
posted: 04.12.04
| (Thêm
lần nữa, đạo Gia-tô La-mã và chế độ Phát-xít Gia-tô Ngô Đình Điệm
được
mổ xẻ tường tận dưới ngòi bút như lưỡi kiếm
của sử gia Nguyễn Mạnh Quang. Giao Điểm) Dẫn Nhập SẢN
PHẨM CỦA CHÍNH SÁCH NGU DÂN SỬ
NÔ HAY NHỮNG CON ONG NON NGỨA NỌC
Từ năm 1964, (sau ngày
chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm bị quân dân miền Nam lật đổ)
có khá nhiều cuốn sách nơi về giai đọan lịch sử Việt Nam trong thời cận
và hiện đại (từ cuối thế kỷ 18 hay từ Cách Mạng Pháp 1789 tới ngày
nay). Đối với những người không am tường lịch sử nước
nhà, nhất là những thế hệ trẻ sinh ra và lớn lên sau thời Kháng Chiến
1945-1954, có thể rơi vào tình trạng "bị lạc dẫn". Họ lầm tưởng
rằng những cuốn sách này là những tác phẩm lịch sử giống như những
cuốn sử khác do những người có căn bản lịch sử đã dầy công tìm đọc
và điều nghiên các nguồn tài liệu lịch sử rồi mới biên sọan với một
tinh thần vô tư để trình bày cho người đời nhìn thấy những sự thật
lịch sử. Thực sự ra những cuốn sách thời đó không hề đề cập đến
những nỗi thống khổ dân tộc ta trong những trường hợp như sau:
1.- Vào những khi các
đoàn quân xâm lược mở những chiến dịch tấn chiếm đất nước với
chiêu bài "khai hóa văn minh" cho dân tộc ta , và "đòi
quyền được tự do tôn giáo và tự do truyền đạo 2,- Vào những khi quân
lính của chính quyền Bảo Hộ với những chiến dịch truy lùng và tiệu
diệt các lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta 3.- Vào những khi các
tóan quân linh thập tự (lính đạo) từ các đồn bốt hay từ các xóm đạo
mở những cuộc hành quân tấc công vào các làng lương đốt nhà, phá đình,
phá miếu, đốt chùa, bắn giết bừa bãi, hãm hiếop đàn bà con gái, cướp
của mang đi. 4.- Gần một thế kỷ nằm
dưới ách thống trị của Liên Minh Pháp – Vatican bằng những chính sách
sưu cao, thuế nặng và sử dụng quyền lực của nhà nước để hoặc là
dụ khị hay câu nhử những phường háo danh hám lợi "theo đạo
để tạo danh đời", hoặc là cưỡng bách hay chèn ép dồn dân
ta vào thế cùng phải “theo đạo để lấy gạo mà ăn". 5.- Bị cưỡng bách đi
làm lao nô phục dịch cho các công trường xây cât các dinh thự của chính
quyền, xây cất các dinh thự nguy nga tráng lệ của các Tòa Tổng Giám Mục,
xây cất hàng ngàn ngôi nhà thờ to lớn với tháp chuông cao chất ngất
lên đến tận lưng trời ở rải rác khắp nơi trong tòan lãnh thổ. Mỗi một
ngôi nhà thờ ở đất nước ta đều được xây xất bằng tài nguyn, vật
liệu và sức lao động của nhân dân ta, và một ngôi nhà thờ được hòan
thành là có cản hàng trăm cho khi tới hàng ngàn sinh mạng lao nô ngã gục
rồi chết đi vì kiệt sức. Nhà thờ càng nguy nga vĩ đại và tháp chuông
càng cao thì con số lao nô phục dịch càng nhiều và con số lao nô bị thiệt
mạng vì kiệt sức càng cao. Muốn biết tình trạng khốn khổ của họ như
thế nào, thiết tưởng chúng ta có thể tìm hiểu một trong ba trường hợp
dưới đây:
a.- Đời sống và tình
trạng làm việc của những người dân phu trong các đồn điền cao su ở
trong các tỉnh trong vùng cao nguyền miên nam Trung Việt và miền Đông Nam Việt
trong những năm trước tháng 3 năm 1945. b.- Đời sống và tình
trạng làm việc .của những người dân phu là việc tại các mỏ than ở
Hòn Gay và Cẩm Phả và những năm trước tháng 3 năm 1975. c.- Xem phim bộ Tần Thủy
Hoàng gồm 32 cuốn công ty Điện Ảnh Trans-continental Video thực hiện vào
khoảng cuối thập niên 1980 để biết đời sống và tình trạng lam việc
của những người lao nô bị cưỡng bách phục dịch trong công trình xây cất
Vạn Lý Trường Thành.
Thế nhưng, sau khi đọc
hết những ấn phẩm này, những người am tường lịch sử Việt Nam sẽ
nhìn thây rõ "đây chỉ là những ấn phẩm do bọn sử nô Gia-tô biên
soạn với chủ tâm bóp méo sự thật và xuyên tạc lịch sử với mục
đích vừa lấp liếm tội ác của Giáo Hội La Mã và bọn Việt gian Gia-tô
đối với tổ quốc và dân tộc Việt Nam, vứa để đánh bóng cho các chề
độ đạo phiệt, quân phiệt Gia-tô ở miền Nam Việt Nam và cho cá nhân
ông Gia-tô Ngô Đình Diệm. Trước đây, chúng tôi đã nêu đích danh
một số "sử nô" thuộc loại này nơi Chương 21 trong cuốn Việt
Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000) và trong
bài thơ Nỗi Lòng in ở cuối Chương 15 trong bộ sách Thực Chất Của Giáo
Hội La Mã (Tacoma, WA: TXB, 1999). Xin ghi lại đây mấy đoạn (trong bài thơ
đó) nói về các ông “sử nô” viết sách nhằm đề lấp liếm
tội ác chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam của Giáo Hội và bọn
cuồng nô vô tổ quốc "thà mất nước, chứ không thà mất Chúa":
1.- Cao Thế Dung, tên cuồng
gian ngoan cố, Cũng băng xăng "…
Huyết Lệ Sử" trình làng. Với chủ mưu biện hộ
cho cuồng gian, Y đã viết vòng vo và lươn
lẹo. Xin kể đây vài nơi y
lươn lẹo: Phần nói về kháng chiến
của Văn Thân, Y cố tình chỉ nói đến
Nguyên Thân Lại bỏ qua vai trò Ngô
Đình Khả Ai cũng biết tên Việt
gian xảo trá, Người chủ tâm khai quật
mả cụ Phan Cho thỏa lòng của bè lũ
cuồng gian Nhằm trả đũa việc
"Bình Tây Sát Tả". Một chỗ khác y vô
cùng gian trá: Khi nói về Tây đánh
phá Ba Đình, Y lờ đi chuyện Trần Lục
viện binh Giúp cho giặc đánh tan
quân kháng chiến. Một chỗ khác bốc thơm
Ngô Đình Diệm, Y lờ đi lúc hắn ở
Hòa Đa Hầu giấu đi cái bản
chất độc xà Trong cách khảo tù nhân
đầy khủng khiếp. Còn nhiều nữa, nói
làm sao cho xiết! Theo đúng như sách lược
"thả hỏa mù", Y bớt, thêm hay giả tảng
phe lờ Nhằm mục đích để
"lộn sòng lịch sử".
2.- Hoàng Ngọc Thành cũng
lanh-chanh viết sử, Nhưng than ôi kiến thức
sử không rành! Lại còn dùng những lời
lẽ đành hanh, Không biết cả khi dân
tình sôi sục. Viết lịch sử mà chỉ
nhằm bênh vực Cho bạo quyền chuyên đục
khoét nhân dân. Viết như thế là bất
nghĩa, bất nhân, Là phản bội vai trò người
viết sử. Người viết sử không
phải người biện hộ, Phải tìm xem cho rõ mọi
nguyên nhân Từ chuyện xa cho đến
những chuyện gần, Phải nói rõ tiến
trình từng biến cố. Phải cố gắng trình
bày cho thật rõ Tình cảnh dân và thế
nước ra sao, Nhà đương quyền xoay sở
như thế nào. Hoàng Ngọc Thành, ông
biết chăng điều đó?
3.- Phạm Kim Vinh cũng
lau-chau viết sử, Nếu đem cân, trọng lượng
kể khá nhiều. Tiếc rằng y lý luận
"lộn tùng phèo" Đoạn văn trước bị
đoạn sau đá ngược. Có những đoạn giọng
văn đầy xấc-xược: Lời cộc cằn, ngạo
ngược thiếu văn minh, Thốt ra từ tâm trạng
mất quân bình, Y luẩn quẩn nói xuôi rồi
nói ngược. Điều khôi hài, y ngông
nghênh hỗn xược: Tự cho mình mưu chước
giống Trương Lương, Trương Lương sao tâm
trí bất bình thường? Không biết cả lấy
"Chính Danh" mà luận. Dân hồi đó như bừng
bừng uất hận, Như sôi gan căm giận
lũ cuồng gian, Quyết vùng lên đập nát
ách bạo tàn Mà y vẫn u mê không biết
rõ. Trương Lương gì lại
giỏ tài nịnh bợ? Sao lại đi biện hộ
cho lũ "Đen"? Trí óc ngươi còn mông
muội lem-nhem, Người hãy về đọc thêm
nhiều sách sử. Ta biết ngươi vì máu
sôi thù Đỏ, Mới hăng say đi bợ đỡ
lũ Đen. Tiếc rằng ngươi không
biết gốc rễ Đen! Người đừng quên
"chính Đen sinh ra Đỏ".
4.- Tới Lữ Giang cũng học
đòi viết sử, Cũng hiếp dâm ngôn ngữ
để nhập nhằng: Dùng cụm từ "…
Thánh Chiến", giọng hung-hăng Để chạy tội cho bạo
quyền đồng đạo. Thể hiện đúng trí năng
người cuồng đạo, Cứ khăng khăng quyết
"cãi cối cãi chầy", Không biết rằng lịch
sử đã phơi bày Những sự thật mà ai
ai cũng rõ.
5.- Nguyễn Văn Chức
cũng ti-toe viết sử, Với chủ tâm biện hộ
cho nhà Ngô Tội kết bè cùng với
lũ cuồng nô, Tội lạm quyền làm cho
dân khốn khổ. Trong ý đồ nhằm ăn
gian lịch sử Cụm "Việt Nam Chính
Sử" được đem dùng, Bất kể là nghe có thuận
hay không. Làm như vậy là "hiếp
dâm ngôn ngữ". Viết lịch sử mà chỉ
nhằm biện hộ, Lại cố tình dùng chữ
"chính" nhập nhằng Cho người đời không
biết sẽ tưởng lầm Sách y viết là một
"nguồn chính sử". Viết như thế là ăn
gian lịch sử, Từ ngàn xưa người quân
tử không làm. Nếu không gian, hà tất
chịu tiếng oan? Quân bất chính thường
to mồm chính nghĩa.
6.- Vũ Đình Hoạt hiện
nguyên hình bất nghĩa, Cũng học đòi "Tôn
Giáo Chính Trị Quan", Dùng những từ "biểu
kiến" để ăn gian Hầu chạy tội cho bọn
"Ngô với Đĩ" Nhớ lại thời miền Có câu rằng "Nhất
đĩ rồi đến cha" Tu hành gì mà lời lẽ
chua ngoa, Chảnh chọe quá, không
khác gì con đĩ. Là tu sĩ phải "dĩ
hòa vi quý". Sao lại như một
"con đĩ thập thành"? Hay ho gì những ngôn ngữ
chua chanh! Ngươi đã quên mình
đang là cha cố. Phe đảng này thật vô
cùng láu cá! Đang diễn trò gian trá
đại quy mô Hè nhau cùng viết sách
và làm thơ Tung hỏa mù mưu đồ lừa
thiên hạ. Tôi xin đạo đừng dạy
đời man trá, Xin dạy đời sống theo
đạo lương tâm, Dạy cho đời biết mở
rộng lòng nhân, Không cần phải "lạy
cầu" và "hối lộ" Trời, Phật, Chúa không
nhận đồ hối lộ. Đừng dạy đời dâng lễ
vật vẽ vời, Đừng tưởng lầm Chúa
ngự ở trên Trời, Sẽ tha thứ cho những
ai dâng hối lộ. Xin đừng tưởng có
thánh thần phò trợ Bày vẽ ra chuyện lảm-nhảm
cầu xin, Trời, Phật Chúa không
cả nể dễ tin Lời xiểm nịnh của những
phường xảo quyệt. Tôi viết đây với tấm
lòng tha thiết Cho người đời hiểu rõ
hết sự tình: Đạo đã làm tan nát cả
gia đình, Đã tạo nên biết bao
điều sầu thảm. Tôi viết đây với nỗi
buồn thăm thẳm Cho bạn tôi, cho tất cả
mọi người Biết rõ điều tai hại
nhất ở đời Là chuyện biến dân
lành thành cuồng đạo. Người cuồng đạo chì
biết tin theo đạo, Không nhìn ra trong đó
có điều gian, Không nhìn ra đạo đã
quá bạo tàn, Mà vẫn cứ khăng khăng
là "chính đạo". Khi người ta đã trở
thành cuồng đạo, Sẽ thành người "mất
trí, mất lương tâm", Từ “hăng hái” dễ
làm chuyện bất nhân Sốt sắng quá trở nên
người hung bạo. Tôi thiết tha xin các
nhà tôn giáo Hãy dọn mình sống đời
sống vị tha, Hãy đặt mình vào địa
vị người ta, Bị cưỡng ép phải
làm điều không thích. Có như thế rồi các
Ngài mới biết Bắt người ta theo đạo
lúc thành hôn, Khăng khăng đòi chiếm
cho được phần hơn, Là lắt léo, không quang
minh chính đại. Tôi cầu mong xin các
Ngài nghĩ lại, Đùng làm gì nguy hại
đến tình người, Hãy sống sao cho đúng
đạo làm người, Đừng đem đạo dựa nhờ
vào quyền chính. Đạo các Ngài đã từng
gây thánh chiến, Lập các tòa dị giáo
ở Âu Châu, Gửi quân đi chinh phục
khắp hoàn cầu Dưới danh nghĩa là đoàn
người truyền giáo. Tội ác này đã được
Ngài Giáo Chủ Áy náy hòai nên xin lỗi
với muôn dân. Xin những ai tin đạo hãy
vì dân, Đừng vì đạo mà nhẹ
tình đất nước. Đùng vì đạo mà nhẫn
tâm bán nước, Mà đang tâm "cõng rắn
cắn gà nhà", Mà tự xưng là "người
Việt Quốc Gia" Thầu chống Cộng để
ăn tiền viện trợ. Tôi thành khẩn xin các
ngài tu sĩ Đừng hiếp dâm ngôn ngữ
để lộn xòng, Dùng hoa ngôn như một bức
bình phong, Hầu bưng bít những việc
làm nham nhở…
Gần đây, lại thấy bài viết Lịch Sử
Việt
Những quyển sách hay những
bài viết đăng trên những websites mà chúng tôi đọc thấy có nội dung tương
tợ như thế đã xem việc viết sử như một trò đùa thích thú. Họ dùng
phương tiện truyền thông dễ dàng hiện đại để phổ biến vung vít bừa
bãi những tư kiến của phe phái. Họ chẳng cần nghiên cứu, bất chấp cả
giá trị của bài viết chỉ nhằm cứu gỡ cái danh dự của một tập thể
đã bị giống nòi khinh bỉ và đào thải .
Đây là vấn đề chúng
ta cần phải suy nghĩ.
Phải chăng đây là một
chiến dịch đại quy mô được phát động nhằm thi hành sách lược bóp
méo sự thật và xuyên tạc lịch sử để hỗ trợ cho những chiến
dịch cổ võ cho những hoạt động của mấy cái gọi là “Phục Hồi
Đức Tin”, "Phục Hồi Tinh Thần Ngô Đình Diệm", "Phục
Hồi Miền Nam Việt Nam" và "Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa
Foundation"? Mưu đồ phản quốc phản dân tộc các tổ chức này đã
được thể hiện ra qua việc Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation viết
thư gửi Liên Hiệp Quốc thỉnh cầu tổ chức quốc tế này dùng quyền lực
cưỡng bách chính quyền Việt Nam hiện nay phải tôn trọng Hiệp Định
Geneve 1954 và Hiệp Ước Paris 1973 nhằm tái lập tình trạng chia đôi đất
nước Việt Nam như thời kỳ 1954-1975 để cho Toà Thánh Vatican đưa bọn
người “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” tái lập
chế độ đạo phiệt Gia-tô ở miền Nam Việt Nam. Hành động này giống
Giáo Hội La Mã đã tách rời Đông Timor ra khỏi nước indonesia vào những
năm 1999-2002 để rồi tiến hành cuộc tắm máu để “phục thù "
hầu "làm sáng dánh Chúa” như chúng đã từng làm ở Âu
Châu trong thời Trung Cổ với gần 100 triệu nạn nhân, ở Croatia trong những
năm 1941-1945 với trên 700 ngàn nạn dân trong tổng số dân gần 3 triệu,
và ở Rwanda (Phi Châu) dưới quyền chỉ đạo của tên Giám-muc Augustin
Misago vào những tháng 4, 5, 6, và 7 năm 1994 với trên 800 ngàn dân trên tổng
số dân là 8.196.000 người..
CHƯƠNG
1 .
NHẬN
ĐỊNH VỀ BÀI VIẾT LỊCH SỬ ViỆT CỦA
TÁC GiẢ PHẠM QUÂN KHANH
Trong bài viết Lịch Sử Việt Nam của ông Phạm Quân
Khanh, không thấy một lời giới thiệu về trình độ học vấn cũng như
căn bản sử học và nghề nghiệp của tác giả. Lần đầu tiên người
đuợc biết tên tác giả khi đọc bài viết này. Bài viết này gồm có 2
Chương (chính), một Phụ Chương và phần Tài Liệu Tham Khảo..
Chương Một có tựa
đề là Khái Lược Về Nhân Văn. Chương này chia làm 3 phần: Phần i
chia làm 3 tiểu mục A, B và C. Mục A nói về nhân chủng. Mục B nói về di
chuyển và thực phẩm. Mục C nói về trí tuệ. Phần ii nói về địa
lý và quốc hiệu, và Phần iii nói về đại cương văn hóa Việt tộc. Chương Hai không
có tựa đề, gồm có 24 phần. Đọc hết 24 phần mới biết chủ ý của
tác giả là nói sơ lược lịch sử Việt Nam từ thời đại thái cổ (trước
thế kỷ 29 trước Dương lịch) cho tới phần chót là Phần XXiV có tựa đề
là Nhật tranh quyền đô hộ với Pháp ở Việt Nam. Trong phần chót này,
tác giả nói đến ngày 15 tháng 8 năm 1945 là ngày Nhật đầu hàng Đồng
Minh và nước Việt Nam bị chia đôi, "trao quyền cho Anh quản trị
ở miền Nam và cho Trung Hoa ở miền Bắc". Tác giả kết luận
"Từ ngày ấy, Việt Phụ Chương có tựa
đề là Khái Quát Việc Tranh Chấp Giữa Các Đế Quốc Ở Việt
Đoạn 1, tác giả tuyên
bố sự thành công Cách Mạng Công Sản tại Nga vào năm 1917 đã "trở
nên khủng khiếp đối với nhân lọai, và ảnh hưởng của Cách Mạng Cộng
Sản Nga lan tràn mau lẹ sang các quốc gia nghèo đói và bị ngoại bang đô
hộ."
Đoạn 2 mở đầu bằng
câu văn nói về đảng Cộng Sản Trung Hoa được thành lập vào năm 1920, rồi
chuyển sang nói sơ lược về những họat động của ông Nguyễn Ái Quốc
ở Trung Hoa từ năm 1925 cho đến năm 1942 bị chính phủ Trung Hoa bắt
giam, tới năm 1943 "được ông Nguyễn Hải Thần
xin tha” rồi đổi tên là Hồ Chí Minh.".
(Theo sự hiểu biết của
người viết, ông Nguyễn Ái Quốc lấy tên Hồ Chí Minh kể từ ngày 13
tháng 8 năm 1942, và bị chính quyền đia phương của chính quyền
Tưởng Giới Thạch bắt tại thị trấn Túc Vinh, thuộc huyện Tĩnh
Tây, Quảng Tây vào ngày 29/8/1942, và mãi đến ngày 9
tháng 8 năm 1944) mới được tha.)
Đoạn 3, tác giả tuyên
bố khẳng định chắc nịch rằng năm 1945 ông Hồ Chí Minh nhận lệnh Cộng
Sản Nga về Việt Nam cướp quyền cai trị.
Đoạn 4, tác giả nói rằng
theo quyết định của các Hội Nghị Yalta và Potsdam, quân Anh đến miền
Nam vĩ tuyến 16 tước khi giới, Pháp được Anh cho phép đem quân trở lại
Việt Nam rồi thương thuyết với Trung Hoa đem quân ra Bắc. Trong khi đó
thì ông Hồ Chí Minh "tìm cách lột vàng của nhân dân để đút
lót cho Tiêu Văn, Lư Hán và Hòang Cương” để cho đoàn quân ô hợp
này rút về bên kia biên giới và trao quyền cho ông Hồ Chí Minh.
Đọan 5 vỏn vẹn có một
lời tuyên bố của tác giả nói rằng việc Pháp khai chiến đánh (đúng ra
là gây gấn) Hà Nội và Pháp mở đầu cho cuộc chiến kể từ ngày
19/12/1946 tranh giành quyền lợi ở Việt
Đọan văn 6 nói vể
tình trạng Việt
Đoạn 7 là một trong 3
đọan văn ngắn nhất, chỉ vỏn vẹn có ba câu ngắn ngủi . "Ngày
26-10-1956 chính phủ dân cử Ngô Đình Diệm tuyên bố nước Việt Nam theo
chế độ Cộng Hòa và là một nước Độc Lập. Chế độ đô hộ Pháp chấm
dứt. Quân đội Thực dân rút ra khỏi Việt
Đoạn 8, tác giả khẳng
định chắc nịch rằng "năm 1954, ông Diệm trở về Việt
Đoạn 9 và đọan 10
được coi như là phần kết luận của tác giả, trong đó tác giả tuyên bố
“Mỹ đã dùng Việt Nam như là một địa bàn thử nghiệm chiến tranh và
dùng Nga và Tầu (qua chiến tranh Việt Nam) để quân bình thế
đối lực, hầu giải quyết tình trạng bành trướng thái quá của mình."
Và sau đó Mỹ thay đổi chính sách rút về nước để mặc cho Cộng Sản
cai trị Việt NHẬN XÉT TỔNG QUÁT VỀ
TRÌNH ĐỘ KIẾN THỨC VÀ KHẢ NĂNG SỬ HỌC CỦA
TÁC GiẢ
Nhìn vào phương cách viết
sử (tuyên bố khẳng định một cách võ đóan, không cần chứng minh hay
trích dẫn tài liệu), và phương cách kê khai các tài liệu (không đúng
cách), ta có thể nói tác giả: A.- Không theo học bậc
tiểu và trung học ở Hoa Kỳ hay ở trong bất kỳ quốc gia theo chế độ dân
chủ tự do có thi hành chính sách giáo dục khai phóng. Trong chính sách giáo
dục khai phóng, giáo viên được huấn luyện đúng theo tiêu chuẩn sư phạm
trong ngành chuyên môn để làm tròn sứ mạng khai tâm và mở mang trí tuệ
cho học sinh.
B.- Không học qua một
bài học nào về phương cách nghiên cứu hay viết một bài khảo luận. Đây
là thực trạng chung của những học sinh và sinh viên đã theo học từ bậc
tiểu, trung học và đại học qua chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ
ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 hay trước đó ở Đông Dương
từ năm 1862-1954.
C.- Không hiểu biết (dốt)
lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại
cho nên không biết gì về tội ác trùng trùng của Giáo Hội La
Mã và bọn Việt gian gia-tô (trong đó có cha con và anh em tên Gia-tô Ngô Đình
Diệm) đối với tổ quốc và dân tộc Việt Nam. Cũng nên biết rằng, người
dân Việt Nam đã kinh qua cuộc chiến giải phóng dân tộc và thống nhất
đất nước kéo dài từ tháng 9 năm 1945 cho đến ngày 30/4/1975 mới chấm dứt.
Sự kiện này đã được nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ghi nhận trong bài ca Gia
Tài Của Mẹ với những lời ca thống thiết "Một ngàn năm nô lệ
giặc Tầu, một trăm năm nô lệ giặc Tây, ba mươi năm nội chiến từng
ngày.."
Nói đến "một
trăm năm nộ lệ giặc Tây và ba mươi năm nội chiến từng ngày",
ngay cả em bé học sinh vừa mới học xong lớp 5 tiểu học cũng có đủ khả
năng trí nhớ để nhớ lại những bài học lịch sử trong cả hai thời kỳ
này. Ấy thế mà ông Phạm Quân Khanh, tác giả bài viết Lịch Sử Việt
Nam lại không biết điều này và cũng không có đủ khả năng thông minh để
suy nghĩ và tìm đọc tài liệu lịch sử liên hệ đến đề tài trước
khi biên soạn. Vì thế cho nên, ông mới không nói gì đến vai trò của
Giáo Hội La Mã và của giới tu sĩ cũng như tín đồ Gia-tô trong suốt hai
thời kỳ "một trăm năm nô lệ giặc Tây và ba mươi năm nội chiên
từng ngày" . Tệ hơn nữa, ông lại còn nhắm mắt khen tụng
tên Gia-tô phản thần tam đại Việt gian bằng hai đọan văn sặc mùi
Gia-tô và nói lên cái bản chất sử nô của ông. Dưới đây là nguyên văn
lời viết của ông Phạm Quân Khanh:
"Ngày 26 - 10 -
1955, chính phủ dân cử (sic) Ngô Đình Diệm tuyên bố nước Việt Nam theo
chế độ Cộng Hoà và là một nước Độc lập. Chế độ đô hộ của
Pháp chấm dứt. Quân đội thực dân rút khỏi Việt nam. Trước đó, năm 1954,
Ngô Đình Diệm trở về Việt Nam làm Thủ tướng nhờ thế lực của Mỹ.
Ông lại dùng thế lực Mỹ để đuổi Pháp ra khỏi nước (1955) (sic). Về
sau, Ngô Đình Diệm muốn thực hiện nền tự trị, (sic) nhưng không được
Mỹ chấp thuận. Ông từ chối việc để Mỹ mang quân vào Việt Nam.(sic)
Nhưng đến khi Mỹ mở đường cho Cộng Sản tấn công miền Nam (1958)
(sic), Ngô Đình Diệm đã phải để Mỹ "tăng viện trợ" quân sư..
Tuy nhiên vẫn không chấp thuận cho quân Mỹ xâm nhập (sic). Ông bị Mỹ giết
ngày 1 tháng 11 năm 1963.(sic) Từ đó Mỹ cho những bộ hạ người Việt dễ
sai bảo ra lập chính quyền bù nhìn để Mỹ toàn quyền thao túng.."
Tác giả Phạm Quân
Khanh về việc đã đưa ra những lời tuyên bố khẳng định chắc nịch
như đóng đinh rằng: 1.- Chính phủ Ngô Đình
Diệm là một "chính phủ dân cử"?.. : 2.- Ông Ngô Đình Diệm
nhờ thế lực Mỹ đuổi Pháp ra khỏi Việt 3.- Ông Ngô Đình Diệm
từ chối để Mỹ mang quân vào Việt 4.- Mỹ mở đường
cho Cộng Sản tấn công miền 5.- Ông Ngô Đình Diêm
đã phải để Mỹ tăng viên trợ quân sự? 6.- Ông Ngô Đình Diệm vẫn
khôing để Mỹ xâm nhập.? 7.- Ông Ngô Đình
Diệm bị Mỹ giết vào ngày 1/11/1963.?
Trên đây là một số
những luận điệu xuyên tạc sự thật và bóp méo lịch sử để
vừa lấp liếm chay tội cho cái gọi là "Chính Quyền Việt Nam Đệ
Nhất Cộng Hòa" vừa để tô son điểm phấn cho cá nhân ông Gia-tô
Ngô Đình Diệm.
CHỨNG MINH NHỮNG ĐIỀU
KHÔNG ĐÚNG TRONG BÀi LỊCH SỬ ViỆT
CỦA TÁC GiẢ PHẠM
QUÂN KHANH
Trở lại phần NHẬN
XÉT về trình độ kiến thức tổng quát và khả năng sử học của tác giả
Phạm Quân Khanh,, người viết xin nêu ra mấy vấn đề dưới đây:
A.- Nếu đã học hết bậc
trung học ở một quốc gia thi hành chính sách giáo dục khai phóng thi tất
nhiên tác giả Phạm Quân Khanh phải biêt kê khai tài liệu theo đúng phương
pháp mà nhà trường đã dạy. Lấy thí dụ trong phần Tài Liệu Tham Khảo,
đáng lý ra phải viết: Trần Trong Kim, Việt
Nam Sử Lược, Sàigòn: Bộ Giáo Dục, 1972, tác giả lại viết: Việt
Độc giả có thể kiểm
chứng sự kiện này bằng cách xem phần tài liệu tham khảo hay bibliogaphy
trong các ấn phẩm viết về lịch sử của các tác giả có học vị đại
học như:
1.- Vietnam: A Political
History (New York: Frederick A. Praeger, 1968) của Joseph Buttinger 2.- Công Giáo Chính Sử
(Garden Grove, CA:, 1999) của Tiến-sĩ Trần Chung Ngọc 3.- Secret Army Secret War
(Anapolis, MD:, 1995) của Sedgwick Tourison 4.- The Two Vietnams ( 5.- Fire in The Lake (New
York: Vintage Books, 1969) cura Frances FitzGerald Ngoài việc không biết
ghi tài liệu trong phần tài liêu tham khảo (ghi không đúng cách), tác giả
còn không ghi đúng tên sách, thí dụ: đúng tên cuốn sách của ông Lê Văn
Siêu là “Văn Minh Việt Nam" thì tác giả lại ghi lộn ngược
và gắn thêm chữ "sử" ở sau, thành ra "Việt Nam Văn Minh
Sử" của Lê Văn Siêu.
B.- Dùng lối viết đưa
ra những lời tuyên bố khẳng định chắc nịch như đóng đinh mà không cần
chứng minh. Đây là thói quen võ đoán của những kẻ cả, những người
có quyền thế, những thành phần nằm trong giai cấp thống trị của một
chế độ bạo trị. Thói quen võ đóan này có những đặc tính tự tôn, tự
đại, tự phong cho cá nhân mình và băng đảng của mình là số 1 trong
thiên hạ, có toàn năng, toàn trí, có toàn quyền thống trị nhân dân dưới
quyền. Đây là trường hợp của Giáo Hội La Mã với lời tuyên bố khẳng
định chắc nịch như đinh đóng cột rằng,“Ngoài Giáo Hội không thể
có cứu rỗi" (Hors de ‘ Église, point de salut" ( , rằng, "Giáo
Hòang không lầm lẫn", trường hợp của tên bạo chúa Louis XiV
(1638-1715) với tuyên bố mang nặng tính cách "mục hạ vô nhân"
rằng, "L’ État, c’est moi" (Quốc Gia là ta.) , và trường
hợp của tên bạo chúa Gia-tô Ngô Đình Diệm với lời tuyên bố ngược
ngạo rằng, "Sau lưng Phật giáo, trong nước còn có Hiến
Pháp, nghĩa là có tôi."
Đây cũng là thói quen của
bọn văn nô và sử nô Gia-tô vốn đã bị nhồi sọ tới mức độ bị điều
kiện hóa, không còn khả năng sử dụng lý trí để lý luận và phân tích
sự vật. Tình trạng này đã khiến cho họ khi viết sử, chỉ còn có thể
viết theo lệnh truyền của các đấng bề trên nhằm để tô son điểm phấn,
vinh danh và suy tôn Giáo Hội La Mã và các chinh quyền đạo phiệt Gia-tô
tay sai của Giáo Hội tại các địa phương. Đặc tính bị điều kiện hóa
này đã được một văn nô Gia-tô công khai viết ra trong bài viết đăng
ở mục “Bạn Đọc Góp Ý” trong tờ Văn Nghệ Tiền Phong số
548 (Từ ngày 16 đến 30 tháng 11 năm 1998), trong đó có mấy câu văn tuyên bố
để đời như sau: "Một sử gia có
lương tri, hãy tôn trọng lời khuyên của các bậc tiền bối răn dạy con
cháu: “Tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy lạ.”. Tôn trọng sự thật là một
lẽ, mà cái sự thật đó viết ra bởi người ngoại bang đáng tin, hay bởi
người cùng chủng tộc đáng tin?".
Tác giả mấy câu văn bất
hủ trên đây là một tín đồ Gia-tô và cũng là nhân vật nổi trong cái gọi
là "Phong Trào Phục Hưng Tinh Thần Ngô Đình Diệm" (đúng ra
phải gọi là "Phong Trào Phục Hưng Tinh Thần Tam Đại Việt Gian
Gia-tô Ngô Đình Diệm") tại tiểu bang Washington vào những năm
1995-1998 . Khỏi cần mất công tìm hiểu, ai cũng biết rằng các bậc tiền
bối của ông văn nô Gia-tô này là tất cả các vị chức sắc trong hệ thống
quyền lực của Giáo Hội La Mã từ thế kỷ 4 cho đến ngày nay. Nói đến
Giáo Hội La Mã, không thể nào không nói đến cái bản chất tự tôn, tự
đại, tự phong của một kẻ cả luôn luôn có thái độ “nhìn đời bằng
nửa con mắt". Cái bản chất hợm hĩnh và ngu xuẩn này đã thể hiện
ra qua lời tuyên bố rằng "Ngoài Giáo Hội không thể có cứu rỗi"
như đã nói trên. Không phải chỉ tuyên bố khẳng định chắc nịch như
trên, mà Giáo Hội La Mã còn có những hành động xấc xược ngược ngạo
giống như một thứ siêu bạo chúa. Những hành động này được Giáo-sư
Lý Chánh Trung ghi lại trong sách Tôn Giáo Và Dân Tộc với nguyên văn như
sau::
"Trong xã hội
lòai người, Giáo Hội không bao giờ công nhận cho các tôn giáo khác hoặc
cho những người không công giáo cái quyền ăn nói ngang hàng với mình, bởi
cái lý do giản dị, chỉ Giáo Hội mới có sự thật mà chỉ có sự thật
mới có quyền ăn nói. Người sai lầm thì chỉ có mỗi một quyền:
quyền sửa sai. Trong Thông điệp ngày
29-4- 1814 gởi Đức Giám-mục địa phận Troyes, Đức Giáo Hoàng Pie Vii
(1800-1823)) viết: “Người ta lẫn lộn sự thật với sự sai lầm, người
ta đặt vị Hiền Thê thánh thiện và tinh truyền của Đức Ki-tô (tức
Giáo Hội Công Giáo) ngang hàng với những giáo phái lạc đạo và ngay cả
với bọn Do Thái bất tín”. Đức Giáo Hoàng Grégoire XVi (1831-1846) đã gọi
tự do báo chí là "thứ tự do tai hại nhất, đáng ghét nhất, kinh tởm
nhất mà một số người dám đòi hỏi một cách ồn ào cuồng nhiệt và
quảng bá khắp nơi..."
Ghê tởm nhất là việc
Giáo Hội ban hành sắc chỉ Romanus Pontifex vào ngày 8 tháng 1 năm 1454 trong
thời Giáo Hoàng Nichola s V (1447-1454). Hành động bạo ngược và dã man này
được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi nhận như sau:
"...., quyền lợi
của Bồ Đào Nha đã được phân định rõ ràng trong sắc chỉ "Romanus
Pontifex" do Đức (Giáo Hoàng) Nicholas V (1447-1455) ra ngày 8 tháng Giêng năm
1454. Theo quyền lực Chúa ban và quyền lực của Tòa Thánh, Đức Giáo
Hoàng ban cho triều đình Lisbon (Bồ Đào Nha) "toàn quyền tự do xâm lăng,
chinh phục, chiến đấu, đánh giặc và khuất phục tất cả các quân
Sarrasins (tức người Ả Rập), các dân ngoại đạo và các kẻ thù khác của
Giáo Hội, gặp bất cứ nơi nào: được toàn quyền chiếm cứ tất cả
các vương quốc, lãnh địa, vương hầu, đất đô hộ và tài sản của
chúng; toàn quyền chiếm đoạt tất cả của nổi và của chìm của chúng
và bắt tất cả chúng nó làm nô lệ vĩnh viễn". Khi ban quyền cho người
Bồ Đào Nha được chiếm mọi thứ lợi lộc kể trên, Giáo Hoàng đồng
thời cũng muốn mở mang nước Chúa sang các miền xa xôi. Và để nhà vua Bồ
Đào Nha yên tâm hơn, Giáo Hoàng ra lệnh cấm không một ai khác được phép
đặt chân tới các vùng đất ấy nếu không có phép của nhà vua, dành cho
nhà vua độc quyền buôn bán và ra vạ tuyệt thông tức khắc cho bất kỳ
ai dám hành động ngược lại." T
Trở lại chuyện ông văn
nô Gia-tô tác giả bài viết “Bạn Đọc Góp Ý” (đăng trong tờ Văn Nghệ
Tiền Phong số 548, tháng 11 năm 1998),. đưa ra lời tuyên bố chắc nịch rằng,
"Tôn trọng sự thật là một lẽ, mà cái sự thật đó viết ra bởi
người ngoại bang đáng tin, hay bởi người cùng chủng tộc đáng tin?”.Vậy
xin đặt vấn đề với ông bạn văn nô này như sau:
A.- Những điều mà quý
vị tin là sự thật ghi trong Thánh Kinh Kitô Giáo (cả Cựu Ước và Tân Ước)
và do Giáo Hội La Mã rao truyền có phải là của người ngọai bang bịa đặt
ra không?" B.- Kể từ năm ngày 20
tháng 5 năm 325 (ngày Hòang Đế Vậy thì CÓ NÊN TIN VÀO
những gì ghi ở trong thánh kinh và những lời dạy của Giáo Hội La Mã
không?.
Nhân đây, xin quí vị
tín đồ gia tô người Việt hãy suy nghĩ về những vấn đề dưới đây:
1.- TẠI SAO Giáo Hội La
Mã phải theo đuổi chủ trương “Thần quyền (tôn giáo) chỉ đạo thế
quyền (chính quyền) và "chính sách bất khoan dung" đối với các
tôn giáo khác? 2.- TẠI SAO Tòa Thánh 3.- TẠI SAO lại thiết
lập các Tòa Án Điều Tra Dị Giáo sát hại đến gần 100 triệu nạn nhân
bị gán cho là tà giáo và phủ thủy trong đó có Linh-mục John Huss
(1373-1415), bà Jeanne d’ Arc (1412-1431), Linh-mục Savornarola Girolamo (1452-1498),
Linh-mục Bruno Giordano (1548-1600), v.v..? 4.- TẠI SAO.ông Charles
Nguyễn, một bậc trí giả thuộc một gia đình đã theo đạo Gia-tô từ thế
kỷ 16, lại gọi đạo Kitô La Mã (Giáo Hội La Mã) là "đạo máu"
và "đạo bịp" ? 5.- TẠI SAO văn hào
Voltaire lại gọi đạo Gia-tô của các bạn là "Tôn Giáo ác ôn"?
6.- TẠi SAO học giả
Gia-tô Henri Guillemin lại gọi Giáo Hội La Mã của các bạn là "Cái
Giáo Hội Khốn Nạn" (Malheureuse Église) 7.- TẠI SAO nhân Âu
Châu lại ghê tởm Giáo Hội La Mã đến độ phải tránh xa Giáo Hội như
tránh hủi? Sự kiện này được học giả Gia-tô Phan Đình Diệm ghi nhận
như sau: "Giáo Hội Công
Giáo Roma La-tinh trong thời cực thịnh kinh bang tế thế , đội vương miệng
cho các hoàng đế, tung hoành dọc ngang, làm mưa làm gió, thâu tóm cả
thiên hạ trong tay, tiền rừng bạc biển, đã không biết tự chế, không học
bài học khiêm hạ rửa chân, tự cao tự đại, coi bàn dân thiên hạ như cỏ
rác… Hôm nay hối bất cập, lịch sử còn nằm trơ ra đó. Người Âu
Châu khiếp sợ Giáo Hội và tránh xa như tránh hủi. Người Á Châu có
thành kiến ghép Giáo Hội vào với ông Tây thực dân…" 8.- TẠI SAO tất cả
các nước Âu Châu , Bắc Mỹ, Do Thái, tất cả các nước theo Hồi Gíao, tất
cả các nước như Ấn Độ, Thái Lan, Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, v.v…
đều chống lại Giáo Hội La Mã" (Xin xem lại Chương Dẫn Nhập của bộ
sách Lịch Sử Va Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mã, đã được đăng trên
www.giaodiem.com tháng 6/2004 9.- TẠI SAO các quốc
gia theo chế độ tự do dân chủ ở trên thế giới đều ghi điều khoản
“tách rởi tôn giáo ra khỏi chính quyền"? 10.- TẠI SAO nhà báo
Long Ân đã đưa ra một nhận xét vể tôn giáo của các bạn bằng những lời:
lẽ dưới đây: “Tôn giáo đã mở
cánh cửa để con người đến với con người trong nhân ái, trong từ bi,
trong bác ái. Nhưng chính con người đã đào những hào chông, rào những kẽm
gai để con người chia cách nhau. Con người đã nhân danh tôn giáo để làm
những chuyện điên cuồng nhất, đã nhân danh tôn giáo để biện minh cho
quyền lực phi nhân áp đặt lên đầu kẻ khác. Con người đã phản lại
tôn giáo, đã chặt đứt cây cầu đưa đến cuộc tìm kiếm chính mình, đã
cúi đầu trên bốn chân để từ con người trở về với nguồn gốc của
con người súc sinh."
Trong ngôn ngữ Việt
Thấy rằng cái lối viết
sử "bằng cách đưa ra lời tuyền bố chắc nịch, không cần phải
chứng minh” đã bị giai cấp thống trị và bọn văn nô, sử nô lợi
dụng để “bưng bít và bóp méo những sự thật lịch sử bất lợi
cho họ" và để làm những hành động mà ông Thiện Nhân gọi
là "mặc áo thụng tự vái", các bậc trí giả mới
tìm ra phương cách ngăn chặn tình trạng này bằng cách đưa ra một
phương cách viết sử thường được nói nôm na là "nói có sách
mách có chứng". Đây là cách viết theo phương pháp khảo luận
mà các học giả phải theo để biên sọan những đề tài có liên hệ đến
một thế lực hiện còn có quyển lực hoặc ảnh hưởng đối với nhân
dân, thí dụ như Giáo Hội La Mã hiện nay.
TRƯỜNG HỢP ÔNG PHAM
QUÂN KHANH VIẾT BÀI LỊCH SỬ ViỆT TỔ CHỨC VNCH FOUNDATION
Người viết không biết
tác giả Phạm Quân Khanh có phải là tín đồ Gia-tô hay không. Có một điều
chắc chắn là ông Khanh viết bài Lịch Sử Việt
Cũng nên biết rằng
chính sách Chia Để Tri này là do Giáo Hội La Mã chủ trương với dã tâm
thâm xé nước Việt Nam ra thành nhiều mảnh nhỏ theo biên giới địa lý,
sắc tộc và tôn giáo, rồi dùng người Việt đánh người Việt và dùng
tín đồ Gia-tô cai trị người Việt thuộc các tôn giáo khác. Âm mưu dã
man này khởi đầu được ông Giám Mục Puginier sọan thảo thành một kế
hoạch mà các nhà viết sử gọi là Kế Hoạch Puginier. Trong kế hoạch
này, có cả sách lược tiêu diệt Nho giáo cùng giới Nho sĩ và đề nghị
đem thi hành vào giữa thập niên 1860 ngay khi Liên Minh Pháp - Vatican vừa mới
cưỡng chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ theo Hòa Ước Nhâm Tuất
1862. Nhưng vì người Pháp cầm trịch trong Liên Minh Pháp - Vatican và không
ưa Giáo Hội La Mã cho nên Kế Hoạch Chia Để Trị của Giám Mục Puginier
chỉ được thi hành nửa vời, không được triệt để áp dụng như ý
mong muốn của Tòa Thánh Vatican. Mãi tới khi Giáo Hội vận động được
chính quyền De Gaulle của nước Pháp đưa cựu Linh-mục Thierry d' Argenlieu
(người của Giáo Hội La Mã) lên nắm giữ chức vụ Cao Ủy Đông Dương vào
ngày 17/8/1945 lo vịệc đem quân sang tái chiếm Đông Dương cùng với sứ mạng
của Tòa Thánh Vatican giao cho là phải triệt để thi hành chính sách Chia Để
Trị mà “Giải Pháp Bảo Đại” (Bảo Đại Solution) là một
trong những sách lược ở trong đó. Sách lược này được chính Thierry d'
Argenlieu công khai nói ra từ đầu năm 1947 (trước khi hết nhiệm kỳ) và
cho ra đời và đầu tháng 6 năm 1948. (Vấn đề này sẽ được trình bầy
đầy đủ và rõ ràng trong một mục khác ở phần sau.)
Như vậy, dù là tín đồ
Gia-tô hay không, ông Phạm Quân Khanh khi viết bài Lịch Sử Việt Nam đã
có chủ tâm bưng bít, che giấu hay tảng lờ không nói đến những việc làm
tội ác của Giáo Hội La Mã ở Việt Nam. Việc này ăn khớp với sách lược
"ăn không nói có" của Tòa Thánh
PHƯƠNG CÁCH VIẾT SỬ CỦA PHẠM QUAN KHANH
Nhìn vào phần Tài Liệu
Tham khảo, chúng ta thấy tác giả Phạm Quân Khanh kê ra tới 134 tài liệu.
Nhưng khi đọc hết cả bài viết dài gần 30 trang (khổ giấy 8 x 11, khổ
chử 12, Font: Arial), người viết có cảm tưởng rằng rất có thể tác giả
chỉ cần 2 cuốn Việt Nam Sử Lược của cụ Trần Trọng Kim và mấy cuốn
Việt Sử Tân Biên của ông Phạm Văn Sơn để viết (sao chép thì đúng hơn)
từ Chương Một và cho đến hết Phần Xii của Chương Hai. Về hai phần còn
lại của Chương Hai và Phụ Chương, tác giả sử dụng một vài tài liệu
của bộ máy tuyên truyền của Giáo Hội La Mã. Những tài lỉệu này do bọn
sử nô Gia-tô người Việt biên sọan sẵn với chủ tâm vừa bưng bít (che
giấu) những việc làm tội ác của Tòa Thánh Vatican và các chính quyền đạo
phiệt Gia-tô tại miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, vừa để bóp
méo những sự thật bất lợi cho Giáo Hôi, vừa bịa đặt ra nhiều chuyện
tốt đẹp nhằm để đánh bóng cho đạo Kitô La Mã.
Phương cách viết sử
như trên là truyền thống trong Giáo Hội La Mã. Truyền thống bất hủ này
đã thấm nhiễm vào tới từng tế bào trong các đường gân, thớ thịt
và não tủy trong toàn cơ thể của các ông văn nô Gia-tô. Trong Chương 21
trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Tòan Thư 1954-1963 (ấn bản 1998,
trang 433, ấn bản 2000 từ cuối trang 455, chúng tôi cũng đã nêu lên 12 trường
hợp với danh tính của các ông văn nô Gia-tô viết bố láo bố lếu theo
phương cách đưa ra những lời tuyên bố khẳng định chắc nịch một số
những điều láo khoét không cần phải chứng minh gì cả. Ông Phạm Quân
Khanh chỉ là một văn nô hậu bối và đã viết bài Lịch Sử Việt
CHỦ Ý TRÁNH NÉ, KHÔNG
ĐỀ CẬP ĐẾN GIÁO HỘI LA MÃ
Tìm hiểu lịch sử Việt
Nam trong thời cận và hiện đại, Giáo Hội La Mã đã liên tục can thiệp
trực tiếp vào nội tình Việt Nam một cách vô cùng thô bạo qua các vai
trò dưới đây:
1.- Vai trò của các nhà
truyền giáo Gia-tô đến Đông Dương hoạt động gián điệp với các điệp
vụ thâu thập các tin tức tình báo chiến lược tại Đông Dương rồi gử
về Tòa Thánh Vatican để chuẩn bị cho kế hoạch vận động chính quyền
Pháp liên kết với Giáo Hội và xuất quân chinh phục Đông Dương 2.- Vai trò của Giáo Hội
trong ba lần vận động chính quyền Pháp xuất quân đánh chiếm Việt 3.- Vai trò của các nhà
truyền giáo có mặt trong các đạo quân viễn chinh Pháp- Tây Ban Nha khi các
đạo quân này khởi công tiến chiếm Việt 4.- Vai trò của các tu sĩ
và tín đồ Gia-tô người Việt trong việc tiếp tay cho liên quân Pháp -Tây
Ban Nha trong những chiến dịch tấn chiếm Việt Nam cũng như trong các chiến
dịch càn quét và tiêu diệt các lực lượng nghĩa quân kháng chiến của
nhân dân ta từ năm 1858 cho đến năm 1886, và vai trò của họ trong thời
Kháng Chiến 1945-1954. 5.- Vai trò của Giáo Hội
trong việc vận động với chính quyền Hoa Kỳ làm áp lực với chính quyền
Pháp và Quốc Trưởng Bảo Đại để đưa ông Ngô Đình Diệm về Việt
Nam cầm quyền làm tay sai cho Giáo Hội và Hoa Kỳ.. 6.- Vai trò của Giáo Hội
trong các chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Gia-tô
Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Những bằng
chứng rõ rệt nhất có thể kể là việc chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô
Đình Diệm tổ chức đại lễ dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ Vô Nhiễm
vào tháng 2 năm 1959 với sự hiện diện của người đại diện Tòa Thánh
Vatican là Hồng Y Agagianian và việc thi hành Kế Hoạch Kitô Hóa miền Nam
được tàng hình bằng"Những Chiến Dịch Tố Cộng" được
hợp thức hóa bằng luật số 10/59 ban hành ngày 6 tháng 5 năm 1959. Hậu quả
của kế họach Kitô hóa này là hơn 300 ngàn dân miền
Tất cả những sự thật
lịch sử này đều có ghi rõ trong các sách sử nói về thời cận và hiện
đại Việt Nam của các tác giả ngọai quốc cũng như các tác giả người
Việt, ngọai trừ những ấn phẩm của những người Việt đã được đặc
hưởng ân sủng của Giáo Hội La Mã hay của các chế độ đạo phiệt
Gia-tô ở miền Nam trong thời kỳ này. Người viết đã nêu đích danh một
số sử nô này ở nơi Chương 21 trong cuốn Việt
CỐ Ý TRÁNH NÉ, KHÔNG
ĐỂ CẬP TỚI NHỮNG CUỘC KHÁNG CHIẾN.
A.-. Không đề cập đến lực lượng nghĩa quân kháng chiến tại căn cứ Ba Đình (Thanh Hóa).- Lực lượng nghĩa quân này do cụ Đình Công Tráng lãnh đạo. Lý do tác giả không đề cập đến lực lượng nghĩa quân này vì rằng nếu nói đến địa danh Ba Đình và tên tuổi cụ Đinh Công Tráng tức là gợi cho đ |