1204-world.gif (4030 bytes)

posted: 30.11.04

  Nguyễn Mỵ

LOU ANDREAS SALOMÉ:

NGƯỜI-ĐÀN-BÀ-ĐỊNH-MỆNH-CỦA NHỮNG TAY TÀI HOA THẾ KỶ

(Câu Chuyện Danh Nhân)

“Khi Lou bắt đầu cảm thấy quyến luyến đam mê một người đàn ông nào, 9 tháng sau đó, người đàn bà ấy sẽ cho ra đời một tác phẩm”, một trong những kẻ ái mộ bà đã nói như thế. Tất nhiên, phải nhận rằng Lou là một trong những nữ thần vĩ đại đã “cưu mang” một vài thiên tài văn học của cuối thế kỷ vừa qua.

Không kể đến sắc đẹp đã có sẵn, người đàn bà phóng túng này lại còn quyến rũ được người khác bởi sự thông minh và kiến thức văn hóa của mình. Nietzsche, sau khi đã cắt đứt mối liên hệ tình cảm sâu đậm giữa hai người, đã tuyên bố rằng ông hẳn sẽ không bao giờ viết nổi tác phẩm Zarathoustra Đã Nói Như Thế nếu không có Lou Salomé đi vào đời ông. Bởi, con người hay gây tai tiếng này không những chỉ quyến rũ đàn ông thôi, lại còn (giống như Freud đã nói về sau) là “một kẻ thấu hiểu, biết truy tầm khám phá tài năng ở người đàn ông” mà bà gặp và giúp họ bộc phát tài năng ấy. Cũng như khi bị lôi cuốn bởi Rainer Maria Rilke (nhỏ hơn Lou đến 14 tuổi), một nhà thơ trẻ dễ tính và thời thượng, bà đã làm cho Rilke trở thành văn sĩ lớn viết bằng Đức ngữ. Tuy vậy, bà vẫn bị một người chị gái của Nietzsche gán cho cái tiếng xấu là “con người chuyên vồ vập đàn ông!”

Lou (hay đúng hơn, Louise) Von Salomé sinh ngày 12/ 2/1861 tại St. Pétersbourg (Nga), một ngày sau khi chế độ lãnh địa của Nga hoàng Alexandre I được bãi bỏ. Bà là con út cưng quý nhất của một đại tướng trực thuộc Nga hoàng, lấy vợ rất trễ và sinh ra Lou vào lúc ông 56 tuổi. Giòng tộc Salomé, nguồn gốc ở Avignon, (Pháp), đã chạy trốn khỏi Pháp vào thế kỷ 16, đến tị nạn ở Strasbourg (Áo), rồi Romanie, lại Đức, các nước Đông Âu và sau cùng, thế kỷ 18 sang lập nghiệp tại Nga và được Nga hoàng giáo huấn theo cung cách quý tộc thừa kế.

Thời niên thiếu ở St. Pétersbourg vẫn được Lou giữ mãi một hình ảnh hoài niệm như một thứ thiên đường trên trái đất. Năm 1879, sau khi cha mất, Lou bước vào giai đoạn trưởng thành và trở nên một người tuổi trẻ đầy những tư tưởng nổi loạn. Lần thứ nhất bà thầm yêu một cách rất lý tưởng vị mục sư –tên Hendrik Gillot- của nhà thờ Tin Lành Hòa Lan tại St. Pétersbourg. Ông này đã giúp bà khám phá hiểu biết nền triết học Đức và kịch nghệ Pháp. Với bà, mối tình ấy chỉ ngừng lại ở đó, trong khi vị mục sư –một vợ hai con ngang tuổi với Lou- lại quyến rũ Lou bỏ trốn đi với ông. Khi nghe ông tỏ tình, Lou đã chỉ muốn ngất xỉu!

Vậy là bà mẹ đành phải gửi cô con gái cưng sang Zurich Thụy Sĩ, cho theo học ngành Triết và lịch sử nghệ thuật tại Polytechnikum, một trong những ngôi trường hiếm hoi thu nhận nữ sinh viên thời ấy. Tại đây, Lou đã học một cách xuất sắc –quá xuất sắc nữa là khác- đến độ vướng vào chứng lao phổi. Các bác sĩ cho là Lou chỉ còn sống được vài năm nên khuyên bà mẹ đưa đi nghỉ ở Ý, vùng có khí hậu ấm áp hơn.

Tại Rome, được gởi gấm bởi giáo sư ở Zurich, Lou được nhà thần học nổi danh Biedermann gọi là một “viên kim cương”. Và lần xuất hiện đầu tiên của Lou là tại khách thính sang trọng của bà Malvida von Meysenburg, một phụ nữ quý phái tiền phong người Đức, rất cấp tiến, tính tình tự đắc, thân cậﮠvới thiên tài âm nhạc Wagner và tiếp đón tất cả những nghệ sĩ lừng danh ở Âu Châu. Bà cũng là bạn thân của những tay cách mạng lớn thời đó như Herzen, Garibaldi, Kossuth...

Chính tại cái khách thính sang trọng ấy mà vào một tối tháng 3/1882, Lou gặp Paul Rée, một triết gia trẻ người Đức gốc Do Thái, vừa mới sạt nghiệp vì thua bạc tại Monte Carlo. Đây quả là cú sét ái tình và ngay sáng hôm sau, Rée xin hỏi cưới Lou. Lou từ chối và kể cho Rée nghe mộng tưởng của mình: “Được ở trong một ngôi nhà thật rộng với hai người bạn nghệ sĩ để có thể đọc sách và chuyện trò cùng họ như một bộ ba trí thức.” Rée lại là bạn thiết của Nietzsche, một triết gia lang thang 38 tuổi, hoàn toàn vô danh khi đó. Trong cái “đống người láo nháo” hay lui tới khách thính nhà bà Maldiva von Meysenburg, lúc ấy tác giả của “Con người, ôi thật là con người” này chỉ là một kẻ hăm hở ngưỡng mộ Wagner mà thôi. Thế là Rée viết luôn một lá thư tả tình tả cảnh những sự xứng đáng của nàng con gái trẻ đẹp người Nga. Hai tuần sau, Nietzsche vội vàng phóng đi Rome. Và rồi hỏi thăm qua Malvida, Nietzsche lại xông thẳng đến tòa giáo đường St. Pièrre nơi Rée và Lou đang làm việc về một tác phẩm chứng minh là “Thượng Đế không hiện hữu.” Tức thì Lou bị hấp dẫn bởi người đàn ông có đôi mắt sáng mà bà cảm nhận rằng đó là một trong những thiên tài tiên tri. Ngược lại, với Nietzsche cũng là một cú sét ái tình không hơn không kém. Ngay ngày hôm sau, ông cầu hôn Lou, nhưng lại qua sự trung gian không tiện lợi chút nào của người bạn thân Paul Rée!

Dẫu vậy, Lou từ chối. Mối liên hệ bắt đầu khó chịu. Nhưng Nietzsche biết cách sử sự, vả lại Lou và Rée cũng hé cho ông thấy ý muốn xây dựng “một bộ tay ba”! Thế là sợi giây tình cảm kỳ quặc nẩy sinh và kéo dài trong 6 tháng giữa Lou, Rée và Nietzsche. Nhưng chẳng bao lâu họ lại bị đẩy đến sự lủng củng ghen tuông.

Sau một thời gian mặn nồng tình cảm với Lou ở Tautenburg, cuối cùng Nietzsche nhận ra được điều rằng Lou chỉ thích ông ở vẻ mặt trí thức hơn Rée, và đổi lại, tình cảm bà dành cho Rée mật thiết hơn cho ông. Do đó, sau những tháng ngày lưu lại Leipzig trong tâm trạng khổ đau cùng cực, Nietzsche bỏ trốn về miền Nam. Và rồi giữa những vết thương lòng sâu đậm và ý chí gần như bị hủy hoại, giữa những tiếng thở dài não nuột, Nietzsche đã viết tác phẩm Zarathoustra Đã Nói Như Thế như để phơi trải tấm lòng tuyệt vọng của chính mình.

Đối với Nietzsche, Lou chỉ là “một con khỉ bé nhỏ, dơ bẩn hôi thối với bộ ngực lép” (ông đã viết trong một lá thư chia tay đầy hằn học), nhưng lại là người đã mở cửa cho ông bước vào “mùa gặt hái của trí tuệ chín muồi”. Hai năm sau, khi tâm tình đã trở lại yên ổn, Nietzsche cố làm hòa với Lou. Rồi khi Wagner qua đời, Nietzsche đã nói: “Lou là người đàn bà thông minh nhất tôi từng gặp trong đời”. Nhưng mọi sự đã quá muộn. Lou đã vĩnh viễn chắp cánh bay xa khỏi đời ông!

Ở Berlin, Lou sống chung với Rée 5 năm và mặc dù ông này rất muốn, họ lại chẳng bao giờ có những liên hệ tình dục. Điều Lou muốn là sự tự do rộng đón mọi phiêu lưu. Trở thành nữ văn sĩ và nhà thử nghiệm nổi danh, bà thường lui tới nơi chốn lưu trú của những văn nghệ sĩ ở Berlin.

Năm 1887, Lou gặp Friedrich Carl Andreas. Sanh tại đảo Java, trong huyết thống có lai máu Đức, Mã Lai và Ba Tư, nhà ngôn ngữ học chuyên môn về những tiếng nói phương Đông này có bộ râu quai nón, tóc dài đen và trên thân hình gầy bé lúc nào cũng khoác chiếc áo choàng dài trông giống như một con chim nhỏ mà khí phách hoàn toàn không bằng những kẻ “tiền nhiệm” đi trước. Hôm trước hôn lễ một ngày, Andreas còn phóng dao đâm luôn vào ngực mình! Cái hành động lãng mạn quá đỗi này đã làm Lou cảm động. Cho nên, bất kể nỗi tuyệt vọng ghê gớm của “người anh em” Rée –như bà vẫn gọi thế, Lou nhận lời cầu hôn của Andreas mà không quên bắt người đàn ông này thề rằng sẽ không bao giờ tìm cách... chui vào giường bà! (Gần nửa thế kỷ sau, Lou và Friedrich Andreas vẫn sống cạnh nhau mà mối liên quan giữa hai người vẫn không đi đến kết cuộc của hôn nhân.) Đó là điều khác biệt lớn lao của Lou so với ý tưởng mọi người. Người đàn bà được gọi là “không ngừng chinh phục đàn ông, tự do trong văn chương và viết những trang sách nói về tính dục một cách rất phóng khoáng” này, ít ra vẫn (bất kể ai nghĩ gì về mình) là người còn trinh trắng cho đến lúc gặp thi sĩ người Áo, Rainer-Maria Rilke (1875-1926).

Rainer Maria Rilke (thật ra chính là René-Maria Rilke nhưng Lou đã sửa chữ Renethành Rainer) lúc đó mới 22 tuổi và chỉ là một tài năng mới chớm mà thi tứ vẫn còn hời hợt và “đồi trụy”. Thế rồi không hiểu tại sao, Lou, trội hơn 14 tuổi, lại khám phá thấy ở tay thời thượng trẻ tuổi này cái tầm vóc của một nhà văn lớn? Điều đó vẫn còn nằm trong bí mật. Tuy vậy, suốt 4 năm, đôi tình nhân đã yêu nhau bằng mối tình điển hình nhất trong lịch sử văn học. Và cho đến kết cuộc, chàng tuổi trẻ Rilke trở thành một trong những nhà văn lớn, viết bằng Đức ngữ, của mọi thời kỳ. Sở dĩ thế là bởi vì Lou, không những chỉ yêu, mà còn khuyên can và hướng dẫn Rilke vào thực tế. “Nếu không nhờ ảnh hưởng của người đàn bà tuyệt vời ấy, sự tiến triển của tôi hẳn đã không đi vào con đường này để giúp tôi khám phá được nhiều điều mới lạ.” Đó là lời của Rilke viết về Lou trong một lá thư gửi cho nữ hoàng Von Thurn & Taxis ít lâu sau.

Lou và Rilke cùng đi du lịch ở Nga; lần đầu tiên dĩ nhiên là có Andreas đi cùng, về sau, chỉ họ với nhau. Tuy vậy, Lou đã viết trong nhật ký: “Tôi vĩnh viễn trung thành với kỷ niệm nhưng sẽ không bao giờ trung thành với đàn ông”, và nghĩ đến điều từ bỏ Rilke. Theo bà, một mối tình không nên kéo dài quá hạn đam mê là hai năm! Lúc 40 tuổi, bà bỏ rơi Rilke và viết tác phẩm Erotisme trong khi tự nhủ mình “thừa sức có khả năng để hưởng hạnh phúc.” Phần Rilke, tuyệt vọng vì cảm thấy Lou đã thoát khỏi tầm tay, bèn lập gia đình với Clara Westhoff, một điêu khắc gia trẻ tuổi. Cuộc hôn nhân này chỉ kéo dài một năm và Rilke vẫn không quên nổi Lou. Vài tuần lễ trước khi qua đời, Rilke còn nài nỉ các bác sĩ cho gọi Lou đến để hỏi ý kiến bởi vì “Lou là người thông suốt mọi thứ, chắc chắn sẽ biết cách chữa được nỗi đau khổ của tôi”, Rilke đã nói như thế.

Lúc 50 tuổi, Lou trông còn trẻ và đẹp một cách lạ lùng. Được bao phủ hào quang bởi những huyền thoại đến từ Nietzsche và Rilke, Lou vẫn quyến rũ, cư ngụ tại Vienne và theo học các khóa tâm lý với Freud. Trong lãnh vực mới về tâm tư này, trình độ của bà hoàn toàn ngang hàng với thầy, nhưng lại “rất thơ” –theo lối nói lịch sự hào hoa của Freud- trong khi Freud chỉ là người viết văn xuôi. Bà mở ra cho nhiều người con đường mà đến lúc bấy giờ họ mới biết là cần thiết để chọn. Bà cũng mở văn phòng phân tích tâm lý, đặc biệt chú trọng đến vấn đề... “sáng tạo nghệ sĩ”, như đã từng làm nhiều lần trong thời trẻ với một vũ khí sắc bén lợi hại là Tình Yêu.

Nửa khuya ngày 6/2/1937, được 76 tuổi, Lou đã ngừng thở ngay trong giấc ngủ ở Gottingen, thành phố Đức có nhiều trường đại học. Từ cái chết cách đó 7 năm của chồng, Friedrich Carl Andreas, Lou đã rút về sống ẩn dật trong một ngôi nhà to lớn nhìn xuống thành phố và được dân chúng ở đây đồn đãi như một bà phù thủy có khả năng làm ngừng đập trái tim.

Hai ngày sau khi Lou chết, mật vụ Đức đã lục soát và mang đi nguyên một tủ sách mà đa số là sách viết về tâm thần học, “một khoa học Do Thái” như Phát-xít đã gọi, và đốt bỏ hết.

Ngay trong cái chết, Lou Andreas Salomé cũng vẫn tạo ra được tiếng vang.

[]

 

     


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com