1204-world.gif (4030 bytes)

updated: 30.11.04

             SÁCH BÁO ĐÓ ĐÂY

Trần Chung Ngọc

I. SÁCH:   

susan jacoby   1.  Những Nhà Tư Tưởng Tự Do: Lịch Sử Secularism Của Mỹ (Freethinkers: A History of American Secularism, By Susan Jacoby, Metropolitan Books, New York, 2004, $27.50).

Cuốn sách xuất bản vừa đúng lúc để nhắc nhở cho Tổng Thống Bush và dân chúng Mỹ nhớ rằng nước Mỹ là nước đầu tiên và duy nhất trong phương trời Âu Mỹ mà hiến pháp không lý gì đến Thượng Đế và do đó đã thành công như thế nào.  Tác giả viết: “Trên quan điểm của thế kỷ 21, điều rõ ràng là càng ngày càng có nhiều người Mỹ ủng hộ tự do tư tưởng và tự do tôn giáo, lật ngược quyền năng tôn giáo trong ngàn năm.”

Tác giả giải thích tầm quan trọng của sự kiện là Tổng Thống Abraham Lincoln đã đọc “Thời Đại Lý Trí” của Thomas Paine và luật sư đồng nghiệp của Lincoln đã khẳng định là Lincoln không quan tâm đến Thượng đế.  Tuy nhiên học sinh Mỹ không hề được dạy là những Tổng thống như Lincoln và Jefferson đều là những người không tin (unbelievers), và Jefferson đã lấy lưỡi dao cạo cắt bỏ những đoạn trong Kinh Thánh mà ông ta thấy xúc phạm đến lý trí và hiểu biết thông thường, do đó cuốn Kinh Thánh của Jefferson chẳng còn lại bao nhiêu (...that Jefferson took a razor blade and cut out all the passages of the Holy Bible that he found offensive to reason and common sense, leaving him with a fairly abbreviated volume.)

Tác giả cũng viết một chương dài về sự chống đối của tôn giáo trước thuyết Tiến Hóa.  Trong 20 năm qua, những nhà bảo thủ Ki Tô Giáo đã cố sức cản trở việc dạy khoa học và ném một trái banh vào bức tường ngăn cách giữa tôn giáo và chính quyền với hi vọng làm đổ bức tường này.

Một trong những khuôn mặt nổi bật nhất trong thế giới những nhà tư tưởng tự do Mỹ chính là Robert G. Ingersoll.  Tác giả kể, những cuộc diễn thuyết của Ingersoll về các đề tài tôn giáo đều phải mua vé và bao giờ cũng đông nghẹt người.  Có người mua được vé rồi [thường là $2 vào thập niên 1890] không chịu  bán lại dù với giá với giá cao hơn nhiều.  Buổi diễn thuyết thường vắng bóng các chức sắc tôn giáo và đã gây ra những trận cười trong thính chúng.  Sau đây là một thí dụ, trang 171:

“Đại Tá Ingersoll...quay sang những giáo lý của các giáo hội Ki-tô về vấn đề “cứu rỗi” (teachings of the Churches on the subject of salvation).  Ông nói:  “Ca-tô Giáo sẽ cho quý vị một vé đến thẳng thiên đường, họ sẽ lo vấn đề gửi theo hành lý của quý vị, và giữ luôn những hành lý này” (Trận cười lớn = Great laughter).  “Mặt khác, Tin Lành không hề cho quý vị biết là phải lên chuyến tàu nào để lên thiên đường” [vì có quá nhiều hệ phái Tin Lành].  Ông ta đọc và chế diễu những tín lý của Ca-tô.  Một trong những điều ông ta thích về Ca-tô là Ngục Luyện Tội (Purgatory).  “Đây là chỗ để cho con người có thể thỉnh nguyện một cuộc xử án mới” (make a motion for a new trial) [Thính giả  cười] {Ingersoll là một luật sư nổi tiếng.}.  Ông nói: “Hệ phái Tin Lành Episcopalian được thành lập bởi Henry VIII, nay đang ở trên thiên đường (Thính giả cười), ngay lúc mà ông ta bỏ bà vợ Catherine để lấy Anne Boleyn [Tòa Thánh không cho Henry VIII ly dị vợ, Henry VIII bèn ly khai Ca-tô Giáo và lập ra hệ phái Tin Lành riêng.].  Trong một thời gian lâu, hệ phái Tin Lành này được luật qui định, và Thượng đế bắt buộc phải học những luật của Quốc hội Anh để quyết định xem một người có được cứu rỗi hay không..”

Trong đoạn kết, tác giả kêu gọi tiếp nối chủ nghĩa nhân bản của Ingersoll.  Tác già kêu gọi quần chúng hãy cổ súy sự tự do tư tưởng, có những tư tưởng của chính mình thay vì dựa vào những quan niệm tôn giáo của người khác.  Tác giả nhắc rằng nước Mỹ được xây dựng trên những hi vọng tốt nhất của con người về công lý trên trái đất hơn chứ không phải là mơ mộng về một nền công lý trên trời. (A nation founded not on dreams of justice in heaven but on the best human hopes for a more just earth).

2. Tổng Thống Của Thiện Và Ác (The President of Good and Evil, By Peter Singer, Dutton, 288 pages, $24.95).

bush's proud Ngôn từ của TT Bush thuộc loại hoặc trắng hoặc đen, hoặc thiện hoặc ác.  Trong cuốn “The President of Good and Evil”, nhà đạo đức sinh học (bioethicist) ở đại học Princeton, đặt nghi vấn là thực ra ông Bush có hành xử đúng những lời ông thường nói về những giá trị đạo đức (moral values) hay không.  Qua nhiều trường hợp, tác giả đã chứng tỏ rằng chính quyền Bush đã rất lộn xộn và thất bại về vấn đề đạo đức (moral confusion and failure).

Singer xét đạo đức của Bush trong những lãnh vực công lý, tự do dân sự, tôn giáo, nước Mỹ như là một công dân trên thế giới, cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq, nước Mỹ như là một cảnh sát quốc tế, và đạo đức của chính Bush.  Tác giả vạch ra rằng lý tưởng “khuynh sự sống” (pro-life) của Bush không ngăn ông ta đừng ký án tử hình của 152 tù nhân ở Texas, nhiều hơn tất cả các thống đốc trước, với lý do là “để cứu đời sống của con người.”  Tôn trọng sự thiêng liêng của mạng sống con người cũng không làm ông ngần ngại đánh mạnh và mau dân Iraq và tiến hành cuộc đánh phủ đầu Iraq, bất kể biện minh như thế nào, đã lấy mạng của trên 100000 người dân Iraq và làm thiệt mạng trên 1000 lính Mỹ.  Peter Singer viết:   “Sự quan tâm của Bush đối với mạng sống của những người  đàn ông, đàn bà, và trẻ con vô tội ở Iraq thì không đáng kể gì so với sự quan tâm của ông ta để bảo vệ những bào thai dùng trong sự nghiên cứu tế bào chủ yếu của bào thai.  Tác giả cho rằng hệ thống ưu tiên của TT Bush thật là kỳ cục.

3.  Sự Cáo Chung Của Đức Tin: Tôn Giáo, Sự Khiếp Sợ, và Tương Lai Của Lý Trí (The End of Faith: Religion, Terror, and the Future of Reason, By Sam Harris, Norton, 336 pages, $24.95).

sam harris  Về cuốn sách trên, Thường Đức đã dịch một bài điểm sách của   Daniel Blue, đăng trên trang nhà Giao Điểm, tháng 9, 2004, và trên báo Giao Điểm, số 54.

Trong cuốn “The End of Faith..”, triết gia Sam Harris cho rằng những vũ khí giết người hàng loạt đòi hỏi con người phải từ bỏ hoặc trưởng thành khỏi tôn giáo. [Tôn giáo ở đây phải hiểu là thần giáo] Thuần lý và khoa học cần phải thay thế đức tin, và càng sớm càng tốt (Weapons of mass destruction require humans to give up, or grow out of, religion.  Rationality and science need to replace faith all together, and as soon as possible).  Trích dẫn từng chương, từng câu, Harris đã vạch ra là các cuốn gọi là sách thánh (holy books) đã bảo đảm thiên đường cho những tín đồ và đầy đọa hỏa ngục những người không tin.  Hầu hết những kinh sách tôn giáo (độc thần) chủ trương giết người, kêu gọi giết những người không tin, và ném đá chết hoặc chặt chân tay những kẻ vi phạm luật pháp xã hội.

Harris cho rằng chính sự dung dưỡng và kính trọng đức tin của người khác đã làm cho những kẻ cực đoan lộng hành.  Những người không sống sát với lời Kinh nhưng lại khoan nhượng đối với những người sống theo đúng những lời ác độc trong Kinh điển đã phản bội cả đức tin lẫn lý trí.  Nói thẳng và nói thật về tình trạng thế giới của chúng ta – thí dụ, cả cuốn Kinh Thánh lẫn cuốn Kinh Koran đều chứa hàng núi những chuyện xằng bậy nhằm phá hủy đời sống con người (the Bible and the Koran both contain mountains of life-destroying gibberish).  Tác giả cũng đưa ra thống kê của viện Gallup với kết quả là gần 50% dân Mỹ tin từng chữ một trong thuyết Sáng Tạo trong Kinh Thánh, như vậy nghĩa là đặt Big Bang vào khỏang 2500 năm sau khi những người Babylon và Sumery biết làm rượu bia.. [Trong khi Big Bang đã xảy ra cách đây khoảng 15 tỷ năm.]

Viết một cách châm biếm, tác giả đã can đảm vạch ra rằng những Kinh căn bản của các thần  giáo chỉ là những hợp tuyển kỳ lạ về bạo lực và trả thù, những luật trời qui định những người không tin phải chết.(the basic texts of all major religions extraordinary anthologies of violence and vengeance, celestial decrees that infidels must die).  Nhiều đoạn trong Kinh Koran đã chứng minh cho hàng triệu tín đồ là họ phải tự đi tìm cái chết để giết đồng loại càng nhiều càng tốt, nhân danh Allah Đấng Nhân Từ. (Passages of the Koran prove to many millions of believers that they should kill themselves murdering as many fellow humans as possible, in the name of Allah the Merciful).  Những tín đồ Ki-tô tin vào ngày tận thế không ngần ngại lao vào một cuộc chiến tranh nguyên tử ở Trung Đông để cho Dê-su mau trở lại trần đều tin vào lý tưởng thánh thiện của mình.  Tác giả cho rằng: “Chúng ta không thể không biết đến sự kiện là hàng tỷ người tin vào thuyết siêu hình của “tử vì đạo”, hoặc vào những điều viết trong sách Khải Huyền...”  Tác giả kết luận chúng ta phải lên án những kẻ cuồng tín tôn giáo, những kẻ mang bom tự tử, và những chế độ thế tục toàn trị.

II. BÁO:

            1.   “Secularism” in Europe Vexes Vatican
                   By Liz Sly
Tribune Foreign Correspondent,
Friday, November 5, 2004

Vài Lời Nói Đầu:  Danh từ quen thuộc thường dùng để dịch “Secularism” là: “Chủ Nghĩa Thế Tục”.   Dịch như trên là dịch thoát, không hẳn đúng nghĩa của “Secularism”.  Vì ở trên cõi đời này có cái gì mà không thế tục.  Ngay cả những bậc “thoát tục” như Giáo hoàng, Hồng Y, Linh Mục, Mục sư hay các bậc tu hành trong các tôn giáo cũng không tránh khỏi thế tục, ra ngoài “thế tục”.  Thật ra, “Secularism” là một triết lý sống nhân bản.  Trong những xã hội Tây phương, Secularism có nghĩa là: “Đặc biệt chú trọng đến những vấn đề trong đời sống này, đối ngược với sự quan tâm về một đời sống sau khi chết. Một hệ thống đạo đức được thành lập trên nền luân lý tự nhiên, “Secularism” có mục đích phát triển bản chất vật chất, đạo đức, và trí thức của con người  đến mức cao nhất, coi đó như là bổn phận cấp thiết của đời sống.   “Secularism”  ủng hộ sự đầy đủ thực tiễn của đạo đức tự nhiên tách khỏi thần giáo, khuyến khích sự tăng tiến của con người bằng những phương tiện vật chất, và lý luận chống ảnh hưởng tôn giáo trong chính sách công cộng và trong trường học.” (Secularism = exclusive attention to the affairs of this life, as opposed to the interest in an after-life.  An ethical system founded on natural morality, Secularism seeks the development of the physical, moral, and intellectual nature of man to the highest possible point as the immediate duty of life.  It advocates the practical sufficiency of natural morality apart from Theism, promotes human improvement by material means, and argues against religious influence in public policy and schools. ("ISMs: A Compendium of Concepts, Doctrines, Traits, and Beliefs" By Alan & Theresa Von Altendorf, Mustang Publishing Co., TN, 1991, p. 274). 

Đó là đặc tính của phong trào Secularism.  Còn thế tục thì có tính tổng quát hơn, và ai là người không thế tục?  Giáo hoàng ăn ngon mặc đẹp, tự đắm mình trong những hoạt động chính trị mà bản chất chúng là nhơ nhớp rồi, cũng là thế tục.  Giáo hội vơ vét của cải thế gian, liên kết với các quyền lực thế gian để củng cố cái thần quyền tự phong, cũng là thế tục.  Đem Thánh Giá ra đấu với aka 47 xem ai thắng ai (Phan Phát Huồn) cũng là thế tục, có thắng cũng chẳng vinh hạnh gì vì nó đồng hạng với nhau. Tin Lành đem tiền của vật chất đến các nơi nghèo đói để mua tín đồ, và theo gót đoàn quân xâm lược để “truyền bá Phúc Âm”, tất cả chỉ là thế tục.  Thực chất của Secularism là một triết lý sống,  đặt trọng tâm hành động vào mục đích phát triển tối đa trí tuệ và đạo đức của con người trong đời sống này, chứ không ngồi đó mà mơ tưởng đến một thế giới hão huyền sau khi chết.  Hiểu Secularism như vậy cho nên trong bài dịch này chúng tôi xin để nguyên từ secularism.  Xin đừng lầm secularism với chủ nghĩa vật chất (materialism).

*

“SECULARISM” Ở ÂU CHÂU LÀM VATICAN LO ÂU

VATICAN CITY.-  Nhìn ra thế giới phía ngoài những bức tường tự giam mình trong một tiểu quốc lọt trong thị trấn La Mã, Vatican thấy nhiều thứ làm cho mình lo âu: khủng bố, chiến tranh, bệnh AIDS, và sự nghèo khổ đang tàn phá đời sống của những phần tử Công Giáo trên khắp thế giới.

Nhưng trong tất cả những tệ nạn đang giáng lên đầu thế giới hiện đại, không có gì gây nên sự quan tâm sâu đậm hơn là cơn thủy triều mà các giới chức ở Vatican gọi là “militant secularism” đang tràn phủ khắp Âu Châu.

Những triệu chứng của “militant secularism” gần đây đã gia tăng một cách nhanh chóng.

Trong nước Tây Ban Nha mà truyền thống là Công giáo La mã, một chính phủ xã hội mới đã tích cực đẩy mạnh việc làm luật cho phép hôn nhân giữa những người đồng giống luyến ái, dễ dàng trong việc phá thai, và làm thủ tục ly dị mau lẹ.

Trong nước Pháp mà lịch sử là nước Công Giáo, việc chính quyền cấm trưng bày những biểu tượng tôn giáo trong những cơ sở công cộng đã gây nên sự tranh cãi, vì trong khi ngăn cấm những nữ học sinh Hồi Giáo mang khăn chùm đầu ở trường học, chính quyền cũng đặt ra ngoài vòng pháp luật những biểu tượng của Ki-tô Giáo như “Chúa bị đóng đinh trên thập giá” (While it prevented Muslim girls from wearing veils to school, it also outlawed Christian symbols such as crucifixes.)

Và có lẽ làm bực mình Vatican nhất là Hiến Pháp mới của Liên Hiệp Châu Âu, ký trong tuần qua với kèn trống ở ngay bên kia sông Tiber, đối diện với Tòa Thánh, không hề nhắc gì đến Ki-tô Giáo, bất kể là Giáo hoàng đã cầm đầu, mở một chiến dịch mạnh mẽ để đưa vào phần mở đầu của Hiến Pháp ghi nhận “Gốc rễ Ki-tô” của Âu Châu. (Anh perhaps the most galling of all, the new European constitution signed with much fanfare last week just across the Tiber River from the Holy See contained no mention of Christianity, despite a vigorous campaign led by the pope for a reference to Europe’s “Christian Roots” to be included in the preamble).

Marco Politi, phóng viên của tờ báo Ý La Republica ở Vatican nói: “Sự bỏ đi ghi nhận này trong Lời Nói Đầu còn hơn là tính cách tượng trưng.  Nếu ghi nhận này được đưa vào Lời Mở Đầu, Vatican có thể phản đối những luật lệ nào ở khắp Âu Châu đối lập với giáo lý của Công Giáo như là vi hiến.”

Giáo hội Công Giáo sợ rằng, với  bộ máy hành chánh của Tân Âu Châu, giáo lý của Giáo hội sẽ bị gạt ra ngoài lề xã hội, ngay cả ở trong những quốc gia mà Giáo hội còn có ảnh hưởng.

Politi nói: “Giáo hội thực sự đang cảm thấy rằng Giáo hội bị tấn công, xâm chiếm, và Giáo hội phải tự phòng vệ trước làn sóng giải thể Ki-tô Giáo này.”

Đã từ lâu,  Vatican đã mất đi quyền hành trong những nước Tin Lành ở Bắc Âu.  Những nước này đã tách khỏi Công Giáo, nhiều khi đẫm máu, trong những thế kỷ qua.  Hôn phối giữa những người đồng giống thì hợp pháp ở Bỉ và Hòa Lan, và một vài dạng sống chung khác được công nhận trong nhiều quốc gia khác.   Anh quốc đang tích cực nỗ lực trong ngành nghiên cứu tế bào chủ yếu của bào thai (embryonic stem cell research).   Phá thai và ly dị dễ dàng trong những quốc gia Âu Châu.

Viễn tượng về những điều này ở ngay trong những căn cứ địa của Công Giáo đang được một số viên chức cao cấp coi như là một sự đe dọa cho chính sự hiện hữu của Ki-tô Giáo. (a threat to Christianity’s very existence).  Trong những bình luận được quảng cáo trong tháng vừa qua, Hồng Y Renato Martino, chủ tịch bộ Công Lý và Hòa Bình của Giáo hoàng,  lên án cái mà ông ta gọi là “một tòa án thánh sử dị giáo mới” (new holy inquisition) nhằm vào Công Giáo ở Âu Châu bởi nhiều nhóm mà động cơ thúc đẩy chính là thành kiến đối với tất cả những gì có tính chất Ki-tô (motivated predominantly by prejudice toward all that is Christian).

Tổng Giám mục John Foley, Giam đốc bộ Truyền Thông Xã Hội,  nói: “Không phải chỉ là vấn đề Ki-tô Giáo hay Công Giáo.  Có cả một phong trào “militant secularism”, một sự từ bỏ con đường tâm linh, vận mệnh [do Thượng đế định đoạt] của con người, và những điều này rất đáng quan tâm.  Một số quốc gia Hồi Giáo gần với chúng tôi về những vấn đề này hơn là một số quốc gia ở Âu Châu.

Vatican quyết định chống lại.  Tòa Thánh khuyến khích những nhà thờ ở Tây Ban Nha phản đối luật pháp của chính quyền.  Vatican thường xuyên kiếm ra những đường lối khác để hấp dẫn tín đồ.  Một chương trình phát thanh mới của Vatican trong đó các Hồng y bàn luận về những trận đá banh.  Một ấn phẩm về tình dục mới được Vatican cho phép (Vatican-endorsed) kêu gọi “không làm tình là tội lỗi” (It’s a Sin Not To Do It” và khuyến khích các cặp vợ chồng hãy làm tình nhiều hơn (encourages married couples to have more sex). [Điều này đã đi ngược lại giáo lý truyền thống của Công Giáo: Coi vấn đề tình dục như là tội lỗi.  Giáo hoàng và linh mục làm hoặc công khai hoặc làm lén thì được, chứ tín đồ thì không nên.  TCN]

Politi, quan sát viên ở Vatican, cho rằng đã quá muộn để Vatican có thể đảo ngược làn sóng thủy triều này.

Ông nói: “Tất cả những gì họ có thể làm được là phản đối.   Họ không thể làm gì hơn.  Sự thực là Giáo hội ở Âu Châu chỉ đại diện cho một thiểu số.  Quá nhiều quốc gia và hầu hết dư luận công cộng đơn giản là không còn ủng hộ lập trường của Giáo hội nữa.”

2.     How Can 59,054,087 People So Dumb?

Daily Mirror, London

Thursday, November 4, 2004

Ngoài bìa tờ báo Daily Mirror ở London ngày 4 tháng 11, 2004, là hình TT Bush với câu hỏi “How Can 59,054,087 People Be So Dumb”, dịch thoát có nghĩa là “Làm Sao Mà 59,054,087 Người Lại Có Thể Đần Như Vậy?”   Chúng ta phải hiểu con số trên là số phiếu bầu cho TT Bush. Ký giả Tom Hundley viết: “Hầu hết Âu Châu không đánh giá cao trình độ trí thức của TT Bush nhưng bây giờ có vẻ như họ nghi ngờ trình độ của tất cả chúng ta, hay ít nhất là của 59 triệu người trong chúng ta đã bỏ phiếu cho Bush.”  [Làm sao mà có thể coi tất cả gần 60 triệu người bỏ phiếu cho TT Bush là đần?  Đây có thể chỉ phản ánh cái nhìn của một cá nhân chứ không phải của cả Âu Châu. TCN]

Giáo sư sử người Anh, Simon Schama, đang dạy học ở đại học Columbia, chia nước Mỹ ra làm hai quốc gia.  Một quốc gia có chu vi trên biển cả, có biên giới không rõ rệt với Gia Nã Đại, và do đó dễ tiếp nhận những gì từ ngoài và có cái nhìn cởi mở.  Và một nước Mỹ bám chặt trên đất đai của lục địa,  có gốc rễ bướng bỉnh tự tin vùi sâu dưới những cánh đồng cỏ xanh và ruộng bắp.  Đây là lúc chúng ta nên coi hai nước Mỹ như là một cái gì khác với Cộng Hòa và Dân Chủ.  Thí dụ như, một nước Mỹ quan tâm đến những vấn đề của Thượng đế (Godly nation), và một nước Mỹ quan tâm đến những vấn đề thế tục (Worldly nation).

Nước Mỹ quan tâm đến những vấn đề thế tục thì gần với Âu Châu hơn.

Học giả Robert Kagan ở Carnegie Endowment for International Peace cho rằng “Người Mỹ là từ Hỏa Tinh (Mars) và người Âu Châu là từ Kim Tinh (Venus).  Kagan đề nghị đã đến lúc chấm dứt ý tưởng cho rằng Mỹ và Âu Châu có cùng một quan điểm về thế giới hoặc về ngay cả những giá trị đạo đức.

Trong khi 11 tiểu bang bỏ phiếu bác bỏ hôn phối giữa những người đồng giống thì hầu hết các quốc gia Âu Châu đang tiến tới chấp nhận sự hôn phối này, trừ những nước Ái Nhĩ Lan, Ba Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Thụy Sĩ và Cyprus.

Trong khi những người bảo thủ Mỹ mơ ước một ngày khia, tối cao Pháp Viện sẽ vô hiệu hóa vụ Roe vs. Wade, thì dùng quỹ công cộng cho những vụ phá thai được coi như là đương nhiên trên hầu hết Âu Châu.

Trong khi ở Mỹ, án tử hình gia tăng, thì bãi bỏ án tử hình là điều kiện để gia nhập khối liên hiệp Âu Châu.

Khi các nhà lập quốc Hoa Kỳ thảo Hiến Pháp, họ đã xây một bức tường cao ngăn cách giữa quốc gia và tôn giáo.  Ngày nay khối người mỹ cực hữu muốn hạ thấp bức tường đó xuống.  Trong khi đó thì bản hiến pháp đầu tiên của liên hiệp Âu Châu đã cố tránh không nhắc gì tới Thượng đế hay tôn giáo (Ki-tô giáo) mặc dù Vatican và Ba Lan phản đối.

Trong khi một số nhà thờ ở Mỹ thành nơi sách động chính trị thì các nhà thờ ở Âu Châu trở thành những viện bảo tàng trống không.

Những người Âu Châu bị “sốc” bởi vụ Monica Lewinsky, sốc vì một tổng thống có khả năng lại có thể gần như bị hạ bệ chỉ vì lăng nhăng với một người đàn bà đã trưởng thành.

Khi cựu tổng thồng Pháp Francois Mitterrand chết, cả vợ lẫn tình nhân đều đến dự đám tang mà không ai buồn quan tâm.  Tổng thống đương thời Jacques Chirac nổi tiếng là người có nhiều đàn bà.  Thủ tướng Ý Silvio Berlusconi đã bỏ người vợ trong nhiều năm để lấy một nữ tài tử nổi tiến về để trần bộ ngực trên sân khấu.  Thủ Tướng Đức Gerhard Schroeder đã bốn lần lấy vợ.  Bộ trưởng ngọai giao của ông ta, Joschka Fischer, cũng 4 lần lấy vợ và hiện đang sống với một bạn gái trẻ hơn nhiều.

Người Âu Châu không thích Bush không phải là vì ông ta trung thành với vợ ông ta mà vì những “đoan quyết đạo đức” của ông ta dựa trên Ki-tô Giáo, và chia thế giới làm hai phe thiện và ác.

Guillaume Parmenter, một chuyên gia người Pháp  về Hoa Kỳ, nhận xét:  “Chúng tôi khó có thể hiểu được những nét tôn giáo của Bush, người Âu Châu nhận thức rằng tôn giáo là vấn đề riêng tư, không có phần trong sự định nghĩa chính sách của chính quyền”

Vài Thống Kê Về “Giá Trị Đạo Đức” của Mỹ.  Chiêu bài “Giá Trị Đạo Đức” (Moral Values) đã giúp ông Bush thắng cử trong kỳ bầu tổng thống vừa qua. 

Những thống kê sau đây có trên Internet. 

-    Trên thế giới có tất cả khoảng 9 triệu người đang ngồi tù.  Riêng trong nước Mỹ có khoảng 2 triệu 2 tù nhân, chiếm 24.4% tỷ lệ trên thế giới.   44% tù nhân là người da đen, 35% da trắng, 10% trong lứa tuổi 25-29.

-    Trung Quốc có 111 tù nhân trên 100000 dân.  Mỹ có 686/100000 [Dân số Mỹ = ¼ dân số Trung Quốc]

-    Số người ly dị trên nước Mỹ, năm 2000:  8,572,000 đàn ông; 11,309,000 đàn bà.

-    Trung bình khoảng 50% các cặp vợ chồng do Chúa kết hợp đi tới ly dị.  Có địa phương lên tới 70%.

-    Từ 4% đến 10% là đồng giống luyến ái (homosexuals)

-    Từ 1973 đến nay có 40 triệu người phá thai, 4000 vụ một ngày.  Năm 1999 có 1,365, 730 vụ phá thai.

-   14 triệu người nghiện rượu.

-    Tỷ lệ số linh mục Công Giáo bị bệnh AIDS cao gấp 4 lần tỷ lệ trong quần chúng.

-    Năm 2002 có 87000 vụ hiếp dâm.

-    Theo Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ (US Dept. of Justice), cứ 2 phút lại có 1 người bị hiếp.

Hi vọng trong nhiệm kỳ 4 năm tới, Tổng Thống Bush có thể nâng những “giá trị đạo đức” của Mỹ lên ít nhất là gần bằng “giá trị đạo đức” của các nước Á Châu.

 

     


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com