1204-world.gif (4030 bytes)

posted: 17.12.04

           1204-xmas.gif (352 bytes)Qùa giáng sinh 1204-xmas.gif (352 bytes)cho người “không thấy mà tin”1204-xmas.gif (352 bytes)

            Hoàng Vũ

Mỗi năm, cứ đến cuối tháng 12 dương lịch, lại rộ lên không khí lễ hội của “mùa nô-en”. Các dịch vụ kinh doanh ăn theo giáng sinh không dễ gì từ bỏ cơ hội ăn nên làm ra này… Bên cạnh đó, các phương tiện báo chí, truyền thông Kitô giáo hoạt động nhộn nhịp hơn mọi khi. Tôi không mấy hứng thú với lễ hội này, nhưng chợt nẩy ra ý ngồi nhà lướt web tìm “không khí giáng sinh”, thay vì lướt qua những quán cà phê tìm bạn bè đấu láo… Vậy là tôi đã thực hiện cuộc dạo quanh một vòng các “nhà” Công giáo, Tin Lành. Cuối cùng dừng chân tại “nhà”  Tiếng Nói Giáo Dân (tiengnoigiaodan.net), vì nơi đây “mừng giáng sinh” khá rôm rả, nhiều bài viết về chủ đề này, thêm vào tiếng nhạc nền “chuông leng keng…” nghe cũng vui vui…

Vài ghi nhận dưới đây tại “nhà” Tiếng Nói Giáo Dân  xin được dùng làm “quà nô-en” gởi tặng những con người mụ mị mơ giữa ban ngày, những người “không thấy mà tin”… biết đâu lại góp phần tạo nên không khí sinh động cho hoạt cảnh giáng sinh năm nay!

* Giáng sinh của Chúa Giêsu - Trần Công Tiến

 

Tác giả Trần Công Tiến  “mừng giáng sinh” với : “Ý nghĩa biểu tượng của sự đồng trinh”.

 

Trong bài “Giáng sinh của Chúa Giêsu”, ông Trần Công Tiến nhận định:

“Đối với nhiều người, việc thu thai và sinh con mà vẫn đồng trinh là một việc không xẩy ra. Đối với nhiều người khác việc đó có thể xẩy ra, bởi vì đối với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể có. Cuộc tranh biện này đã diễn ra, hiện đang diễn ra và sẽ còn diễn ra không biết đến bao giờ mới ngừng.”

 

Ý kiến của ông Trần Công Tiến là:

Vậy câu chuyện về Chúa Giê-su đầu thai bởi Thánh Thần và sự đồng trinh của bà Ma-ri-a có ý nghĩa biểu tượng rằng Chúa Giê-su là hiện thân của Đạo hiểu như một thực thể khác vật chất.” 

Tác giả Trần Công Tiến xác tín chuyện “Ma-ri-a đồng trinh có ý nghĩa biểu tượng” và khước từ mọi cuộc tranh biện bằng một phụ chú: “Như vậy cuộc tranh biện về “thụ thai mà vẫn còn đồng trinh” là một tranh luận không cần thiết.”

Tôn trọng đề nghị “không tranh luận” của tác giả nên tôi đành nói chuyện ngoài lề.

Trước hết, xin mượn vài câu Kiều của Nguyễn Du để luận về “ý nghĩa biểu tượng của chữ trinh”

             “Xưa nay trong đạo đàn bà,
               Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường.”

“Chữ trinh” của Nguyễn Du trong Kiều quả đúng là “chữ trinh của biểu tượng”. Đối với Thúy Kiều, “ong qua bướm lại” trong suốt 15 năm ở chốn lầu xanh, vậy mà Kiều vẫn tuyên bố chắc nịch:

Chữ trinh còn một chút này…”

Đây không phải là bài giảng văn của học sinh trung học, nên tôi muốn kết luận cho sớm sớm một chút. Vắn tắt là: trinh tiết của Thúy Kiều nếu hiểu theo nghĩa đen thì chắc khỏi cần bàn, vì nó đã “tiêu” từ lâu, ngay từ ngày đầu tiên “nhập môn” ở chốn lầu xanh. Nhưng nếu hiểu theo nghĩa bóng, tức nghĩa biểu tượng thì Kiều còn “trinh nguyên”. Sở dĩ tôi dám khẳng định điều này vì chính miệng Thúy Kiều nói ra: “chữ trinh còn một chút này”. Và người có quyền thẩm định câu nói của Kiều tuyệt đối đúng chính là cha đẻ ra Kiều: Nguyễn Du tiên sinh. Chính Nguyễn Du đã xác định trong “đạo đàn bà”, thì “chữ trinh kia cũng có ba bảy đường”. Trong  “ba bảy đường” đó, Nguyễn Du đã chọn một đường cho Kiều “giữ trinh”, Đó là đường “hiếu”:

             “Như nàng lấy hiếu làm trinh,
               Bụi nào cho đục được mình ấy vay ?”

Bây giờ, tôi có quyền tuyên bố mà không sợ ai bắt bí: “Như vậy cuộc tranh biện về “chữ trinh” của Thúy Kiều  là một tranh luận không cần thiết”. Tôi rất mong “chữ trinh” của Ma-ri-a cũng rõ ràng, minh bạch như “chữ trinh” của Thuý Kiều để chấm dứt chuỗi tranh biện vô bổ, đúng như sự thừa nhận của ông Trần Công Tiến: “Cuộc tranh biện này đã diễn ra, hiện đang diễn ra và sẽ còn diễn ra không biết đến bao giờ mới ngừng.”  Nhưng tại sao người ta đọc Kiều chỉ để thưởng thức văn chương của cụ Nguyễn Du, mà chẳng ai buồn tranh luận về “chữ trinh” của Thúy Kiều. Trong khi đó, “chữ trinh” của Ma-ri-a lại là đề tài tranh luận “còn diễn ra không biết đến bao giờ mới ngừng.”? Câu trả lời chỉ có thể là: “chữ trinh” của Ma-ri-a không được rõ ràng, minh bạch, nói gọn lại là: “Ma-ri-a bất minh”, hoàn toàn khác với “chữ trinh” của Thúy Kiều.

Xin ông Trần Công Tiến đừng nghĩ rằng tôi đang bắt đầu muốn tranh luận với ông về “chữ trinh” của Ma-ri-a. Thực ra sự tranh luận chỉ xảy ra đối với những người anh em Kitô giáo với nhau thôi, ví dụ giữa Công giáo với Tin Lành ở Bắc Ái Nhĩ Lan, họ không chỉ tranh luận bằng lời mà còn cả bom mìn, súng đạn… Đối với những người Châu Á phi Kitô giáo, họ không phải mất thời giờ vào những cuộc tranh luận vô bổ như thế, ngoại trừ trường hợp gặp phải mấy tay “truyền giáo” cố đấm ăn xôi, đang muốn thu góp con chiên về cho giáo hội, nói càn, nói bướng, buộc họ vào thế phải tranh luận.

Trong bài viết “Giáng sinh của Chúa Giêsu”, tác giả Trần Công Tiến phân biệt hai loại người. Loại người thứ nhất cho rằng:  “việc thu thai và sinh con mà vẫn đồng trinh là một việc không xẩy ra.” Loại người thứ hai: “việc đó có thể xẩy ra, bởi vì đối với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể có.” Tôi đoan chắc ông Tiến thuộc loại người thứ hai, và tiền đề: “đối với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể có”, đã bít hết mọi ngõ ngách của lý trí, còn “luận” đâu nữa để mà “tranh”…

Chỉ còn lại một chút xíu lấn cấn tôi muốn nêu ra, chỉ để “thắc mắc” thôi, chứ không phải để tranh luận. Theo tôi, điểm nhấn của bài viết “Giáng sinh của Chúa Giêsu” chính là “biểu tượng đồng trinh của Ma-ri-a trong việc sinh Giê-su”. Tại sao cứ phải là “biểu tượng” với “không biểu tượng”. Hiểu theo nghĩa biểu tượng, tức nghĩa bóng, là “đồng trinh”, đã có nghĩa bóng tất phải có nghĩa đen. Vậy nghĩa đen là gì? Cũng “đồng trinh” chăng?  Đen cũng “đồng trinh” mà bóng cũng “đồng trinh” thì nghĩa đen với nghĩa bóng làm chi cho rách việc. Hay người ta phải hiểu theo kiểu “chữ trinh” của Thúy Kiều. Nghĩa là Ma-ri-a cũng “nát bét” ra rồi, nhưng hiểu theo nghĩa biểu tượng thì Ma-ri-a vẫn “đồng trinh”! Nếu hiểu như thế thì lại “phạm thánh”, vì tín lý Công giáo buộc tín đồ phải tin “Đức Mẹ trọn đời đồng trinh ”… “Chữ trinh” của Thúy Kiều còn có “ba bảy đường” để hiểu, còn “chữ trinh” của Ma-ri-a có mấy đường? Nếu chỉ một đường duy nhất là “trọn đời đồng trinh” thì cần quái gì đến nghĩa biểu tượng… Như trên đã nói: “chữ trinh” của Ma-ri-a không rõ ràng minh bạch bằng “chữ trinh” của Thúy Kiều, chính là ở điểm này.

Thắc mắc tí chút cho vui vậy thôi, chứ tất cả đều nằm trong sách lược của Vatican. Sách lược đó là gì? Thật chẳng mấy khó khăn để nhận ra điều này, khi nhìn vào quá trình “tiến hóa” tín lý Công giáo La Mã. Những tín điều cũ kỹ lạc hậu phải phải được tân trang, cải tiến cho phù hợp với tiến trình đi lên của tri thức thời đại. Xin nêu vài ví dụ để chứng minh: Tín lý về “hoả ngục” trước đây được hiểu là có nơi chốn rõ ràng, Augustinô xác định “hoả ngục” ở trong lòng đất! là nơi khóc lóc nghiến răng, tội nhân bị đốt bằng lửa vĩnh cửu… Nhưng nay “hỏa ngục” được giải thích chỉ là trạng thái đánh mất sự bình an trong chúa, đánh mất tình yêu cứu độ của ngài (?). “Luyện ngục” cũng thế, chính các công đồng Lyon, Florence, Trentô xác định, đó là nơi “tạm giam”, về hình thức trừng phạt tuy có nhẹ hơn đôi chút so với “hỏa ngục”, nhưng cũng rất ghê rợn… Các công đồng này công bố: sẽ phạt vạ tuyệt thông nếu tín đồ nào cho rằng, các linh hồn sạch tội được lên thẳng thiên đàng mà không vào “luyện ngục” để nhận “hình phạt tạm”… Thế nhưng ngày nay thì sao? Giáo sư Nguyễn Chính Kết, tác giả bài Việc độ vong  trong Kitô giáo và Phật giáo” mà tôi đã có dịp đề cập trong bài “Đả thông” đã giải  thích về luyện ngục như sau: Sự thanh luyện đó được gọi là «luyện ngục». Chữ ngục khiến người ta liên tưởng tới một nơi chốn, một cảnh tù đày. Thực ra không nên hiểu cụ thể như thế. Nên hiểu đó là một tình trạng của tâm hồn được thanh luyện, được thánh hóa bằng những đau khổ nội tại cũng như ngoại tại

Tại sao tín đồ Công giáo ngày nay rất thoải mái giải thích tín lý, thánh kinh mà không  bị phạt “vạ tuyệt thông”. Trong khi điều này trước kia bị giáo hội cấm: “không ai được phép giải thích tín lý hay thánh kinh theo ý riêng”?. Rất dễ hiểu vì một mình Vatican không đủ sức chỉnh lý, sửa chữa những tín lý lạc hậu, họ buộc phải nhờ đến đám tín đồ cuồng nhiệt trên khăp thế giới “suy tư thần học” hộ. Vatican chỉ ngồi một chỗ thu hoạch những “suy tư” có lý, bổ sung, sửa chữa những tín điều ấu trĩ. Ngày nay, trong thế giới Công giáo, nhà nhà làm thần học, người người làm thần học, thần học gia chuyên nghiệp, thần học gia nghiệp dư, thi nhau làm thần học, trăm hoa đua nở, tạo thành một hoạt cảnh bát nháo, làm Vatican đôi lúc phải đau đầu. Vấn đề “thiên tính duy nhất” của Giêsu đã bị các nhà thần học gà mờ làm “tương đối hóa”, khiến Vatican không thể không đưa ra văn kiện Dominus Jesus để cảnh giác, sự kiện này là một bằng chứng về tình trạng bát nháo nêu trên. Một ví dụ khác. Việc “thiên chúa hóa” ông trời trong văn hóa Đông Phương, Nếu không nhờ mấy ông thần… học gia mũi tẹt da vàng, liệu Vatican hiểu được “ông trời” của người Việt đến bao nhiêu phần trăm?

 

Trở lại với “cái trinh” của Ma-ri-a, giả sử nay mai Vatican công bố “tín điều” mới: “Còn trinh” hay “mất trinh” chẳng phải vấn đề quan trọng, cái chính là Ma-ri-a sinh ra Giê-su mà không cần đến tinh trùng đàn ông. Có nghĩa là Ma-ri-a vẫn tuyệt đối đồng trinh nếu hiểu theo nghĩa biểu tượng… Nếu tín điều này được công bố, công đầu sẽ thuộc về một nhà thần học Việt Nam: Trần Công Tiến…

* Giáng sinh và những bài học yêu thương - Linh Kỳ

Cũng như bao người Công giáo khác, tác giả Linh Kỷ đã mừng giáng sinh với “những bài học yêu thương” nhằm khỏa lấp những bài học đau thương, mất mát, mà mẹ (mìn) giáo hội của ông đã gây ra trong quá khứ, khiến lương tri nhân loại không thể không lên tíêng, buộc Giáo hoàng của ông Linh Kỳ phải mở mồm “xin lỗi thế giới”. Ông Linh Kỳ “mừng giáng sinh với những bài học yêu thương”. Điều đó tốt thôi! Nhưng xin ông hãy can đảm nhìn nhận tội lỗi mà “mẹ giáo hội” của ông đã để lại trong lịch sử, lấy đó làm “bài học yêu thương”, hơn là nhọc công qủy biện bênh vực…

Đúng như ông Linh Kỳ nhận định: …đối với mỗi người chịu khó đọc Thánh Kinh, chắc hẳn cũng không khó để tìm ra những đoạn Thánh Kinh mà trong đó, chính Thiên Chúa đã ra tay hay đã sai đoàn con cái người đi chém giết lẫn nhau (Exodus 32:27-29), giết hại cả thành không trừ người nào để dâng lên Chúa (Joshua 6:21), vv., để một Thiên Chúa đầy ác tính, ghen tuông, vv…”

Thiên chúa của người Công giáo với hành trạng mười mươi rõ mười như thế, người Công giáo có muốn ngụy biện bênh vực theo kiểu của ông Linh Kỳ: “những đoạn ghi chép về những mẩu chuyện trong KT như: cầm dao giết anh em, giết bà con, giết hết cả thành để dâng Chúa như chiến lợi phẩm, vv. chắc hẳn chỉ là: Những ngụ ngôn, Hoặc là: Những bài học Tình Yêu TC dành cho loài người, thì cũng được thôi! Nhưng phải bênh vực cho khéo, bênh vực vụng về như thế chẳng thuyết phục được ai…

Ông Linh Kỳ sa đà biện hộ để những lập luận rơi vào mâu thuẫn lúc nào không biết: 

“Có lẽ, khi đọc Thánh Kinh, chúng ta nên hiểu rằng: Đức GiêSu KiTô chỉ dạy chúng ta bằng các ngụ ngôn chớ ngài không cầm dao giết người.”

Chẳng biết “chúa thánh thần” đang bận việc gì mà không “soi sáng” cho ông, để ông nhầm lẫn Cựu Ước với Tân Ước… Giêsu là của thời Tân Ước, làm sao có thể dạy “ngụ ngôn” đọc vào là rợn tóc gáy ở những đoạn ông Linh Kỳ đã chỉ rõ trong Cựu Ước: Exodus 32:27-29,  Joshua 6:21 ? Vả lại, cứ cho lời dạy trong thánh kinh là “ngụ ngôn” đi, nhưng Vatican đã thống kê, ban hành những “sắc chỉ” buộc tín đồ phải tin có bao nhiên điều là “ngụ ngôn”, bao nhiêu điều là sự thật lịch sử chưa?… Lấy vài ví dụ: “các thánh anh hài” bị tàn sát dưới tay bạo chúa Hê-rô-đê vì Giêsu, là “ngụ ngôn” hay lịch sử? Giu-đa tự sát sau khi “bán chúa”, là “ngụ ngôn” hay lịch sử? Ông Linh Kỳ viết: “Đức Giê Su Ki Tô chỉ dạy chúng ta bằng các ngụ ngôn chớ ngài không cầm dao giết người.” Giêsu không trực tiếp cầm dao giết người, nhưng Giêsu đã gián tiếp giết các trẻ thơ vô tội, giết cả Giu-đa theo đúng “chương trình kế hoạch cứu độ” mà “chúa cha” đã bày ra… Ông Linh Kỳ có thể chỉ ra ý nghĩa “bài học yêu thương” trong vụ án “các thánh anh hài” là gì? Đích thị “thiên chúa” là “cớ vấp phạm” mọi tội lỗi cho con người thực hiện ngay từ những ngày đầu của “chương trình cứu độ”, nó di căn vào giáo hội La Mã làm hàng triệu người phải bỏ mạng vì thánh chiến, vì toà án dị giáo… Ý nghĩa của “bài học yêu thương” nằm ở chỗ nào?…

Ông Linh Kỳ có lẽ là một tín đồ thuần thành, với lòng tin quyết đoán. Nhưng hình như ông không biết gì về lịch sử giáo hội của ông. Ông viết:

“Và trong dòng lịch sử nhân loại, thật đáng tiếc khi đã có những cá nhân hay những đoàn thể Công Giáo vì hiểu lầm những thiên tính của Thiên Chúa để rồi đã mang danh Công Giáo đi làm những việc làm tàn ác, sai lầm đối với cái nhìn nhân bản của loài người.”

 

 Nếu là “trong dòng lịch sử nhân loại” thì không làm gì có chuyện “cá nhân hay những đoàn thể Công Giáo”, mà đích thị là “mẹ giáo hội” của ông ở Vatican, dưới sự hướng dẫn của “chúa thánh thần” đã “đi làm những việc làm tàn ác, sai lầm đối với cái nhìn nhân bản của loài người”. Xin mượn đoạn văn sau đây từ bài “Người Công giáo nói gì về thánh chiến” của Ngô Triệu Lịch trên giaodiem.com để chứng minh cho điều này:

Sự kiện Giáo hoàng Urban II triệu tập công đồng Clermont kêu gọi "tái chiếm Jêrusalem, cứu đất thánh” là một vết nhơ khó tẩy của đế quốc Vatican. Dù muốn biện hộ thế nào thì cuộc chiến do Urban II phát động vẫn là một tội ác. Urban II  đã lợi dụng lòng tin mù quáng của đám tín đồ cuồng tín, hứa "ban ơn toàn xá" để bảo đảm “phần rỗi linh hồn” cho họ, đẩy họ vào cuộc chiến  không cân sức với đội quân tinh nhuệ Hồi giáo. Ðiều trớ trêu là những người tham gia thánh chiến vì ham mê "ơn toàn xá" của Giáo hoàng mà gia nhập chứ họ chưa hề qua một lớp huấn luyện quân sự nào. Kết quả là nhiều người trong đoàn quân ô hợp, vô kỷ luật và cuồng tín "lên thiên đàng thẳng cẳng" nhờ ơn toàn xá của Giáo hoàng!.. Phịa chuyện “tìm thấy chiếc mác đồng đâm cạnh sườn Chúa Giêsu dưới bàn thờ trong đền thánh Phêrô” để kích động sự cuồng tín của tín đồ, đẩy họ vào chỗ chết, dẫu có biện hộ thế nào, vẫn cứ là một tội ác.

 

Ông Linh Kỳ thử trả lời xem, có cá nhân nào, hoặc đoàn thể Công giáo nào có quyền triệu tập Công đồng, có quyền “ban ơn toàn xá” đề   bảo đảm “phần rỗi linh hồn” cho tín đồ? Câu trả lời chỉ có thể là: Giáo hội. Phải, chỉ có giáo hội, cái giáo hội mà người Công giáo tin là “nhiệm thể chúa Kitô”, là “thánh thiện, duy nhất, và tông truyền”. Chính cái giáo hội này mới đủ sức “đi làm những việc làm tàn ác, sai lầm đối với cái nhìn nhân bản của loài người”, mà cá nhân hay đoàn thể Công giáo nào đó, chắc chắn không thể làm được… 

Một lần nữa, chân thành khuyên ông Linh Kỳ hãy can đảm nhìn nhận tội lỗi mà “mẹ giáo hội” của ông đã để lại trong lịch sử, lấy đó làm “bài học yêu thương”, hơn là nhọc công qủy biện bênh vực…

* Tác giả JK với “Những nghịch lý trong biến cố Giáng Sinh”.

Ông JK đã “chia sẻ tin mừng” với câu hỏi gợi ý như sau:

Tại sao Đức Giêsu không sinh ra trong cảnh giàu sang, uy quyền cho xứng với địa vị Con Thiên Chúa, mà lại sinh trong cảnh thấp hèn nhất của con người?”

Rồi ông JK lại “suy tư”:

“Không có gì nhục nhã và đau lòng cho bằng phải ra đời trong một chuồng súc vật, chẳng những thiếu đủ mọi thứ mà còn dơ bẩn, hôi hám! Thử hỏi: cả 80 triệu dân Việt, một dân tộc hiện đang bị xếp vào loại nghèo khổ nhất thế giới, đã có mấy người phải sinh ra trong cảnh tệ hại như thế? Thế mà Đức Giêsu, Con Thiên Chúa vô cùng cao sang, cũng chính là Vua Vũ Trụ, lại phải sinh ra trong hoàn cảnh như thế! Tuy nhiên, tất cả mọi việc xảy ra đều nằm trong chương trình của Thiên Chúa, đều ứng nghiệm những gì các ngôn sứ đã loan báo mấy trăm năm trước về Đấng Cứu Thế”

Xin hỏi ông JK, Giêsu sinh ra năm nào? Năm 1 hay năm 2004 tây lịch? Ông JK đừng cho đây là câu hỏi lẩm cẩm. Vì nếu Giêsu sinh năm 2004 tại hang bò lừa nào đó, ông JK có thể sót xa cho Giêsu mà than rằng: “Thử hỏi: cả 80 triệu dân Việt, một dân tộc hiện đang bị xếp vào loại nghèo khổ nhất thế giới, đã có mấy người phải sinh ra trong cảnh tệ hại như thế?”. Nhưng nếu Giêsu sinh ra từ năm 1 tây lịch, thì ông JK không thể so sánh khập khiễng như thế được. Ông chỉ có thể so sánh Giêsu với những người Do Thái cùng thời. Còn nếu muốn so sánh với người Việt Nam, ít nhất ông phải lùi lại khoảng thời gian năm 40 của nửa đầu thế kỷ I tây lịch, thời của Hai Bà Trưng, vì Hai Bà Trưng có thể được xem như người đương thời với Giêsu. Nhưng năm 40 chỉ là năm khởi đầu của cuộc khởi nghĩa chống Hán. Còn nếu nói về ngày sanh của hai bà, thì sử sách ghi lại rõ ràng: Hai Bà là chị em sinh đôi và sinh vào ngày mồng một tháng tám năm Giáp Tuất, tức năm 14 tây lịch. Nghĩa là nếu Giêsu sinh năm 1, thì Giêsu chỉ lớn hơn Hai Bà Trưng 14 tuổi. Thời ấy, người Việt làm thân trâu ngựa cho quân xâm lược Hán, nếu có người sanh trong chuồng trâu ngựa, cũng là may mắn lắm rồi, đâu cứ gì “thiên chúa” mới “được” sinh trong hang bò lừa… Nhưng nếu vào thời điểm này (2004), dù đất nước “đang bị xếp vào loại nghèo khổ nhất thế giời”, giả sử có người tự nguyện sinh trong chuồng bò, chắc cũng chẳng ai cho, người đó lập tức bị công an “mời” vào Từ Dũ ngay… phải không ông JK?…

Chắc hẳn việc so sánh hoàn cảnh sinh ra của Giêsu từ 2000 năm về trước, với sự nghèo khó của 80 triệu dân Việt ngày nay là có chủ đích… Cái nghèo của 80 triệu dân Việt phải chăng là điểm nhấn của bài “chia sẻ” này. Đã đành nghèo không phải là cái tội, nhưng nghèo lại là một sự nhục nhã… Ông JK bêu rếu cái nghèo của 80 triệu người Việt Nam nhằm muốn “chia sẻ” điều gì? “Tin mừng chúa giáng sinh” chăng? Chắc là không phải thế. Dù trong bài viết của ông JK không có một từ nào chống Cộng. Nhưng lối so sánh phi lôgíc nêu trên chỉ có thể lý giải người Công giáo chống Cộng ngày nay chỉ muốn muợn “lới chúa” để đổ vấy cho Cộng sản vô thần là nguyên nhân gây ra cái nghèo cho đất nước. Cứ lướt qua các website Công giáo khắc rõ, họ nói đến cái nghèo, tham nhũng, lạc hậu, thậm chí đến tai nạn giao thông, siđa v.v… như một thắng lợi! Đối với họ, VN không có quyền giàu, không được hết tham nhũng, lạc hậu. Gạt bỏ những mặt tích cực, phát huy tối đa những tiêu cực xã hội nhằm đẩy “vô thần” mau đến chỗ dẹp tiệm, trả lại thời hoàng kim cho “hữu thần”, mà nó đã từng có thế đứng vững vàng dưới hai triều tổng thống Công giáo…  Chúa trừng phạt Cộng sản vô thần phải vậy, không thể khác… còn nhớ dạo nào dịch SARS hoành hành nhiều nước Châu Á, đã có người cố tình gọi SARS là “cúm Hà Nội”… Tác giả Nguyễn Văn trong bài “Tản mạn về SARS” trên   ykhoa.net nhận định: họ đã  “vặn vẹo chữ nghĩa theo cảm tính và xuyên tạc chính trị”, “…thiếu lí trí hay dã tâm đến nổi thay vì gọi là “SARS”, họ gọi căn bệnh là “Cúm Hà Nội”, “Cúm Việt Nam” làm như căn bệnh xuất phát và chỉ giới hạn trong phạm vi Việt Nam.” “…Họ tìm mọi cách, mọi cơ hội, bất cứ nơi nào, để vặn vẹo, thổi phồng thông tin, nhằm vào mục tiêu cuối cùng là làm cho kinh tế Việt Nam tê liệt để thoả mãn cái tâm tính chống cộng của họ.”  

Đã đành người Công giáo có quyền chống Cộng, vì ý hệ “hữu thần” luôn đối đầu với ý hệ “vô thần”. Nhưng xin đừng quên sự nghèo khó của đất nước hôm nay là hệ qủa của một chuỗi các sự kiện, trong đó: “Công giáo - thực dân” là một trong những mắt xích quan trọng hình thành chuỗi sự kiện này. Đỗ vấy cho Cộng Sản làm nghèo đất nước mà lờ đi trách nhiệm của mình là điều thường thấy ở những người Công giáo chống “vô thần” hiện nay… Thế mới biết khẩu hiệu “Sống Phúc Âm trong lòng dân tộc” của Hội đồng Giám mục VN đề ra trong “Thư chung 1980” mãi mãi chỉ là khẩu hiệu suông, không bao giờ thực hiện được…

 

     

    


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com