1204-world.gif (4030 bytes)

posted: 30.11.04

  NƯỚC CHẢY QUA CẦU
    (Bút ký)
 
Trần Thị Bông Giấy

V

Đêm ở Anvers (Belgique)

Sau suốt một chiều tối uống với nhau những chai champagne để mừng Daniel vừa trúng một giao kèo với đài truyền hình RTL Hòa Lan, năm người chúng tôi bước vào một quán rượu cạnh bên hải cảng Anvers, lúc đã khuya. Quán vắng lạnh lùng với dăm ba chàng thủy thủ ngồi cúi đầu uống rượu. Lão chủ quán già ngủ gục sau quầy. Ánh đèn hắt hiu vàng vọt. Cái máy hát nơi góc phòng cứ quay mãi không ngừng âm điệu buồn bã của bản nhạc Merci Chérie.

Đêm đẹp quá! Lãng mạn quá! Tiếng còi tàu dưới cảng rít lên từng chặp nghe buồn áo não. Cơn gió ngoài khơi thổi vào nhuốm đầy hơi hướm biệt ly. Hương champagne váng vất trong đầu làm cho đôi mắt thấy ra rằng đêm càng tuyệt đẹp. Và rồi bên tai như một nỗi giục giã của Định Mệnh, những âm thanh nghẹn ngào vẫn từ cái máy hát cất lên:

Merci chérie, toi, l’amour de ma vie
Merci chérie pour les heures que tu m’as donné
Adieu! J’ai des larmes dans les yeux
Je dois m’en aller
Je dois te quitter
Mon coeur blessé, blessé
Je sais que tout va finir
Merci chérie!
Adieu chérie! 
(Cảm ơn người yêu của đời anh
Cảm ơn những lúc hạnh phúc em đã mang cho anh
Vĩnh biệt em! Đôi mắt anh ứa lệ

Anh phải ra đi

Đành từ bỏ em
Trái tim tan nát
Anh biết rằng tất cả đang chấm dứt
 
Cảm ơn em!
Vĩnh biệt em!)

Lưu diễn Chợ Lách, Bến Tre.

Chợ Lách là một trong ba huyện của cù lao Minh, thuộc tỉnh Bến Tre. Con sông Tiền chảy đến vùng Cái Bè, Vĩnh Long thì mở ra ba chi lớn: sông Mỹ Tho với hai cửa Tiểu và Đại; sông Hàm Luông; sông Cổ Chiên với hai cửa Cổ Chiên và cửa Cung Hầu. Ngoài ba chi ấy còn có sông Ba Lai nằm giữa sông Mỹ Tho và sông Hàm Luông. Bốn con sông này tạo thành ba dải cù lao: cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa. Cù lao Bảo gồm các huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri và thị xã Bến Tre. Cù lao An Hóa là huyện Bình Đại. Phía biển của cù lao Bảo và cù lao An Hóa có Cồn Hố, thấp và xanh um cây cối. Cù lao Minh gồm các huyện Chợ Lách, Mõ Cầy và Thạnh Phú. Ngoài biển cũng có cồn.

Tháng 1/1979, đoàn di chuyển qua Chợ Lách, dựng rạp trên một bãi đất rộng. Nhân viên đoàn được phân phối cư ngụ trong các mái tranh của dân địa phương.

Trời đêm sáng trăng. Giữa các đoạn tạm nghỉ phần đệm Tân Nhạc của đêm trình diễn, tôi vẫn ưa thích ngồi chồm hổm trên mặt đất nơi một góc hậu trường, nghe các anh công nhân kể chuyện. Trong đoàn hát 120 người thì giới công nhân chiếm đến hơn một nửa. Đa số trong bọn họ không được học hành đầy đủ. Có người lại chẳng hề biết đến trường học là gì. Tuy nhiên, cái vốn liếng hiểu biết của họ về cuộc đời làm cho tôi vị nể. Những kinh nghiệm sống, những chuyến đi góc bể chân trời đã là những ngôi trường quý báu họ từng theo học từ nhiều năm qua. Trong các câu chuyện của họ, cái thế giới được nghe hoàn toàn khác xa với thế giới rực rỡ đầy màu sắc mỗi đêm tôi vẫn thấy. Ở đây, tôi hình dung ra những lũy tre xanh, những xóm thôn mộc mạc, các con người này đã phải giã từ trong nuối tiếc. Ở đây, tôi tưởng tượng ra cặp mắt đã khô đôi giòng lệ của các bà mẹ già mãi ngóng tin con. Ở đây không phải là ánh đèn màu với những hào quang lộng lẫy. Ở đây chẳng phải là tình nghĩa đổi thay mau lẹ như những chiếc áo cần đổi thay cho hợp cảnh, hợp màn.

Một anh công nhân kể với tôi: “Má tui rất mê cải lương. Đi đâu bả cũng khoe với chòm xóm là có con đi theo gánh hát. Bả tưởng tui làm ông to bà lớn nào trong gánh hát, dè đâu tui chỉ là một thằng vác phông. Tui vẫn ước ao một lần   gánh tui ghé về quê cũ để đón má tui đi coi cải lương cho đã. Tội nghiệp, tui biết bả hà tiện, mê thì mê vậy chứ đâu dám bỏ tiền mua vé đi coi. Một lần lâu lắm mới được về hát ở gần chỗ tui ở. Tui mừng rơn, theo đò về rước má tui. Tự nghĩ phen này bả sẽ được hãnh diện chừng nào với bà con chòm xóm. Nào dè khi gặp, tui mới hay là đôi mắt bả đã mù!”

Một anh khác nói: “Tía tui thì lại khác với bà già anh. Ổng có chút chữ Nho ông nội tui để lại nên cho Cải Lương là xướng ca vô loại. Ổng dạy tui rất nghiêm, đánh tui dữ lắm. Ổng muốn tui lớn lên làm thầy thông thầy ký cho ổng nở mày nở mặt. Kẹt cái là ổng có vợ nhỏ. Má tui chết hồi tui còn chút xíu. Vì vậy, không chịu nổi những lời đâm thọc của bà dì ghẻ, tui bỏ nhà trốn theo gánh hát, đi miết không về. Cấp đó tui mới chừng 12, 13 tuổi. Một bữa tía tui nghe nói làng kế bên có rước gánh tỉnh về hát Tết. Ổng chèo ghe qua kiếm tui. Nào dè ổng bị Tây đi ruồng bắn chết. Hay tin, tui khóc quá trời. Bây giờ cứ ngày Tết là tui nhớ ổng, van xin ổng tha cho tui cái tội bất hiếu.”

Cải Lương là một giới vẫn bị mang tiếng đổi vợ thay chồng nhanh như thay áo. Điều này không hẳn đúng với giới công nhân. Có những cặp vợ chồng ăn ở với nhau năm này qua năm khác trên chỉ một góc hậu trường một cách êm đềm đằm thắm. Có những con người lo lắng từng chút một cho nhau bằng cung cách thành thật hiếm thấy nơi một giới cao hơn.

Một lần, tôi nghe một anh công nhân bày tỏ: “Tui và vợ tui lấy nhau hồi hai mươi tuổi khi cùng đi theo gánh hát; ở với nhau có một mặt con mà chẳng hôn thơ hôn thú gì ráo. Cấp tui bị bắt đi quân dịch mấy năm, tưởng bả đi theo người khác, dè đâu bả vẫn ở vậy chờ tui. Chừng gặp tui, bả mừng hết cỡ, cứ đứng ngây mà ứa nước mắt.”

Một anh khác tâm sự: “Dẫu gì thì vợ tui hồi xưa cũng là con nhà có vườn có ruộng. Chỉ vì thương tui mồ côi nên trốn nhà đi theo gánh hát với tui. Bả lại có sắc nên không thiếu gì kép hát quơ quào chọc ghẹo. Vậy mà bả không ưng, lại còn nói gái chính chuyên chỉ lấy một chồng!”

Cách bày tỏ của những con người lao động này đơn sơ nhưng hàm chứa cả một tấm tình sâu sắc. Mối liên hệ gia tộc hay cái nghĩa tào khang được họ trân trọng còn đậm đà hơn trong các vở tuồng vẫn hát mỗi đêm. Sân khấu và cuộc đời đâu có gì khác biệt? Điều quan trọng là làm sao nhận chân cho ra giá trị của sự việc dưới lớp bề ngoài thô thiển đơn sơ.

[]

Paris. Nửa đêm tỉnh giấc, tôi chợt rùng mình theo tiếng gió rít luồn qua lò sưởi. Giấc mơ về đứa em gái út sao thật là buồn! Biết bao hình ảnh xô về trong trí nhớ. Bao kỷ niệm sống dậy giữa bóng tối mông lung... Cái đêm em ra đi, gió cũng rít nhiều như vậy, mẹ tôi thường nhấn mạnh điều đó. Chuyến đi không bao giờ tới, để lại trong tim mẹ già một lỗ thủng lớn không bao giờ còn lấp được cho đầy.

Năm năm rồi kể từ đêm ấy, cứ mỗi lần nghe tiếng gió rít giữa khuya là lòng tôi lại nhói đau, tưởng như có tiếng ai đang từ cõi xa xăm vọng lại. Giây phút cuối cùng của em trên biển lạnh sao cứ làm tôi suy nghĩ? Đêm đen. Biển đen. Bản năng sinh tồn bị dìm xuống tận cùng bởi Thần Chết mặc áo màu đen. Giây phút tuyệt vọng ấy, em đã nghĩ đến điều gì? Khung trời ấm áp có gia đình hiện diện? Khuôn mặt mẹ hiền có mái tóc bạc phơ? Hay là hình ảnh một người yêu, người bạn nào em đã bỏ lại nơi thành phố? Năm năm qua rồi mà trong trí tôi, nỗi thắc mắc này cứ còn quanh quất. Đó là niềm đau, một ám ảnh nặng nề đeo đẳng hoài giữa trái tim tôi.

Thạnh Phú, Bến Tre, cuối tháng 1/1979.

Trừ các lần di chuyển bằng đường thủy và xe lửa, đa số các chuyến lưu diễn của đoàn đều sử dụng xe đò quốc doanh, được ban Ngoại Vụ ký giao kèo thuê mướn với công ty xe khách mỗi lần đổi bến.

Sau 1975, giống như trong ngành ca hát, ngành giao thông vận tải đường bộ cũng đã vướng vào cái nạn vé chợ đen. Vì vậy, như một thỏa hiệp ngầm, trên những chuyến xe đò mang bảng hiệu đoàn, ban quản trị đã mặc cho những người lơ tự do rước một số khách ngoài để kiếm thêm lợi tức. Số khách này hầu hết là người đi buôn xa; với một chỗ ngồi hay đứng phía sau đuôi xe, họ phải trả một giá gấp ba so với giá chính thức.

Hệ thống công an giăng ra chằng chịt trên khắp các quốc lộ để chận xét, tịch thu các món hàng của người đi buôn lẻ. Đã có nhiều việc đáng tức cười pha lẫn thương tâm xẩy ra trong khía cạnh này. Trên đường đi Hậu Giang, có những người đàn bà quấn quanh đùi, bên dưới chiếc quần đen ống rộng, những tảng thịt heo, mỡ heo để qua mặt nhân viên nhà nước. Trên các chuyến xe lửa Sàigòn-Hà Nội cũng đã có nhiều người đàn ông khoẻ mạnh, một cánh tay bó chặt bằng vải bố ôm vòng thanh sắt giáp nối giữa hai toa xe, cánh tay còn lại đón bắt những túi gạo nặng từ 10 đến 20 kí từ các người buôn chung, đứng dọc dài dưới đất, nơi chuyến xe lửa lăn bánh chậm lại trước khi vào Ga chính. Sau đó lập tức, các túi gạo này được các người bên trong toa xe đón lấy và cho tẩu tán. Cũng trên những chuyến xe lửa, quãng đường Tuy Hòa-Vạn Giã, khi công an lên khám xét, đã có những người đi buôn lẻ vội vàng leo lên mui xe lẩn tránh. Chuyến xe chuyển bánh, chui vào đường hầm. Những con người đáng thương này bất ngờ bị gạt té, thân thể nát nhừ dưới lằn bánh sắt.

Trên những lộ trình lưu diễn, chúng tôi gặp rất nhiều người đi buôn lẻ đón chuyến xe đoàn. Cứ sắp đến một trạm gác là những bịch trà, bịch café, tôm khô hay bất cứ thứ gì cũng có thể được quẳng nhanh vào chỗ ngồi của nhân viên đoàn ngay khi ấy để qua mặt công an.

…..

Con đường bộ từ Chợ Lách qua Thạnh Phú rất gập ghềnh lồi lõm. Những lúc gặp phải một cái ổ gà, chiếc xe đò nhẩy chồm lên làm cho mọi người bỗng dưng giống như đang chơi trò nhào lộn.

Có một hình ảnh khiến tôi không sao quên được. Khi chiếc xe chạy qua khỏi một bệnh xá ở ngoại ô châu thành Thạnh Phú thì được đón lại. Có tiếng khóc nghẹn ngào đau đớn. Có vài người lố nhố trên đường. Những người này đón chiếc xe đoàn để xin chở cái xác một người thân vừa chết ở bệnh xá. Xác chết được bó lại trong một chiếc chiếu, hai bàn chân vàng ệch khô héo ló ra ngoài. Người đàn ông độ 40, vẻ chịu đựng, đã nói với ban quản trị đoàn rằng vợ ông ta, 29 tuổi, chết vì ung thư máu. Giọng ông run run như vướng đầy lệ. Người ta thu xếp nhanh một chỗ nằm cho người vắn số trên mui xe.

Tự dưng, tôi nghe xúc động kỳ lạ. Chẳng hiểu tại sao? Có lẽ nguyên nhân phát sinh từ đôi bàn chân người đàn bà ló ra bên ngoài chiếc chiếu? Chiếc chiếu ngắn quá không đủ làm ấm chân người chết? Hay là bà mẹ quê hương nghèo khổ quá không đem được cho đàn con  những vật chất bình thường? Tôi cũng tự hỏi, trên tầng mây kia, biết linh hồn người chết trẻ có thấy an bình hơn khi cúi nhìn lại cái mui xe đã dằn xóc thân thể bà không chút nào xa xót? Và ở cái thế giới mới lạ bà vừa đặt chân đến kia có được êm đềm hơn vùng quê cũ đau thương? Những điều này cứ ám ảnh và ám ảnh tôi hoài trong suốt chiều tối đầu tiên đặt chân đến Thạnh Phú.

[]

Paris. Viết cho Hạnh.

Hạnh thương nhớ,

Thư này đến thì đã gần Tết, em cầu chúc Hạnh và bé Thương Thương một mùa Xuân êm đềm, hạnh phúc.

Bên này đang giữa mùa Đông nên trời rất lạnh. Mấy hôm nay, nhiệt kế xuống đến 20 độ dưới không độ. Tuyết ngập đầy phố. Mùa Đông này, ai cũng bảo lạnh hơn mọi năm.

Em hiện đang làm việc trong một quán café ở Paris, đồng thời hợp tác với một ban nhạc Pháp, đi trình diễn khắp nơi, luôn cả ở ngoại quốc. Mỗi lần đi như vậy là em lại phải giao phần việc ở quán café cho một cô bạn nhận giùm. Cũng may, mình được bà chủ quán thương. Bà này có chồng đi lính ở Việt Nam thời trước, rất có cảm tình với dân Việt Nam. Vì vậy, việc làm không mất sau mỗi bận đi xa như vậy.

Đời sống Âu Châu không dễ dàng, Hạnh ạ. Con người phải chạy đua từng phút với thời gian mới mong theo kịp đà tiến của xã hội. Em cũng bị quay cuồng như thế suốt hai năm đầu ở Pháp. Nhưng giờ thì đã quen. Giờ thì em vẫn có đôi lúc rảnh rỗi đi uống café, tìm lại con người thật của mình, tìm lại quãng thời gian đã mất. Những khi ấy, em thật nhớ Sàigòn và nhớ Hạnh.

Chiều hôm nay, trời Paris rất đẹp. Mây xám chập chùng giăng phủ. Những hạt tuyết mỏng rơi nhẹ trong không gian trông giống như những sợi bông gòn tả tơi bay trong gió. Cũng có lúc, em như thoát được ra ngoài sự quay cuồng của cuộc sống để lắng lòng mình trước một khung trời bao la, man mác. Và sao thật kỳ lạ, em cứ gợi nhớ hoài những ngày tháng chúng mình lưu diễn Mũi Né, chỉ riêng em và Hạnh trú lại trong căn nhà gỗ lẻ loi trên bãi cát của người đàn bà có chồng đi biển xa. Kỷ niệm đối với em là những điều quý giá, là một phần hạnh phúc cuộc đời mà khi về già, mình hưởng được rất nhiều ấm áp từ nó. Thì, trong năm năm trời phiêu bạt, Hạnh và em đã có không biết bao nhiêu kỷ niệm với bạn bè. Chúng mình không thể chối được điều rằng, đời sống Cải Lương với những chuyến lưu diễn dài đã là những tư liệu quý báu làm tâm hồn mình phong phú, dù rằng cũng chính đời sống ấy đã làm mất đi của mình phần nào cá tính nguyên sơ.

Chiều nay, em nghe lòng yên bình quá. Điều này thật quả hiếm hoi trong cuộc sống quay cuồng của em ở đây.

Hạnh thương nhớ,

Năm nay em lại đánh rơi một mùa Xuân nữa trên quê hương. Giờ đây chỉ nghĩ đến những ngày cuối năm, đường phố Sàigòn ngập đầy các hàng pháo đỏ, bánh chưng xanh xếp cạnh các gốc mai vàng ối và những chồng dưa hấu chín mọng, lòng em như thắt lại. Người Việt Nam xa xứ gần như chẳng Tết nhất gì cả. Đó không phải là lễ của người Âu Châu, nên dân Việt Nam vẫn phải đi làm trong ba ngày thiêng liêng ấy. Buồn lắm, Hạnh ạ!

Em tạm ngưng. Cho em hôn bé Thương Thương.

Thân ái.

Đêm cuối cùng ở Thạnh Phú.

Tan hát xong, đoàn phải di chuyển ngay bằng ghe lúc 12 giờ khuya cho kịp qua Châu Hưng ngày kế tiếp. Cả 120 người đều không ngủ, thu dọn, gồng gánh xuống thuyền, tiếp tục lộ trình lưu diễn.

Trên những phiến gỗ dài xếp ngổn ngang bên cạnh bến đò, tôi ngồi chuyện trò cùng người bạn chơi trompette. Bầu trời trong vắt không một gợn mây. Muôn ngàn vì sao sáng ngời, lấp lánh. Bóng tối bao trùm sâu chung quanh ngọn đèn dầu lớn trong tay anh tổ trưởng Dàn Cảnh để chỉ huy các tổ viên làm việc. Những gánh cháo khuya, nơi đầu gióng lơ lửng ngọn đèn mù mờ, theo chúng tôi đến tận bến đò để mong vớt vát thêm vài đồng bạc cuối.

Đêm mang một mùi thơm huyền bí. Cây đa già nơi chiếc quán đầu ngõ chợ âm thầm yên ngủ. Những bụi lau xôn xao theo bước chân đoàn người lữ thứ. Xa xa, ở tận cuối làng, tiếng chó tru buồn thảm nghe như tiếng ma khóc quỷ gào, hòa hợp với bản tấu khúc đơn điệu của các loại côn trùng, càng làm cho đêm tăng thêm mùi huyền bí.

Có những lúc lặng yên, tôi ngắm nhìn các vì sao. Các vì sao tôi yêu từ khi còn bé. Các vì sao trong truyện kể của Alphonse Daudet (*) đã được khắc sâu trong ký ức tuổi thơ. Các vì sao làm giàu cho trí tưởng tôi khi tin rằng điều mình ước sẽ thành nếu có một vì sao băng ngang khi ấy. Các vì sao vẫn theo tôi góc bể chân trời trên bước đường đây đó lãng du.

Tôi cũng nghĩ đến cuộc sống giang hồ hiện tại. Những đêm hát khuya, ít ngủ. Những sáng thức giấc sớm lên đường. Đôi mắt trũng sâu và cả thân hình hao gầy mòn mỏi. Nhưng bù lại, như một ân sủng của Thượng Đế, là những mối xúc cảm trong hồn vẫn còn lai láng trước một thiên nhiên huyền bí. Và tôi cho rằng đó chính là điều may mắn lớn đã đưa đến trong cuộc đời tôi.

[]

Paris. Đêm, trở về nhà muộn, ngồi chuyện trò ít phút với mẹ già, nghe bà than phiền về sự ăn ngủ thất thường của tôi. Tôi lặng im nhớ đến buổi tối làm việc nhọc nhằn ở quán café, muốn tâm sự với bà bao nhiêu nỗi khó khăn trong cuộc sống. Và tôi bâng quơ bày tỏ: “Tự nhiên sao lại bỏ xứ ra đi để làm tôi làm mọi cho kẻ khác. Bây giờ mới đầu mùa thu mà con đã nghe sợ hãi quá mùa đông...” Giữa hai mẹ con bỗng dưng có một sự im lặng rất ngậm ngùi.

Một câu nói của bà khiến tôi điếng lòng không ít: “Nhiều ngày tháng khi con đi làm hay đi trình diễn xa, thằng San đi học, mẹ cứ đi lui đi tới trong nhà mà không biết làm gì để thì giờ trôi qua cho hết.” Tôi đâm bặt ngang mọi ý nghĩ riêng, nghe một chút xấu hổ dấy lên trong lòng. Và tôi nhìn lại khuôn mặt già nua thân yêu dường ấy mà tưởng như lần đầu mới gặp... Tôi hiểu nỗi cô đơn của mẹ tôi, của những người già trong cảnh sống cách xa vùng quê cha đất tổ. Hiểu cái tâm trạng vời vợi buồn, mỗi ngày phải bó gối trong nhà nhìn tuyết rơi tầm tã ngoài song. Quê hương, bà con, xóm giềng, làng mạc... tất cả đều xa xôi quá! Gần gũi chỉ còn lớp con phải đầu tắt mặt tối với đời sống; lớp cháu thì lại thuộc một thế hệ khác đã bị Âu hóa phân nửa hay gần trọn cả rồi. Cứ vậy mà nỗi buồn cứ ngày một tăng trong trong tâm hồn những con người già nua đáng thương ấy; nỗi cô đơn bám dính, có khi gần xuôi tay nhắm mắt, còn chưa một lần rời khỏi trái tim.

Cuối tháng 1/1979.

Lưu diễn Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

Có những kỷ niệm và những nơi chốn một đời tôi vẫn  nhớ. Năm ngày ở Châu Hưng cũng vậy. Đây là một xã rất nhỏ thuộc huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Trước 75, muốn đến Châu Hưng, không thể đi bằng đường bộ vì sợ trúng mìn Việt Cộng; phải đi bằng đò máy, bến đậu đặt tại vựa trái cây Mỹ Tho, xuôi theo dòng sông Cửu Long. Một làng quê hẻo lánh không có tên trên bảng đồ nước Việt. Nơi đây, tâm hồn con người đơn sơ, dễ chịu. Các mái nhà tranh nhỏ xíu nằm gọn lỏn trong những khu vườn cây trái um tùm. Những con đường mòn im lìm, mát rượi chen giữa các bụi tre chỉ đủ cho một người đi qua.

Ngôi nhà tôi và hai người bạn xin trú tạm là của một ông cụ hiền lành, sống lẻ loi đơn chiếc; một năm đôi lần mới có cô con gái bế con từ chợ Mỹ Tho đáp thuyền về thăm.

Ngay từ buổi đầu đến đây, tôi đã được nghe anh em trong đoàn kháo nhau về một “ngôi chợ ma” chỉ nhóm từ lúc nửa đêm cho đến cuối canh năm gà gáy. Đêm thứ nhì sau khi tan hát, chúng tôi một bọn bốn người đi bộ ba cây số đường làng tìm đến ngôi chợ ma.

Chợ họp trong một cái đình. Bên ngoài trời tối đen, bên trong nhuốm đầy vẻ liêu trai huyền hoặc. Người ngồi co ro như xác chết. Người đi lui, tới như bóng ma. Các tia ánh sáng chập chờn nhảy múa trên hai bức vách. Từng mảng bóng tối ẩn núp, rình mò. Đó đây, tiếng mời chào, trả giá nghe thật mơ hồ thăm thẳm. Thỉnh thoảng có cơn gió lạnh lùa vào, giống như một linh hồn vừa thoát trần gian đến xin nhập cuộc.

Tôi mở to đôi mắt, không ngờ rằng trong đời lại có lần bắt gặp hình ảnh hãn hữu quý giá đến vậy. Giữa một thời đại mà con người đã đặt chân lên tới tận cung trăng thì trong đất nước tôi vẫn còn tồn tại một ngôi chợ liêu trai kỳ ảo! Ánh sáng văn minh không soi tới được nơi này. Thật là chua xót, nhưng sao cũng thật ngậm ngùi xúc động.

Ngang qua một hàng xoài, một bà cụ già đưa nụ cười móm mém ra chào khách. Tôi ngồi xuống lựa mua dăm trái, rồi hỏi bà do đâu mà chợ lại họp vào lúc nửa khuya? Bà kể, từ thời Pháp thuộc, để tránh máy bay địch hay bỏ bom vào lúc ban ngày, dân trong xã phải họp chợ vào buổi tối. Cái lệ ấy mấy chục năm sau vẫn không thay đổi.

Tôi uống từng câu kể của bà –một chứng nhân lịch sử- về cái thời xa xưa ấy. Hình ảnh những người dân quê băng đồng, lội ruộng tìm đến với nhau, ngồi bên nhau đôi giờ trong đêm như những bóng ma vất vưởng luyến lưu trần thế, không những bi thương mà còn là tuyệt vời nữa. Trái tim tôi thắt lại. Cả tâm hồn tê buốt, lạnh căm. Ngoài kia, ánh sáng trên mình những con đom đóm lập loè, ẩn hiện. Cơn gió lạnh vẫn lùa qua từng lúc, tựa như tiếng thở dài của những linh hồn ưu uất còn lẩn quất đâu đây...

Đêm chưa tan và ngày chưa tới…

[]

VI

Paris. Một đêm mùa đông tuyết rơi trắng xóa. Một anh bạn trong hội cựu quân nhân Việt Nam mời tôi cùng một nhóm bạn quen đến nhà anh dùng cơm. Tại đây, tôi gặp thêm ba người Việt Nam khác, hai nam một nữ, nói giọng Hà Nội. Anh bạn chủ nhà giới thiệu với tôi cả ba đều là bác sĩ, đến từ “bên kia giới tuyến” (lời anh bạn). Sau chuyến tu nghiệp ở Tiệp Khắc, họ trở về Việt Nam, ngang qua Paris phải đổi chuyến bay và phải ngủ tạm một đêm ở khách sạn phi trường. Vì không đủ tiêu chuẩn mướn phòng ngủ nên họ ngồi lại với nhau một góc nơi phòng đợi. Anh bạn chủ nhà của tôi khi ấy đang làm bồi phòng tại khách sạn, biết chuyện, bèn mời họ về nhà ngủ qua đêm, ngày mai đáp chuyến bay thẳng về Hà Nội. Cả ba đều trong cỡ tuổi từ ba mươi lăm đến bốn mươi.

Buổi tiệc đêm ấy bỗng dưng biến thành đặc biệt. Nhóm ba người Miền Bắc trở nên là cái đích tấn công của bảy người Miền Nam. Chỉ riêng tôi và anh bạn chủ nhà là không đồng ý với thái độ thù hiềm không đẹp ấy. Vì vậy, anh cố dùng đủ mọi cách để màu sắc chính trị không bị pha trộn vào cuộc trò chuyện của hai nhóm Bắc-Nam.

Anh bạn chủ nhà của tôi là một Đại úy Pháo Binh ngày cũ. Năm 1983, sau khi ở tù cải tạo ra, anh vượt biên đến đảo Mã Lai, được người vợ đi từ 1977 bảo lãnh sang Pháp. Qua đến nơi, anh mới hay rằng người xưa nay đà ôm cầm sang thuyền khác. Hai đứa con nhỏ giao lại cho anh nuôi, dấu tích duy nhất còn lưu lại trong cuộc đời chồng vợ của anh.

Buổi tiệc đêm ấy, anh ngồi bên cạnh, nói nhỏ với tôi: “Mối hờn vong quốc dĩ nhiên là không quên được; nhưng dù sao những vị khách này cũng chỉ là một thứ nạn nhân như bọn mình. Họ đâu thể làm gì khác khi phải sinh ra và lớn lên trong Miền Bắc. Công kích họ làm gì thêm tội!” Tôi gật đầu đồng ý quan điểm ấy của anh. Nghe anh nói tiếp: “Biết đâu họ cũng có những hoàn cảnh đau thương như bọn mình đã trải? Kết luận làm gì một điều mình chưa hiểu rõ. Vấn đề chỉ là ‘cái nhìn’ duy nhất. Bây giờ mình nhìn họ là những kẻ đang cần một mái nhà để trốn lạnh, một chiếc giường để ngã lưng thay vì ngồi bó gối  nơi phòng đợi phi trường, nhìn tuyết rơi trắng xóa bên ngoài khung kính. Bấy nhiêu, tôi nghĩ là đã đủ để những gì liên quan đến chính trị khỏi cần phải đặt ra ở đây.”

Tôi nói, anh làm tôi ngạc nhiên bởi không nghĩ rằng sau những tháng năm tù đày và những cay nghiệt gặp phải trên bước đường chồng vợ mà anh còn có được tấm lòng dạt dào như thế. Anh cười: “Có lẽ nếu không từng kinh qua những niềm thống khổ, chắc ngày nay tôi vẫn còn cái nhìn quá khích cực đoan như nhiều anh em khác mà thôi.”

Đầu tháng 2/1979. Trở về Sàigòn.

Chuyến lưu diễn Bến Tre gần hai tháng ròng đã chấm dứt. Tôi nghe xúc động vô bờ khi nhìn lại căn nhà màu gạch đỏ với các người thân. Mười năm dài phiêu bạt, lần đầu tiên tôi mới thực sự thấy gia đình là nơi cần thiết. Mười năm lang thang từ thành phố này qua thành phố khác với nỗi cô đơn chưa một lần gục ngã, với tuổi trẻ sôi nổi, cương quyết, vậy mà đến một lúc nào như hôm nay, tâm tư lắng lại, tôi chợt thấy mình yêu biết bao căn nhà đã sống từ khi còn bé có cả một kho tàng kỷ niệm ngủ yên dưới lớp bụi thời gian. Tôi nghe an tâm khi ẩn mình trong ấy. Nghe những buổi chiều mây xám giăng đầy trôi đi êm đềm trong căn bếp ấm thân yêu.

Mười năm và một định mệnh nhiều giông bão, những chuyến khởi hành cô đơn, những dòng nước mắt lặng lẽ... đã cho tôi được một cái nhìn về hạnh phúc như ngày hôm nay. Hạnh phúc gói lại, đơn giản, nhẹ nhàng trong phạm vi một mái nhà bé nhỏ, trên ánh lửa chập chờn của căn bếp rộng mỗi bữa cơm chiều. Hạnh phúc cũng chan hòa trong đôi mắt thiết tha của người em nhỏ, trên khuôn mặt của bà mẹ già có mái tóc bạc phơ, có giọng nói mềm mỏng, dịu dàng như dòng sông Hương thương nhớ.

Trong vườn tôi, hoa phù dung mới nở

Ngày rất hồng và chim hót rất thanh

Cửa nhà ai sáng nay vừa mới mở

Người trở về gọi mẹ, gọi tên em...

Cánh cửa của căn nhà màu gạch đỏ cạnh bên gốc ổi trụi lá mùa đông có khi còn đóng kín, nhưng vòng tay và trái tim người mẹ hiền thì lúc nào cũng mở rộng để đón chờ một bước chân hoang.

[]

Paris. Bên cạnh căn nhà tôi ở là một biệt thự xinh xắn của một cặp vợ chồng già người Pháp. Bà vợ đã ngoài sáu mươi nhưng trông khoẻ mạnh rất nhiều so với tuổi. Tính tình bà vui vẻ dễ chịu. Mỗi lần gặp tôi, bà đều chào hỏi rất niềm nở. Điều làm cho tôi lạ lùng là bà nhai trầu bỏm bẽm y hệt các bà cụ già người Việt. Môi bà đánh son đỏ thắm, nhưng màu đỏ của vôi quyện với trầu trong miệng e còn thắm tươi nhiều hơn. Mỗi lần có dịp đứng gần bà là tôi nghe nồng nàn nơi mũi một thứ mùi vô cùng ấm áp. Thứ mùi vừa dìu dịu của nước hoa trộn lẫn mùi trầu cau thơm ngát của quê hương tôi.

Một lần tôi nghe bà kể, thuở xưa theo chồng sang Việt Nam làm đốc học ở Huế, bà có mượn một người đàn bà Việt Nam về làm vú em cho đứa con nhỏ hai tuổi. Ban ngày đứa bé chơi rất dễ chịu; nhưng cứ đêm là lại khóc đến khan cả cổ. Chẳng ai hiểu tại sao. Người ta cho gọi bà vú vào. Lạ thay, đứa nhỏ ngủ yên tới sáng. Thử đi thử lại nhiều lần cũng đều như vậy. Sau cùng mới khám phá ra đứa nhỏ ghiền mùi trầu của bà vú già người Việt. Bữa nào vắng bà, nó trông biếng lười, không ngủ không chơi.

Thế là cô đầm xinh đẹp học cách ăn trầu, món ăn quốc hồn quốc túy của người dân bản xứ. Ban đầu, ăn trầu chỉ là để lôi kéo đứa con nhỏ lại gần mình; sau, chính cô cũng đâm ghiền cái món đặc biệt này, y hệt mọi bà già trầu Việt Nam.

Bà hàng xóm tôi cũng kể: “Ở Việt Nam ngót hơn hai mươi năm, tôi ưa thích lắm. Cái xứ gì mà thật là dễ chịu, tôi mặc nhiên xem như quê hương thứ hai của mình. Thời gian đầu mới bị tống xuất về Pháp, vì thiếu trầu cau nên tôi thật khổ sở. Mỗi lần gửi mua được từ Thái Lan, tôi quý ghê lắm.”

Bà mỉm cười: “Mỗi quốc gia có một nền văn hóa riêng. Nước Việt Nam với hơn bốn ngàn năm văn hiến, ôi chao, có biết bao nhiêu điều đáng nói! Bây giờ đã già, tôi mới hiểu tại sao tôi lại ghiền cái món trầu cau đến vậy.”

Và bà giải thích: “Không chỉ ghiền vì mùi thơm quyến rũ của nó, mà còn bởi vì nó biểu tượng được cho một khía cạnh văn hóa của dân tộc Việt Nam.”

Hát Tân Uyên.

Theo chỉ thị của Phòng Nghệ thuật Sở Văn Hóa và Thông Tin Thành phố Hồ Chí Minh, đoàn phải lên hát hai ngày 23 và 24 Tết tại vùng kinh tế mới Tân Uyên, thuộc Sông Bé, một tỉnh ở miền Đông Nam phần, bắc giáp nước Cam Bốt; nam giáp thành phố Hồ Chí Minh; đông nam và đông bắc giáp các tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng, Đắc Lắc; tây giáp tỉnh Tây Ninh.

Đây là đất của rừng cao su chảy dài như con sông, là “cái nôi” của chiến khu D một thời lừng lẫy. Sân khấu dựng ngoài trời. Chúng tôi được thu xếp ở trong những dãy nhà cất lên bằng ván, mỏng manh, vội vã.

Trời lạnh căm căm và có nhiều gió. Đêm tan hát, một số lớn anh em trong đoàn không ngủ, rủ nhau ra bãi đất trống sau lưng giàn sân khấu ngồi đốt lửa sưởi ấm qua đêm. Chúng tôi vây quanh khối ánh sáng lớn duy nhất trong toàn vùng kinh tế mới. Mỗi nhóm tự động nhặt nhạnh, tìm kiếm các cành khô củi mục tiếp cho ngọn lửa. Một số ca hát trò chuyện với nhau. Một số vây quanh các chiếu rượu. Toàn vùng kinh tế mới lặng im trong giấc ngủ. Những người dân lam lũ suốt ngày theo nương rẫy, giờ đây thả hồn về trên những khung trời êm ái nhẹ nhàng hơn.

Ngồi chung trong chiếu rượu của cả nhóm Tân Nhạc, trên tay cầm thanh củi dài khêu cao ngọn lửa mồi mỗi lần sắp tắt, đầu óc tôi lan man theo những cảm xúc bất ngờ khi ấy. Địa danh chiến khu D cũng như nhiều địa danh nổi tiếng khác (Pleime, Đồng Xoài, Khe Sanh, Bình Giả...) là mồ chôn của biết bao nhiêu người Việt Nam trẻ tuổi. Ngày hôm nay, chiến cuộc đã yên, nhưng tên tuổi của họ thiên thu còn vang vọng thương đau trong tâm hồn các người thân.

Tôi có người yêu chết trận Pleime

Tôi có người yêu ở chiến khu D

Chết trận Đồng Xoài

Chết ngoài Hà Nội,

Chết vội vàng mình không manh áo...

Bài hát của Trịnh Công Sơn đã làm rung động không ít trái tim non dại của tôi thời gian mới lớn. Chiến tranh với những khía cạnh bi thảm của nó đã sớm nhồi vào đầu óc tôi những cảm xúc lạ lùng. Tôi đâm ngưỡng mộ bộ áo hoa rừng của những người lính tác chiến, ghi nhớ nằm lòng những địa danh đẫm máu. Tôi cũng thường đọc các cột “phân ưu” trong các nhật báo để tìm xem có tên người bạn, người quen nào đã vĩnh viễn ra đi mà tôi không hay biết chăng?

Tuổi trẻ của tôi không chỉ kết nên bằng những ước mơ tươi đẹp, mà nó còn ghi dấu rất nhiều những nỗi buồn khi nhận tin một người bạn giã từ cuộc đời trên một chiến trường nào đó, mỗi lúc hay ra một người thân đã hy sinh cho tổ quốc trong cái tuổi còn nhiều mộng mơ. Nghĩa trang quân đội Biên Hòa với các hàng mộ dài đề tên các người chết trẻ cũng làm cho tôi buồn không ít. Những con người chưa có dịp hưởng thụ các thú vui ở đời đã phải vội vàng rũ áo ra đi...

Hơn mười năm trôi qua, bài hát của Trịnh Công Sơn đã chìm sâu trong ký ức thời tuổi nhỏ, không ngờ lại một đêm sống dậy dạt dào trong trí nhớ. Hình ảnh từng người bạn đã chết trong cuộc chiến năm xưa như hiện ra trên ánh lửa chập chờn. Đêm lạnh căm nơi vùng núi đồi kinh tế mới của chiến khu D một thời lừng lẫy. Đêm cũng ngập tràn trong tôi một màu đen đúa nhớ thương.

Tôi có người yêu chết trận Ba Gia

Tôi có người yêu vừa chết đêm qua,

Chết thật tình cờ

Chết chẳng hẹn hò, không hận  thù,

Nằm chết như  mơ...

[]

Paris. Tôi được mời đi dự buổi văn nghệ do một hội đoàn Việt Nam tổ chức tại Paris. Buổi văn nghệ chẳng có gì đáng nói, chỉ là sự lập lại của những màn ca vũ nhạc kịch ở phần đầu và phần sau là cuộc dạ vũ kéo dài từ nửa khuya tới gần sáng. Tuy nhiên, trong buổi lễ chào cờ, nghe ban nhạc tấu lại bài Quốc Ca Việt Nam và nghe những vị khách cao giọng hát theo, tôi không ngờ mình đã cảm động dường ấy.

“Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi...”

Tiếng hát vang lên khắp khán phòng, át hẳn tiếng nhạc, rền rền bên tai và xoáy vào tận cuối hồn tôi những niềm rung động dạt dào ngây ngất. Bản quốc ca này, tôi thuộc lòng từ khi còn bé, vậy mà chưa bao giờ nghe thấm thía yêu thương như trong tâm trạng của một đêm đi dự buổi văn nghệ ở Paris.

“Hạnh phúc là những gì đã trôi qua” như ai đó đã viết. Thì hạnh phúc bất ngờ tôi bắt gặp lại chính là những thanh âm của dĩ vãng xa xôi đã làm tuôn trào không biết bao nhiêu cảm xúc ứ đọng lâu ngày trong trái tim câm nín. Cả một lịch sử hiên ngang ngất ngưỡng trở về. Từng triều đại đi qua rồi mất hút bỗng đứng lên sừng sững. Hồn thiêng sông núi như bừng sống dậy trên nét mặt của những con người đang hiện diện; và tinh thần bất khuất ngạo nghễ của cổ nhân từ mấy ngàn năm qua cũng theo tiếng nhạc vọng lên trong khắp mọi nơi.

Có điều gì ngậm ngùi hơn tiếng lòng của những con người mất quê hương đang phô bày trong giai điệu một bài quốc ca dĩ vãng? Còn điều này xót xa hơn hình ảnh một nhóm người tha phương đất khách đang trang nghiêm chào lá quốc kỳ của một chính thể đã đi vào bóng tối xa xăm?

Vậy mà, chỉ với ba phút cử hành bài Quốc Ca, tâm trạng tôi biến chuyển không ngừng biết bao cảm xúc. Mối sầu vong quốc bao trùm khắp cả khán phòng, len vào trong từng sớ tim để tôi hiểu rằng không còn một bài ca nào khác trên đời tạo cho tôi nhiều rung động hơn bài Quốc Ca Việt Nam tôi đã được nghe lại một đêm giá rét ở Paris.

Sàigòn, tháng 2/1979.

Đoàn nghỉ hát từ 25 tháng Chạp để chuẩn bị mừng năm mới. Chúng tôi được lệnh mồng Ba Tết sẽ lên đường lưu diễn Miền Đông.

Năm ngày không hát, tôi cỡi xe đạp vòng vòng phố xá thăm bè bạn. Lại biết thêm những người bạn bỏ đất nước ra đi. Cũng thêm những người bạn đã chết. Chuyến ghe dài 7 mét của nhóm bạn tôi, ra khơi từ Cửa Đại, Bến Tre vào tháng trước, đã chìm lỉm dưới những cơn sóng bạc đầu. 13 người chết. Chỉ một người sống sót, trôi vật vờ suốt đêm trên sóng; sau, được tàu quốc doanh vớt lên.

Đêm 30 Tết, nơi chiếc quán dốc cầu Trương Minh Giảng, tôi và hai người bạn ngậm ngùi ôn lại chuyện xưa. Trời có gió lạnh ngan ngát. Mùi bùn từ dưới gầm cầu bốc lên tanh ói. Tôi nghĩ đến những người bạn đã chết. Nghĩ đến những kỷ niệm vẫn có với họ ngay nơi chiếc quán này. Đêm 30 năm xưa, chúng tôi còn ngồi với nhau, uống từng cốc rượu và uống cả nỗi suy nghĩ của nhau. Bạn bè chia thành hai nhóm chủ trương: ra đi và ở lại. Nhóm này đả kích nhóm kia, hăng say kịch liệt; để rồi khi giao thừa đến, vẫn nâng cốc chúc mừng nhau thêm một tuổi đời mới.

Đêm 30 năm nay, phần lớn nhóm bạn ngày nào đã vùi thây dưới biển. Cơn mộng vỡ tan rồi. Cảnh cũ còn đây mà người xưa đi đâu mất? Có còn chăng chỉ là nỗi ngậm ngùi rơi xuống trên những người ở lại, đêm 30 ngồi khóc bạn bằng những ly rượu đắng giữa một giòng đời đang vội vã đón chào Xuân...

Đâu đây, tiếng pháo giao thừa bắt đầu nổ vang lên.

[]

VII

Paris. Đêm Ba Mươi Tết âm lịch.

12 giờ khuya từ quán café làm việc trở về, đã vào giường rồi mà tôi còn nghe tiếng bấm chuông gọi cửa. Vài người bạn quen ở Paris tìm đến chúc mừng năm mới. “Đêm Ba Mươi nơi xứ người mà nằm nhà thì buồn lắm”, họ bảo. “Chúng mình đi kiếm cái gì uống đi!” Tôi nghĩ nhanh đến nỗi vắng vẻ trong tâm hồn và cả trong ngôi nhà đêm Ba Mươi Tết. (Mẹ tôi và đứa con trai nhỏ đã xuống Marseille thăm gia đình người anh lớn từ tuần trước). Sự quạnh hiu làm chùng tâm thức. Nên, khoác áo dạ, đội mũ laine, theo bạn bè lội tuyết đi tìm rượu uống.

Quán xá đóng cửa gần hết. Phải đi vòng trọn khu Quartier Latin mới tìm thấy một cái quán của người Ả Rập còn mở cửa khuya. Chai cognac được gọi ra với một dĩa ô-liu và một khoanh phó-mát. Thêm vài miếng khô nai thơm lừng mùi xả. Thế là đã đủ cho một đêm giao thừa nơi đất khách xa xôi.

Tất cả chúng tôi ai cũng buồn và ít gặp nhau. Thảng hoặc chỉ là điện thoại hỏi thăm sức khoẻ của nhau. Người Việt Nam ở Paris không nhiều, nhưng cũng không quá ít. Ai cũng bận bịu theo vấn đề cơm áo. Vì vậy, tình thân khó nẩy nở nếu không phải là giữa những người có cùng một điểm giống nhau trong đời sống hay trên nghề nghiệp. Điểm giống nhau giữa tôi và những người bạn này là “sự cô đơn”.

Đêm Ba Mươi Tết trên xứ người, chúng tôi ngồi uống rượu, nhìn tuyết rơi. Phố xá vắng tanh. Dòng đèn đường soi sáng càng nhiều hơn trong tim mỗi người sự đơn lẻ. Ai nấy lặng im uống từng hớp rượu, uống cả nỗi sầu nhớ nhà vào máu. Rồi, dường như không chịu nổi, một người bạn kêu to: “Chúng mình hát đi! Hát mừng năm mới đi!” Và anh đứng lên xin chủ quán cho được sử dụng cái đàn dương cầm đang nằm lẻ loi trong góc. Cả bọn cùng hát. Trong tiếng hát như có pha màu nước mắt. Giòng nhạc Xuân vang lên suốt những ngày trước Tết trên các băng tầng phát thanh trong quê hương ngày cũ, bấy giờ được cất lên trong một không gian lạnh lẽo, xa vời.

Có cái gì đó thật ấm len giữa mọi người? Một điều gì thân ái như mùi trầm nhang trước bàn thờ tổ tiên trong đêm trừ tịch? Một điều gì nồng nàn ngát thơm như mùi pháo Tết? Và cũng điều gì đó thật dịu dàng như đôi mắt mẹ hiền cứ mãi trông chờ những đứa con xa...

Đêm Ba Mươi trên xứ người, chúng tôi như một đám con nít bơ vơ ngồi bên nhau nhớ về bà mẹ quê hương cũ. Tôi biết rằng mình vẫn còn những người bạn. Những người bạn đến cùng một xứ sở, nói cùng một ngôn ngữ. Những con người đã từng có những dòng kỷ niệm nơi dải đất xa vời yêu dấu ấy, như tôi. Bên   ngoài, tuyết rơi mỗi lúc mỗi nhiều hơn...

Tháng 2/1979. Lưu diễn Phước Tỉnh, Đồng Nai.

Đồng Nai là tỉnh đầu tiên của miền đông Nam phần, bắc giáp tỉnh Lâm Đồng; nam giáp biển Nam Hải; đông giáp tỉnh Thuận Hải; tây và tây-bắc giáp tỉnh Sông Bé và thành phố Hồ Chí Minh. Tỉnh Đồng Nai trải dài ra trên thung lũng sông Đồng Nai và một chi lưu của nó là sông La Ngà. Đất tiếp với các cao nguyên Lâm Viên và Di Linh nên hơi cao; phần lớn là đất đỏ, luôn cả đất xám, phù sa cũ, nên việc trồng trọt ở đây rất thuận lợi.

Trạm đến thứ nhất trong chuyến lưu diễn Miền Đông là Phước Tỉnh, một vùng ven biển thuộc huyện Long Đất, tỉnh Đồng Nai. Chúng tôi phải bỏ Sàigòn từ sáng sớm Mồng Ba. Phố xá muộn màng im ngủ. Chiếc xe rời thành phố âm thầm, giống như cõi lòng chúng tôi vẫn âm thầm tiếc nuối mấy ngày nghỉ Tết.

Xe đến Phước Tỉnh khi vừa tang tảng sáng. Hơi sương còn đọng trên các cành dương. Anh em công nhân bắt tay ngay vào việc dựng sân khấu cho kịp hát hai xuất. Anh tổ trưởng Tân Nhạc bảo nhỏ tôi: “Anh em mình đi kiếm cái gì uống ‘giải nghễ’ đi rồi hãy về nhận chỗ ngủ. Đêm qua anh nhậu say quá.” Vậy là cả nhóm Tân Nhạc mỗi người một xắc tay, kéo nhau đi tìm quán café.

Sau 75, một điều làm nổi bật sắc thái lè phè của dân Miền Nam là hình ảnh các quán café. Đâu cũng có quán café, từ thôn quê cho đến thành thị hay các vùng hẻo lánh chân trời góc biển. Quán nào cũng đông khách.

Buổi sáng ở Phước Tỉnh, không khí thật trong lành. Cái quán chúng tôi đến đã mở cửa từ sớm. Rải rác đây đó là các bác phu xe lôi đang oang oang trò chuyện. Cả đám Tân Nhạc ngồi trên những cái đẩu thấp, chụm lại chung quanh một thân cây cưa ngang được dùng làm bàn. Trời thật lạnh. Ai nấy co ro, so vai rụt cổ. Biết bao câu chuyện được phô bày một cách đầy hứng thú. Chuyện Tết nhất. Chuyện bài bạc. Chuyện rượu chè. Luôn cả chuyện “má sắp nhỏ” cằn nhằn sao đoàn lại ra đi khi chưa hết Tết.

Tôi cảm động nhìn từng người bạn. Ai cũng có những hoàn cảnh khó khăn, những khổ tâm riêng; nhưng tất cả mọi nỗi này đều được che giấu dưới những những nụ cười dễ dãi. Trong xã hội sau 75, tình bạn là một nhu cầu cần thiết. Và tình bạn trong xã hội cải lương lại còn cần thiết hơn. Vì những điều kiện chung mà vô tình sự đoàn kết chặt chẽ nẩy sinh giữa những cá nhân trong từng tổ riêng của đoàn. Tình bạn cũng phát sinh từ đó. Trong tổ Tân Nhạc, 7 người chúng tôi thân nhau như anh em. Những buổi café, những   buổi rượu chia xẻ cho nhau cũng hứng thú như những bản đàn vẫn tấu với nhau 30 phút trước mỗi giờ hát. Không có sự phân biệt nam nữ trong tình cảm ấy. Tất cả đều có chỗ đứng độc lập và cùng được tôn trọng theo khả năng riêng.

Trong đoàn, tôi cũng thân với Hạnh, một nữ diễn viên nổi tiếng, bạn với nhau từ khi còn ngồi ở bậc Trung học. Nhưng trên những sinh hoạt chung của đoàn, so với tình đoàn kết cho 6 anh em trong tổ Tân Nhạc thì tình thân cho cô bạn này có phần khác đi.

Sáng sớm Mồng Ba, chúng tôi ngồi với nhau nơi chiếc quán của một vùng ven biển đìu hiu xa thành phố. Những điếu thuốc lá đen được chuyền tay nhau. Những ly café nóng đã là những lời chúc mừng đầu năm cho tình bạn chúng tôi, thân ái, nhẹ nhàng như tiếng thì thào không ngớt của biển.

[]

Paris. Mỗi buổi trưa đón xe buýt đi làm, tôi đều nhìn thấy nơi trạm đợi có một người đàn bà Pháp độ năm mươi tuổi, thân hình gầy yếu nhưng ăn vận chải chuốt, ngồi nói lầm bầm trong miệng. Bao nhiêu chuyến xe đến rồi đi cũng không thấy bà bước lên bục gỗ. Thoạt đầu, tôi ngỡ bà còn đang đợi chuyến xe như ý muốn; sau mới biết bà là một người đãng trí, ngây ngây.

Có bữa ngồi đối diện, trộm nhìn thì thấy khuôn mặt bà trông rất tinh anh sáng láng. Thuở thanh xuân, bà hẳn phải là một người rất đẹp. Bà không lưu ý đến ai chung quanh, một cuốn sách luôn mở ra để trên đùi, đôi mắt chú mục vào đó, miệng lầu bầu không ngớt.

Một bữa khác, chỉ còn tôi với bà nơi trạm đợi. Bà chợt ngửng nhìn tôi rồi kêu lên: “A! Cô nhỏ Chinoise!” Tôi chữa: “Không phải. Tôi là người Việt Nam.” Thế là bà đâm vui vẻ hẳn, quay sang chuyện trò với tôi cách thân mật tưởng như lâu ngày quen biết. Trong đôi mắt bà, nét tinh anh lần lần hiện rõ. Một thoáng, tôi lạ lùng không tin rằng đang trò chuyện với một người đãng trí, ngây ngây.

Bà nói thao thao về lịch sử cận đại của nước Việt Nam. Lối nói của bà lôi cuốn đến độ tôi trễ mất một chuyến xe buýt cách quãng ba mươi phút lúc nào chẳng biết. Tôi hỏi bà tại sao lại lưu tâm đến lịch sử nước tôi như vậy? Bà nhẹ nhàng đáp: “Cha tôi từng là lính viễn chinh trong quân đội Pháp tại Việt Nam hồi đầu thế kỷ. Sau này trở về nước lập gia đình, ông vẫn nhớ đến Việt Nam, vẫn kể cho lũ con nghe về cái xứ nhỏ bé nhưng có rất nhiều cảnh đẹp và nhiều những con người đáng yêu, mộc mạc. Khi lớn lên, tôi lập gia đình với một thanh niên Việt Nam du học Pháp từ năm 51. Điều tôi ao ước là được một lần theo anh ấy về thăm cho biết cái xứ xa xôi mà cha tôi kể rằng ‘đã đến rồi thì không còn muốn bỏ đi!’, nhưng chồng tôi luôn luôn từ chối. Nói về Việt Nam, anh ấy còn tỏ ra khinh thường và ghê tởm nữa. Tôi không hiểu tại sao. Bây giờ tôi đã già. Vợ chồng tôi ly dị. Cái ước mơ tuổi trẻ cũng tàn đi theo năm tháng. Nhưng hễ mỗi lần nghĩ tới Việt Nam là tôi vẫn nhớ hoài những lời cha tôi nói ngày xưa.”

Tôi không tỏ bày gì với bà về quê hương tôi hay về người chồng Việt Nam bà đã tâm sự. Tự trong đáy tim, tôi đâm ra có thiện cảm với bà mỗi bữa mỗi nhiều. “Tình quê hương trong lòng mỗi người sâu dày như quá khứ,” tôi nói với bà điều ấy. Và thêm, nhưng cũng từ bà mà tôi thấm cảm được càng nhiều hơn những cái gì liên hệ đến quê hương.

Mồng 6 Tết (1979),

hát Phước Hải, huyện Long Đất, tỉnh Đồng Nai.

Qua đến Phước Hải, đoàn lưu lại một tuần. Ngày đã hết mùi Tết, phố xá đìu hiu, câm nín. Trên nét mặt của các người dân miền biển chẳng nói lên được điều gì ngoài một nỗi dửng dưng, chịu đựng. Riêng có ngọn gió heo heo thoảng qua   không gian mới là điều nhắc tôi nhớ rằng đâu đây vẫn còn sự hiện diện của nàng Xuân.

Trong cuộc đời, tôi vẫn yêu ghê gớm ngọn gió lạnh những ngày trước và sau Tết Nguyên Đán. Trong gió có vương màu Xuân xanh. Trong gió có thơm mùi kỷ niệm. Kỷ niệm những ngày thơ ấu, cứ mỗi mùa Tết đến là đêm đêm các chị em tôi lại đi nhặt hoa vông rơi nơi đầu ngõ. Những cánh hoa màu đỏ lả tả bay trong gió đã gợi lên biết bao cảm xúc thơ ngây ngay từ ngày ấy, chiếm lấy một chỗ đứng vững vàng trong ký ức; để rồi cứ mỗi mùa gió tháng Chạp là tôi lại nhớ đến màu đỏ của hoa vông.

Tuổi thơ nào cũng đẹp, cho dù có là tuổi thơ trong một đất nước tơi bời bom đạn. Thì những cánh vông lả tả bay trong gió đẹp một cách nhạt nhòa –như dòng nước mắt trên khuôn mặt mẹ tôi bên xác cha, khi tôi còn rất bé--, đã chính là tuổi thơ của tôi. Màu đỏ của hoa được nhìn như màu đỏ của dòng máu rỉ ra bên mép cha tôi trong giây phút cuối. Và ngay từ thuở ngày xưa, tôi đã gọi màu đỏ là màu biệt ly.

Một tuần lễ ở Phước Hải, bầu trời xám xịt đầy mây. Những cụm mây phiêu du về nơi chân trời tím. Những cụm mây lang thang như bước chân tôi trên biển một mình. Ngọn gió lạnh bỗng càng thêm vồn vã; và tôi tưởng như mình đang tìm lại được chút nào tuổi thơ.

Cho tôi lại ngày nào

Trăng lên đầu ngọn cau

Me tôi ngồi khâu áo

Bên cây đèn dầu hao...

Có lẽ tôi chết mất thôi trong bốn bức tường kiên cố của kỷ niệm. Chết, nhưng trên đôi môi vẫn nở nụ cười sảng khoái.

[]

Paris. Cách ngôi nhà tôi ở chừng một trăm mét có một cặp vợ chồng Việt Nam độ sáu mươi tuổi cư ngụ trong một căn của dãy chung cư do chính phủrợ cấp. Hai ông bà được một cậu con trai du học đã lâu, bảo lãnh sang Pháp. Người chồng dáng dấp hiền lành gầy yếu. Bà vợ cũng xấp xỉ tuổi ông nhưng khoẻ mạnh lanh lợi hơn nhiều. Mỗi lần gặp ông trên đường phố, tôi vẫn chào hỏi. Nhưng kể từ khi nghe câu chuyện “gà gáy” của ông, tôi càng thêm quý mến ông.

Ở Paris, người dân không được quyền nuôi gia súc trong nhà như người Việt Nam vẫn làm nơi quê hương xa lắc. Ông gốc Bến Tre, lại rất mê nghe tiếng gà gáy buổi sáng. Vì vậy, ông cố tìm mua cho được một con gà trống tơ, đem về vuốt ve ngắm nhìn cả ngày không chán. Thế rồi, một buổi sáng sớm, trái tim ông bỗng như ngừng thở khi nghe tiếng cánh gà đập xoàng xoạc, rồi một giọng gáy cất lên lanh lảnh. Ông nhắm nghiền mắt, say sưa theo tiếng “ò ó o” quen thuộc kéo dài từng chặp. Và ông tưởng như đang nằm trên bộ ván ngựa trong ngôi nhà ba gian của ông ở Bình Đại, Bến Tre.

Đột nhiên, có tiếng bà vợ la lớn: “Ba nó dậy bịt mỏ con gà lại đi, coi chừng phú lít tới.” Ông hoảng hồn trở về với thực tế, tung chăn phóng ngay xuống bếp, đến bên chuồng gà, giơ tay đập đập lên làn kẽm lưới. Con gà nhẩy chồm chồm trong chuồng, tiếng kêu quang quác của nó làm náo động hẳn căn bếp. Bà vợ đứng sau lưng ông, la lên bai bải: “Bắt nó ra, bịt   mỏ nó lại!” Ông mau chóng làm theo lời bà, chụp lấy cổ gà bóp nhẹ. Con vật dãy dụa một lát, sau cùng nằm im chịu trận trong tay ông.

Từ đó, cứ mỗi sáng sớm là ông lại thức giấc đến bên chuồng gà ngồi canh đợt gáy thứ nhất của nó. Qua đến đợt thứ hai là ông vội vàng chụp lấy mỏ gà nắm chặt, mặc cho đôi cánh của nó vùng vẫy lung tung. Gặp tôi giữa đường, ông kể cho nghe câu chuyện mỗi sáng nghe gà gáy, rồi cười: “Đã lắm cô ôi! Tui cứ có cảm tưởng như đang nằm ở quê hương mình mỗi khi nghe nó cất tiếng gáy.”

Bẵng hai tháng sau, gặp lại ông, hỏi thăm về con gà trống tơ, tôi thấy ông lắc đầu: “Mụ quản lý chung cư nghe báo cáo là tui có nuôi gà trong nhà, gáy o o sáng sớm không ai ngủ được, nên mụ đòi kêu phú lít. Bà xã tui năn nỉ miết, cho luôn mụ con gà về làm thịt, mụ mới tha cho.” Rồi ông cười buồn: “Tụi Tây nó văn minh quá, quen nghe tiếng động cơ máy móc, nên không thấy tiếng gà gáy buổi sáng là điều thú vị. Chứ nếu nó chịu khó nhận ra, chắc là nhà ai cũng có thể từng bầy, tha hồ nghe tiếng gáy, đã lắm cô hả?”

Vũng Tàu, cuối tháng 2/1979.

Vũng Tàu ở về phía nam tỉnh Đồng Nai, cách Sàigòn 125 cây số. Thời nhà Nguyễn, khu vực Cần Giờ, Vũng Tàu, Bà Rịa là hai vùng trấn biên, phòng giữ vịnh Ghềnh Rái và đường sông lên Biên Hòa, Gia Định. Sau khi chiếm được Nam Kỳ, thực dân Pháp chia tỉnh Biên Hòa thành ba tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một. Vũng Tàu thuộc tỉnh Bà Rịa.

Sau hiệp định Genève, thời Việt Nam Cộng Hòa, năm 1957, hai tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa được chia thành bốn tỉnh: Biên Hòa, Phước Tuy, Phước Long, Long Khánh. Vũng Tàu thuộc tỉnh Phước Tuy.

Sau khi thống nhất hai miền, tháng 1/1976, các tỉnh Biên Hòa và Bà Rịa cũ hợp nhất lại thành tỉnh Đồng Nai. Vũng Tàu thuộc tỉnh Đồng Nai.

Đoàn di chuyển ra Vũng Tàu, một thị xã du lịch xinh đẹp có nhiều bãi tắm nằm dọc theo bờ biển, trong đó có những bãi vòng quanh chân núi Lớn (cao 245m) và chân núi Nhỏ (cao 170m). Ngoài những bãi tắm, Vũng Tàu còn có Thích Ca Phật Đài, Niết Bàn Tịnh Xá đều là những thắng cảnh nổi tiếng, lôi cuốn được rất nhiều du khách. Trên đỉnh núi Nhỏ (còn gọi là núi Tao Phùng) có ngọn hải đăng cao 18m với luồng ánh sáng chiếu xa 30 hải lý, đêm đêm phát ra hai vũng sáng dài kế tiếp nhau quay tròn trên bầu trời thị xã, giúp cho thuyền bè ngoài khơi được dễ dàng đi lại trên biển đêm.

Sau 1975, dẫu rằng tất cả mọi tuồng hát đều phải viết theo một hệ thống bắt buộc và tất cả các nghệ sĩ phải khép mình vào những quy luật chung, nhưng ngành nghệ thuật sân khấu vẫn là ngành được chế độ ưu đãi nhiều nhất. Với chủ đích tuyên truyền cho chủ nghĩa mà nhà nước nhắm vào để khai thác và đòi hỏi nơi người nghệ sĩ, thì đổi lại, người nghệ sĩ cũng được hưởng những dễ dãi nào đó đã không được ban hành trong dân chúng nói chung.

Phải viết rằng, giữa một xã hội đảo điên về mọi mặt, những chuyến lưu diễn chính là một cuộc nghỉ hè dài tôi may mắn được cùng tham dự. Trên những bước giang hồ ấy, tôi có dịp biết đến nhiều vùng trời quê hương thăm thẳm, tiếp xúc với đủ giới người và chứng kiến biết bao hình ảnh, sự việc; một điều không dễ gì tìm thấy trong cuộc sống định cư.

Những ngày Vũng Tàu, tôi thường ra biển thật sớm khi bình minh chưa ló dạng. Mùa này trời hãy còn lạnh nhưng bãi biển vẫn không vắng người tắm. Lang thang trên bờ cát mịn, nhìn xa xa những chiếc thuyền nhỏ xíu giữa một vùng bao la trời, nước, tôi hình dung đến các chuyến ghe vượt hải phận mỗi ngày trên khắp các vùng duyên hải Việt Nam. Đã có bao nhiêu người thoát được cơn giận của đại dương? Bao nhiêu người vùi thây dưới biển? Có bao nhiêu người đến được an toàn bờ bến? Và bao nhiêu người chịu thua định mệnh? Thứ định mệnh khắc nghiệt, tàn bạo –giống như Shakespeare đã viết trong Roméo & Juliette: “Trong cuốn sổ đoạn trường, tên chúng ta cùng ghi ở một dòng...” (Dans le livre du destin, nous sommes sur la même ligne...), mà cho dù ở lại hay ra đi, người dân Việt Nam vẫn không thoát được nó.

[William Shakespeare, nhà soạn kịch lừng lẫy người Anh cuối thế kỷ 16 (1564-1616). Tác phẩm Roméo & Juliette của ông được viết vào năm 1594-1595.]

[]


(*) Alphonse Daudet, nhà văn Pháp (1840-1897) rất nổi tiếng với tập Lettres de mon Moulin được viết ra năm 1866. Câu chuyện Các Vì Sao là một đoản thiên trong tập ấy.

 

 

     


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com