
posted: 30.11.04
Trần Thị Bông Giấy Khoảng 10 năm đầu của thế kỷ 20, phần lớn giới
trí thức Pháp đều hay chế giễu người Do Thái. Một tối mùa hè, khi
phong trào bài Do Thái đang dâng cao, trong quán café Place du Terre ở Paris, có
hai người đàn ông đang thao thao nói về chủ thuyết “bài ngôn ngữ
Semitic” (ngôn ngữ chung của các sắc dân Trung Đông như Hồi Giáo, Do
Thái, Ả Rập…), sỉ nhục người Do Thái, lớn tiếng đến nỗi khách khứa
các bàn chung quanh đều phải quay đầu nhìn họ. Tại một bàn gần đó, có chàng trẻ tuổi ngồi cạnh
cô gái tóc vàng, lắng nghe tràng đả kích, vẻ nôn nóng tức giận hiện
rõ lên mặt. Trông chàng rất điển trai. Từ mái tóc dài bù rối và bộ
quần áo đang mặc, người ta có thể kết luận chàng là một nghệ sĩ;
thay vì cà vạt, chàng chỉ quấn quanh cổ một chiếc khăn tay màu đỏ;
thay vì áo choàng dài, chàng lại khoác vào người chiếc áo laine dầy đã
cũ và rất rộng; còn chiếc quần bằng nhung lại đầy những sơn màu vấy
bẩn. Đôi mắt chàng sáng quắc. Trên đôi má rám nắng có ửng lên nét đỏ
bất thường, dấu hiệu của người mắc bệnh lao phổi. Cô gái tóc vàng
nhìn chàng, vẻ kính trọng đặc biệt. Bỗng dưng, với tất cả kiêu ngạo
tràn lên trên mặt, chàng đứng dựng người, hét lớn bằng tiếng Pháp nhưng
lối phát âm đặc sệt giọng Ý: “Tôi là dân Do Thái! Tôi đáp trả sự
sỉ nhục của hai người bằng một trận đánh. Tôi thách hai người hãy
đứng dậy. Tôi sẽ giết chết cả hai giống như giết hai con thỏ đế!” Dáng dấp chàng tuổi trẻ gầy yếu, nhưng qua giọng
nói, người ta nhận ra nỗi cảm xúc pha lẫn tự tin cao độ. Chàng bật la
to: “Người Do Thái muôn năm!”, rồi đứng yên, ngạo nghễ trong tư thế
sẵn sàng để giao đấu. Đám đông chung quanh tản ra, chờ đợi, vẻ đầy
hy vọng; nhưng hai gã quá khích người Pháp thì vẫn ngồi im. Cô gái tóc
vàng nói nhỏ vào tai chàng điều gì đó và chàng mỉm cười thật dịu dàng
với cô. Trông chừng chàng rất yếu đuối khi ấy. Khuôn mặt đẹp như
thiên thần của chàng sáng lên nét kiêu hãnh. Họ đi ra cửa, lang thang trên
các nẻo đường Paris, rồi chui vào một trong những quán rượu âm u, nơi
quen thuộc của giới nghệ sĩ cô đơn và các cô gái giang hồ; nơi được
xem như thế giới của những kẻ không hề biết đến một bữa ăn thừa
mứa mà chỉ có thể đủ tiền mua lấy cho mình ly rượu nhỏ để tìm
khuây lãng mơ màng. Chàng tuổi trẻ là Amedeo Modigliani, một nghệ sĩ thất
bại trong đời sống và gần như mắc bệnh hoang tưởng. Đó cũng là người
mà một lần có kẻ đặt câu hỏi: “Có phải cuộc đời anh chỉ kéo
dài một chuỗi những bất hạnh đau đớn?”, thì chàng ngang nhiên trả lời,
giọng có phần trách móc, nhưng rõ ràng kiêu hãnh: “Không! Điều gì đã
làm bạn nghĩ thế? Tôi luôn luôn là một người hạnh phúc.” Lạ thay,
Modigliani đã nói thật. Với một nghệ sĩ, hai chữ “hạnh phúc” mang ý nghĩa
khác biệt so với kẻ bình thường. Họ thường phải chịu đựng một kiếp
sống vật chất nghèo khó, ngoài ra tinh thần còn thêm biết bao thống khổ.
Tuy nhiên, khi một nghệ sĩ nói rằng họ hạnh phúc tức là họ đã rất
thành thật với chính họ. Beethoven, điếc đặc và cô đơn, trong một lá
thư có viết rằng, “chỉ những người nghệ sĩ hay những học giả uyên
bác mới mang nỗi hạnh phúc sâu xa bên trong nội tâm họ.” Còn Rodin nhận
xét, một nghệ sĩ thực sự là “người sáng tạo tác phẩm với nỗi tột
độ hân hoan.” Modigliani không sống cho đến ngày sinh nhật thứ 36 của
ông. Ao ước trở thành một điêu khắc gia, nhưng hoàn cảnh lại chỉ
thúc đẩy ông chú tâm vào hội họa. Dù rằng sáng tác trong những năm đầu
của một thế kỷ mà giới nghệ sĩ trẻ được xem là quý báu, Modigliani
lại nhận được rất ít sự khuyến khích từ những nhà phê bình hay các
người bảo trợ. Thật vậy, quá ít, đến nỗi suốt cả đời, họa sĩ
chỉ thực hiện được cho mình duy nhất một cuộc triển lãm, lại là một
cuộc triển lãm đầy thất bại. Modigliani cũng là người yếu đuối, cô
đơn, không ưa thích liên kết bè bạn, những nghệ sĩ có cuộc sống
thành công và nhiều tiết chế. Ông tạo nên đau khổ cho các người thân,
không phải do ác tâm, mà bởi từ thái độ xa cách không thỏa hiệp được
với thực tế. Cùng với một người con gái trẻ, cuộc sống ông thường
xuyên đói khổ; nhưng trong những dịp họa hiếm khi một bức tranh được
bán ra, ông lại vung phí tiền bạc không tiếc tay. Sự thật, tính
tự cao mênh mông của người nghệ sĩ không phải hợm hĩnh hư ảo, mà là
phương tiện cần thiết để tránh xa sự suy sụp tạo ra từ bản chất
cô đơn bị tước đoạt tất cả mọi điều trong thực tế. Và để trả
giá, Modigliani đã phải nhận lãnh một cuộc đời triền miên đau khổ.
Tuy nhiên, nhờ tài năng đặc biệt, ông đem vào nghệ thuật sự tưởng
tượng riêng xuyên qua những thể loại mới của hội họa mà ông tự khai
phá. Ông làm việc mải mê trên những bức tranh mang nội dung phóng khoáng.
Nói cách khác, ông tự sáng tạo một thế giới nhiều màu sắc, trong đó
chứa đựng đầy đủ những ước mơ mà ngoài cuộc đời ông đã thiếu;
qua đó, nghệ sĩ có thể sống thênh thang thoải mái với hạnh phúc riêng
mình. Điểm ngạc nhiên là sự tương phản rõ rệt giữa tính kiên quyết
trong tác phẩm và sự bất ổn trong cuộc đời nhà họa sĩ. Vẻ bề ngoài
bừa bãi không đáng kể so với một nội tâm dồi dào tính nhân bản. Qua
những công trình để lại, Modigliani cho thấy sự ổn định của một cá
chất độc lập, biết mình muốn gì và con đường nào mình phải đi. Với
tất cả những phô bày trong suốt cuộc đời ngắn ngủi, có thể nói rằng
Modigliani là con người cực kỳ khích động, điều nảy sinh từ chứng loạn
thần kinh (đã làm đau đớn cho biết bao tài năng trong cùng thời đại với
ông). Nhưng cũng phải nhận rằng, các sáng tác hội họa và điêu khắc
mang đầy tính nghệ thuật, những quyển sách ông đọc, cách cư xử bê
tha tại các cuộc vui ồn ào ở Montmartre và Montparnasse, sức khỏe mong manh
nhanh chóng suy giảm bởi rượu và thuốc lá,… đều là những đặc điểm
làm Modigliani nổi bật hẳn trong số rất nhiều bạn hữu cùng thời với
ông. Thật hiếm có nghệ sĩ nào mà cuộc đời được tô
vẽ với rất nhiều huyền thoại như vậy. Trong thập niên 1920 và 1930, khi
tiếng tăm Modigliani vang dậy, các bức sơn dầu được mua với giá rất
cao, có nhiều kẻ tự nhận rằng đã từng giao thiệp thân mật với nghệ
sĩ. Sự thật, nếu chỉ một phần nhỏ điều trên là đúng thì Modigliani
đã khó thể có đủ thì giờ hoàn tất nổi ngần ấy tác phẩm trong cái
định mệnh ngắn ngủi của mình. Nhận xét về thời gian 13 năm sáng tác và hoàn cảnh
sống vô cùng nghèo túng, người ta hẳn phải kinh ngạc vì sự làm việc
khủng khiếp của Modigliani, không chỉ trên phẩm chất mà còn cả trên số
lượng. Trong quyển “Modigliani et son Oeuvre” (1956), Arthur Pfannstiel liệt kê
372 bức sơn dầu Modigliani đã vẽ sau khi đến Nếu sống thêm vài năm nữa, hẳn Modigliani đã chứng
kiến thành quả đáng kể của mình. Năm 1921 Zborowski thực hiện một cuộc
triển lãm tại Nhưng 8 năm sau, trong cuộc triển lãm lần nữa ở
Venice, thái độ các nhà phê bình và khách thưởng ngoạn thay đổi hẳn. Họ
tỏ ra hâm mộ nồng nhiệt các tác phẩm Modigliani. Trái quả đam mê trong
cuộc đời ngắn ngủi của nhà nghệ sĩ tài hoa đã được đền bù xứng
đáng qua những khích động từ chính trong tâm hồn các người đồng
hương của ông. Thập niên 1920, tranh Modigliani liên tiếp được triển lãm
ở Zurich, London, Genève và Sinh ra đời 3 năm sau Picasso và 3 năm trước Chagall,
Modigliani có thể sống còn và hưởng thụ thành quả của danh vọng, như
Picasso và Chagall hay các họa sĩ cùng thời đã được, nếu ông chịu đem
tài năng và sự hiểu biết của mình áp dụng vào thực tế đời sống,
hơn là chỉ nghĩ suy và hành động theo bản năng thiên bẩm. Tuy nhiên, giống
như trên một bức vẽ Modigliani đã viết: “Cuộc sống là món quà, từ
ít đến nhiều, cho những kẻ biết và có, tới những kẻ không biết và
không có…” thì dù chỉ hiện hữu trong cuộc đời một thời gian khá ngắn,
Modigliani vẫn không tỏ ra xao lãng trước “món quà” Thượng Đế đặt
riêng vào tay ông. Ông không sống cho đến ngày sinh nhật thứ 36. Ông
giã từ trần gian quá sớm. Nhưng quả thật, ông cũng trải qua rất đầy
một thứ hạnh-phúc-đau-khổ-cao-nhất mà chỉ riêng người nghệ sĩ mới
thấm cảm được ý nghĩa quý báu của mọi điều như vậy. Trong khi rất
nhiều họa sĩ cùng khởi sự trong những năm đầu thế kỷ 20 –như
Modigliani—nay đã hoàn toàn bị quên lãng, thì thời gian càng trôi, tác phẩm
Modigliani càng tỏa ra tia sáng thiên tài trên những trang sử hội họa hiện
đại. Nhà nghệ sĩ phủi tay trước cuộc đời trong cái tuổi 36 đầy sôi
nổi. Ông đã sống tận cùng những đắng cay gian khổ. Ông lại chẳng biết
gì đến danh vọng đang đợi chờ ông những ngày tháng tới. Nhưng dù thế
nào chăng nữa, những gì để lại đủ làm tên tuổi Modigliani tồn tại
mãi với thời gian. I (1884-1898) Amedeo
MODIGLIANI, con trai út trong số ba người con của hai ông bà Flaminio Modigliani
và Euginia Garsin, sinh ngày 12/7/1884 tại Nằm dọc dài theo một ngôi làng đầy đầm lầy trên bờ
biển Tyrrhenian chẳng cổ kính, cũng không có gì đáng thích thú, khoảng năm
1600, Livorno được một vị công tước xứ Tuscany dựng thành hải cảng
và được xếp đứng hàng thứ tư sau Florence, Pisa và Siena. Khoảng 1900,
khi Modigliani còn niên thiếu, Tuy vậy, đã từng một lần Giữa đám người Do Thái di cư sống tại Livorno thế kỷ
18, có Solomon Garsin, ông tổ của Euginia Garsin, mẹ Amedeo Modigliani. Năm 1827,
Euginia Garsin kết hôn với Flaminio Modigliani, cũng thuộc một gia đình Do
Thái đến từ Khi bà Euginia sanh Modigliani, hoàn cảnh gia đình rơi vào tình trạng cùng thấp nhất, đến nỗi ông Flaminio phải tuyên bố phá sản. Amdedeo nhìn thấy ánh sáng cuộc đời trong căn nhà tồi tàn mà gia đình vừa dọn đến sau khi đã sống nhiều năm trong một khu vực lịch sự hơn của thành phố. Ngày Amedeo chào đời là ngày tại nhà ông Flaminio đang diễn ra cảnh tịch biên tất cả mọi tài sản. May mắn thay, một ủy viên trong ban điều hành cuộc tịch biên đã ra lệnh cho các nhân viên không được dở đi cái giường, trên đó bà Euginia vừa sanh đứa con trai út tên gọi “Dédo” Amedeo Modigliani. Cả mẹ lẫn con đều bị che khuất bởi một gò đống những vật sở hữu còn sót lại của gia đình, chất đầy trên giường. Mặc dù nghèo khó, đám trẻ nhà Modigliani vẫn được nhận đầy đủ sự học vấn. Amedeo được gửi đến trường tiểu học và sau đó tiếp tục theo cho hết Trung Học. Và dẫu gia đình nhiễm chất Ý nhiều hơn Do Thái, khi 13 tuổi, cậu bé Amedeo vẫn được làm lễ kiên tín trong hội đạo Do Thái. Thuở nhỏ, Modigliani không tỏ ra chút dấu hiệu nào
theo một tài năng hứa hẹn ở tương lai. Nhưng bà mẹ Euginia hẳn phải
có linh cảm nào đó về cậu con trai út, bởi vì khi Modigliani vừa 11 tuổi,
bà đã viết trong nhật ký riêng như sau: “Cá chất thằng bé vẫn chưa
có gì rõ rệt, đến nỗi tôi không thể nói tôi nghĩ thế nào về thiên tư
của nó. Nó cư xử giống như một đứa trẻ hư dù rằng rất thông minh.
Chúng tôi phải đợi xem điều gì bên trong con nhộng chưa vỡ kén này. Có
thể đó là một nghệ sĩ?” Ông
ngoại của Amedeo, Isaco Garsin, ngoài sự trợ cấp cho gia đình con gái, còn
nhận lấy hều hết nhiệm vụ khai mở trí óc đứa cháu ngoại út. Trong
khi hai người anh chỉ tỏ bày ước muốn đi biển hay làm thủy thủ,
Modigliani lại có những buổi chuyện trò nghiêm trang về triết học và nghệ
thuật với ông ngoại. Và rồi cũng chỉ Modigliani lưu lại nhà sau khi hai
người anh đã rời gia đình theo đuổi việc học cao hơn tại thành phố
khác. Đọc sách rất nhiều, ưa thích suy gẫm về Dante,
Petrarch, Leopardi và Carduzzi; ngưỡng mộ Baudelaire và Nietzsche, suốt từ thời
thơ ấu qua tuổi thiếu niên, Modigliani vẫn chưa cho thấy dấu hiệu gì về
thiên khiếu hội họa. Mãi đến năm 14 tuổi, trong một cơn sốt thương hàn,
đột nhiên cậu nhỏ bật nói như điên dại về các bức tranh trong viện
bảo tàng Palazzo Pitti và viện bảo tàng Uffizi ở Florence; rồi òa khóc, bảo
rằng ước ao được nhìn tận mắt các tác phẩm và kỳ công nghệ thuật
đã được nghe kể. Bà mẹ Euginia bèn hứa lời, hễ khi nào Modigliani khỏi
bệnh, bà sẽ đưa cậu đến Bà Eugina chẳng những đã không thất lời hứa mà còn
gửi Modigliani theo học với Guglielmo Micheli (1866-1926), vị giáo sư hội họa
giỏi nhất ở II (1898-1905) Modigliani theo học với giáo sư Guglielmo Micheli khoảng giữa 1898-1900. Thế kỷ 19 không phải là thời kỳ nẩy sinh nhiều tài năng trong hội họa Ý, nhưng xuyên qua các thành quả đầu tiên của Modigliani tại Ý, quan niệm rằng nghệ thuật Ý Đại Lợi thời buổi ấy giống như nguồn suối cảm hứng cho những tài năng vừa chớm nở, được phô bày rất rõ. Nhiều tác phẩm của Modigliani vẽ ra giữa 1898-1906 có thể được tìm thấy tại Livorno, Florence hay Venice, qua đó cho thấy chàng tuổi trẻ bị gây ấn tượng bởi nghệ thuật Ý thế kỷ 19 nhiều hơn là nghệ thuật ở thời Phục Hưng. Năm 1900, bị vướng vào chứng lao phổi, Modigliani buộc
lòng phải ngưng sự học với Micheli để theo mẹ về miền Tại Rome, Modigliani cùng mẹ dự lễ Phục Sinh trong giáo
đường St. Pièrre; thăm viếng những phòng triển lãm tranh, nhìn những tác
phẩm cổ điển của các bậc thầy hội họa Ý. Ở Florence, Modigliani thi
đậu vào trường Accademia di Belle Arti, nhưng xem ra chẳng thâu nhận được
bao nhiêu sự học tại đó. Ông lưu lại Sự khám phá ra thế giới các họa sĩ bậc thầy Ý thời
Phục Hưng đã làm thức dậy trong con người Modigliani những khát vọng nghệ
thuật sôi nổi. Khái niệm về một chiều hướng hội họa mới (mà sau
này tại Tiếp
nhận khuynh hướng này của Morelli là một nhóm người trẻ, gốc Tuscany, có
tư tưởng “cách mạng”, thường xuyên gặp nhau tại quán café Michel
Angelo ở Florence năm 1850. Họ lập thành trường phái “Macchiaioli”, liên
kết với nhau trong ý tưởng ghê tởm khiếu thưởng ngoạn đang thịnh hành
của giới trưởng giả thời ấy dành cho những họa sĩ thể loại Trừu
Tượng. Nhóm Macchiaioli có quan hệ với phái Ấn Tượng trên những chủ đề
sáng tác; họ thích vẽ những ngôi nhà ở vùng quê, các con đường làng,
tia sáng mặt trời trên cánh đồng và mặt nước; nhưng trong kỹ thuật, họ
không được rõ nét tuyệt vời như những cánh hoa Monet từng vẽ, hoặc những
nhánh hướng dương của Van Gogh rực rỡ màu vàng. Micheli, vị giáo sư ở Livorno của Modigliani, là đệ tử
ưa thích của Giovanni Fattori (1828-1905), một trong những người thành lập
ra nhóm Macchiaioli này. Micheli chuyên vẽ phong cảnh và có vài bức nổi tiếng
về biển cả địa phương với màu sắc nhẹ nhàng rung động. Trong vai trò
giáo sư hội họa, Micheli lại càng thành công hơn nữa. (Tuy nhiên, một năm
sau khi rời bỏ Micheli, từ Dù rằng vị thầy đầu tiên của Modigliani là một người vẽ phong cảnh, nhưng sau khi chấm dứt những ngày theo học với ông, Modigliani đã sáng tác không quá ba bức về phong cảnh. Với kiểu mẫu màu sắc giản dị, những bức hiếm hoi này hiển nhiên chịu ảnh hưởng Cézanne nhiều hơn là trường phái Macchiaioli. Thời gian sống ở Ý, Modigliani đã lưu lại rất ít dấu
vết. Có một tấm ảnh chụp khi 20 tuổi cho thấy rằng ông là một người
rất đẹp trai với mái tóc dầy, đôi mắt đen đầy nghị ngợi và cái miệng
dịu dàng quyến rũ. Manuel Ortiz de Zarate, nghệ sĩ Tây Ban Nha ở Tuy nhiên, xuyên qua 5 lá thư mà cậu trai Modigliani 17 tuổi
gửi cho người bạn Oscar Ghilia vào năm 1901 thì sự độc lập ý nghĩ cùng
thái độ lý tưởng về cuộc đời và nghệ thuật của Modigliani đã bộc
lộ rất rõ. Ghilia lớn hơn Modigliani 8 tuổi. Trong những bức chân dung về
đàn bà và trẻ em, Oscar Ghilia không bao giờ vượt quá kỹ thuật của
phái Ấn Tượng dù rằng khởi đầu, ông tự xem mình như một phần tử của
phái Macchiaioli. Năm 1901, Modigliani tỏ ra rất kính trọng Oscar Ghilia vì ông
này đạt thành công từ một bức chân dung được chấp nhận bởi giải
thưởng hai năm một lần tổ chức ở Qua 5 lá thư, có điều rõ rệt là ảnh hưởng của Nietzsche được định rất rõ trên cả hai người tuổi trẻ. Do đó, giống như một đệ tử của Nietszche, Modigliani mang tư tưởng rằng đời sống phải đầy sinh động, không có sự hy sinh vô ích, không cả lưu tâm đến những chướng ngại; nhưng trong đó, con người phải có mục đích trách nhiệm rõ ràng, luôn cả chấp nhận đau khổ, để “cứu vãn các giấc mơ riêng”. Cũng trên tinh thần Nietszche, Modigliani viết cho bạn những lời khuyến khích để “vun trồng cũng như gìn giữ tất cả những điều đề cao và kích thích sự thông minh của bạn … bởi vì sự thông minh có thể giúp chúng ta tiến tới sức mạnh sáng tác tối đa.” Có vài lời về nghệ thuật trong những lá thư này. Nghệ thuật đối với Modigliani không phải là một nghề nghiệp phải được học hỏi suốt qua sự chuyên cần dữ dội, mà chính là ân sủng Thượng Đế đưa đến cho con người bởi tính cao thượng của trí tuệ. “Ngay bây giờ tôi rất giàu khả năng. Và tôi cần làm việc.” Modigliani đã kêu lên như thế (dẫu rằng chỉ sau mười ngày đến Paris năm 1906, chàng nghệ sĩ trẻ phải tự mỉm cười về sự chứa chan cởi mở đầy tính thanh niên này; nhưng ông không bao giờ phủ nhận những điều đã nghĩ và chủ nghĩa lý tưởng vẫn tồn tại trong suốt cuộc sống ngắn ngủi đầy sôi động của ông.) Khoảng cuối đời, thêm vào lời tuyên bố của khi 17
tuổi, Modigliani đã ghi trên mặt sau của một bức phác họa: “Để duy
trì cái Đẹp, người nghệ sĩ phải gánh lấy những bổn phận đau
thương trong việc sáng tạo, tuy nhiên, điều ấy cũng chính là sự diễn tả
tuyệt diệu nhất của tâm hồn.” * Lang thang cạnh con trai trong các viện bảo tàng hay phòng
triển lãm tranh ở Rome, Florence hoặc Venice, bà Euginia tỏ ra rất hoan hỉ.
Chính bà là người đầu tiên nhận thức được thiên khiếu hội họa của
Modigliani, nhìn thấy nơi Dédo hình ảnh nổi bật của một người sẽ làm
sống dậy vinh quang cho nền nghệ thuật thời đại hội họa mới. Thế
nhưng, cậu con trai lại chỉ mơ tưởng đến vòm trời III Gia đình Modigliani dù túng bấn, vẫn săn sóc rất kỹ
cho ông. Trẻ và đẹp trai, có tài và một ít tiền trong túi, cá tánh độc
lập, bất chấp tất cả mọi quy ước thông thường, tràn ngập trong tâm
hồn một nỗi chứa chan hoa mỹ hấp thụ từ nền văn hóa Latin pha lẫn
tính hăm hở truyền thống của các sắc dân Do Thái, Modigliani bắt đầu
nghề nghiệp và định mệnh bi tráng của mình trong một vòm trời cách xa
vùng quê hương đến hàng ngàn dặm. Ông mướn một phòng nhỏ trên đường
Caulaincourt ở khu Dù đã khoác vào mình bộ vó bề ngoài “có vẻ nghệ sĩ” –cái quần nhung sọc nâu, khăn quàng đỏ thắm và chiếc nón đen kiểu Bô-hê-miêng-- trông Modigliani vẫn giống như một tay trưởng giả quen thói ăn chơi. Thời gian đầu ở * Sau một năm đến Dần dà, Modigliani được nhìn là một trong những chàng
trẻ tuổi kỳ cục lập dị nhất khu Theo tình cảnh thích hợp với nhịp điệu của phái Hiện Đại (Modernisme) lúc ấy đang nẩy sinh như một trào lưu mới tại khu Montmartre, Modigliani tìm thấy chỗ ở thích hợp trong một toà nhà xiêu vẹo đổ nát trên đường Ravignan, cùng nơi cư trú của Picasso và nhiều nghệ sĩ, luôn các cô gái giang hồ. Tại đây, Modigliani nổi tiếng là chàng tuổi trẻ có đôi mắt rực lửa được tất cả mọi người ưa thích do bởi tính cách trong sạch tỏa ra trên dáng dấp và nỗi dịu dàng hiếm có đối với phái nữ. Các cô gái giang hồ điên lên vì Modigliani. Ông cư xử với họ bằng thái độ tôn kính thành thật và rất hào phóng khi có tiền. * Modigliani tỏ ra rất ngưỡng mộ các tác phẩm của Toulouse-Lautrec. Hình dáng cao cao, mảnh khảnh, vẻ mặt thanh tú nhưng lầm lì uể oải của Modigliani có thể được nhìn thấy dễ dàng trong bất cứ quán café nào Toulouse-Lautrec hay lui tới. Từ sự ngưỡng mộ nhất thời cho Toulouse-Lautrec, Modigliani chuyển hướng tình cảm sang Douanier Rousseau cùng Picasso, dù rằng không thân thiện với hai người này và thỉnh thoảng cũng có tham dự những cuộc bàn cãi hội họa do Picasso chủ xướng tại Bateau Lavoir, (ngôi nhà tập thể được gọi là “tiệm giặt di động”, nơi Picasso lưu trú từ năm 1904). Rất ít điều được biết về những năm đầu tiên
trong hội họa Modigliani, chuyển tiếp từ thời gian ở Ý sang Ở bước khởi đầu thời kỳ thứ nhất (1906-1909) tại Paris, Modigliani thường tự phàn nàn về “con mắt Ý đáng trách” của mình không thể tập cho quen được với ánh sáng đặc biệt của thành phố nổi tiếng nhất thời ấy. Chỉ một hay hai lần ông đã thử với màu sắc theo cách thức của những người phái Neo-Impressionisme hay Fauvisme và Cubisme, nhưng rồi cũng bỏ. Sự thật, cả Fauvisme lẫn Cubisme đều không gây được chút ảnh hưởng nào trên chàng nghệ sĩ trẻ. Fauvisme chú trọng và làm nổi bật màu sắc; trái lại, mối bận tâm trước nhất của Modigliani chính là khai phá đường nét mới trong hội họa. Riêng Cubisme với tính dã man, ảnh hưởng điêu khắc Phi Châu, thì lại quá “não bộ” với Modigliani, người mà nghệ thuật chỉ là phương tiện để biểu lộ những cảm xúc mạnh mẽ riêng trong tâm hồn. Một cách bất thường, Modigliani tỏ ra rất ác cảm với quan điểm hai chiều của phái Cubisme; ông vừa đủ khôn ngoan để từ chối sự liên kết với nhóm Cubisme, nhưng những vặn vẹo bóp méo trên hình thể cái đầu con người (theo kiểu mẫu nghệ thuật Phi Châu mà phái Cubisme đang bị ảnh hưởng) lại lôi cuốn, tạo cho ông can đảm chọn lựa về sự vặn vẹo dịu dàng trang nhã trong nghệ thuật riêng ông thời kỳ sau. [Fauvisme: trường phái hội họa bắt nguồn
ở Cubisme: trường phái hội họa có uy thế
cao trong thế kỷ 20, được sáng tạo chính yếu bởi Picasso và George Braque
ở Với kỹ thuật và những dấu nét đặc biệt trữ tình, các tác phẩm thời kỳ 1906-1909 của Modigliani đã nói lên trước trái chín tài năng thời kỳ 1915-1920. Dẫu không hoàn hảo –hầu hết chỉ là chân dung các chủ quán cafe頭à họa sĩ đã dùng để đổi lấy ly rượu hay chỉ vài quan—nhưng trong số có những bức tuyệt diệu bằng mực hay bút chì, vẽ những diễn viên, kịch sĩ và các anh hề trong các buổi trình diễn café-concert. Giống như Toulouse-Lautrec, Modigliani biết cách làm thế nào để bắt chộp một tư thế hay động tác bất ngờ của người mẫu. Trong vai trò họa sĩ, ông vẫn còn bị ràng buộc bởi sự thụ giáo lý thuyết của Ý, nhưng trong vai trò người vẽ phác họa thì ông đã đạt được sự tự do đáng ca ngợi khi phô bày tài nghệ qua vài đường nét rõ rệt, dựa vào sự ám thị nhanh nhiều hơn là sự xác định tỉ mỉ. Về cuối thời kỳ lưu lại Paris lần thứ nhất (1906-1909), Modigliani bị quyến rũ bởi cách cấu trúc và màu sắc của Cézanne qua các tác phẩm nhìn thấy năm 1907 trong cuộc triển lãm hồi tưởng Cézanne tại Salon d’Automne và bốn cuộc triển lãm khác về Cézanne tại phòng tranh Berheim Jeune khoảng giữa 1907-1909. Tuy nhiên, không ảnh hưởng nào của Cézanne được ghi nhận trên mọi tác phẩm Modigliani trước khi họa sĩ trở về Ý mùa xuân năm 1909. [Trái quả thật sự đầu tiên của bài học Cézanne sẽ
là bức sơn dầu Người Hành Khất,
sáng tác trong 8 tháng lưu lại Ý năm 1909 và được Pfannstiel mô tả giống
như “một bản sao của Cézanne”. Theo
sau nó là Người Nhạc Sĩ Trung Hồ Cầm,
tác phẩm kỳ diệu hơn, vẽ ra sau khi Modigliani đã trở lại Đối với Cézanne, Modigliani tỏ ra cho thấy một sự ngưỡng
mộ vô bờ bến. Nhà phê bình người Thụy Sĩ, Gottahrd Jedlicka, kể lại rằng,
mỗi khi nói đến Cézanne, vẻ tôn kính ngời lên trên mặt Modigliani. Một
lần, với thái độ giấu diếm, Modigliani rút từ trong túi bản họa lại
tác phẩm Cậu Bé Mặc Áo Đỏ, trân trọng
cầm trong tay giống như với một cuốn kinh, rồi đưa lên mặt, vẽ vòng
quanh môi và hôn nó. Franco Russoli, nhà sử họa Ý cũng kể rằng, khi được
mời đến vẽ chân dung một người chuyên sưu tập tranh, Modigliani đặt một
tác phẩm của Picasso gần giá vẽ trong khi đang làm việc với ý muốn tìm
cảm hứng cho chính mình. (Sự tôn trọng nghệ thuật này xem ra mang ý nghĩa
đặc biệt khác lạ so với bất cứ hành động sai lầm nào Modigliani đã
phạm trong những quán rượu ở Montmartre hay * Cuộc sống vô trật tự khiến tâm hồn Modigliani vốn đã bất thường, càng trở nên bất thường hơn nữa. Ngọn lửa tài năng bùng lóe lên trong thời kỳ đầu –tuy ngắn ngủi nhưng sáng lạn—sớm bị dập tắt, để lại trong ông trạng thái ủ ê và tuyệt vọng. Thập niên 1910-1920, ở Paris, có quan niệm cho rằng, nghệ thuật và rượu là “sự kết hợp không thể chia lìa”, giống như nhân vật Apollo và Dionysos “biểu tượng cho cái Đẹp và sự ngây ngất” trong huyền thoại Hy Lạp. Thêm một quan niệm khác, “Nghệ sĩ là những người có thiên tư mà tinh thần và sức mạnh nghệ thuật của họ nẩy sinh phần lớn do bởi rượu.” Cũng theo André Salmon –nhà văn Pháp, bạn của Modigliani—thì rượu và thuốc lá đã chiếm một ảnh hưởng lớn trong cuộc đời và nghệ thuật của Modigliani. (Trong một bài báo viết sau khi Modigliani đã chết, André Salmon đưa ra lập luận rằng tài năng và sự trụy lạc trác táng của Modigliani đã trực tiếp thích đáng với nhau. Bao lâu họa sĩ còn điềm tĩnh và điều hòa cuộc sống thì bấy giờ cho thấy “không gì có thể dự đoán được nghề nghiệp sáng sủa”. Nhưng Salmon viết thêm, “kể từ khi Modigliani tự tàn phá chính mình trong những thể thức trụy lạc, một tia sáng bất ngờ đã soi rọi trên ông, chuyển đổi nghệ thuật của ông. Từ ngày đó, ông trở nên là người phải được kể đến trong số những họa sĩ bậc thầy của nền hội họa hiện đại.” Sự thật, quan điểm rằng những chất kích thích bề mặt
là nhu cầu quan trọng cho một nghệ sĩ sáng tạo thì xưa hơn cả Montmartre
và [Trong “Thời Kỳ Xanh”, Picasso sống trong một căn phòng không có đèn, ăn những miếng xúc xích rẻ tiền và đã sơ sót đốt cháy vài bức vẽ trong một dịp sưởi ấm. Nhưng Picasso không để bất cứ điều gì gây trở ngại cho sự sáng tác của ông. Cuối cùng, tài năng ông được nhìn nhận để rồi thành công tài chánh đưa đến khi cặp Gertrude & Leo Stein và Sergei I. Shchukin bắt đầu mua những bức sơn dầu ông đã vẽ.] Với Modigliani, phải kể rằng, toàn thể nghề nghiệp của ông đều chỉ là một kiểu “thời kỳ xanh” kéo dài trong mười ba năm và chẳng ai có thể làm ngừng được ông khỏi sự tự tàn phá chính mình. Tuy vậy, riêng trường hợp Modigliani, kể từ khi sống trong sự tự hủy diệt, có điều ngạc nhiên là ông đã hoàn thành được những tác phầm hội họa và điêu khắc tầm vóc quan trọng mang tính chất kiên quyết trên đường nét, màu sắc và nội dung kết cấu. (Lối vẽ với lớp sơn dầy cộm và hình dạng bất thường, dễ dàng làm liên tưởng đến các tác phẩm của người bạn Chaim Soutine ông sẽ gặp vào năm 1913). Nhà nghệ sĩ dẫu không thắng được với sự nghiện rượu, nhưng cũng không chối bỏ sự hoan hỉ hiến dâng tất cả sức lực vào đam mê nghề nghiệp. Những bức vẽ cho thấy một ý muốn mạnh mẽ trong sự tự chiến đấu giữa nỗi cô đơn và nghệ thuật sáng tạo; giữa những khổ hạnh và tính đam mê; giữa kỷ luật và sự buông thả. Xuyên qua các tác phẩm thời kỳ đầu tiên ở Ý, không
ai có thể dự đoán được tài năng kỳ diệu của Modigliani thời kỳ cuối
cùng 1915-20 ở * Tuy nhiên, vì muốn được thoải mái để “vặn vẹo”
nghệ thuật, Modigliani phải chấp hành một cuộc sống bảo đảm cho ông sự
tự do tối đa. Nếu nhận xét đúng đắn, người ta hẳn biết rằng nơi
Modigliani, sự mê đắm theo rượu, ma túy và tính luyến ái bừa bãi chính
là những điều giải thoát ông khỏi cái ám ảnh Trong cuộc sống hiện tại khi ấy ở Trong những cơn say, Modigliani thường để lộ sự bất mãn cực độ. Có lần ông cởi toang hết cả áo tại một buổi hội đông người rồi bật lên những tiếng la phẫn uất. Trong hội họa, tính xung động chứa chan của tâm hồn được tỏ bày qua những nét cọ mạnh mẽ đầy sinh lực, dù rằng đó là một bức chân dung hay một bức phụ nữ khỏa thân. * * * Modigliani làm việc cũng dữ dội như đã sống. Rượu và
thuốc lá không bao giờ làm giảm sức ham muốn sáng tác của ông. Chỉ những
lần khi nhận thức ra sự thiếu hưởng ứng của quần chúng đối với tài
năng mình, ông trở nên tuyệt vọng, nhưng rồi mọi sự cũng mau chóng đi
vào quên lãng. Có lần, bị một người bạn trách cứ cho rằng ông chẳng
chịu làm gì cả, Modigliani đã giận dữ kêu lên: “Một ngày, tôi vẽ trong đầu ít nhất ba bức.
Còn chuyện các tấm canvas, có ích lợi gì không để phô ra trên đó những
màu sắc khi mà chẳng ai thèm mua đến chúng?” Mặt khác, Arthur Pfannstiel, tác giả cuốn “Modigliani Và Tác Phẩm” kể lại rằng, chàng nghệ sĩ trẻ phác họa không ngừng trên quyển sổ bìa màu xanh những bản vẽ; mỗi ngày 100 bức là chuyện thường. Modigliani ít khi chịu giữ tranh cho riêng mình. Như một thói quen, ông hay hủy bỏ những bức được xem là tồi kém. Ông cũng đánh mất rất nhiều bức khác trong lúc lén lút dời từ chỗ ở này sang chỗ ở khác vì không có tiền trả; các vị chủ nhà giận dữ phá hủy những tác phẩm “điên rồ” ông lưu lại trong phòng trọ. Còn các chủ quán được Modigliani đổi tranh để lấy từng ly rượu, lại tỏ ra không xem trọng chút nào các công trình nghệ thuật ấy. Một số bức được Modigliani tặng cho rất nhiều cô nhân tình bất chợt, và họ cũng chẳng bao giờ quan tâm mà gìn giữ. Trong khi Picasso, Van Dongen, Vlamick và Derain cùng cỡ tuổi Modigliani, năm 1908 đã đạt được sự thành công nào đó, thì Modigliani chỉ bán được tác phẩm một cách tình cờ. “Chỉ một người duy nhất mua tranh tôi, ông ta lại là ‘kẻ mù’!”, chàng họa sĩ trẻ thường giễu cợt mà nói như thế. Đó là nhà mại bản Père Angely. * * * Khi còn là sinh viên hội họa ở Ý, Modigliani đã có một
mối ao ước dữ dội về điêu khắc. Nhưng ông không hề học điêu khắc
trong trường mỹ thuật hay với vị thầy nào cả. Tình bạn kết giao với
nhà điêu khắc Constantin Brancusin năm 1908 ở Nhưng nếu đem so sánh với hàng loạt những bức sơn dầu, màu nước lẫn cả phác họa, phải kể rằng số lượng tác phẩm điêu khắc của Modigliani quả thật quá ít. Giống như vài điêu khắc gia thời ấy, Modigliani cũng quan niệm rằng nền điêu khắc hiện đại rất èo uột; nó càng èo uột hơn với Rodin và ảnh hưởng của Rodin. Có quá nhiều mô hình bằng đất sét, quá nhiều bùn. Chỉ một cách duy nhất cứu nguy sự suy sụp của điêu khắc là phải bắt đầu chạm đục trở lại thẳng ngay trên đá. Và Modigliani tin chắc vào ý nghĩ mình. Trong số sáng tạo, chỉ 25 bức tượng của nhà nghệ sĩ được lưu lại về sau. Ông đã không ngần ngại phá hủy tất cả những tác phẩm được nhận định là chưa đạt đúng cao điểm nghệ thuật. Modigliani cũng không thích hợp bất cứ trường phái điêu khắc nào đang thịnh hành trong khoảng 1910 ấy. Ông ưa thích tác phẩm của Brancusin nhưng không hề bị ảnh hưởng bởi Brancusi. Dù rằng không bức tượng nào của Modigliani ra đời trước năm 1909, nhưng phải kể, xuyên qua các bức vẽ phác họa, tài năng điêu khắc của ông được đánh giá ngay cả trước khi gặp Brancusin; trong đó, dấu ấn của một điêu khắc gia được tìm thấy rất rõ trên mức độ cảm xúc cao trong cách tạo mô hình, tính vững vàng của thể thức và khuynh hướng nhịp nhàng trong chiều sâu nội dung của chúng. Người ta cũng biết rằng Modigliani đối nghịch cay đắng
với Rodin, dù rằng ông sống trong [Giữa khoảng 1909-1915, Modigliani tự xem mình là một điêu
khắc gia nên vẽ rất ít. Mùa xuân và mùa hè 1909, Modigliani làm việc hăng
say trên một loạt tượng bán thân. Nhưng rủi thay, các bức này không bao
giờ được kết thúc. Bạn hữu điêu khắc đều tỏ ra ngưỡng mộ tài năng
Modigliani nhưng không mù quáng trước các yếu điểm của ông. Ossip Zadkine
đã nói: “Những bức tượng của
Modigliani không hoàn tất do bởi xấu hổ chứ chẳng phải vì bất cứ lý
do bí mật nào cả.” Jacques Lipchitz lại kể: “Tôi nhìn thấy Modigliani đang làm việc
ngoài sân. Vài cái đầu bằng đá –có lẽ là 5—đang được đặt trên
nền xi măng phía trước phòng tranh. Anh ấy cứ mãi xem xét kỹ từ cái
này sang cái khác.”] Làm việc quá độ, rượu, thuốc lá và sự thiếu dinh dưỡng trong hoàn cảnh sống khó khăn là những dữ kiện trực tiếp góp phần vào sự suy sụp mau chóng sức khỏe họa sĩ. Nhiều lần ông quỵ ngã ngay trong xưởng điêu khắc. Lại nữa, trở ngại lớn trong địa hạt này chính là lúc bấy giờ, đá hoa bán giá rất cao. Modigliani phải tự đi nhặt những tảng đá vứt bỏ trong các công trường, gom lại thành đống và chở đến xưởng họa trên một xe cút kít. Công việc đòi hỏi sự cần cù khổ nhọc, trong khi sức khỏe Modigliani lại rất mong manh và bụi đá lại không thích hợp chút nào với hai lá phổi bệnh hoạn của ông. Luôn luôn Modigliani sống trong cảnh thiếu thốn cùng cực. Hàng ngày ông lang thang trên phố, bụng và túi đều trống rỗng. Vì không có tiền trả cho chủ nhà, không cả thức ăn nên Modigliani phải nhập bọn với nhóm nghệ sĩ sống cơ khổ tại một ngôi nhà bỏ hoang. Trong đám có một điêu khắc gia tử tế, nhưng Modigliani không thể chịu đựng được tác phẩm của anh ta. Một lần lên cơn giận dữ, Modigliani đập nát bức tượng ưa thích nhất của người này rồi trốn đi. Tuyệt vọng và đói khát, Modigliani đành phải nhận thức ăn từ những họa sĩ nghèo nhưng không quá độ cùng túng như ông. Các cô gái giang hồ động lòng thương, đem cho ông rượu và thuốc lá. Ông ngã bệnh một thời gian dài, họ thay nhau chăm sóc ông cẩn thận. Cho đến lúc Modigliani vừa đủ mạnh và sau khi đem các tác phẩm hội họa lẫn cả điêu khắc của ông cất vào chỗ an toàn, các cô gái này cùng những người bạn nghệ sĩ nghèo gom tiền lại mua một cái vé, rồi đem đặt chàng Modigliani gầy mòn hốc hác vào trên chuyến xe lửa về Livorno với người mẹ yêu dấu mà chàng đã không gặp từ ba năm qua. IV (1909-1915) Modigliani trải qua mùa hè 1909 với gia đình tại [Mùa thu năm 1909, sau khi từ Livorno trở lại Paris, bức
sơn dầu nổi tiếng Người Nhạc Sĩ Trung
Hồ Cầm (29x.1/2 in) vẽ chàng nhạc sĩ
trẻ tuổi đang cúi nghiêng trên cây đàn, tâm trí để hết vào âm nhạc,
ra đời. Ngồi làm mẫu chính là người chơi violoncelle bất hạnh nghèo khổ (cây đàn
của ông đã đóng vai trò chính yếu trong tác phẩm), sống cạnh phòng vẽ
Modigliani tại Cité Falguière. Người Hành
Khất và Người Nhạc Sĩ Trung Hồ Cầm
là hai trong 6 tác phẩm được Modigliani trình bày tại Salon des Artistes
Indépendants năm 1910 ở * Bà mẹ Euginia van nài con trai lưu lại luôn trong nước
Ý, nhưng sức cám dỗ của Modigliani tiếp tục con đường điêu khắc (cho đến đầu năm 1915). Ông luôn luôn nghĩ về điêu khắc như một nghề nghiệp thực sự của mình. Nhưng do bởi sự túng thiếu tiền bạc, bởi nỗi khó khăn đắt đỏ của các vật liệu điêu khắc, bởi sự đòi hỏi của thì giờ và cũng bởi cơ thể yếu đuối, chứng lao phổi ngày càng phát triển, nên Modigliani phải bỏ rơi điêu khắc để trở lại với hội họa trong 5 năm cuối cùng của đời mình. Tuy nhiên, xuyên qua những bức tượng đã hoàn thành, ông chứng tỏ được với khách thưởng ngoạn một tài năng điêu khắc. Do đó, khó ai phủ nhận rằng ông là một phần tử tiên phong trong số những điêu khắc gia hiện đại theo kiểu mẫu nghệ thuật Phi Châu. [Không ai biết được nhiều về các thời kỳ khác nhau trong cái định mệnh ngắn ngủi nhưng đầy sôi nổi của Modigliani. Những lá thư nhỏ viết vào khoảng cuối đời, gửi mẹ hay gửi Leopold Zborowski, đã cho ra một ít chi tiết về cuộc sống nội tâm và ngoại tại của nhà nghệ sĩ. “Với con, sự viết thư là một kẻ thù, nhưng xin mẹ đừng nghĩ rằng con quên mẹ và những người thân khác”, Modigliani đã ân cần giải thích trên tấm thiệp Giáng Sinh gửi mẹ năm 1915. Trong một lá thư ngắn gọn khác, viết vào cuối năm 1918, Modigliani đã kể cho mẹ hay về sự thành công –ông muốn mẹ nghĩ rằng ông đang được biết đến--, về sức khỏe và về đứa con gái vừa mới chào đời của ông và Jeanne Hébuterne. Những tờ thư từ Nice gửi đi cho Zborowski không nói lên điều gì khác ngoài những lời yêu cầu về tiền bạc và sự tham khảo để bán những bức tranh. Người ta có thể tái dựng lại cuộc đời Van Gogh xuyên qua những lá thư trao đổi giữa họa sĩ và người em trai cùng bạn hữu; nhưng với Modigliani, những lá thư chẳng giúp gì được trong sự tìm kiếm chi tiết lai lịch cuộc đời ông. Modigliani cũng chẳng có bạn thân lâu dài giống như Toulouse-Lautrec đã có Maurice Joyant, người đã hy sinh rất nhiều trong sự giữ gìn các tác phẩm và làm sáng tỏ được cá chất Toulouse-Lautrec. Modigliani được biết tới nhờ những nhà phê bình nổi tiếng và những văn, thi sĩ người Pháp như André Salmon, Jean Cocteau, Blaise Cendras và Francis Carco, nhưng hầu hết bọn họ chỉ viết những bài tầm phào về Modigliani sau khi ông đã chết]. * Năm 1913, Modigliani rời Montmartre để đến lưu trú tại
Nhưng dẫu khoác bộ vó bề ngoài của một kẻ nghèo
khó và cuộc sống liên miên túng thiếu, Modigliani vẫn không đánh mất
tác phong cao quý, thanh lịch nổi bật của mình. Thay vì, giống như nhiều
nghệ sĩ thời ấy trở nên tự tàn phế trên những cách sống thông thường,
tự biến thành những thương buôn, hoặc bán rẻ hết tác phẩm cho các
nhà mại bản, thì nơi Modigliani, sự tự trọng về tài năng và phẩm chất
vẫn không mai một. Trong khi có những nghệ sĩ lỡ thời lân la làm thân với
các nhà buôn tranh người Mỹ giàu có tại các quán café Paris, thì
Modigliani, có lần, khi được một nhà mại bản trân trọng mời uống
trà, đã cố ý dùng điếu thuốc lá của mình đốt cháy tấm khăn trải bàn
rồi phá lên cười ngạo nghễ. Ông có thể sống không có đàn bà nhưng
không thể không đáp trả tao nhã tấm lòng ân cần của một cô gái giang
hồ nào đó dành cho ông. Ông không bao giờ vẽ chân dung mà không có cảm
tình với người làm mẫu dù nam hay nữ; không hề sáng tác như một lối
kiếm tiền hoặc giải quyết cho thị hiếu thưởng ngoạn của quần chúng.
Ông say mê cái Đẹp và ao ước trốn tránh những điều bình thường nhàm
chán của cuộc đời thực tế. Ông rất yêu mến trẻ thơ –giống như
Jules Pascin, họa sĩ cùng thời—nhất là với những đứa bé con cái các
láng giềng nghèo khổ ở khu Họa sĩ cũng tỏ ra rất tử tế và có lòng nhân đối với những người cùng khốn. Khuôn mặt các “người mẫu” thuộc hàng tầm thường trong xã hội (những kẻ bất hạnh, vô gia cư, những con người bị khai trừ khỏi xã hội, con gái bà gác cửa nghèo khó, các đứa trẻ bệnh hoạn, các cô gái giang hồ…) được Modigliani phô bày tuyệt diệu qua tranh vẽ bằng những đường nét cảm động. Tài năng, sự quyến rũ bề ngoài cùng nỗi dịu dàng trên cách đối xử khiến Modigliani được mọi người chung quanh mến chuộng; vẻ yếu đuối bệnh hoạn và sự kiêu hãnh điên loạn của ông cũng chính là mục tiêu gợi lòng trắc ẩn nơi những kẻ giao thiệp với ông. Dẫu vậy, các thói quen xấu nơi Modigliani vẫn không thể sửa chữa. Ông lê la từ quán rượu này sang quán rượu kia, thay đổi từ người bạn này sang người bạn nọ, yêu đương từ cô gái này sang cô gái khác; tuy nhiên trong những khoảnh khắc tâm tư chìm lắng, thích thú bởi vài kẻ nào đó được nhìn như một thiên thần gãy cánh, nhà họa sĩ đã say sưa vẽ ra hình ảnh ấy ngay. Trên cái gác xép lưu trú, từ ký ức, một loạt những chân dung thanh tú được sáng tạo. Suốt cuộc đời, Modigliani đã phung phí tác phẩm của mình cũng nhanh như phung phí tiền bạc hiếm hoi kiếm được. Sự thật, Modigliani không bao giờ có đủ tiền để sống. Mỗi ngày ông ngồi nơi cái quán lộ thiên Café de la Rotondo hay quán Dôme, cây cọ trong tay, vẽ chân dung giống như tạc bằng những nét nhanh và sắc bất cứ ai ông thấy vừa ý, làm chưng hửng thích thú cho khách thưởng lãm, rồi đưa tặng bức tranh cho “người mẫu tình cờ” với nụ cười ấm áp để đổi lấy vài sous (xu) hay một ly rượu mạnh. Khi có nhiều bức vẽ, Modigliani cố gắng bán chúng cho người mại bản. Hầu hết giới này khi ấy không thích tác phẩm Modigliani nhưng vẫn muốn giữ chúng với ý nghĩ may rủi rằng có thể cuối cùng chúng sẽ gõ đúng vào thị hiếu thưởng lãm những kẻ sưu tập. Có chuyện kể rằng, một người mại bản sau khi nghe giá tiền Modigliani đưa ra, theo thói quen, lại đề nghị con số ít hơn. Không nói lời nào, Modigliani dùng cây đinh xuyên một cái lỗ suốt các bức vẽ và luồn sợi giây qua đó, treo chúng lên trên bức tường nhà tắm. * * * Năm 1913, Modigliani gặp Chaim Soutine (1893-1943), một di dân
hoang dã thô lỗ, gốc Do Thái, đến từ Một người bạn khác là Moise Kisling (1891-1953), một họa
sĩ có khuôn mặt vuông vắn mạnh mẽ. Kisling xuất thân từ trường mỹ
thuật hội họa tại vùng quê hương Kisling đến Ngoài ra, Jean Cocteau, chàng thi sĩ lịch sự trẻ tuổi
người Pháp (1889-1963), cũng trở nên thân thiết với Modigliani trong thời
gian Modigliani vẽ chân dung cho ông. (Về sau, trong tập hồi ký, Jean Cocteau
đã viết: “Tôi ngồi làm mẫu mỗi ngày
cho Modigliani trong phòng vẽ của Kisling. Bức chân dung của tôi –Modigliani
đưa giá từ 5 đến 15 quan—thành hình tuyệt diệu dưới bàn tay chuyển
động nhanh nhẹn của anh. Nó là một trong những bức thành công, được tán
dương rộng rãi sau khi Modigliani đã chết. Nhưng khi ấy cả tôi và anh,
không ai nhìn thấy những liên quan lịch sử hội họa kiểu ấy. Chúng tôi
chỉ cố gắng để sống, và sống chung với nhau”) Trong các tác phẩm Modigliani, dù khỏa thân hay chân dung,
người ta thường chỉ thấy một khuôn mặt.
Họa hiếm lắm mới có bức vẽ hai người trên cùng một nền canvas. Ví dụ như bức chân dung cặp vợ
chồng nhà điêu khắc Jaques Lipchitz (sơn dầu, 31.1/2x in). Năm 1916, Lipchitz
(1891-1973) và vợ tìm đến Modigliani xin vẽ chân dung. Lipchitz kể: “Modigliani nói: ‘Giá mỗi bức của tôi là
10 quan và một ly rượu, bạn biết rồi chứ?’ Ngày hôm sau anh đến nhà
tôi, vẽ rất chính xác với tốc độ nhanh khủng khiếp một loạt những
bức phác họa sơ bộ, bức này tiếp nối bức kia. Cuối cùng một bức
được chọn, cảm hứng từ tấm ảnh chụp đám cưới chúng tôi. Ngày kế
tiếp, lúc một giờ chiều, Modigliani trở lại, mang theo tấm canvas đã cũ
và hộp màu. Vợ chồng tôi bắt đầu ngồi theo tư thế bức phác họa đã
chọn. Ngay bây giờ tôi như còn nhìn thấy anh rõ ràng trước mắt, --ngồi
trước tấm canvas được anh đặt trên chiếc ghế thế cho giá vẽ, anh im
lặng làm việc, thỉnh thoảng dừng tay để chỉ nhấp ngụm rượu từ cái
chai đặt bên cạnh. Cũng có lúc anh đứng lên, chăm chú nhìn vào bức
tranh với ánh mắt xem xét, rồi lại nhìn hai người mẫu. Cuối cùng đến
một ngày, anh nói: ‘Nào, tôi nghĩ là đã xong.’ Chúng tôi nhìn bức
tranh, quả nhiên nó đã hoàn tất. Nhưng tôi cảm nghe trong lòng một ít ngại
ngùng khi có được tác phẩm với giá tiền khiêm nhượng phải trả chỉ
10 quan. Tôi cũng không nghĩ ra được điều Modigliani có thể vẽ hai chân
dung trên cùng một nền canvas. Vì vậy, tôi gợi ý, nếu như anh thích, anh
có thể tiếp tục mà không cần người mẫu. Mục đích của tôi là chỉ
mong trả thêm ít tiền cho anh. Tôi nói: ‘Bọn điêu khắc chúng tôi thường
ưa những điều phụ thuộc.’ Modigliani trả lời: ‘Nếu anh muốn tôi
làm hỏng bức tranh, tôi sẽ tiếp tục vẽ.’ Tôi nhớ, bức ấy chiếm mất
hai tuần để hoàn thành, có lẽ đó là thời gian lâu nhất Modigliani đã
dành cho một tác phẩm hội họa.” Cũng tại Montparnasse, Modigliani thường xuyên nhập bọn với những nghệsĩ dẫn đạo của nền nghệ thuật hiện đại thế kỷ 20 như Matisse, Maillot, Picasso, Vlamick, Carco, Salmon, Soutine, Derain, Kisling, Léger và Gleizes tại các quán café Rotondo và Closeri des Lilas để bàn thảo về những lý thuyết và thể thức sáng tạo mới trong hội họa. Giữa cả đám, người hùng biện và cương quyết nhất chính là Modigliani. “Anh ấy đã nhận lấy con đường sai lầm và đang bắt đầu tự vùi chôn lấy mình,” đó là lời thi sĩ Max Jacob, một người bạn của Modigliani, khi ấy nhận định về ông. V (1915-1916) Trận Đệ I thế chiến xảy ra làm giải tán hết mọi
nghệ thuật của (Họ thường xuyên gặp nhau, tranh luận về nghệ thuật, uống rượu chung và cãi nhau dữ dội. Trong The Fabulous Life of Diego Rivera, Bertram D. Wlolfe kể lại rằng chính chàng họa sĩ Mễ Tây Cơ cần cù đã giúp đỡ Modigliani tận tình bất cứ khi nào Rivera và người tình Angela của ông có tiền.) Ra khỏi tù, Modigliani đem bán những bức này, nhưng lần
lượt các nhà mại bản đều từ chối. Max Jacob giới thiệu Modigliani với
nhà mại bản Paul Guillaume. Guillaume mở một phòng tranh tại Túng cùng, tuyệt vọng, Modigliani kết giao với những kẻ vô lại để kiếm rượu uống. Khi ngất ngư say, ông điên dại chuyện trò với những con người trong trí tưởng tượng. Bà Euginia cố gắng cứu con trai bằng cách gửi đến Modigliani những lá thư cùng tiền bạc, quần áo. Modigliani đem ngay những thứ này phân phát cho các người bạn nghèo khó, nướng trọn số tiền vào trong cuộc rượu với những kẻ say gặp gỡ bất chợt, rồi lại đọc lớn giọng những lời đau khổ của mẹ trong quán rượu. Một cô gái giang hồ thuyết phục và giúp đỡ Modigliani tề chỉnh lại trong cách ăn mặc, chẳng mấy chốc, ông đem bán cái áo khoác ngoài, xé rách vành viền của chiếc mũ và cắt ngắn cái áo ấm bằng một con dao bỏ túi. Cuối năm 1915, khi đang đứng trên bờ giáp của sự đói
thì Modigliani được nhà điêu khắc Zadkine giới thiệu với nữ thi sĩ
Beatrice Hastings. (Ngoài bà mẹ Euginia, Beatrice Hastings là người thứ nhất
trong số hai người đàn bà chiếm hữu một vị trí quan trọng trong cuộc
đời tình cảm của Modigliani.) Có một phía cho rằng chính Trong hai năm 1915-1916, Modigliani sống với Beatrice Hastings. Tuy nhiên, khi khám phá ra Beatrice đang âm thầm chung chạ với những người đàn ông khác vì sở thích hơn là vì tiền, Modigliani đã nghiêm trang nói với bà: “Em yêu, em là một con điếm!” rồi âm thầm bỏ đi. VI (1916-1917) Chàng họa sĩ tiếp tục cuộc sống trôi giạt từ quán café này sang quán rượu khác, di chuyển chỗ ở từ rầm thượng này sang gác mái kia trong các căn nhà nghèo nàn hoặc bỏ hoang. Picasso có thể giúp đỡ Modigliani, nhưng Picasso lại quá bận rộn với cái tổ riêng của mình. Những người bạn khác như Rivera, Soutine, Kisling, Jacob và Guillaume tuy quý mến họa sĩ, nhưng họ cũng quá nghèo để chỉ có thể đãi Modigliani không gì khác hơn những ly rượu nhỏ. Modigliani lại không có khả năng thương lượng với các tay mại bản. Trong tình cảnh tuyệt vọng, ông xin vào vẽ ăn lương công nhật tại một phòng tranh, y hệt một người thợ, hoặc đổi lấy bốn quan và một chai cognac cho mỗi bức sơn dầu. Bị giam giữ bởi xưởng vẽ chật chội trong nhiều tuần lễ liên tiếp, Modigliani không buồn trò chuyện và lúc nào cũng sống trong trạng thái nửa say nửa tỉnh. Tuy nhiên, khi người mại bản mở ra một bữa tiệc cho khách thưởng lãm vào ngắm chọn các bức tranh, Modigliani đã nổi xung, đập chai rượu vào đầu ông ta rồi bỏ chạy ra ngoài đường phố, miệng thét lên những tiếng kêu hoang dại. * * * Modigliani đại diện trường phái cho rằng “nghệ thuật phát triển không phải trên sự quan sát thiên nhiên”. Trong tác phẩm, ông tỏ ra rất đối chọi với Courbet hay Pissaro; ngược lại, cũng nói lên sự ràng buộc một cách trí thức với Delacroix, người nhiều lần chống đối sự bắt chước thiên nhiên; luôn với Degas xuyên qua câu tuyên bố của Degas: “Không khí chúng ta cảm nhận trong tranh các bậc thầy thời đại cũ không bao giờ là không khí chúng ta đang thở ở không gian bên ngoài.” Với Modigliani, thiên nhiên không quan trọng. Ông vẽ chỉ
ba bức phong cảnh và không bức tĩnh vật nào được biết đến. Ông
không bao giờ vẽ chân dung giữa những hoa lá. Bức La Belle Épicière là một ngoại lệ, có
vài ngọn cây được nhìn thấy trên một con đường ở Modigliani thành công trên cả hai mặt tiêu biểu và không tiêu biểu cùng một lúc. Ông đáp ứng đòi hỏi của những người theo chủ nghĩa thuần túy trong ý nghĩ rằng “một bức tranh là một mặt phẳng được bao phủ với màu sắc hội tụ trong trật tự nào đó”鼯i>; nhưng ông cũng quy định trên nền vải “những liên quan mật thiết giữa cá nhân họa sĩ với dục tính, xã hội và con người.” * Một thời gian ngắn sau khi vẽ trở lại (1915), năm
1916, Modigliani gặp Leopold Zborowski. Một tình bạn thâm sâu được thực sự
kết tụ giữa hai người. Zborowski (1889-1932) là thi sĩ, xuất thân giòng
giõi quý tộc Ba Lan, quê ở Trên thực tế, Zborowski đã khuyến khích Modigliani rất
nhiều, giúp đỡ họa sĩ chiến đấu trong cuộc sống lẫn cả trên nghề
nghiệp. Sự tận tình của hai vợ chồng Zborowski khiến Modigliani hoàn
thành được những tác phẩm quan trọng trong ba năm cuối cùng của đời
ông. Modigliani vẽ Zborowski và bà vợ (Hanka Cirowska) nhiều lần. Trong hồi
ký, Charles Douglas đã nói về người bảo trợ và cũng là người bạn nồng
nhiệt nhất của Modigliani như sau: “Từ
khởi đầu, cũng giống như chính Modigliani –người chẳng chút nào kiên
nhẫn hay có tài thuyết phục bè bạn--, chàng thi sĩ chuyển sang mại bản
này đã nhận thấy các tác phẩm Modigliani khó lòng được giới thưởng
ngoạn ưa thích. Nhưng Zborowski không biết mỏi mệt. Chẳng điều gì làm nản
lòng ông. Modi cần phải có đủ thức ăn, và trên tất cả, những vật liệu
để vẽ. Zborowski phải tự nhịn phần thuốc lá để Modi có rượu uống
bở멠vì ông nhận thức được rằng đối với
họa sĩ, rượu cần thiết thế nào cho tác phẩm. Khi mọi sự trở nên tồi
tệ, Zborowski đi thật xa để bán những quần áo riêng và vài vật dụng
giá trị mà ông có, dành tiền lại cho Modi. Vợ ông cũng hoan hỉ hy sinh giống
như chồng. Bà thường cho Modi ăn, săn sóc họa sĩ trong lần bệnh cuối cùng
và giữ giùm con dại cho Jeanne Hébuterne.” VII (7/1917-10/1918) Mùa hè 1917, Modigliani gặp Jeanne Hébuterne, con gái một người bán hàng rong. Cả hai lập tức bị cuốn hút vào nhau. Sinh năm 1898 tại Paris, Jeanne Hébuterne là sinh viên trong lớp phác họa tại một trường mỹ thuật trên đường Rue de la Grande Chaumiere; nơi đây nàng gặp Modigliani. Tên tục của nàng là Hạt Đậu Đỏ (Haricot Rouge), có lẽ do từ mái tóc màu hạt dẻ pha màu đỏ lợt thường xuyên được bối cao sau gáy. Một bản viết ba dòng bằng mực được ghi xuống theo lời đọc của Modigliani: “Hôm nay, ngày 7/7/1919, tôi tự nguyện thành hôn với cô Jeanne Hébuterne trước khi những văn thư được chính thức hợp lệ.” Bên dưới bản tuyên bố, có chữ ký của họa sĩ và vị hôn thê, luôn chữ ký của hai chứng nhân là Zborowski và Lunia Czechowska. Tuy nhiên, do bởi sự không chính thức hóa được những văn thư, hoặc bởi lý do nào khác mà sự liên kết giữa hai kẻ yêu nhau không bao giờ được hợp lệ. Trẻ hơn Modigliani 14 tuổi, dáng người nhỏ nhắn, mảnh dẻ, tính tình dịu dàng trầm lặng, Jeanne yêu Modigliani bằng cảm xúc mãnh liệt; ngược lại trong nàng, họa sĩ cũng tìm thấy sự tương hợp hoàn toàn của đầu óc và thân thể. (Ông dành trọn tình yêu và nghệ thuật cho người con gái đến hết đời.) Từ 1917 cho tới khi tự tử (ngay sau cái chết của Modigliani), Jeanne Hébuterne liên tiếp ngồi làm mẫu cho chồng. Trong tất cả mọi bức tranh, khác hẳn với Beatrice Hastings, nàng xuất hiện dịu dàng, ngoan ngoãn trên thế ngồi yếu đuối, uể oải. Jeanne Hébuterne bỏ nhà trốn theo Modigliani. Hai người trẻ
tuổi trải qua với nhau hầu hết các hoàn cảnh ghê khiếp: sống lây lất
trong các quán café, ngủ trên sàn đất lạnh tại các quán rượu hay trong
phòng vẽ của những nghệ sĩ, nhận các mẩu bánh mì từ tay các người hầu
bàn ban phát. Đói khát và đau khổ, họ cùng nhau lang thang khắp mọi nẻo
đường thành phố, bày bán các bức tranh trên những vỉa hè Vợ chồng Zborowski lại ra tay cứu vớt họ. Trong những quán café, rất nhiều người bàn tán về lòng nhân ái của Zborowski đối với Modigliani. Quả thật, Zborowski không hề bị mất niềm tin về tài năng Modigliani; ông chia xẻ với họa sĩ từng cái quần cái áo; thuyết phục các nhà mại bản khác phải tin tưởng về giá trị kho tàng thiên phú của Modigliani. Tuy nhiên, Zborowski cũng không dư dả; ông chỉ sở hữu mỗi một ngôi nhà trống trơn, một người vợ và nỗi ham muốn làm thơ. Ông rất có từ tâm nhưng lại không đủ điều kiện thực tế giúp đỡ bạn lâu dài tốt đẹp. Zborowski cố gắng bán vài bức tranh cho Modigliani, nhưng số tiền thu được cũng không đủ để thay đổi hoàn cảnh, nên họa sĩ nhanh chóng đem tiêu hết trong rượu và thuốc lá. * Tháng 12/1917, Zborowski đứng ra tổ chức cuộc triển lãm cho Modigliani tại phòng tranh của cô Berthe Weill, cũng là một nhà mại bản. Thay vì thành công, nó lại mang tai họa. Một đám đông gồm các cô bán hàng, các người làm mũ và những cậu bé đưa thư tụ họp đầy trước cửa sổ và trên các lối ra vào để nhìn năm bức khỏa thân vẽ bằng sơn dầu với nét cọ lạ lùng tao nhã. Cảnh sát cứ khăng khăng cho rằng các bức này là ô nhục và buộc phải tháo gỡ chúng khỏi cuộc triển lãm, lại còn bắt giam Modigliani và cô Berthe Weill. Không bức nào được bán ra. (Ngay sau khi Modigliani từ trần, một trong năm bức khỏa thân ấy được kêu lên đến giá 22.000 quan!) Francis Carco, thi sĩ Pháp, bạn của Modigliani, tỏ ra ưa thích đặc biệt bức khỏa thân vẽ cô gái tóc vàng, “Le Grand Nu” (sơn dầu, 28.1/2x./8 in) trong buổi triển lãm. Ông muốn mua nó, móc hết tiền trong túi đưa ra. Số tiền quá ít, nhưng đó lại là tất cả những gì Carco hiện có khi ấy. Modigliani bèn bảo bạn, vẻ nửa say nửa tỉnh: “Bạn thích tranh tôi à? Tại sao? Cái gì? Bạn hiểu điều ấy không? Bạn yêu nó như yêu một người đàn bà ư? Vậy thì hãy nhận nó đi!” Và Modigliani đưa bức tranh cho Francis Carco. Những giai thoại thế này thì đầy dẫy và được nhiều người xác nhận là thật. Nhưng trong khi kể lại về cá chất kiêu hãnh thường xuyên ngạo mạn của Modigliani, người ta lại nói rất ít đến giá trị, ý nghĩa hay tính trang nhã của tác phẩm; hơn nữa là sự thấu suốt tâm lý của họa sĩ đối với người làm mẫu. Chỉ những nghệ sĩ và trí thức hiểu biết thuộc vòng giao thiệp của Modigliani –như Cocteau, Lipchitz và Zborowski—mới nhận biết đầy đủ để tán thưởng độ chính xác liên tiếp của những đường nét và nhịp điệu mềm mại uyển chuyển của cây cọ hay cây bút chì trong tay Modigliani. Theo ngày tháng, bàn tay người nghệ sĩ trở nên rõ ràng và chắc chắn hơn. Trong những năm cuối đời, dẫu thường xuyên đau yếu và nghèo khó, ông vẫn đạt được tính chắc chắn như vậy suốt qua những đường nét nhanh và trau chuốt tinh vi trên các bức sơn dầu. * Modigiliani vẫn phải dời từ chỗ ở này sang chỗ ở khác và không hề có đủ khả năng tạo cho mình một xưởng vẽ khiêm nhượng. Có thời gian ngắn, ông sống trong “La Ruche” (cái tổ ong), tòa nhà xiêu vẹo đổ nát trên đường Dantzig; cũng nơi đây Chagall, Kisling, Soutine và nhiều nghệ sĩ ngoại quốc lưu trú trong những phòng tranh nhỏ bé riêng biệt của họ. Trong khi ấy, bệnh lao phổi không bao giờ hoàn toàn rời khỏi Modigliani. Nó chính là nhân tố của cả hai khuynh hướng khao khát sự chăm sóc điều trị lẫn cả sự tự tàn phá trong tâm hồn nhà nghệ sĩ. Cũng thời gian này, Modigliani bắt đầu được biết đến bởi các nhà phê bình, thi sĩ và bạn hữu cùng giới; nhưng trừ ra vị bác sĩ trung nghĩa Paul Alexandre, không ai muốn mua tranh Modigliani. Paul Alexandre là một bác sĩ trẻ người Pháp, sống ở * Những bức vẽ trong thời kỳ |