong biển pháp Phật học
mênh mông để học viên có thể ứng dụng thiết thực trong đời sống,
đem lại hiệu quả cao trong việc tu học, chứ không phải là nhà thuyết
minh, nhồi vào tâm trí học viên hết những gì mình học được qua năm tháng
đa văn và tu tập. 5. Mục Đích
Cúa Giáo Dục Phật Giáo Đối với Phật Giáo, mục đích giáo
dục không phải là điểm dừng mà là điểm xuất phát của quá trình
giáo dục. Mục đích giáo dục Phật học chính là toàn bộ giáo dục được
đầu tư bằng chất xám, phương pháp sư phạm và lòng nhiệt tâm của người
thầy, và kết quả là đào tạo một mẫu Tăng Ni sinh lý tưởng nhất của
giáo hội ở một giai đoạn lịch sử nhất định. Mục tiêu giáo dục Phật
học cần đạt được là trang bị cho Tăng Ni sinh thế giới quan, nhân sinh
quan Phật Giáo; có đạo đức phạm hạnh, có văn huệ, tư huệ, tu huệ giải
thoát và giải thoát tri kiến, lột bỏ mọi kiến hoặc, tư hoặc; hành
thành chánh kiến giải thoát. Mục tiêu giáo dục Phật học là đòi hỏi rất
lớn, quyết định suốt cuộc đời giác ngộ chính mình hiện tại và tha
nhân ở tương lai. Giác ngộ chính mình là tự giáo dục, giác ngộ tha
nhân là tha giáo dục. a. Tự giáo
dục: Bằng trí tuệ và phạm hạnh của mình, người
thầy giáo Phật học phải huấn luyện và đào tạo cho Tăng Ni sinh sự tự
giáo dục chính họ. Các thầy giáo Phật học là tấm gương để họ noi
theo. Tự giáo dục là quá trình đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự giác trau
dồi tam tuệ học, xóa bỏ tam độc, hướng đến tam giải thoát. Trong quá
trình này, người thầy giáo Phật học phải nhấn mạnh và làm nổi bật
được "hiện thực khổ đau đang khống chế con người là do vô
minh, tham chấp và phiền não", mà sự đạt được hạnh phúc, an lạc
phải do tự mỗi người thực hành lời Phật dạy, thông qua con đường bát
chánh, hay nói khác là nhận thức rõ tứ đế và mười hai nhân duyên. Mỗi
người phải áp dụng lời Phật dạy trong cuộc sống để làm ốc đảo
giải thoát cho chính mình. Hãy thắp sáng ngọn đuốc giải thoát bằng
chính sự tu tập của mình, như đức Phật đã dạy: Tất cả chúng sanh đều
có khả năng thành Phật. Trong lộ trình giác ngộ, các con hãy tự mình thắp
đuốc lên mà đi. Trong đại dương luân hồi, các con hăy tự mình lội
vào bờ giải thóat. Các con là hải đảo của chính mình. Đức Như Lai chỉ
là bậc Đạo sư trên nguyên tắc. b. Tha giáo
dục: Con đường giáo dục của Phật Giáo
là giao thoa nhân duyên : giáo dục chính mình để mà chói sáng, giáo dục
người khác. Đối tượng giáo dục của Phật Giáo luôn được xác định
là con người và rộng ra là tất cả các loài chúng sanh ngoài con người.
Các loài chúng sanh kém phước ngoài con người cũng chính là mục tiêu
giáo dục Phật Giáo ở cả chiều sâu lẫn chiều rộng. Mục đích của Phật
Giáo là nhằm giáo hóa chúng sanh, do đó, mục tiêu giáo dục của Phật
Giáo cũng nhằm giải thoát chúng sanh khỏi những đau khổ đang khống chế,
hoành hành. Con đường giác ngộ của Phật Giáo là tấm bản đồ công
bố rộng rãi, không độc đoán, giấu giếm. Ai đi đúng sự hướng dẫn của
nó đều được giải thoát và đặc biệt là giải thoát đó cũng được
thực hiện từ tự thân của từng hành giả, chứ không thể tìm thấy một
ân sủng nào. Tha
giáo dục chính là mục tiêu lớn khi tự giáo dục đã hoàn thành sứ mạng.
Một người tự giáo dục đã xong mà không có tha giáo dục, người đó
không phải là người Phật Giáo. Thực tế cho thấy không một người Phật
tử nào sau khi hoàn thành tự giáo dục lại không dang rộng đôi tay để
giáo dục tha nhân bao giờ.
Đạo Phật là đạo của từ bi, cứu khổ. Giáo dục Phật Giáo phải
phát xuất từ lòng từ bi vô hạn để cởi mở đau khổ của con người và
muôn loài, như đức Phật đã dạy: "Đạo Phật là đạo nói lên sự
thật đau khổ và con đường dẫn đến chấm dứt đau khổ cho tha nhân".
Tự giáo dục và tha giáo dục là mục tiêu đào tạo căn bản nhất trong hệ
thống giáo dục Phật học nhằm xác định hướng đi vững chắc, thanh thoát
và làm nền tảng cho mọi nền đạo học và đức học trên thế gian này.
Nay mục tiêu đã được xác định. Con đường thênh thang trải dài đang
dang rộng đôi tay để chào đón tất cả Tăng Ni sinh sau khi tốt nghiệp. Hãy
tinh tấn, dũng mãnh bước đi trên con đường giáo dục cao thượng này! Thích Tâm Tịnh Thành Phố Hồ Chí Minh, 10-1997 |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com