1204-world.gif (4030 bytes)
 

posted: 04.12.04

(Thêm lần nữa, đạo Gia-tô La-mã và chế độ Phát-xít Gia-tô Ngô Đình Điệm được mổ xẻ tường tận dưới ngòi bút như lưỡi kiếm của sử gia Nguyễn Mạnh Quang. Giao Điểm)

           Dẫn Nhập:

SẢN PHẨM CỦA CHÍNH SÁCH NGU DÂN

SỬ NÔ HAY NHỮNG CON ONG NON NGỨA NỌC

 

Từ năm 1964, (sau ngày chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm bị quân dân miền Nam lật đổ) có khá nhiều cuốn sách nơi về giai đọan lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại (từ cuối thế kỷ 18 hay từ Cách Mạng Pháp 1789 tới ngày nay). Đối với những người không am tường lịch sử nước nhà, nhất là những thế hệ trẻ sinh ra và lớn lên sau thời Kháng Chiến 1945-1954, có thể rơi vào tình trạng "bị lạc dẫn". Họ lầm tưởng rằng những cuốn sách này là những tác phẩm lịch sử giống như những cuốn sử khác do những người có căn bản lịch sử đã dầy công tìm đọc và điều nghiên các nguồn tài liệu lịch sử rồi mới biên sọan với một tinh thần vô tư để trình bày cho người đời nhìn thấy những sự thật lịch sử. Thực sự ra những cuốn sách thời đó không hề đề cập đến những nỗi thống khổ dân tộc ta trong những trường hợp như sau:

 

1.- Vào những khi các đoàn quân xâm lược mở những chiến dịch tấn chiếm đất nước với chiêu bài "khai hóa văn minh" cho dân tộc ta , và "đòi quyền được tự do tôn giáo và tự do truyền đạo

2,- Vào những khi quân lính của chính quyền Bảo Hộ với những chiến dịch truy lùng và tiệu diệt các lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta

3.- Vào những khi các tóan quân linh thập tự (lính đạo) từ các đồn bốt hay từ các xóm đạo mở những cuộc hành quân tấc công vào các làng lương đốt nhà, phá đình, phá miếu, đốt chùa, bắn giết bừa bãi, hãm hiếop đàn bà con gái, cướp của mang đi.

4.- Gần một thế kỷ nằm dưới ách thống trị của Liên Minh Pháp – Vatican bằng những chính sách sưu cao, thuế nặng và sử dụng quyền lực của nhà nước để hoặc là dụ khị hay câu nhử những phường háo danh hám lợi "theo đạo để tạo danh đời", hoặc là cưỡng bách hay chèn ép dồn dân ta vào thế cùng phải “theo đạo để lấy gạo mà ăn".

5.- Bị cưỡng bách đi làm lao nô phục dịch cho các công trường xây cât các dinh thự của chính quyền, xây cất các dinh thự nguy nga tráng lệ của các Tòa Tổng Giám Mục, xây cất hàng ngàn ngôi nhà thờ to lớn với tháp chuông cao chất ngất lên đến tận lưng trời ở rải rác khắp nơi trong tòan lãnh thổ. Mỗi một ngôi nhà thờ ở đất nước ta đều được xây xất bằng tài nguyn, vật liệu và sức lao động của nhân dân ta, và một ngôi nhà thờ được hòan thành là có cản hàng trăm cho khi tới hàng ngàn sinh mạng lao nô ngã gục rồi chết đi vì kiệt sức. Nhà thờ càng nguy nga vĩ đại và tháp chuông càng cao thì con số lao nô phục dịch càng nhiều và con số lao nô bị thiệt mạng vì kiệt sức càng cao. Muốn biết tình trạng khốn khổ của họ như thế nào, thiết tưởng chúng ta có thể tìm hiểu một trong ba trường hợp dưới đây:

 

a.- Đời sống và tình trạng làm việc của những người dân phu trong các đồn điền cao su ở trong các tỉnh trong vùng cao nguyền miên nam Trung Việt và miền Đông Nam Việt trong những năm trước tháng 3 năm 1945.

b.- Đời sống và tình trạng làm việc .của những người dân phu là việc tại các mỏ than ở Hòn Gay và Cẩm Phả và những năm trước tháng 3 năm 1975.

c.- Xem phim bộ Tần Thủy Hoàng gồm 32 cuốn công ty Điện Ảnh Trans-continental Video thực hiện vào khoảng cuối thập niên 1980 để biết đời sống và tình trạng lam việc của những người lao nô bị cưỡng bách phục dịch trong công trình xây cất Vạn Lý Trường Thành.

 

Thế nhưng, sau khi đọc hết những ấn phẩm này, những người am tường lịch sử Việt Nam sẽ nhìn thây rõ "đây chỉ là những ấn phẩm do bọn sử nô Gia-tô biên soạn với chủ tâm bóp méo sự thật và xuyên tạc lịch sử với mục đích vừa lấp liếm tội ác của Giáo Hội La Mã và bọn Việt gian Gia-tô đối với tổ quốc và dân tộc Việt Nam, vứa để đánh bóng cho các chề độ đạo phiệt, quân phiệt Gia-tô ở miền Nam Việt Nam và cho cá nhân ông Gia-tô Ngô Đình Diệm. Trước đây, chúng tôi đã nêu đích danh một số "sử nô" thuộc loại này nơi Chương 21 trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000) và trong bài thơ Nỗi Lòng in ở cuối Chương 15 trong bộ sách Thực Chất Của Giáo Hội La Mã (Tacoma, WA: TXB, 1999). Xin ghi lại đây mấy đoạn (trong bài thơ đó) nói về các ông “sử nô” viết sách nhằm đề lấp liếm tội ác chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam của Giáo Hội và bọn cuồng nô vô tổ quốc "thà mất nước, chứ không thà mất Chúa":

 

1.- Cao Thế Dung, tên cuồng gian ngoan cố,

Cũng băng xăng "… Huyết Lệ Sử" trình làng.

Với chủ mưu biện hộ cho cuồng gian,

Y đã viết vòng vo và lươn lẹo.

Xin kể đây vài nơi y lươn lẹo:

Phần nói về kháng chiến của Văn Thân,

Y cố tình chỉ nói đến Nguyên Thân

Lại bỏ qua vai trò Ngô Đình Khả

Ai cũng biết tên Việt gian xảo trá,

Người chủ tâm khai quật mả cụ Phan

Cho thỏa lòng của bè lũ cuồng gian

Nhằm trả đũa việc "Bình Tây Sát Tả".

Một chỗ khác y vô cùng gian trá:

Khi nói về Tây đánh phá Ba Đình,

Y lờ đi chuyện Trần Lục viện binh

Giúp cho giặc đánh tan quân kháng chiến.

Một chỗ khác bốc thơm Ngô Đình Diệm,

Y lờ đi lúc hắn ở Hòa Đa

Hầu giấu đi cái bản chất độc xà

Trong cách khảo tù nhân đầy khủng khiếp.

Còn nhiều nữa, nói làm sao cho xiết!

Theo đúng như sách lược "thả hỏa mù",

Y bớt, thêm hay giả tảng phe lờ

Nhằm mục đích để "lộn sòng lịch sử".

 

2.- Hoàng Ngọc Thành cũng lanh-chanh viết sử,

Nhưng than ôi kiến thức sử không rành!

Lại còn dùng những lời lẽ đành hanh,

Không biết cả khi dân tình sôi sục.

Viết lịch sử mà chỉ nhằm bênh vực

Cho bạo quyền chuyên đục khoét nhân dân.

Viết như thế là bất nghĩa, bất nhân,

Là phản bội vai trò người viết sử.

Người viết sử không phải người biện hộ,

Phải tìm xem cho rõ mọi nguyên nhân

Từ chuyện xa cho đến những chuyện gần,

Phải nói rõ tiến trình từng biến cố.

Phải cố gắng trình bày cho thật rõ

Tình cảnh dân và thế nước ra sao,

Nhà đương quyền xoay sở như thế nào.

Hoàng Ngọc Thành, ông biết chăng điều đó?

 

3.- Phạm Kim Vinh cũng lau-chau viết sử,

Nếu đem cân, trọng lượng kể khá nhiều.

Tiếc rằng y lý luận "lộn tùng phèo"

Đoạn văn trước bị đoạn sau đá ngược.

Có những đoạn giọng văn đầy xấc-xược:

Lời cộc cằn, ngạo ngược thiếu văn minh,

Thốt ra từ tâm trạng mất quân bình,

Y luẩn quẩn nói xuôi rồi nói ngược.

Điều khôi hài, y ngông nghênh hỗn xược:

Tự cho mình mưu chước giống Trương Lương,

Trương Lương sao tâm trí bất bình thường?

Không biết cả lấy "Chính Danh" mà luận.

Dân hồi đó như bừng bừng uất hận,

Như sôi gan căm giận lũ cuồng gian,

Quyết vùng lên đập nát ách bạo tàn

Mà y vẫn u mê không biết rõ.

Trương Lương gì lại giỏ tài nịnh bợ?

Sao lại đi biện hộ cho lũ "Đen"?

Trí óc ngươi còn mông muội lem-nhem,

Người hãy về đọc thêm nhiều sách sử.

Ta biết ngươi vì máu sôi thù Đỏ,

Mới hăng say đi bợ đỡ lũ Đen.

Tiếc rằng ngươi không biết gốc rễ Đen!

Người đừng quên "chính Đen sinh ra Đỏ".

 

4.- Tới Lữ Giang cũng học đòi viết sử,

Cũng hiếp dâm ngôn ngữ để nhập nhằng:

Dùng cụm từ "… Thánh Chiến", giọng hung-hăng

Để chạy tội cho bạo quyền đồng đạo.

Thể hiện đúng trí năng người cuồng đạo,

Cứ khăng khăng quyết "cãi cối cãi chầy",

Không biết rằng lịch sử đã phơi bày

Những sự thật mà ai ai cũng rõ.

 

5.- Nguyễn Văn Chức cũng ti-toe viết sử,

Với chủ tâm biện hộ cho nhà Ngô

Tội kết bè cùng với lũ cuồng nô,

Tội lạm quyền làm cho dân khốn khổ.

Trong ý đồ nhằm ăn gian lịch sử

Cụm "Việt Nam Chính Sử" được đem dùng,

Bất kể là nghe có thuận hay không.

Làm như vậy là "hiếp dâm ngôn ngữ".

Viết lịch sử mà chỉ nhằm biện hộ,

Lại cố tình dùng chữ "chính" nhập nhằng

Cho người đời không biết sẽ tưởng lầm

Sách y viết là một "nguồn chính sử".

Viết như thế là ăn gian lịch sử,

Từ ngàn xưa người quân tử không làm.

Nếu không gian, hà tất chịu tiếng oan?

Quân bất chính thường to mồm chính nghĩa.

 

6.- Vũ Đình Hoạt hiện nguyên hình bất nghĩa,

Cũng học đòi "Tôn Giáo Chính Trị Quan",

Dùng những từ "biểu kiến" để ăn gian

Hầu chạy tội cho bọn "Ngô với Đĩ"

Nhớ lại thời miền Nam nhờ thế Mỹ

Có câu rằng "Nhất đĩ rồi đến cha"

Tu hành gì mà lời lẽ chua ngoa,

Chảnh chọe quá, không khác gì con đĩ.

Là tu sĩ phải "dĩ hòa vi quý".

Sao lại như một "con đĩ thập thành"?

Hay ho gì những ngôn ngữ chua chanh!

Ngươi đã quên mình đang là cha cố.

Phe đảng này thật vô cùng láu cá!

Đang diễn trò gian trá đại quy mô

Hè nhau cùng viết sách và làm thơ

Tung hỏa mù mưu đồ lừa thiên hạ.

Tôi xin đạo đừng dạy đời man trá,

Xin dạy đời sống theo đạo lương tâm,

Dạy cho đời biết mở rộng lòng nhân,

Không cần phải "lạy cầu" và "hối lộ"

Trời, Phật, Chúa không nhận đồ hối lộ.

Đừng dạy đời dâng lễ vật vẽ vời,

Đừng tưởng lầm Chúa ngự ở trên Trời,

Sẽ tha thứ cho những ai dâng hối lộ.

Xin đừng tưởng có thánh thần phò trợ

Bày vẽ ra chuyện lảm-nhảm cầu xin,

Trời, Phật Chúa không cả nể dễ tin

Lời xiểm nịnh của những phường xảo quyệt.

Tôi viết đây với tấm lòng tha thiết

Cho người đời hiểu rõ hết sự tình:

Đạo đã làm tan nát cả gia đình,

Đã tạo nên biết bao điều sầu thảm.

Tôi viết đây với nỗi buồn thăm thẳm

Cho bạn tôi, cho tất cả mọi người

Biết rõ điều tai hại nhất ở đời

Là chuyện biến dân lành thành cuồng đạo.

Người cuồng đạo chì biết tin theo đạo,

Không nhìn ra trong đó có điều gian,

Không nhìn ra đạo đã quá bạo tàn,

Mà vẫn cứ khăng khăng là "chính đạo".

Khi người ta đã trở thành cuồng đạo,

Sẽ thành người "mất trí, mất lương tâm",

Từ “hăng hái” dễ làm chuyện bất nhân

Sốt sắng quá trở nên người hung bạo.

Tôi thiết tha xin các nhà tôn giáo

Hãy dọn mình sống đời sống vị tha,

Hãy đặt mình vào địa vị người ta,

Bị cưỡng ép phải làm điều không thích.

Có như thế rồi các Ngài mới biết

Bắt người ta theo đạo lúc thành hôn,

Khăng khăng đòi chiếm cho được phần hơn,

Là lắt léo, không quang minh chính đại.

Tôi cầu mong xin các Ngài nghĩ lại,

Đùng làm gì nguy hại đến tình người,

Hãy sống sao cho đúng đạo làm người,

Đừng đem đạo dựa nhờ vào quyền chính.

Đạo các Ngài đã từng gây thánh chiến,

Lập các tòa dị giáo ở Âu Châu,

Gửi quân đi chinh phục khắp hoàn cầu

Dưới danh nghĩa là đoàn người truyền giáo.

Tội ác này đã được Ngài Giáo Chủ

Áy náy hòai nên xin lỗi với muôn dân.

Xin những ai tin đạo hãy vì dân,

Đừng vì đạo mà nhẹ tình đất nước.

Đùng vì đạo mà nhẫn tâm bán nước,

Mà đang tâm "cõng rắn cắn gà nhà",

Mà tự xưng là "người Việt Quốc Gia"

Thầu chống Cộng để ăn tiền viện trợ.

Tôi thành khẩn xin các ngài tu sĩ

Đừng hiếp dâm ngôn ngữ để lộn xòng,

Dùng hoa ngôn như một bức bình phong,

Hầu bưng bít những việc làm nham nhở…

 

Gần đây, lại thấy bài viết Lịch Sử Việt Nam đăng trong website: vietnamconghoa.com/index.html. của tác giả Phạm Quân Khanh, và cuốn sách có tựa đề là "Cuộc Chiến Tranh Quốc Gia - Cộng Sản Sự Kiện - Nhân Chứng – Tài Liệu Tập I…" (Santa Clara, CA., TXB, 2002) của các tác giả Dương Văn Nghị, Nguyễn Châu, Lương Văn Toàn, Lê Hữu Phú và Hoàng Đức Phương (thuộc Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử Hải Ngoại). Cả hai ấn phẩm này đều có những luận điệu bóp méo sự thật và xuyên tạc lịch sử với chủ đích như trên.

 

Những quyển sách hay những bài viết đăng trên những websites mà chúng tôi đọc thấy có nội dung tương tợ như thế đã xem việc viết sử như một trò đùa thích thú. Họ dùng phương tiện truyền thông dễ dàng hiện đại để phổ biến vung vít bừa bãi những tư kiến của phe phái. Họ chẳng cần nghiên cứu, bất chấp cả giá trị của bài viết chỉ nhằm cứu gỡ cái danh dự của một tập thể đã bị giống nòi khinh bỉ và đào thải .

 

Đây là vấn đề chúng ta cần phải suy nghĩ.

 

Phải chăng đây là một chiến dịch đại quy mô được phát động nhằm thi hành sách lược bóp méo sự thật và xuyên tạc lịch sử để hỗ trợ cho những chiến dịch cổ võ cho những hoạt động của mấy cái gọi là “Phục Hồi Đức Tin”, "Phục Hồi Tinh Thần Ngô Đình Diệm", "Phục Hồi Miền Nam Việt Nam" và "Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation"? Mưu đồ phản quốc phản dân tộc các tổ chức này đã được thể hiện ra qua việc Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation viết thư gửi Liên Hiệp Quốc thỉnh cầu tổ chức quốc tế này dùng quyền lực cưỡng bách chính quyền Việt Nam hiện nay phải tôn trọng Hiệp Định Geneve 1954 và Hiệp Ước Paris 1973 nhằm tái lập tình trạng chia đôi đất nước Việt Nam như thời kỳ 1954-1975 để cho Toà Thánh Vatican đưa bọn người “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” tái lập chế độ đạo phiệt Gia-tô ở miền Nam Việt Nam. Hành động này giống Giáo Hội La Mã đã tách rời Đông Timor ra khỏi nước indonesia vào những năm 1999-2002 để rồi tiến hành cuộc tắm máu để “phục thù " hầu "làm sáng dánh Chúa” như chúng đã từng làm ở Âu Châu trong thời Trung Cổ với gần 100 triệu nạn nhân, ở Croatia trong những năm 1941-1945 với trên 700 ngàn nạn dân trong tổng số dân gần 3 triệu, và ở Rwanda (Phi Châu) dưới quyền chỉ đạo của tên Giám-muc Augustin Misago vào những tháng 4, 5, 6, và 7 năm 1994 với trên 800 ngàn dân trên tổng số dân là 8.196.000 người..

 

CHƯƠNG 1 .

 

NHẬN ĐỊNH VỀ BÀI VIẾT LỊCH SỬ ViỆT NAM

CỦA TÁC GiẢ PHẠM QUÂN KHANH

 

Trong bài viết Lịch Sử Việt Nam của ông Phạm Quân Khanh, không thấy một lời giới thiệu về trình độ học vấn cũng như căn bản sử học và nghề nghiệp của tác giả. Lần đầu tiên người đuợc biết tên tác giả khi đọc bài viết này. Bài viết này gồm có 2 Chương (chính), một Phụ Chương và phần Tài Liệu Tham Khảo..

 

Chương Một có tựa đề là Khái Lược Về Nhân Văn. Chương này chia làm 3 phần: Phần i chia làm 3 tiểu mục A, B và C. Mục A nói về nhân chủng. Mục B nói về di chuyển và thực phẩm. Mục C nói về trí tuệ. Phần ii nói về địa lý và quốc hiệu, và Phần iii nói về đại cương văn hóa Việt tộc.

Chương Hai không có tựa đề, gồm có 24 phần. Đọc hết 24 phần mới biết chủ ý của tác giả là nói sơ lược lịch sử Việt Nam từ thời đại thái cổ (trước thế kỷ 29 trước Dương lịch) cho tới phần chót là Phần XXiV có tựa đề là Nhật tranh quyền đô hộ với Pháp ở Việt Nam. Trong phần chót này, tác giả nói đến ngày 15 tháng 8 năm 1945 là ngày Nhật đầu hàng Đồng Minh và nước Việt Nam bị chia đôi, "trao quyền cho Anh quản trị ở miền Nam và cho Trung Hoa ở miền Bắc". Tác giả kết luận "Từ ngày ấy, Việt Nam bị rơi vào nạn chiến tranh giành giật giữa các thế lực đế quốc".

Phụ Chương có tựa đề là Khái Quát Việc Tranh Chấp Giữa Các Đế Quốc Ở Việt Nam. Chương này không chia ra từng phần như Chương Một và Chương Hai, mà chia ra từng đọan văn. Tất cả có 10 đọan.

 

Đoạn 1, tác giả tuyên bố sự thành công Cách Mạng Công Sản tại Nga vào năm 1917 đã "trở nên khủng khiếp đối với nhân lọai, và ảnh hưởng của Cách Mạng Cộng Sản Nga lan tràn mau lẹ sang các quốc gia nghèo đói và bị ngoại bang đô hộ."

 

Đoạn 2 mở đầu bằng câu văn nói về đảng Cộng Sản Trung Hoa được thành lập vào năm 1920, rồi chuyển sang nói sơ lược về những họat động của ông Nguyễn Ái Quốc ở Trung Hoa từ năm 1925 cho đến năm 1942 bị chính phủ Trung Hoa bắt giam, tới năm 1943 "được ông Nguyễn Hải Thần xin tha” rồi đổi tên là Hồ Chí Minh.".

 

(Theo sự hiểu biết của người viết, ông Nguyễn Ái Quốc lấy tên Hồ Chí Minh kể từ ngày 13 tháng 8 năm 1942, và bị chính quyền đia phương của chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt tại thị trấn Túc Vinh, thuộc huyện Tĩnh Tây, Quảng Tây vào ngày 29/8/1942, và mãi đến ngày 9 tháng 8 năm 1944) mới được tha.)

 

Đoạn 3, tác giả tuyên bố khẳng định chắc nịch rằng năm 1945 ông Hồ Chí Minh nhận lệnh Cộng Sản Nga về Việt Nam cướp quyền cai trị.

 

Đoạn 4, tác giả nói rằng theo quyết định của các Hội Nghị Yalta và Potsdam, quân Anh đến miền Nam vĩ tuyến 16 tước khi giới, Pháp được Anh cho phép đem quân trở lại Việt Nam rồi thương thuyết với Trung Hoa đem quân ra Bắc. Trong khi đó thì ông Hồ Chí Minh "tìm cách lột vàng của nhân dân để đút lót cho Tiêu Văn, Lư Hán và Hòang Cương” để cho đoàn quân ô hợp này rút về bên kia biên giới và trao quyền cho ông Hồ Chí Minh.

 

Đọan 5 vỏn vẹn có một lời tuyên bố của tác giả nói rằng việc Pháp khai chiến đánh (đúng ra là gây gấn) Hà Nội và Pháp mở đầu cho cuộc chiến kể từ ngày 19/12/1946 tranh giành quyền lợi ở Việt Nam giữa một bên là Cộng Sản và một bên là Thực Dân. "Cuộc chiến tranh nhơ bẩn và khủng khiếp kéo dài tới ngày 20/7/1954".

 

Đọan văn 6 nói vể tình trạng Việt Nam bị chia đôi theo Thỏa Hiệp Genève 1954. Miền Bắc vì tích cực tăng cường khả năng chíên tranh khiến cho nhân dân vô cùng khổ cực và bị đày đọa. Miền Nam, "thế lực quốc tế chuyển biến khác với năm 1954", nhắc tới việc ông Ngô Đình Diệm tổ chức trung cầu dân ý vào ngày 23/10/1955 để truất phế ông Bảo Đại. Tác giả viết “chế độ quân chủ chấm dứt Bảo Đại, và vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn, tay sai cho Pháp, bị truất phế. ".

 

Đoạn 7 là một trong 3 đọan văn ngắn nhất, chỉ vỏn vẹn có ba câu ngắn ngủi . "Ngày 26-10-1956 chính phủ dân cử Ngô Đình Diệm tuyên bố nước Việt Nam theo chế độ Cộng Hòa và là một nước Độc Lập. Chế độ đô hộ Pháp chấm dứt. Quân đội Thực dân rút ra khỏi Việt Nam.”

 

Đoạn 8, tác giả khẳng định chắc nịch rằng "năm 1954, ông Diệm trở về Việt Nam làm thủ tướng là nhờ tếê lực Mỹ. Ông lại dùng thế lực Mỹ để đuổi Pháp ra khỏi nước (1955)”. Sau đó, ông muốn thực hiện miền Nam tự trị, nhưng không được Mỹ đồng ý. Tác giả khẳng định “Ông (Diệm) từ chối việc để Mỹ đem quân vào Việt Nam. Nhưng đến khi Mỹ mở đường cho Cộng Sản tấn công miền Nam (1958), Ngô Đình Diệm đã phải để cho Mỹ “tăng viên trợ quân sự. Tuy nhiên vẫn không chấp thuận quân Mỹ xâm nhập. Ông bị Mỹ giết. Từ đó Mỹ cho những bộ hạ người Việt dễ sai bảo ra lập chính quyền bù nhìn để cho Mỹ dễ thao túng.".

 

Đoạn 9 và đọan 10 được coi như là phần kết luận của tác giả, trong đó tác giả tuyên bố “Mỹ đã dùng Việt Nam như là một địa bàn thử nghiệm chiến tranh và dùng Nga và Tầu (qua chiến tranh Việt Nam) để quân bình thế đối lực, hầu giải quyết tình trạng bành trướng thái quá của mình." Và sau đó Mỹ thay đổi chính sách rút về nước để mặc cho Cộng Sản cai trị Việt Nam."

NHẬN XÉT TỔNG QUÁT VỀ TRÌNH ĐỘ KIẾN THỨC

VÀ KHẢ NĂNG SỬ HỌC CỦA TÁC GiẢ

 

Nhìn vào phương cách viết sử (tuyên bố khẳng định một cách võ đóan, không cần chứng minh hay trích dẫn tài liệu), và phương cách kê khai các tài liệu (không đúng cách), ta có thể nói tác giả:

A.- Không theo học bậc tiểu và trung học ở Hoa Kỳ hay ở trong bất kỳ quốc gia theo chế độ dân chủ tự do có thi hành chính sách giáo dục khai phóng. Trong chính sách giáo dục khai phóng, giáo viên được huấn luyện đúng theo tiêu chuẩn sư phạm trong ngành chuyên môn để làm tròn sứ mạng khai tâm và mở mang trí tuệ cho học sinh.

 

B.- Không học qua một bài học nào về phương cách nghiên cứu hay viết một bài khảo luận. Đây là thực trạng chung của những học sinh và sinh viên đã theo học từ bậc tiểu, trung học và đại học qua chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 hay trước đó ở Đông Dương từ năm 1862-1954.

 

C.- Không hiểu biết (dốt) lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại cho nên không biết gì về tội ác trùng trùng của Giáo Hội La Mã và bọn Việt gian gia-tô (trong đó có cha con và anh em tên Gia-tô Ngô Đình Diệm) đối với tổ quốc và dân tộc Việt Nam. Cũng nên biết rằng, người dân Việt Nam đã kinh qua cuộc chiến giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước kéo dài từ tháng 9 năm 1945 cho đến ngày 30/4/1975 mới chấm dứt. Sự kiện này đã được nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ghi nhận trong bài ca Gia Tài Của Mẹ với những lời ca thống thiết "Một ngàn năm nô lệ giặc Tầu, một trăm năm nô lệ giặc Tây, ba mươi năm nội chiến từng ngày.."

 

Nói đến "một trăm năm nộ lệ giặc Tây và ba mươi năm nội chiến từng ngày", ngay cả em bé học sinh vừa mới học xong lớp 5 tiểu học cũng có đủ khả năng trí nhớ để nhớ lại những bài học lịch sử trong cả hai thời kỳ này. Ấy thế mà ông Phạm Quân Khanh, tác giả bài viết Lịch Sử Việt Nam lại không biết điều này và cũng không có đủ khả năng thông minh để suy nghĩ và tìm đọc tài liệu lịch sử liên hệ đến đề tài trước khi biên soạn. Vì thế cho nên, ông mới không nói gì đến vai trò của Giáo Hội La Mã và của giới tu sĩ cũng như tín đồ Gia-tô trong suốt hai thời kỳ "một trăm năm nô lệ giặc Tây và ba mươi năm nội chiên từng ngày" . Tệ hơn nữa, ông lại còn nhắm mắt khen tụng tên Gia-tô phản thần tam đại Việt gian bằng hai đọan văn sặc mùi Gia-tô và nói lên cái bản chất sử nô của ông. Dưới đây là nguyên văn lời viết của ông Phạm Quân Khanh:

 

"Ngày 26 - 10 - 1955, chính phủ dân cử (sic) Ngô Đình Diệm tuyên bố nước Việt Nam theo chế độ Cộng Hoà và là một nước Độc lập. Chế độ đô hộ của Pháp chấm dứt. Quân đội thực dân rút khỏi Việt nam.

Trước đó, năm 1954, Ngô Đình Diệm trở về Việt Nam làm Thủ tướng nhờ thế lực của Mỹ. Ông lại dùng thế lực Mỹ để đuổi Pháp ra khỏi nước (1955) (sic). Về sau, Ngô Đình Diệm muốn thực hiện nền tự trị, (sic) nhưng không được Mỹ chấp thuận. Ông từ chối việc để Mỹ mang quân vào Việt Nam.(sic) Nhưng đến khi Mỹ mở đường cho Cộng Sản tấn công miền Nam (1958) (sic), Ngô Đình Diệm đã phải để Mỹ "tăng viện trợ" quân sư.. Tuy nhiên vẫn không chấp thuận cho quân Mỹ xâm nhập (sic). Ông bị Mỹ giết ngày 1 tháng 11 năm 1963.(sic) Từ đó Mỹ cho những bộ hạ người Việt dễ sai bảo ra lập chính quyền bù nhìn để Mỹ toàn quyền thao túng.."

 

Tác giả Phạm Quân Khanh về việc đã đưa ra những lời tuyên bố khẳng định chắc nịch như đóng đinh rằng:

1.- Chính phủ Ngô Đình Diệm là một "chính phủ dân cử"?.. :

2.- Ông Ngô Đình Diệm nhờ thế lực Mỹ đuổi Pháp ra khỏi Việt Nam vào năm 1955?

3.- Ông Ngô Đình Diệm từ chối để Mỹ mang quân vào Việt Nam?

4.- Mỹ mở đường cho Cộng Sản tấn công miền Nam ?

5.- Ông Ngô Đình Diêm đã phải để Mỹ tăng viên trợ quân sự?

6.- Ông Ngô Đình Diệm vẫn khôing để Mỹ xâm nhập.?

7.- Ông Ngô Đình Diệm bị Mỹ giết vào ngày 1/11/1963.?

 

Trên đây là một số những luận điệu xuyên tạc sự thật và bóp méo lịch sử để vừa lấp liếm chay tội cho cái gọi là "Chính Quyền Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa" vừa để tô son điểm phấn cho cá nhân ông Gia-tô Ngô Đình Diệm.

 

CHỨNG MINH NHỮNG ĐIỀU KHÔNG ĐÚNG

TRONG BÀi LỊCH SỬ ViỆT NAM

CỦA TÁC GiẢ PHẠM QUÂN KHANH

 

Trở lại phần NHẬN XÉT về trình độ kiến thức tổng quát và khả năng sử học của tác giả Phạm Quân Khanh,, người viết xin nêu ra mấy vấn đề dưới đây:

 

A.- Nếu đã học hết bậc trung học ở một quốc gia thi hành chính sách giáo dục khai phóng thi tất nhiên tác giả Phạm Quân Khanh phải biêt kê khai tài liệu theo đúng phương pháp mà nhà trường đã dạy. Lấy thí dụ trong phần Tài Liệu Tham Khảo, đáng lý ra phải viết:

Trần Trong Kim, Việt Nam Sử Lược, Sàigòn: Bộ Giáo Dục, 1972, tác giả lại viết:

Việt Nam Sử Lược Trần Trong Kim.

 

Độc giả có thể kiểm chứng sự kiện này bằng cách xem phần tài liệu tham khảo hay bibliogaphy trong các ấn phẩm viết về lịch sử của các tác giả có học vị đại học như:

 

1.- Vietnam: A Political History (New York: Frederick A. Praeger, 1968) của Joseph Buttinger

2.- Công Giáo Chính Sử (Garden Grove, CA:, 1999) của Tiến-sĩ Trần Chung Ngọc

3.- Secret Army Secret War (Anapolis, MD:, 1995) của Sedgwick Tourison

4.- The Two Vietnams (New York:Frederick A. Praeger: của Bernard B. Fall

5.- Fire in The Lake (New York: Vintage Books, 1969) cura Frances FitzGerald

Ngoài việc không biết ghi tài liệu trong phần tài liêu tham khảo (ghi không đúng cách), tác giả còn không ghi đúng tên sách, thí dụ: đúng tên cuốn sách của ông Lê Văn Siêu là “Văn Minh Việt Nam" thì tác giả lại ghi lộn ngược và gắn thêm chữ "sử" ở sau, thành ra "Việt Nam Văn Minh S" của Lê Văn Siêu.

 

B.- Dùng lối viết đưa ra những lời tuyên bố khẳng định chắc nịch như đóng đinh mà không cần chứng minh. Đây là thói quen võ đoán của những kẻ cả, những người có quyền thế, những thành phần nằm trong giai cấp thống trị của một chế độ bạo trị. Thói quen võ đóan này có những đặc tính tự tôn, tự đại, tự phong cho cá nhân mình và băng đảng của mình là số 1 trong thiên hạ, có toàn năng, toàn trí, có toàn quyền thống trị nhân dân dưới quyền. Đây là trường hợp của Giáo Hội La Mã với lời tuyên bố khẳng định chắc nịch như đinh đóng cột rằng,“Ngoài Giáo Hội không thể có cứu rỗi" (Hors de ‘ Église, point de salut" ( , rằng, "Giáo Hòang không lầm lẫn", trường hợp của tên bạo chúa Louis XiV (1638-1715) với tuyên bố mang nặng tính cách "mục hạ vô nhân" rằng, "L’ État, c’est moi" (Quốc Gia là ta.) , và trường hợp của tên bạo chúa Gia-tô Ngô Đình Diệm với lời tuyên bố ngược ngạo rằng, "Sau lưng Phật giáo, trong nước còn có Hiến Pháp, nghĩa là có tôi."

 

Đây cũng là thói quen của bọn văn nô và sử nô Gia-tô vốn đã bị nhồi sọ tới mức độ bị điều kiện hóa, không còn khả năng sử dụng lý trí để lý luận và phân tích sự vật. Tình trạng này đã khiến cho họ khi viết sử, chỉ còn có thể viết theo lệnh truyền của các đấng bề trên nhằm để tô son điểm phấn, vinh danh và suy tôn Giáo Hội La Mã và các chinh quyền đạo phiệt Gia-tô tay sai của Giáo Hội tại các địa phương. Đặc tính bị điều kiện hóa này đã được một văn nô Gia-tô công khai viết ra trong bài viết đăng ở mục “Bạn Đọc Góp Ý” trong tờ Văn Nghệ Tiền Phong số 548 (Từ ngày 16 đến 30 tháng 11 năm 1998), trong đó có mấy câu văn tuyên bố để đời như sau:

"Một sử gia có lương tri, hãy tôn trọng lời khuyên của các bậc tiền bối răn dạy con cháu: “Tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy lạ.”. Tôn trọng sự thật là một lẽ, mà cái sự thật đó viết ra bởi người ngoại bang đáng tin, hay bởi người cùng chủng tộc đáng tin?".

 

Tác giả mấy câu văn bất hủ trên đây là một tín đồ Gia-tô và cũng là nhân vật nổi trong cái gọi là "Phong Trào Phục Hưng Tinh Thần Ngô Đình Diệm" (đúng ra phải gọi là "Phong Trào Phục Hưng Tinh Thần Tam Đại Việt Gian Gia-tô Ngô Đình Diệm") tại tiểu bang Washington vào những năm 1995-1998 . Khỏi cần mất công tìm hiểu, ai cũng biết rằng các bậc tiền bối của ông văn nô Gia-tô này là tất cả các vị chức sắc trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã từ thế kỷ 4 cho đến ngày nay. Nói đến Giáo Hội La Mã, không thể nào không nói đến cái bản chất tự tôn, tự đại, tự phong của một kẻ cả luôn luôn có thái độ “nhìn đời bằng nửa con mắt". Cái bản chất hợm hĩnh và ngu xuẩn này đã thể hiện ra qua lời tuyên bố rằng "Ngoài Giáo Hội không thể có cứu rỗi" như đã nói trên. Không phải chỉ tuyên bố khẳng định chắc nịch như trên, mà Giáo Hội La Mã còn có những hành động xấc xược ngược ngạo giống như một thứ siêu bạo chúa. Những hành động này được Giáo-sư Lý Chánh Trung ghi lại trong sách Tôn Giáo Và Dân Tộc với nguyên văn như sau::

 

"Trong xã hội lòai người, Giáo Hội không bao giờ công nhận cho các tôn giáo khác hoặc cho những người không công giáo cái quyền ăn nói ngang hàng với mình, bởi cái lý do giản dị, chỉ Giáo Hội mới có sự thật mà chỉ có sự thật mới có quyền ăn nói. Người sai lầm thì chỉ có mỗi một quyền: quyền sửa sai.

Trong Thông điệp ngày 29-4- 1814 gởi Đức Giám-mục địa phận Troyes, Đức Giáo Hoàng Pie Vii (1800-1823)) viết: “Người ta lẫn lộn sự thật với sự sai lầm, người ta đặt vị Hiền Thê thánh thiện và tinh truyền của Đức Ki-tô (tức Giáo Hội Công Giáo) ngang hàng với những giáo phái lạc đạo và ngay cả với bọn Do Thái bất tín”. Đức Giáo Hoàng Grégoire XVi (1831-1846) đã gọi tự do báo chí là "thứ tự do tai hại nhất, đáng ghét nhất, kinh tởm nhất mà một số người dám đòi hỏi một cách ồn ào cuồng nhiệt và quảng bá khắp nơi..."

 

Ghê tởm nhất là việc Giáo Hội ban hành sắc chỉ Romanus Pontifex vào ngày 8 tháng 1 năm 1454 trong thời Giáo Hoàng Nichola s V (1447-1454). Hành động bạo ngược và dã man này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi nhận như sau:

 

"...., quyền lợi của Bồ Đào Nha đã được phân định rõ ràng trong sắc chỉ "Romanus Pontifex" do Đức (Giáo Hoàng) Nicholas V (1447-1455) ra ngày 8 tháng Giêng năm 1454. Theo quyền lực Chúa ban và quyền lực của Tòa Thánh, Đức Giáo Hoàng ban cho triều đình Lisbon (Bồ Đào Nha) "toàn quyền tự do xâm lăng, chinh phục, chiến đấu, đánh giặc và khuất phục tất cả các quân Sarrasins (tức người Ả Rập), các dân ngoại đạo và các kẻ thù khác của Giáo Hội, gặp bất cứ nơi nào: được toàn quyền chiếm cứ tất cả các vương quốc, lãnh địa, vương hầu, đất đô hộ và tài sản của chúng; toàn quyền chiếm đoạt tất cả của nổi và của chìm của chúng và bắt tất cả chúng nó làm nô lệ vĩnh viễn".

Khi ban quyền cho người Bồ Đào Nha được chiếm mọi thứ lợi lộc kể trên, Giáo Hoàng đồng thời cũng muốn mở mang nước Chúa sang các miền xa xôi. Và để nhà vua Bồ Đào Nha yên tâm hơn, Giáo Hoàng ra lệnh cấm không một ai khác được phép đặt chân tới các vùng đất ấy nếu không có phép của nhà vua, dành cho nhà vua độc quyền buôn bán và ra vạ tuyệt thông tức khắc cho bất kỳ ai dám hành động ngược lại." T

 

Trở lại chuyện ông văn nô Gia-tô tác giả bài viết “Bạn Đọc Góp Ý” (đăng trong tờ Văn Nghệ Tiền Phong số 548, tháng 11 năm 1998),. đưa ra lời tuyên bố chắc nịch rằng, "Tôn trọng sự thật là một lẽ, mà cái sự thật đó viết ra bởi người ngoại bang đáng tin, hay bởi người cùng chủng tộc đáng tin?”.Vậy xin đặt vấn đề với ông bạn văn nô này như sau:

 

A.- Những điều mà quý vị tin là sự thật ghi trong Thánh Kinh Kitô Giáo (cả Cựu Ước và Tân Ước) và do Giáo Hội La Mã rao truyền có phải là của người ngọai bang bịa đặt ra không?"

B.- Kể từ năm ngày 20 tháng 5 năm 325 (ngày Hòang Đế Constantine (280-337) triệu tập Hội Nghi Nicaea để thông qua tín lý Chúa Ba Ngôi) cho đến ngày nay, không có một người Việt Nam nào là tác giả của một tín lý hay giáo luật do Giáo Hội La Mã đặt ra cả.

Vậy thì CÓ NÊN TIN VÀO những gì ghi ở trong thánh kinh và những lời dạy của Giáo Hội La Mã không?.

 

Nhân đây, xin quí vị tín đồ gia tô người Việt hãy suy nghĩ về những vấn đề dưới đây:

 

1.- TẠI SAO Giáo Hội La Mã phải theo đuổi chủ trương “Thần quyền (tôn giáo) chỉ đạo thế quyền (chính quyền) và "chính sách bất khoan dung" đối với các tôn giáo khác?

2.- TẠI SAO Tòa Thánh Vatican đã phát động hàng gần chục cuộc chiến thập tự đem quân lính thập ác tấn công vào các vùng thuộc các sắc dân theo các tôn giáo khác và tàn sát cả mấy chục triệu lương dân vô tội?

3.- TẠI SAO lại thiết lập các Tòa Án Điều Tra Dị Giáo sát hại đến gần 100 triệu nạn nhân bị gán cho là tà giáo và phủ thủy trong đó có Linh-mục John Huss (1373-1415), bà Jeanne d’ Arc (1412-1431), Linh-mục Savornarola Girolamo (1452-1498), Linh-mục Bruno Giordano (1548-1600), v.v..?

4.- TẠI SAO.ông Charles Nguyễn, một bậc trí giả thuộc một gia đình đã theo đạo Gia-tô từ thế kỷ 16, lại gọi đạo Kitô La Mã (Giáo Hội La Mã) là "đạo máu" và "đạo bịp" ?

5.- TẠI SAO văn hào Voltaire lại gọi đạo Gia-tô của các bạn là "Tôn Giáo ác ôn"?

6.- TẠi SAO học giả Gia-tô Henri Guillemin lại gọi Giáo Hội La Mã của các bạn là "Cái Giáo Hội Khốn Nạn" (Malheureuse Église)

7.- TẠI SAO nhân Âu Châu lại ghê tởm Giáo Hội La Mã đến độ phải tránh xa Giáo Hội như tránh hủi? Sự kiện này được học giả Gia-tô Phan Đình Diệm ghi nhận như sau:

"Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh trong thời cực thịnh kinh bang tế thế , đội vương miệng cho các hoàng đế, tung hoành dọc ngang, làm mưa làm gió, thâu tóm cả thiên hạ trong tay, tiền rừng bạc biển, đã không biết tự chế, không học bài học khiêm hạ rửa chân, tự cao tự đại, coi bàn dân thiên hạ như cỏ rác… Hôm nay hối bất cập, lịch sử còn nằm trơ ra đó. Người Âu Châu khiếp sợ Giáo Hội và tránh xa như tránh hủi. Người Á Châu có thành kiến ghép Giáo Hội vào với ông Tây thực dân…"

8.- TẠI SAO tất cả các nước Âu Châu , Bắc Mỹ, Do Thái, tất cả các nước theo Hồi Gíao, tất cả các nước như Ấn Độ, Thái Lan, Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, v.v… đều chống lại Giáo Hội La Mã" (Xin xem lại Chương Dẫn Nhập của bộ sách Lịch Sử Va Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã, đã được đăng trên www.giaodiem.com tháng 6/2004

9.- TẠI SAO các quốc gia theo chế độ tự do dân chủ ở trên thế giới đều ghi điều khoản “tách rởi tôn giáo ra khỏi chính quyền"?

10.- TẠI SAO nhà báo Long Ân đã đưa ra một nhận xét vể tôn giáo của các bạn bằng những lời: lẽ dưới đây:

“Tôn giáo đã mở cánh cửa để con người đến với con người trong nhân ái, trong từ bi, trong bác ái. Nhưng chính con người đã đào những hào chông, rào những kẽm gai để con người chia cách nhau. Con người đã nhân danh tôn giáo để làm những chuyện điên cuồng nhất, đã nhân danh tôn giáo để biện minh cho quyền lực phi nhân áp đặt lên đầu kẻ khác. Con người đã phản lại tôn giáo, đã chặt đứt cây cầu đưa đến cuộc tìm kiếm chính mình, đã cúi đầu trên bốn chân để từ con người trở về với nguồn gốc của con người súc sinh."

 

Trong ngôn ngữ Việt Nam, con chiên tức là con cừu, môt sinh vật được xếp loại vào hàng súc vật thuộc giồng thú vì nó có bốn chân và đi bằng cả bốn chân (khác với loài khỉ, có thể đi băng hai chân). Vì đi bằng bốn chân cho nên khi di chuyển nó phải cúi đầu xuống. Đây là một trong những lý do mà nhà báo Long Ân mới đưa ra nhận xét như trên.

 

Thấy rằng cái lối viết sử "bằng cách đưa ra lời tuyền bố chắc nịch, không cần phải chứng minh” đã bị giai cấp thống trị và bọn văn nô, sử nô lợi dụng để “bưng bít và bóp méo những sự thật lịch sử bất lợi cho họ" và để làm những hành động mà ông Thiện Nhân gọi là "mặc áo thụng tự vái", các bậc trí giả mới tìm ra phương cách ngăn chặn tình trạng này bằng cách đưa ra một phương cách viết sử thường được nói nôm na là "nói có sách mách có chứng". Đây là cách viết theo phương pháp khảo luận mà các học giả phải theo để biên sọan những đề tài có liên hệ đến một thế lực hiện còn có quyển lực hoặc ảnh hưởng đối với nhân dân, thí dụ như Giáo Hội La Mã hiện nay.

 

TRƯỜNG HỢP ÔNG PHAM QUÂN KHANH

VIẾT BÀI LỊCH SỬ ViỆT NAM CHO

TỔ CHỨC VNCH FOUNDATION

 

Người viết không biết tác giả Phạm Quân Khanh có phải là tín đồ Gia-tô hay không. Có một điều chắc chắn là ông Khanh viết bài Lịch Sử Việt Nam cho Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation. Người viết đã viết cả một cuốn sách có tựa đề là Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation để báo động với đồng bào và chính quyền Việt Nam hiện thời biết rõ âm mưu bất chính nặng tính cách "Gia-tô" ở đằng sau tổ chức này, giống như cái âm mưu bất chính “Chia Để Trị” ở đằng sau "lá bài Bảo Đại" do cựu Linh-muc Thierry d' A rgenlieu đưa ra vào tháng 1/1947 và được cụ thể hóa vào ngày 2 tháng 6 năm 1948.. Thierry d' A rgenlieu nắm giữ chức vị Cao Ủy Đông Dương từ ngày 17/8/1945 cho đến tháng 3/1947.

 

Cũng nên biết rằng chính sách Chia Để Tri này là do Giáo Hội La Mã chủ trương với dã tâm thâm xé nước Việt Nam ra thành nhiều mảnh nhỏ theo biên giới địa lý, sắc tộc và tôn giáo, rồi dùng người Việt đánh người Việt và dùng tín đồ Gia-tô cai trị người Việt thuộc các tôn giáo khác. Âm mưu dã man này khởi đầu được ông Giám Mục Puginier sọan thảo thành một kế hoạch mà các nhà viết sử gọi là Kế Hoạch Puginier. Trong kế hoạch này, có cả sách lược tiêu diệt Nho giáo cùng giới Nho sĩ và đề nghị đem thi hành vào giữa thập niên 1860 ngay khi Liên Minh Pháp - Vatican vừa mới cưỡng chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ theo Hòa Ước Nhâm Tuất 1862. Nhưng vì người Pháp cầm trịch trong Liên Minh Pháp - Vatican và không ưa Giáo Hội La Mã cho nên Kế Hoạch Chia Để Trị của Giám Mục Puginier chỉ được thi hành nửa vời, không được triệt để áp dụng như ý mong muốn của Tòa Thánh Vatican. Mãi tới khi Giáo Hội vận động được chính quyền De Gaulle của nước Pháp đưa cựu Linh-mục Thierry d' Argenlieu (người của Giáo Hội La Mã) lên nắm giữ chức vụ Cao Ủy Đông Dương vào ngày 17/8/1945 lo vịệc đem quân sang tái chiếm Đông Dương cùng với sứ mạng của Tòa Thánh Vatican giao cho là phải triệt để thi hành chính sách Chia Để Trị mà “Giải Pháp Bảo Đại” (Bảo Đại Solution) là một trong những sách lược ở trong đó. Sách lược này được chính Thierry d' Argenlieu công khai nói ra từ đầu năm 1947 (trước khi hết nhiệm kỳ) và cho ra đời và đầu tháng 6 năm 1948. (Vấn đề này sẽ được trình bầy đầy đủ và rõ ràng trong một mục khác ở phần sau.)

 

Như vậy, dù là tín đồ Gia-tô hay không, ông Phạm Quân Khanh khi viết bài Lịch Sử Việt Nam đã có chủ tâm bưng bít, che giấu hay tảng lờ không nói đến những việc làm tội ác của Giáo Hội La Mã ở Việt Nam. Việc này ăn khớp với sách lược "ăn không nói có" của Tòa Thánh Vatican, đặc biệt nhất là đánh bóng tên tam đại Việt gian Gia-tô Ngô Đình Diệm.

 

PHƯƠNG CÁCH VIẾT SỬ

CỦA PHẠM QUAN KHANH

 

Nhìn vào phần Tài Liệu Tham khảo, chúng ta thấy tác giả Phạm Quân Khanh kê ra tới 134 tài liệu. Nhưng khi đọc hết cả bài viết dài gần 30 trang (khổ giấy 8 x 11, khổ chử 12, Font: Arial), người viết có cảm tưởng rằng rất có thể tác giả chỉ cần 2 cuốn Việt Nam Sử Lược của cụ Trần Trọng Kim và mấy cuốn Việt Sử Tân Biên của ông Phạm Văn Sơn để viết (sao chép thì đúng hơn) từ Chương Một và cho đến hết Phần Xii của Chương Hai. Về hai phần còn lại của Chương Hai và Phụ Chương, tác giả sử dụng một vài tài liệu của bộ máy tuyên truyền của Giáo Hội La Mã. Những tài lỉệu này do bọn sử nô Gia-tô người Việt biên sọan sẵn với chủ tâm vừa bưng bít (che giấu) những việc làm tội ác của Tòa Thánh Vatican và các chính quyền đạo phiệt Gia-tô tại miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, vừa để bóp méo những sự thật bất lợi cho Giáo Hôi, vừa bịa đặt ra nhiều chuyện tốt đẹp nhằm để đánh bóng cho đạo Kitô La Mã.

 

Phương cách viết sử như trên là truyền thống trong Giáo Hội La Mã. Truyền thống bất hủ này đã thấm nhiễm vào tới từng tế bào trong các đường gân, thớ thịt và não tủy trong toàn cơ thể của các ông văn nô Gia-tô. Trong Chương 21 trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Tòan Thư 1954-1963 (ấn bản 1998, trang 433, ấn bản 2000 từ cuối trang 455, chúng tôi cũng đã nêu lên 12 trường hợp với danh tính của các ông văn nô Gia-tô viết bố láo bố lếu theo phương cách đưa ra những lời tuyên bố khẳng định chắc nịch một số những điều láo khoét không cần phải chứng minh gì cả. Ông Phạm Quân Khanh chỉ là một văn nô hậu bối và đã viết bài Lịch Sử Việt Nam (đăng trong URL: http://vietnamconghoa.com/index.html) theo phương cách này giống y như các ông văn nô tiến bối của ông ta. Sở dĩ người viết nói như vậy là vì toàn bộ Chương Một và Chương Hai cho đến hết Phần XXii (thời Nguyễn 1802) trong bài viết "Lịch Sử Việt Nam" không có gì mới lạ hay đặc biệt. Tất cả những gì tác giả ghi lại ở đây đều có sẵn trong cuốn Việt Nam Sử Lược của cụ Trần Trọng Kim hay trong mấy cuốn Việt Sử Tân Biên của ông Phạm Văn Sơn. Tác giả chỉ việc lật một trong hai (hay cả hai) cuốn sách này ghi chép các dữ kiện trong đó rồi sắp xếp theo ý tác giả.

 

CHỦ Ý TRÁNH NÉ, KHÔNG ĐỀ CẬP ĐẾN GIÁO HỘI LA MÃ

 

Tìm hiểu lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại, Giáo Hội La Mã đã liên tục can thiệp trực tiếp vào nội tình Việt Nam một cách vô cùng thô bạo qua các vai trò dưới đây:

 

1.- Vai trò của các nhà truyền giáo Gia-tô đến Đông Dương hoạt động gián điệp với các điệp vụ thâu thập các tin tức tình báo chiến lược tại Đông Dương rồi gử về Tòa Thánh Vatican để chuẩn bị cho kế hoạch vận động chính quyền Pháp liên kết với Giáo Hội và xuất quân chinh phục Đông Dương

2.- Vai trò của Giáo Hội trong ba lần vận động chính quyền Pháp xuất quân đánh chiếm Việt Nam

3.- Vai trò của các nhà truyền giáo có mặt trong các đạo quân viễn chinh Pháp- Tây Ban Nha khi các đạo quân này khởi công tiến chiếm Việt Nam.

4.- Vai trò của các tu sĩ và tín đồ Gia-tô người Việt trong việc tiếp tay cho liên quân Pháp -Tây Ban Nha trong những chiến dịch tấn chiếm Việt Nam cũng như trong các chiến dịch càn quét và tiêu diệt các lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta từ năm 1858 cho đến năm 1886, và vai trò của họ trong thời Kháng Chiến 1945-1954.

5.- Vai trò của Giáo Hội trong việc vận động với chính quyền Hoa Kỳ làm áp lực với chính quyền Pháp và Quốc Trưởng Bảo Đại để đưa ông Ngô Đình Diệm về Việt Nam cầm quyền làm tay sai cho Giáo Hội và Hoa Kỳ..

6.- Vai trò của Giáo Hội trong các chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Những bằng chứng rõ rệt nhất có thể kể là việc chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm tổ chức đại lễ dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ Vô Nhiễm vào tháng 2 năm 1959 với sự hiện diện của người đại diện Tòa Thánh Vatican là Hồng Y Agagianian và việc thi hành Kế Hoạch Kitô Hóa miền Nam được tàng hình bằng"Những Chiến Dịch Tố Cộng" được hợp thức hóa bằng luật số 10/59 ban hành ngày 6 tháng 5 năm 1959. Hậu quả của kế họach Kitô hóa này là hơn 300 ngàn dân miền Nam bị sát hại trong những năm 1955-1963.

 

Tất cả những sự thật lịch sử này đều có ghi rõ trong các sách sử nói về thời cận và hiện đại Việt Nam của các tác giả ngọai quốc cũng như các tác giả người Việt, ngọai trừ những ấn phẩm của những người Việt đã được đặc hưởng ân sủng của Giáo Hội La Mã hay của các chế độ đạo phiệt Gia-tô ở miền Nam trong thời kỳ này. Người viết đã nêu đích danh một số sử nô này ở nơi Chương 21 trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963.

 

CỐ Ý TRÁNH NÉ, KHÔNG ĐỂ CẬP TỚI

NHỮNG CUỘC KHÁNG CHIẾN.

 

A.-. Không đề cập đến lực lượng nghĩa quân kháng chiến tại căn cứ Ba Đình (Thanh Hóa).- Lực lượng nghĩa quân này do cụ Đình Công Tráng lãnh đạo. Lý do tác giả không đề cập đến lực lượng nghĩa quân này vì rằng nếu nói đến địa danh Ba Đình và tên tuổi cụ Đinh Công Tráng tức là gợi cho đ