1204-world.gif (4030 bytes)
posted: 30.11.04

Kính gởi trang nhà Giao Điểm.

     Bài viết dưới đây, tôi đã gởi đến trang nhà “Chứng Nhân Đức Kitô” và đề nghị cho đăng, nhằm mục đích “đối thoại” với những người chủ trương trang nhà này. Nhưng yêu cầu của tôi không được đáp ứng. Điều đó chứng tỏ người Công giáo rất sợ “đối thoại”, dù hiện nay họ là những người đang kêu gọi “đối thoại” ầm ĩ nhất.

     Vậy kính đề nghị trang nhà Giao Điểm cho đang bài này, và nếu có thể được, xin Giao Điểm giới thiệu bài này đến các trang nhà khác, có cùng chung quan điểm với người viết, để độc giả người Việt trên khắp thế giới thấy được thực chất của việc “đối thoại”, “hội nhập văn hóa” do Vatican chủ trương, và những người Công giáo Việt Nam đang thực hiện trên các phương tiện truyền thông hiện nay chỉ là một trò lừa bịp!

     Nhân đây cũng kính đề nghị với Giao Điểm liên lạc với các tác giả là tu sĩ Phật giáo như qúy Thầy Thích Minh Châu, Thích Thiện Siêu, hiện đang có bài đăng trên trang nhà “Chứng Nhân Đức Kitô”, hỏi xem các vị này hưởng ứng tham gia “liên tôn” từ lúc nào? Vì theo tôi nhận thấy, bài của qúy Thầy đặt bên cạnh những bài viết bôi bác đạo Phật, được ngụy trang dưới lớp vỏ “hội nhập văn hóa”, “đối thoại”…là một sự sỉ nhục không chỉ với bản thân qúy Thầy mà còn với cả đạo Phật… 

Kính.

Hoàng Vũ

giacopvu@yahoo.com

(Dưới đây là nội dung bài viết)

__________________________

ĐẢ THÔNG ĐỂ CẢM THÔNG

Kính gởi trang nhà Chứng Nhân Đức Kitô.

     Tôi mạnh dạn viết bài này gởi đến qúy vị. Sở dĩ gọi là “mạnh dạn” vì nội dung bài viết có thể không được qúy vị chấp nhận. Tất nhiên cũng với nội dung này, bài viết có thể được đón nhận ở những trang nhà khác… Nhưng tôi quyết định gởi cho qúy vị vì một lời mời gọi xem ra rất chân thành, khiêm nhường: “rất hân hạnh được tiếp đón các Tôn giáo bạn và tất cả mọi người”, khi trên trang nhà  chungnhanduckito.net mở trang “Nhịp Cầu Cảm Thông”.

     Thưa qúy vị, tôi được bạn bè giới thiệu trang nhà chungnhanduckito.net và được nhận qua @ Bán nguyệt san điện tử “Chứng Nhân Đức Kitô”, đến nay đã là số thứ 7… Tôi đã đọc tất cả các bài viết của qúy vị với một thái độ nghiêm túc. Tất nhiên có những bài viết không mấy hài lòng. Nhưng thây kệ! Nói theo thánh kinh: “ai có tai thì nghe!…”, ai không muốn nghe cứ bịt tai lại… Tôi thì không đến nỗi phải “bịt tai”, và dù hài lòng hay không, tôi cũng cứ đọc với hy vọng “mở rộng tầm nhìn”, bổ sung thêm lỗ hổng kiến thức vốn rất hạn chế của bản thân… Lại nữa, cũng muốn tìm một sự đồng cảm ở những người Công giáo Việt Nam, những người cùng với tôi đều là “con Rồng, cháu Lạc”… Với ý nghĩ như trên, dù thích hay không tôi vẫn cứ đọc   để nâng tầm hiểu biết mà không cần “có ý kiến”. Nhưng khi qúy vị mở trang “Nhịp Cầu Cảm Thông”, với lời mời gọi chân tình “…hân hạnh được đón tiếp các Tôn giáo bạn và tất cả mọi người”,  tôi mới quyết định chấp bút viết bài này gởi đến qúy vị…

1. LÀM THẾ NÀO ĐỂ CÓ ĐƯỢC SỰ CẢM THÔNG?

     Tôi đã tham quan “Nhịp Cầu Cảm Thông”, đã thấy những bài viết của các tu sĩ Phật giáo như Thích Minh Châu, Thích Thiện Siêu, bài viết về Cao Tăng Tây Tạng Đức Đạt-Lai Lạt-Ma, bên cạnh những bài viết về đối thoại, hội nhập văn hóa, về Phật giáo như “Lễ hội Vu Lan” của Gs. Nguyễn Chính Kết… Nhưng lạ lùng thay! sự đồng cảm vẫn chưa thể đến, dù tôi rất muốn, rất cố gắng… Dù sao “nhịp cầu” mà qúy vị vừa bắc tỏ rõ thiện chí “đón tiếp các Tôn giáo bạn và tất cả mọi người” cũng là một trong những lý do thôi thúc tôi viết bài này.

     Nhưng thưa qúy vị! Làm thế nào để có được sự “cảm thông”? Tôi cho rằng, muốn “cảm thông” thật sự, trước tiên cần phải “đả thông”. Theo Từ Điển Tiếng Việt của nxb Khoa Học Xã Hội, “đả thông” là làm cho hiểu và đồng ý… Nhưng theo thiển ý của tôi, nghĩa đen đôi khi lột tả chính xác, mạnh bạo đến nỗi có thể gây sốc, xoáy vào đúng chủ đích của vấn đề, mà nghĩa bóng chỉ mang lại những giải thích chung chung, mơ hồ, không có tác dụng động não… Trong bài viết này, người viết mạo muội đề nghị một lối hiểu: động từ “đả” có nghĩa là “đánh”, “thông” là xuyên suốt. Tính từ “thông” dùng làm phó từ, bổ nghĩa cho động từ “đả”, nhằm lột tả một cách chân xác động thái “đánh”, mà phải đánh cho “thủng” mới xuyên suốt được, như thế gọi là “đả thông”…

     Cảm thông mà chưa đả thông thì thường chỉ có “cảm”, “thông” chưa chắc đã có, đây chỉ là sự đồng thuận cảm tính, thiếu lý trí. Ngược lại, Nếu cảm thông là hệ quả của đả thông, thì sự cảm thông này mới thật sự giá trị, một sự Cảm Thông Trí Tuệ. Điều này quan trọng vì Trí Tuệ vun đắp tình cảm, đồng thời tránh được những phản ứng thuần cảm tính kiểu phản ứng Pavlov.  

       Tôi phải dài dòng như thế để nhập đề chỉ vì nhiều bài viết trên trang nhà của qúy vị thuộc phạm vi “chiến lược mục vụ” như: “Đối Thoại”, “Hội Nhập Văn Hóa”, nghĩa là những vấn đề khá nhạy cảm, liên quan (đụng chạm) đến văn hóa dân tộc, đến các tôn giáo khác… Nội dung nhiều bài viết rất tiêu cực, để đạt được mục tiêu “truyền đạo”, đề cao Kitô giáo, các vị đã không ngần ngại dùng thủ đoạn bôi đen, xuyên tạc, hạ thấp các “tôn giáo bạn” một cách thô bỉ. Trong những trường hợp như vậy, không thể có chuyện cảm thông, nếu chưa đả thông. Chính vì thế, tôi đã đặt tiêu đề cho bài viết này là: “Đả Thông Để Cảm Thông”

 2. LINH MỤC NGUYỄN HỮU DUY VỚI “ĐỐI THOẠI LIÊN TÔN”

       Trước hết, xin đặt vấn đề với Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Duy. Đoạn văn sau đây trích từ bài “Đạo Hiếu & Liên Tôn” của Lm.

     “Theo nguyên tắc chỉ dẫn việc tôn kính Thần Hoàng của HĐGM đã nêu, thì nếu đi chùa như là đến với một di tích văn hóa giá trị, tôn kính Đức Phật như là một vĩ nhân thì không sao cả. Cha Piô Ngô Phúc Hậu tâm sự trong Nhật Ký Truyền Giáo khi trả lời cho một bà già chuẩn bị theo đạo hỏi : “Cha ơi, tôi theo đạo Phật từ nhỏ. Tôi thương Đức Phật quá. Bây giờ tôi theo Chúa, cha cho tôi giữ bàn thờ Đức Phật nha ! Mới 29 tuổi đời và một tuổi mục tử, mình thấy bối rối trước một yêu cầu như thế. Bổng mình nhớ đến thầy Luca Huy. Thầy Luca Huy dạy mình rằng : Phải tôn trọng đạo Phật, phải kính trọng Đức Phật”. Chính thầy Huy cũng có một tượng Phật để trên bàn viết. Bà Cụ năn nỉ : “Đức Phật tốt lắm cha ạ. Tôi thương Ngài lắm.”- Tôi đề nghị với bà thế này: Chúa thì để trong lồng kiếng, còn Đức Phật là hiền nhân thì để kế bên Chúa. Bà chịu không?-Tôi chịu vậy đó- Bà cứ thương Đức Phật đi. Tôi cũng thương ngài nữa.

     Không biết bạn đọc cảm nhận đoạn viết trên thế nào? Riêng tôi, tôi thấy nó đêu đểu làm sao ấy! Đểu ở chỗ, nếu nó chỉ là những trang nhật ký bình thường của Lm Ngô Phúc Hậu ghi lại cho chính mình hoặc cho đồng nghiệp, đồng đạo của ông thôi, thì không nói làm gì. Đằng này Lm Nguyễn Hữu Duy lại vận dụng nó vào một bài viết gọi là “Đạo Hiếu & Liên Tôn” nhằm mục đích “đối thoại”. Tất nhiên không phải để đối thoại với bà cụ nào đó “theo Chúa mà vẫn còn thương Phật”, lại càng không phải đối thoại với tín đồ Kitô giáo, mà là “đối thoại liên tôn”, nghĩa là “đối thoại” với những người thuộc các tôn giáo khác, đặc biệt nhằm vào đối tượng Phật tử chưa bị  Kitô  giáo ảnh hưởng. “Đối thoại” với giọng điệu như trên thì đểu qúa đi chứ!…

     Qúy độc giả sẽ nhận ra cái giọng đểu của nó khi đọc tiếp phần còn lại của bài viết.

     “Tôn trọng tôn giáo bạn, các nền văn hóa, các bậc vĩ nhân... còn phát xuất từ một nguyên lý sâu hơn là “tất cả đều tồn tại trong Người” (Cl 1, 17) và việc Chúa Cha dùng Thần Khí cải tạo môi trường để hạt giống Tin Mừng nẩy mầm.”

     Lm Nguyễn Hữu Duy đã bộc bạch thẳng thừng cung cách “đối thoại” của ông. Rằng, sở dĩ phải “tôn trọng tôn giáo bạn, các nền văn hóa..” “tất cả đều tồn tại trong Người”. Độc giả phi Kitô giáo chú ý: “Người” (viết hoa) ở đây chính là “chúa” của Kitô giáo. Nếu đọc lơ tơ mơ đoạn đối thoại của Lm Ngô Phúc Hậu với một bà cụ vô danh: “Bà cứ thương Đức Phật đi, tôi cũng thương ngài nữa”. Hoặc lời dạy của thầy Luca Huy nào đó: “Phải tôn trọng đạo Phật, phải kính trọng Đức Phật”… chắc chắn người đọc sẽ bị đánh lừa về môt chủ trương cởi mở, thông cảm, tôn trọng đạo Phật của người Công giáo. Sự thật hoàn toàn ngược lại. Không hề có sự tôn trọng, thậm chí chà đạp, hạ bệ Đức Phật và đạo Phật khi khép Ngài và đạo của Ngài vào một nguyên lý giả định: “Tất cả đều tồn tại trong Người”. Tôi gọi là “nguyên lý giả định” vì nó chỉ được thừa nhận bởi 3% tín đồ Kitô giáo tại Châu Á, hoàn toàn không có giá trị đối với 97% số người còn lại trên lục địa này… Chưa hết, Lm Duy còn lập luận rằng: các tôn giáo khác nói chung, Phật giáo nói riêng, đều là “môi trường”“chúa cha dùng thần khí cải tạo” để những người như Lm Duy tha hồ “gieo hạt giống tin mừng nẩy mầm”

     Độc giả tinh ý sẽ thấy tính chất đểu không chỉ thể hiện trên nội dung các bài viết, mà nó còn thể hiện trong cung cách hành xử của những người chủ trương “Chứng Nhân Đức Kitô”, khi đặt những bài viết của các tu sĩ Phật giáo như Thích Minh Châu, Thích Thiện Siêu bên cạnh những bài viết bôi bác đạo Phật, được ngụy trang dưới lớp vỏ “hội nhập văn hóa”, “đối thoại”… Không biết các vị này hưởng ứng tham gia “liên tôn” từ lúc nào? Hay các vị cũng muốn làm “chứng nhân Đức Kitô”? Hay vì lòng từ bi mà mặc kệ, ai muốn làm gì thì làm!…

     Để cho việc “đối thoại” tăng thêm “tính thuyết phục”. LM Duy đã vận dụng cả Tông huấn “Giáo hội tại Châu Á”. Điều này chứng tỏ rằng, tính chất đạo phiệt của Vatican được điều phối một cách có hệ thống từ trên xuống dưới:

     “Thật vậy, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng sẵn sàng công nhận hoạt động của Thần Khí trong các xã hội, văn hoá và tôn giáo Á Châu, nhờ đó mà Chúa Cha chuẩn bị tâm hồn cho các dân tộc Á Châu đón nhận đầy đủ sự sống trong Chúa Kitô.” (Giáo Hội tại Á Châu, Số 20)”

     “Đối thoại” như thế chẳng trách tác giả Ngô Triệu Lịch trên trang nhà giaodiem.com gọi là “đối thoại ba trợn”, hoặc “làm thần học theo cung cách ba trợn”… Nay tôi xin bổ sung thêm một thuộc tính: “đối thoại đểu”. Các “Nghị Phụ Thượng Hội Đồng” của qúy vị nếu không đểu thì lấy quyền gì để công nhận sự hoạt động của “thần khí” (còn gọi là chúa thánh thần) trong văn hóa, tôn giáo Châu Á (trong đó có Phật giáo)?

     Lm Duy viết: “Đối thọai liên tôn là một vấn đề nhạy cảm. Đừng bới tìm những khác biệt mâu thuẫn trong giáo lý hay lịch sử, mà hãy tìm điểm chung để cùng liên kết với nhau trong mưu sinh cho nhân loại.”

     Như vậy khi chỉ ra cho bàn dân thiên hạ thấy được “thần khí thiên chúa” đang “hoạt động” trong Phật giáo để biến Phật giáo thành “môi trường” cho Lm Duy “gieo hạt giống tin mừng nẩy mầm”, là đã tìm ra được điểm chungrồi hay sao? Lm cũng biết nói: “Đừng bới tìm những khác biệt mâu thuẫn trong giáo lý hay lịch sử”. Đồng ý, vì người Công giáo thường có tâm lý rất ngại nhắc đến lịch sử liên quan đến các vấn đề thánh chiến, tòa án dị giáo, bê bối của các giáo hoàng thời trung cổ, hoặc dính líu với chủ nghĩa thực dân của các thừa sai trong lịch sử cận đại…

     Nhưng “mâu thuẫn trong giáo lý” thì sao? Theo tôi nghĩ, đối với Phật tử, chẳng ai rỗi hơi “bới tìm những khác biệt mâu thuẫn” giữa giáo lý Phật giáo và Kitô giáo, ngoại trừ trường hợp họ cảm thấy bị xúc phạm bởi người Công giáo lợi dụng “đối thoại” để xuyên tạc giáo lý Phật giáo. Trên thực tế, theo nhận định của Gs. Nguyễn Chính Kết: Đối thoại tôn giáo” là một nhu cầu không thể thiếu của Giáo Hội Công giáo đối với thế giới hôm nay. “Giáo Hội Công giáo đang là tôn giáo có nhiều nỗ lực nhất về mặt này.” Điều này có nghĩa là, trong khi các tôn giáo khác chưa có “nhu cầu đối thoại”, thì Giáo hội Công giáo chủ động tìm đến các tôn giáo khác gõ cửa đề nghị “đối thoại liên tôn”. Nhưng điều đáng trách ở đây chính là việc họ đã lợi dụng “đối thoại” để bóp méo, xuyên tạc giáo thuyết, hạ bệ Giáo Chủ của các tôn giáo khác, nhằm mục đích đề cao giáo lý Kitô giáo. Ví dụ: Khi người Công giáo nói “Đức Phật chỉ là “ngôn sứ” của thiên chúa.” Hoặc như Lm Cao Phương Kỷ đã từng viết trong cuốn “Thiên Chúa Giáo và Tam Giáo”: “Đức Phật đến chỉ để chuẩn bị cho ngày quang lâm của chúa Giêsu”. Trong những trường hợp như thế, người Phật tử mới “bới tìm” trong thánh kinh để chứng minh: “thiên chúa” của Kitô giáo thực chất chỉ là một ông thần của dân bán khai Do Thái, với đầy đủ các thuộc tính như: hung ác, tàn bạo, dâm loạn, không thể có tư cách so sánh với Đức Phật được… Họ nói có sách, mách có chứng, với đầy đủ những chứng cứ lấy ra từ Cựu Ước. Chứ không như Lm Cao Phương Kỷ viết “Đức Phật đến để chuẩn bị cho ngày quang lâm của Giêsu”, ông chỉ nói khơi khơi, không hề có những dẫn chứng thuyết phục… Nhân nhắc đến Lm Kỷ và quyển sách của ông, người viết bài này xin bái phục về sự cả gan của ông, khi viết về Phật giáo, lại chỉ tham khảo mỗi cuốn Phật Học Tinh Hoa của Nguyễn Duy Cần. chính sự lười biếng này mà giáo lý đạo Phật dưới ngòi bút của ông đã trở nên vô duyên, nhạt như nước ốc…

     Tại sao người Công giáo biết đề nghị “đừng bới tìm”, trong khi lại tự cho mình cái quyền được phép  “bới tìm” trong hệ thống giáo lý các tôn giáo khác, để  tìm những điểm có vẻ tương đồng, dùng thủ thuật đánh tráo khái niệm, nhằm đẳng thức hóa các vấn đề thuộc các hệ quy chiếu khác nhau, tạo sự đồng thuận giả hiệu, gây hiểu lầm cho cả những Kitô hữu lẫn Phật tử không có điều kiện tìm hiểu về hệ thống giáo lý các tôn giáo. Chỉ ở điểm này thôi, các vị đã bị nhiều người phê bình là “thiếu lương thiện trí thức”… 

3. GS NGUYỄN CHÍNH KẾT VỚI THỦ THUẬT ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM ĐỂ “HỘI NHẬP VĂN HÓA” 

     Thủ thuật đánh tráo khái niệm, gây ngộ nhận trong giới độc giả, được hầu hết các tác giả Công giáo sử dụng trong các bài viết “đối thoại”, “hội nhập văn hóa”. Bài “Việc độ vong trong Kitô giáo và Phật giáo” của Giáo sư Nguyễn Chính Kết trên trang nhà Chứng Nhân Đức Kitô cũng không ngoại lệ.

      Bài viết này tôi đã thấy xuất hiện trên nhiều trang nhà Công giáo như dongcong.net,  vietcatholic.net, tiengnoigiaodan.net…và cũng đã đọc trong cuốn “Ngôn Sứ Thời Đại Mới” của ông… Trong bài này, khi bàn về “lục đạo”, GS Kết giải thích “Thiên”, “Atula” theo “quan niệm của Phật giáo”(?) là một “loài thiên thần” (?) Chuyện đúng sai xin dành quyền trả lời cho các nhà Phật học. Ở đây, tôi chỉ xin qúy độc giả lưu ý về thủ thuật đánh tráo khái niệm không mấy lương thiện, được các tác giả Công giáo dùng để “đối thoại liên tôn” hoặc “hội nhập văn hóa”… Nhưng trước hết, để vấn đề được minh bạch hơn, mời qúy độc giả trở lại với “Bổn Đồng Ấu” do Giám mục Hồ Ngọc Cẩn biên soạn dưới dạng vấn đáp về “loài thiên thần” như sau:

       Hỏi: Thiên Thần là loài nào?

     Thưa: Thiên Thần là một loài thiêng liêng Chúa đã dựng nên để chầu chực phụng sự Người.

     Hỏi: Các Thiên Thần có được hưởng phúc trên Thiên đàng hết thảy chăng?
Thưa: Chẳng được hết, vì có một phần nghe theo bè thần Luxiphe phạm tội kiêu ngạo nên Đức Chúa Trời đã phạt xuống hỏa ngục.

       Tôi không muốn đưa ra các lý thuyết thần học “cao siêu” ít người hiểu, kể cả tín đồ Công giáo, mà chỉ muốn trưng dẫn “Bổn Đồng Ấu” để phổ cập hơn, vì bất kỳ tín đồ Công giáo nào, ngay từ thuở “đồng ấu”, cũng đã bị nhồi nhét mớ giáo lý này.

      Trong cuốn “Ngôn Sứ Thời Đại Mới”, GS Nguyễn Chính Kết biết phê bình Nguyễn Đăng Duy, tác giả cuốn “Văn Hóa Tâm Linh” không hiểu tín lý “Chúa Ba Ngôi”, ông Nguyễn Đăng Duy không thể phân biệt được “Chúa Thánh Thần” với “các thiên thần”… Thế nhưng Gs Kết lại muốn biến “Thiên”, “Atula” trong học thuyết Phật giáo thành cái gọi là “loài thiên thần” của Kitô giáo, nhằm đánh đồng cách hiểu trong những cái đầu “đồng ấu” của người Công giáo: “Thiên Thần (Chư Thiên) là một loài thiêng liêng Chúa đã dựng nên để chầu chực phụng sự Người” (?), một số “thiên thần xấu” (Atula) “nghe theo bè thần Luxiphe phạm tội kiêu ngạo nên Đức Chúa Trời đã phạt xuống hỏa ngục.” (?). Chính Gs Kết cũng đã khẳng định tín điều này khi “góp ý” với ông Nguyễn Đăng Duy: “Các thiên thần là một giống loài thiêng liêng được Thiên Chúa tạo dựng trước khi tạo dựng con người. Về sau, các thiên thần một số vì kiêu ngạo nên phản nghịch với Thiên Chúa nên trở thành ma qủy và bị phạt trong hoả ngục…” (xem bài: “Góp ý cho cuốn Văn Hóa Tâm Linh của Nguyễn Đăng Duy”).

       Rõ ràng Gíáo sư Nguyễn Chính Kết đã thực hiện đúng ý đồ sách lược “hội nhập văn hóa” để xâm lăng văn hóa do Vatican chủ xướng, khi “tinh lọc và đổi mới” học thuyết Phật giáo về  “Thiên”, “Atula” để chúng biến thành “loài thiên thần” của Kitô giáo: “Đây là con đường bắt buộc các nhà truyền giáo phải đi qua… các nền văn hóa khác nhau ấy, một khi đã được tinh lọc và đổi mới lại dựa vào Tin Mừng, sẽ trở thành những cách biểu đạt rất chính đáng đức tin duy nhất của Kitô giáo." Chính Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã phán dạy như thế qua Tông huấn Giáo hội tại Châu Á. Tất nhiên để làm được điều này, Giáo hoàng đã không quên nhắc nhở: “không thể xây dựng Nước Chúa mà không vay mượn một số yếu tố lấy từ các nền văn hóa nhân loại…” (Tông huấn GHTCA  số 21). Xin cảm ơn Giáo hoàng đã sổ toẹt cho 97% dân Châu Á hiểu: “nước chúa” của ngài cũng chỉ là một thứ phải đi “vay mượn” mới có… Tuy nhiên vấn đề là phải biết tôn trọng “luật chơi”, nghĩa là “vay” thì phải “trả”. Ngược lại, nếu “chơi” không sòng phẳng, “vay” mà không “trả”, như thế chỉ có thể gọi là “ăn cướp”, hay nói cho có vẻ “văn hóa” một chút là “xâm lăng văn hóa”.

     Nhờ thủ thuật đánh tráo khái niệm, Giáo sư Nguyễn Chính Kết mới có thể rút ra kết luận so sánh giữa Kitô giáo và Phật giáo:“tương đồng ở những nét rất căn bản, còn khác biệt ở những nét phụ thuộc” (?). Và, như một tập quán không thể thiếu của người cầm bút Công giáo, tác giả đã không quên nhận định hàm hồ về thuyết nhân quả, nghiệp, vô thường của Phật giáo chỉ là định luật tự nhiên tác động một cách máy móc…” khác với Kitô giáo “có Đấng cầm cân nảy mực...” Với nhận định có vẻ đúng đắn: “Trong Phật giáo, không có chỗ đứng cho một Thiên Chúa sáng tạo, một Thiên Chúa điều khiển và chi phối mọi sự.”, thực chất chỉ để phục vụ cho một luận điểm phê phán từ giáo thuyết đến hành trì trong Phật giáo là: “áp dụng những định luật tâm linh vốn tác động một cách máy móc để đạt mục đích” (?). Vậy là tác giả đã hoàn thành nhiệm vụ của một “ngôn sứ thời đại mới” chuyên viết theo đơn đặt hàng của Vatican

     Các tác giả Công giáo muốn làm “Chứng Nhân Đức Kitô?” Vâng! cứ tự nhiên! Có ai cấm cản gì đâu! Nhưng nếu các vị cố tình làm chứng gian, chứng dối theo kiểu bẻ cong học thuyết các “tôn giáo bạn” để đạt được mục đích riêng, các vị đã vi phạm “điều răn” mà người Công giáo thường đọc vanh vách: “Đạo Đức Chúa Trời có 10 điều răn… Thứ tám: Chớ làm chứng dối…”. Nếu “Đức Chúa Trời” làm ngơ, không phạt các vị, thì lương tri thời đại cũng không tha cho các vị…

     Để cuộc “đối thoại” do Vatican chủ trương, và những người tự nhận mình là “chứng nhân đức Kitô” đang thực hiện không biến thành “độc thoại”, mời qúy độc giả đọc trích đoạn dưới đây từ bài “Thần học Châu Á và tính chất ăn bám của nó” của tác giả Ngô Triệu Lịch, trên giaodiem.com.

     “Châu Âu đã không còn là đất dụng võ cho đức tin Công Giáo. Vatican đã thua ngay trên sân nhà, đức tin Công Giáo thực sự lâm vào cảnh chợ chiều chính tại cái nôi Châu Âu, nơi Constantine khai sinh ra nó, nơi mà nó tồn tại và phát triển trong suốt 17 thế kỷ nhờ vào thế và lực của Vatican, dựa trên sự câu kết với các thế lực chính trị, tham vọng của giai cấp thống trị, cộng với sức mạnh của giàn hỏa và toà án dị giáo… Thế lực ấy ngày nay không còn nữa.”

     “Châu Âu đã quay lưng với Kitô giáo, Đế quốc Công giáo Vatican đành phải chuyển hướng sang Châu Á. Tông huấn “Giáo hội tại Châu Á” là sự khởi đầu cho một kế hoạch dài hơi tại Châu Á của Vatican… Nhưng Châu Á không phải là cánh đồng hoang, muốn trồng gì thì trồng… Tại đây đã có sẵn hoa thơm, trái ngọt, Văn hóa Châu Á tuy đa dạng, nhưng lại là một sự tổng hòa, đan xen, quyện lẫn vào nhau để tạo thành một thứ minh triết, nuôi dưỡng tinh thần các dân tộc từ ngàn đời nay. Tam giáo ở Đông Á là một ví dụ”…

     “Đến với Châu Á bằng phong cách “bề trên”, nghênh ngang, xấc xược, nhưng thực chất lại là một kẻ “ăn mày văn hóa”, nhặt nhạnh những tinh hoa văn hóa Châu Á, nhưng không tiêu hóa nỗi, kết quả là những thứ thần học thuộc loại phó sản, thần học ăn bám ra đời.”

     “Để có thể thích nghi với môi trường văn hóa châu Á, họ chủ trương đối thoại, hội nhập văn hóa, làm thần học một cách vội vã, bừa bãi, khiến cho môi trường văn hóa Châu Á bị ô nhiễm nghiêm trọng”…

     Theo tác giả bài viết nêu trên, việc “suy tư thần học” một cách tuỳ tiện, rồi gán cho sự “linh hứng của chúa thành thần” theo kiểu Tông huấn Giáo hội tại Châu Á: “Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng sẵn sàng công nhận hoạt động của Thần Khí trong các xã hội, văn hoá và tôn giáo Á Châu, nhờ đó mà Chúa Cha chuẩn bị tâm hồn cho các dân tộc Á Châu đón nhận đầy đủ sự sống trong Chúa Kitô”. Ngô Triệu Lịch đã dùng một từ rất hình tượng: “nhét”. Thật vậy, “thần khí”, hay còn gọi là “chúa thánh thần” chỉ là một con ngáo ộp, phải được các nghị phụ thượng hội đồng “sẵn sàng công nhận”, thì “ngài” mới được phép hoạt động các xã hội, văn hóa và tôn giáo Châu Á! Vì vậy, Ngô Triệu Lịch đã viết: “… điều quan trọng và không thể thiếu là cố nhét “chúa thánh thần” vào, để “ngài linh hứng…”

     Cũng từ chuyện “cố nhét chúa thánh thần vào”, tác giả kết luận:

     “Qúy vị muốn làm thần học kiểu gì là quyền của qúy vị. Nếu lỡ xúc phạm đến các tôn giáo, văn hóa khác thì cá nhân quý vị chịu trách nhiệm. Nhưng nếu qúy vị cương ẩu, mang hồn ma bóng quế holy ghost, holy spirit mà các vị gọi là “chúa thánh thần” ra hù ma thiên hạ, bắt “ngài”chui vào các tôn giáo, hoạt động làm gián điệp cho qúy vị, như qúy vị vẫn thường nói: “Chúa thánh thần đã từng hoạt động trong các tôn giáo…” hay “chúa thánh thần cũng có mặt trong Phật giáo”… hoặc “chúa thánh thần” đã tác động vào cách làm thần học của quý vị, để quý vị viết nhăng, viết cuội… Qúy vị hãy coi chừng, người ta sẽ thộp cổ, vặt lông “chúa thánh thần” (chim bồ câu?) vì tội “hoạt động bất hợp pháp, tác động bừa bãi, linh hứng bậy bạ…”. Lúc đó qúy vị đừng trách sẽ không còn “chúa thánh thần linh hứng” cho qúy vị “làm thần học” nữa…”    

4. VĂN HÓA DÂN TỘC DƯỚI NGÒI BÚT CỦA LINH MỤC CAO PHƯƠNG KỶ

     Về những bài viết của Lm Cao Phương Kỷ, thú thật tôi phải hết sức cố gắng tự kìm chế mới có thể đọc hết bài của ông. Với bài LÀM THẾ NÀO ĐỂ GIÚP DÂN NƯỚC VIỆT TIẾN BỘ”. Chủ đề của bài viết là “giúp dân nước Việt tiến bộ”, nhưng nội dung bài viết không đưa ra được một chương trình cụ thể nào khả dĩ “giúp dân nước Việt tiến bộ” cả. Ngược lại, tác giả cố tình hạ thấp văn hóa dân tộc, theo “trường phái Nguyễn Gia Kiểng”. Nghĩa là chê văn hóa dân tộc đủ mọi thứ…

     Tôi nhận thấy Lm Kỷ viết quá tào lao. Lm Kỷ đã trưng ra những “nguyên cớ” mà ông cho là “tiêu cực cản bước tiến của dân Việt” như: “văn hóa lúa nước”, “văn minh nông nghiệp” đã tạo cho dân Việt “não trạng tâm thức văn hóa nông nghiệp”. Từ đó nẩy sinh ra “tư duy biểu tượng, đặc biệt là triết lý âm dương lưỡng hợp…”. Hệ qủa là tạo ra một thứ dân Việt nhu nhược, chờ thời… “Não Trạng Vòng Tròn”, tức là quanh đi quẩn lại, chạy vòng vo, chỉ “lập lại” cái cũ, chứ không sáng tạo điều mới lạ. Đây là một lý do cắt nghĩa tại sao trong mấy ngàn năm, người nông dân Việt không cải tiến được nông cụ và kỹ thuật canh tác để tăng năng xuất”. Lm Kỷ không hề biết Việt Nam hiện là một cường quốc lương thực, từng được xếp hạng ba thế giới, chỉ sau Mỹ và Thái Lan, chính nước Công giáo toàn tòng Philippines của Lm Kỷ phải nhập gạo của Việt Nam. Trong năm 2004 nước này đã phải nhập từ 8 trăm ngàn đến 1 triệu tấn gạo, trong đó có ít nhất là 2 trăm ngàn tấn nhập từ Việt Nam.

     Nếu Lm Cao Phương Kỷ còn quan tâm đến hiện tình đất nước, ít nhất ông phải biết những thông tin thuộc loại phổ thông nêu trên, biết để mừng cho người nông dân Việt Nam. Đằng này ông lại buông ra câu hỏi lạc lõng: “muốn mua một xe hơi, phải bán bao nhiêu tấn lúa gạo?”. Sao Lm Kỷ lại suy nghĩ đơn giản “bán gạo để mua xe hơi”? Đành rằng Việt Nam hiện nay còn nghèo so với nhiều quốc gia khác, nhưng Lm Kỷ có biết những người nông dân một nắng hai sương ở đồng bằng sông Cửu Long đã làm nên một “cường quốc lúa gạo”, không phải để “bán gạo mua xe hơi”, mà là bán gạo để mua tri thức. Điều này thấy rõ qua việc nhiều gia đình nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long nhờ hạt gạo mà họ khá lên, họ đã đầu tư kiến thức cho con em họ, rất nhiều gia đình có con tốt nghiệp đại học, nhiều gia đình có con em du học ở những nước có nền giáo dục tiên tiến như Mỹ, Úc… bằng con đường du học tự túc. Lm Cao Phương Kỷ đã bao giờ nghe danh “Hai Lúa” chưa? Một giai tầng mới xuất hiện nhằm chỉ những nông dân triệu phú ở đồng bằng sông Cửu Long đấy! Chính nhờ đồng tiền kiếm được từ hạt gạo mà họ đầu tư kiến thức cho con em họ một cách có hiệu quả. Rõ ràng họ bán gạo không phải để “mua xe hơi”, mà “mua” về cho đất nước những kỷ sư, bác sĩ, những nhà khoa học tương lai… Chẳng thế mà Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc UNESCO vừa xếp hạng cho 127 quốc gia về thành quả giáo dục, trong đó Việt Nam xếp hạng 64, dù chỉ ở mức trung bình, nhưng vẫn cao hơn so với hạng thứ 70 của Philippines, nước Công giáo toàn tòng của Lm Cao Phương Kỷ…

     Lm Kỷ còn phê phán dân Việt “Vì não trạng “lưỡng hợp”, không phê bình, không chọn lọc, đào thải, không ưa chống đối, tránh cạnh tranh, nên nhân cách của con người không được mạnh mẽ, thiếu tinh thần độc lập, cá tính, nhân vị (personality) bị xóa bỏ để hòa hợp với cộng đồng...” Hậu quả là “luôn xẩy ra những sát phạt giữa các bộ lạc”. Ông còn mở  ngoặc đơn để chú thêm: (Việt Nam hiện có hơn 50 thành phần dân tộc (bộ lạc) với 7 ngữ hệ). Tôi ngờ rằng Lm Kỷ có ý muốn kích động hận thù sắc tộc, vì thực tế hiện nay tại Việt Nam, người Thượng “theo chúa” ở Tây nguyên đang hoạt động chống phá VN một cách có hệ thống với sự trợ giúp của các thế lực ngoại bang.

     Điều buồn cười là song song với việc chê bai “văn hóa lúa nước”, “văn minh nông nghiệp”, Lm Kỷ hết lời tán dương “văn minh du mục Kytô giáo” Lm Kỷ viết: “Óc du mục cũng giỏi về thương mại, trao đổi hàng hóa với các lân bang để tìm thị trường mới. Não trạng chọn lọc, cạnh tranh, chiến đấu với các nghịch cảnh, đã tạo nên óc “Biện Chứng” (Dialectic), và Tiến Bộ (Progress)”. Phải chăng vì “văn minh du mục Kytô giáo” ham “cạnh tranh, chiến đấu…” nên đã gây ra những cuộc thánh chiến tàn khốc, cướp đi sinh mạng hàng triệu con người suốt thời kỳ trung cổ. Vì “giỏi thương mại, ham tìm kiếm thị trường mới” nên đã đồng hành với thực dân Tây phương trong việc “mở mang nước chúa” ở Nam Mỹ, châu Phi, châu Á…Nếu tôi không lầm thì Lm Kỷ là “học giả” đầu tiên trên thế giới ca ngợi văn minh du mục “tiến bộ” hơn văn minh nông nghiệp! 

     Nếu người Thượng ở Tây Nguyên không chịu “trồng lúa nước” không định canh, định cư, mà cứ nhất quyết “văn minh du mục”, du canh du cư, sống đời sống săn bắt, hái lượm, thì làm sao mấy ông linh mục, mục sư có thể đến với họ, theo họ, để dụ họ “vào đạo” được? nếu họ cứ du canh, du cư, hết rừng này đến núi khác, chắc chắn họ không “theo chúa”, mà “chúa” phải chạy theo họ mệt xỉu…

     Lm Kỷ đã vẽ ra những hoang tuởng như: “hình ảnh cây thánh giá tạo nên tinh thần Biện Chứng (Dialectic)” (?)... “CÂY THÁNH GIÁ, chính là Đông lực Tiến Bộ của nền Văn Hóa, Văn Minh Âu-Mỹ” (?)… Và đề nghị dân Việt đón nhận tinh thần “văn minh du mục Kitô giáo” tức cái ông gọi là “tinh thần Canh Tân Quyết Liệt: CHẾT-SỐNG LẠI của Cây THÁNH GIÁ”, “theo đường thẳng tiến bộ…”. Đồng thời ông cũng đề nghị dân Việt “không theo đường “Vòng Tròn” quanh quẩn”, nghĩa là từ bỏ di sản văn hoá phương Đông…

     Tôn trọng quyền tự do tư tưởng của Lm Kỷ khi ông nghĩ rằng: “thánh giá tạo nên tinh thần biện chứng!… là động lực tiến bộ của Âu - Mỹ”. Nhưng cũng xin thưa với Lm:  Âu - Mỹ ngày nay cũng không còn là Âu - Mỹ của 2000 năm về trước. Đã qua rồi cái thời “triết học là đầy tớ của thần học”… Nhưng dẫu sao, thần học Kitô giáo cũng đã có cơ hội “múa gậy vườn hoang” khi tại châu Âu, nó không gặp phải sự cạnh tranh của những đối thủ bằng vai bằng lứa… Hoàn toàn ngược lại, thần học Kitô giáo lu mờ trước rừng sao Minh Triết rực sáng của Phương Đông… Văn hóa châu Á hiển nhiên không phải là “đầy tớ” của thần học, Do đó. Khi đến châu Á, với tâm lý ngạo mạn sẵn có, nó vận dụng ngay văn hóa châu Á làm công cụ để xây dụng thần học như nó đã từng làm đối với triết học Hy Lạp tại châu Âu. Nhưng hoàn toàn thất bại vì nó phải đối mặt với sự phản biện thuyết phục của Minh Triết Đông Phương. Đúng như nhận định của tác giả Ngô Triệu Lịch trên giaodiem.com.

     “Ngày nay, Vatican còn mưu toan “rửa tội” cho cả cho cả Khổng Tử, Lão Tử, Đức Phật để các vị này biến thành “ngôn sứ” của một vị chúa giả định (El Shaddai, Yahveh) của Do Thái giáo, sau khi “rửa tội” cho vị chúa này biến thành vị chúa có ngôi vị (Theos, Deus, Dieu) kiểu Hy Lạp. Song song với việc “rửa tội” cho các danh nhân châu Á thành “ngôn sứ” của một vị chúa mà đối với loài người ngày nay là đã từng phạm tội diệt chủng, như đốt thành Sôđôma, làm lụt đại hồng thủy v.v... Họ đã tiến hành “rửa tội” cho “ông trời” trong văn hóa dân gian Việt Nam thành vị chúa hung ác đó.”

     “Ông Trời tân tòng” vừa bị Lm Cao Phương Kỷ đè đầu “rửa tội” đế cho làm “chúa” của Kitô giáo sẽ không bao giờ là Ông Trời của tâm thức dân gian Đông Phương. Vì Ông Trời của dân gian Đông Phương là : nhất vợ nhì trời, xem trời bằng vung, đội đá vá trời v.v… Trên thực tế, thần học Kitô giáo chỉ là một chiếc bóng vật vờ khi bám vào văn hóa châu Á để có một cuộc sống ký sinh, tạm bợ…

     Với mớ kiến thức triết học nhà trường, Lm Kỷ đã méo mó nghề nghiệp diễn giải linh tinh phép biện chứng, với mục đích chứng tỏ hàm lượng trí tuệ cao trong bài viết của ông, thực chất chỉ là mớ lý luận suông, rỗng tuếch, chẳng những không giúp ích gì được cho việc “làm cho dân Việt tiến bộ”, mà còn trở nên khôi hài khi ông muốn chứng minh cho những điều ông viết bằng khẩu hiệu: “Citius! Altius! Fortius! Nhanh hơn, Cao hơn, Mạnh hơn”, do Linh Mục Henri Didon,O.P, đặt ra cho Thế Vận Hội Paris, 7/3/1891…

     Khôi hài đến lố bịch ở chỗ Lm Kỷ nhắc lại khẩu hiệu của một ông linh mục tây nào đó, đặt ra cho Thế Vận Hội Paris từ mãi tận thế kỷ trước (1891), chẳng liên quan gì đến chủ đề “làm cho dân Việt tiến bộ”, mà ông không hề biết một sự kiện thể thao tầm cở khu vực: SEA Games 22 vừa diễn ra trên quê hương Việt Nam cách nay chưa đầy một năm (2003). Tại đây chẳng có khẩu hiệu của một ông linh mục tây nào cả. Nhưng có một hệ thống điện tử xử lý thông tin thi đấu vận hành tốt về mọi mặt: chính xác, hiển thị kết quả và truyền dữ liệu 32 môn thi đấu. Lm Cao Phương Kỷ có biết ai đã xây dựng thành công một hệ thống hoàn chỉnh như thế không? Chính là những người mà Lm cho rằng không thể “tiến bộ” được nếu không theo “tinh thần biện chứng của cây thánh giá!”  Một hệ thống điện toán được vận hành bởi 2000 chương trình phần mềm được giới chuyên môn đánh giá là bước đột phá của công nghệ thông tin Việt Nam. Một công trình mà trước đó các chuyên gia nước ngoài khẳng định Việt Nam không thể làm được. Nhưng khi chứng kiến tận mắt sự vận hành hoàn hảo của hệ thống, Các chuyên gia nước ngoài của các hãng nổi tiếng như Seiko, Linx, Omega… cũng phải khâm phục và đánh giá: nếu được hoàn thiện thành một hệ thống đa chức năng (sử dụng trạm vệ tinh tạo sự liên kết giữa các hệ thống dữ liệu, hệ thống tiếng nói và hình ảnh),thì hệ thống này đủ điều kiện phục vụ các sự kiện thể thao tầm cở châu lục và thế giới…

      Nhưng có một điều khá thú vị mà chắc Lm Cao Phương Kỷ không thể ngờ đến, đó là việc Philippines, quốc gia Công giáo toàn tòng của Lm Kỷ, đồng thời cũng là  nước chủ nhà SEA Games 23, không thể làm nỗi một hệ thống tương tự, nên đã chính thức đặt vấn đề “mượn” hệ thống này và đã được VN đồng ý. SEA Games lần thứ 23 được tổ chức vào năm 2005 tại nước Công giáo toàn tòng Philippines, Lm Cao Phương Kỷ có thể đến đó để xem người Phi ảnh hưởng “biện chứng thánh giá” vận hành hệ thống của những người Việt “vô thần” ra sao!

     Trên đây chỉ là nhận định sơ bộ vài bài viết của vài tác giả, tất nhiên còn những bài viết khác nếu được nhận định đầy đủ e rằng bài viết này sẽ quá dài…Người viết bài này bất đắc dĩ phải “đả thông”, cũng chỉ vì muốn đáp lại lời mời gọi bước vào “Nhịp Cầu Cảm Thông”, mà qúy vị đã rộng mở để “đón tiếp Tôn giáo bạn và tất cả mọi người”, cũng như tiêu chí qúy vị đã đặt ra cho trang “Đối Thoại”: “…chúng ta cần phải biết nghe người khác nói, cũng như phải biết nói cho người khác nghe, nghĩa là chúng ta phải biết chân thành  ĐỐI THOẠI cùng nhau. »

     Nếu qúy vị cho đăng bài này trên trang nhà Chứng nhân Đức Kitô, và có bài viết phản biện thuyết phục. Điều đó chứng tỏ qúy vị muốn đối thoại chân thành. Mong thay!

 Hoàng Vũ

giacopvu@yahoo.com

 

     

    


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com