1204-world.gif (4030 bytes)

posted: 29.11.04

TẢN MẠN XUNG QUANH CUỐN
“THE DA VINCI CODE”

Dan Brown book (The Da Vinci Code, By Dan Brown, Doubleday, New York, 2003, $24.95)

 

            Trần Chung Ngọc        

 

            Cuốn truyện giả tưởng (fiction) The Da Vinci Code của Dan Brown là một cuốn truyện rất đặc biệt, xuất bản vào tháng 3, 2003, nhưng tôi mới chỉ đọc nó cách đây vài tháng, vì tôi có rất ít thì giờ để đọc truyện.  Cuốn truyện đặc biệt ở chỗ thuộc loại giả tưởng mà lại không phải hoàn toàn là giả tưởng, vì nội dung dựa trên kết quả nghiên cứu của nhiều học giả về những vấn đề đã làm bận tâm nhiều người từ bao thế kỷ: NHỮNG SỰ THỰC XUNG QUANH VẤN ĐỀ LIÊN HỆ TÌNH ÁI GIỮA DÊ-SU VÀ MARY MAGDALENE, DÊ-SU CHẾT THẬT HAY CHẾT GIẢ TRÊN THẬP GIÁ, cùng CÁI GÌ LÀ HOLY GRAIL.   Tác giả đã lồng những kết quả nghiên cứu của nhiều học giả vào trong một cốt truyện thuộc loại “bật mí” bí mật.  Diễn tiến của cốt truyện (plot) rất hấp dẫn và lôi cuốn người đọc.  Tôi phải nói rằng, nội dung và những điều uẩn hàm trong cuốn truyện không có gì lạ đối với tôi, nhưng cấu trúc diễn tiến của truyện đã làm tôi rất thích thú khi đọc cuốn sách này, đã bắt đầu đọc thì cứ muốn đọc tiếp, không muốn bỏ sách xuống.

            Cuốn The Da Vinci Code đã bán trên 8 triệu cuốn ở nước Mỹ, đứng đầu danh sách những sách bán chạy nhất (best-seller) trên tờ New York Time trong 47 tuần lễ liền ở Mỹ, 3 tháng liền ở Đức, thuộc loại bán chạy nhất ở khắp Âu Châu và đã được dịch ra tiếng Pháp, tiếng Ả Rập, và cuốn truyện có thể được đóng thành phim do Tom Hanks đóng vai chính.  Đài truyền hình ABC đã có một chương trình dài 1 giờ đồng hồ về chủ đề Jesus, Mary, and Da Vinci: Exploring Controversial Theories About Religious Figures and the Holy Grail với nhiều bình luận của một số chuyên gia về Ki-tô Giáo.

Nhưng ở Li-Băng (Lebanon), dưới áp lực của Công Giáo Rô-ma, và đề nghị của Linh mục Abdu Abu Kasm, giám đốc Trung Tâm Thông Tin Ca-tô ở Li-Băng, cuốn truyện bị Bộ An Ninh [không phải bộ Thông Tin hay Bộ Văn Hóa] kiểm duyệt và cấm với lý do là có thể có hại cho đức tin của giáo dân.  Điều này cho chúng ta thấy ảnh hưởng tác hại, đi ngược thời đại của Công Giáo ở nơi nào nó còn có nhiều thế lực.  Giáo Hoàng Ca-tô Rô-ma John Paul II thường khuyên các con chiên “đừng sợ” [đối với giáo dân VN có thể hàm ý cứ năng nổ tranh đấu nổi loạn chống Cộng đi, chết vì Chúa là một vinh dự] nhưng lịch sử cho thấy rõ:  Suốt 2000 năm nay giáo hội Ca-tô luôn luôn sợ: Sợ Sự Thật.  Vì vậy, hết cấm tín đồ đọc Kinh Thánh rồi lại đến cấm đọc những cuốn sách mà giáo hội không ưa, và các linh mục địa phương, những cái loa của Tòa Thánh, ngày nay cũng vẫn còn thường khuyên các con chiên không nên đọc những cuốn sách “chống đạo” [với con chiên VN : “sách Giao Điểm”] .  Chủ tịch hiệp hội những nhà xuất bản ở Lebanon, Ahmad Fadl Allah Aasi,  đã đệ thư phản đối lên Tổng Thống Li-Băng Emile Lahud về biện pháp đàn áp tự do này.

            Tuy là một cuốn tiểu thuyết (novel) nhưng cuốn The Da Vinci Code của Dan Brown có chứa những tài liệu nghiên cứu về những hiệp hội tôn giáo kín (secret religious societies), những sự che đậy và trả thù dã man của Ki tô Giáo (coverups and savage vengeance), và những âm mưu của giáo hội hủy đi những chứng tích về những sự thật về con người Dê-su.. 

Nội dung cuốn truyện đại cương như sau:  Mở đầu bằng vụ ám sát Jacques Saunière, linh mục phụ trách viện bảo tàng Louvres ở Paris, xác chết nằm theo một tư thế có tính cách biểu tượng (symbolic) dưới chân bức hình Mona Lisa.  Robert Langdon, một chuyên gia nghiên cứu các biểu tượng tôn giáo (symbologist) ở đại học Harvard, với sự cộng tác của Sophie Neveu, một nữ nhân viên trong ngành cảnh sát Pháp, chuyên gia giải mật các tài liệu (cryptologist), điều tra vụ này. [Hai tên Saunière và Sophie tác giả dùng có dụng ý.  TCN]

Hai người nhận ra nhiều mật mã (codes) xung quanh chỗ Saunière bị ám sát, và tất cả họp thành một bản đồ chỉ chỗ của cái Holy Grail (Holy Grail = Chén hay ly lớn Dê-su dùng để uống rượu trong bữa ăn chiều cuối cùng, được coi như là một Thánh tích.  Nhưng đây chỉ là một truyền thuyết trong nhiều truyền thuyết về cái gì là Holy Grail).  Trong khi đi tìm kiếm cái Holy Grail này từ Pháp sang Anh, hai người đã bị ngăn cản bởi hai tổ chức trong Công Giáo:  Priory of SionOpus Dei.  Hai tổ chức này đều có lý do để cho sự thật về cái Holy Grail không bao giờ được kiếm ra.  Đoạn kết của cuốn truyện khá bất ngờ, cho biết ai là người đã chủ mưu giết Jacques Saunière và tại sao.

Nếu chỉ là một tác phẩm giả tưởng (work of fiction), như tổ chức Opus Dei [God’s Work] ở Mỹ khuyến cáo độc giả đừng tin những gì viết trong đó, không hiểu tại sao Ki-tô Giáo nói chung lại hoảng hốt tung ra nhiều bài phê bình, cải chính, và chỉ trích tác giả. Điểm đặc biệt trong những bài đả kích cuốn The Da Vinci Code của Dan Brown là không nhắc gì đến những tác phẩm nghiên cứu về cùng những chủ đề trên của các học giả, chuyên gia về Kinh Thánh và lịch sử Ki-tô Giáo.

Có lẽ lý do Ki-tô Giáo có những phản ứng tiêu cực trước cuốn The Da Vinci Code của Dan Brown là vì trong cuốn đó có những điểm chính sau đây mà độc giả rất dễ nhận ra:

·         Ki-tô Giáo nguyên thủy kế thừa tục thờ cúng nữ thần (the cult of the Great Mother or Goddess).  Mary Magdalene tượng trưng cho tục lệ thờ cúng này và là ý nghĩa của Holy Grail trong truyền thuyết truyền thống (traditional lore).  Nàng cũng còn là vợ của Dê-su và là mẹ những đứa con của Dê-su.

·          Dạ con (womb) của Magdalene, chỗ mang bào thai các con của Dê-su chính là cái Holy Grail (như có thể thấy trong bức tranh Bữa Ăn Cuối Cùng của Da Vinci có ẩn dấu hiệu này)

·         Dê-su không được các tông đồ coi như là Chúa (God).

·         Công đồng Nicene vào thế kỷ 4 giúp Constantine nắm quyền và sự liên hệ tình ái giữa Mary Magdalene với Dê-su đã bị dập tắt từ đó.

·         Dê-su không chết trên thập giá mà cùng Mary Magdalene sinh con đẻ cái và sống ở miền nam nước Pháp.  Dòng dõi, hậu duệ của Dê-su và Magdalene vẫn còn ở Âu Châu ngày nay.

·         Một số tài liệu mới kiếm thấy năm 1945 ở Nag Hammadi [những cuộn kinh thư nơi biển chết (Dead Sea Scrolls), Phúc Âm của Thomas (Gospelsof Thomas), Phúc Âm của Mary Magdalene (Gospels of Mary)] đã làm căn cứ cho những thuyết trên.

·         Giáo hội Công giáo đã âm mưu bôi nhọ Mary Magdalene, dựng lên chuyện Mary là một cô gái điếm để che đậy sự liên hệ tình ái giữa Dê-su và Mary.  

·         Holy Grail không phải là cái Chén Thánh Dê-su dùng để uống rượu trong bữa ăn chiều cuối cùng, cũng không phải là cái ly hay cái bát mà Joseph ở Arimathea dùng để hứng máu của Dê-su khi ông ta bị hành hình, mà là một mật mã che dấu dòng dõi của Dê-su.

·         Bí Mật về Dê-su và Mary Magdalene đã được một hội kín có tên là Prieuré de Sion (Priory of Sion), có liên hệ đến tổ chức Knights Templar, hội các thầy tu hiệp sĩ được thành lập trong cuộc Thánh Chiến đầu tiên, gìn giữ.  Hội này có nhiều nhân vật nổi danh trong lịch sử Âu Châu như Leonard Da Vinci, Isaac Newton,Victor Hugo, Clause Debussy, Jean Cocteau v..v.. Và Bí Mật này chính là dòng dõi của Dê-su và Mary Magdalene. Còn Opus Dei (God’s Work) là một tổ chức nằm dưới dù của Vatican, còn được giới phê bình đặt tên là “Holy Mafia”, chuyên tuyển mộ giới trẻ, tẩy não, huấn luyện thành những kẻ cuồng tín để làm việc Chúa (God’s Work).  Trong cuốn truyện, Opus Dei dùng một sát thủ (hit-man) tên là Silas để giết Jacques Saunière vì ông Linh mục này có trong tay bí mật về cái Holy Grail  và có ý định tiết lộ bí mật này.

Tất cả những điểm trên đã mặc nhiên đánh đổ mọi lý luận thần học, tín lý, và niềm tin cố hữu trong Ki-tô Giáo.  Ngoài ra, trong cuốn truyện có những đoạn mô tả thực chất của giáo hội Ca-tô, chắc chắn là không làm hài lòng giáo hội, thí dụ như: “...Giáo hội có 2000 kinh nghiệm để gây áp lực trên những ai đe dọa phanh phui ra những sự dối trá của Giáo hội.  Từ thời Constantine, Giáo hội đã thành công che dấu sự thực về Mary Magdalene và Dê-su.   Chúng ta không nên lấy làm lạ là ngày nay, một lần nữa, họ đã tìm ra cách để giữ thế giới trong bóng tối.  Giáo hội có thể không còn dùng được những thập ác quân để giết những người không tin, nhưng ảnh hưởng của họ không kém tính cách thuyết phục để làm cho người ta tin.  Không kém ngấm ngầm tác hại” (Trang 407: ..The Church has two thousand years of experience pressuring those who threaten to unveil its lies.  Since the days of Constantine, the Church has successfully hidden the truth about Mary Magdalene and Jesus.  We should not be surprised that now, once again, they have foung a way to keep the world in the world.   The Church may no longer employ crusaders to slaughter non-believers, but their influence is no less persuasive.  No less insidious.)  Một đoạn khác ở trang 408: “Chúng ta cần phải làm một cái gì đó.  Để cho thế giới vĩnh viễn trong sự ngu dốt?  Để cho Giáo hội gắn chặt những dối trá của họ trong những cuốn sử của chúng ta vĩnh viễn?  Để cho Giáo hội  gây ảnh hưởng qua những hành động giết người và tống tiền đến bao giờ?”  (Something had to be done.  Shall the world be ignorant forever?  Shall the Church be allowe to cement its lies into our history books for all eternity?  Shall the Church be permitted to influence indefinitely with murser and extortion?).  Những đoạn như trên và nhiều đoạn khác trong cuốn truyện hiển nhiên không thuộc loại giả tưởng.

Nói tóm lại, như một phê bình gia đã nhận định:  “Trọng điểm trong cuốn truyện của Dan Brown viết về Ki-tô Giáo là “hầu hết những gì mà ông cha chúng ta dạy về Dê-su Ki-tô đều không đúng” (The central claim Brown's novel makes about Christianity is that "almost everything our fathers taught us about Christ is false.) 

Những điểm Dan Brown uẩn hàm trong cuốn truyện không có gì mới lạ.   Thật vậy, đã có nhiều học giả viết về những vấn đề này.  Nhưng quần chúng ít đọc những cuốn sách thuộc loại nghiên cứu của các học giả về những vấn đề này, thường là khô khan và thiên về học thuật.  Trái lại, cuốn truyện của Dan Brown pha trộn thật với giả, và cốt truyện lại hấp dẫn, nên có nhiều người đọc, và Ki-tô Giáo càng phê bình chỉ trích thì người ta lại càng tìm đọc.  Nhiều người đọc tin, kể cả những tín đồ Ki-tô Giáo, cho nên nhiều giới chức trong Ki-tô Giáo, giới trí thức cũng như giới tu sĩ, đã viết bài, hoặc viết cả sách,  phê bình tiêu cực về cuốn truyện trên, và thuyết giảng trong các nhà thờ là những điều viết trong cuốn The Da Vinci Code không đúng sự thật và trái với đức tin trong Ki-tô Giáo, thuộc loại lạc đạo Ki-tô (Christian heresies).  Chỉ có điều, những “tác phẩm” chống đỡ này không gây được một tiếng vang nào trong giới độc giả.

Riêng đối với tôi, tôi rất lấy làm thích thú khi đọc cuốn The Da Vinci Code của Dan Brown vì những gì tác giả viết về Ki-tô Giáo rất quen thuôc với tôi, ngoài sự hấp dẫn của một cốt truyện thuộc loại trinh thám.  Đã có những cuốn sách thuộc loại nghiên cứu, với nhiều chi tiết hơn nhiều,   về những vấn đề trên.  Tôi xin tóm tắt hết sức sơ lược vài cuốn sách thuộc loại này để quý vị độc giả thấy rõ vấn đề.

1.  Holy Blood, Holy Grail của Michael Baigent, Richard Leigh & Henry Lincoln, xuất bản năm 1982:

-          Có thể nào Dê-su không chết trên thập giá?

-          Có thể nào Dê-su đã lấy vợ, làm cha, và dòng dõi của ông ta vẫn còn ngày nay?

-          Có thể nào những mảnh viết trên giấy da (parchments) được tìm thấy ở miền Nam nước Pháp vào một thế kỷ trước đây đã phanh phui ra một trong những bí mật được dấu kín nhất trong giáo hội Công giáo?  [Sự kiện xảy ra thực:  Người tình cờ kiếm ra những mảnh viết trên giấy da này là một linh mục tên là Saunière, về sau cũng bị ám sát chết (murdered).  TCN]

-          Có thể nào những mảnh viết trên giấy da này là tâm điểm chứa bí mật về cái Holy Grail?

Theo các tác giả của cuốn sách trên, một cuốn sách chứa những tài liệu nghiên cứu tỉ mỉ, không những những điều trên có thể, mà hầu như chắc chắn là thực. (According to the authors of this extraordinary provocative, meticulously researched book, not only are these things possible – they are probably true.)  Trong cuốn sách này, tác giả đã viết rất nhiều chi tiết xung quanh vụ Linh mục Francois Bérenger Saunière tình cờ kiếm thấy những mảnh viết trên giấy da ở Rennes-le-Château, miền Nam nước Pháp vào cuối thế kỷ 19, những truyền thuyết xung quanh cái gì là “Holy Grail”, những tổ chức như Prieuré de Sion, Knights Templar v..v...

2.-  The Passover Plot của Dr. Hugh J. Schonfield, xuất bản năm 1969 :

Trong cuốn sách này, tác giả đã khẳng định – và trình bày những bằng chứng chi tiết từ Kinh Thánh và từ những tài liệu mới khám phá ra từ biễn chết (Dead Sea Scrolls) để chứng minh là Dê-su đã đặt kế hoạch để cho mình bị bắt, bị đóng đinh, dùng thuốc giả chết trên thập giá, rồi được cứu sống lại cho phù hợp với những điều tiên tri về một đấng cứu tinh của dân tộc Do Thái.

Cuốn sách đã được viết bởi những bằng chứng bất khả phủ bác (irrefutable evidence)

3.  Bloodline of the Holy Grail: The Hidden Lineage of Jesus Revealed của Laurence Gardner, xuất bản năm 2001:

Cuốn sách này cho biết chi tiết về dòng dõi của Dê-su và Mary Magdalene, và dòng dõi của James (em trai Dê-su) cho đến ngày nay.  Nó cho ta những tia sáng mới trong những chuyện viết trong Kinh Thánh, và về những khuôn mặt bí ẩn của Joseph ở Arimathea và của Mary Magdalene, và sự thực về truyền thuyết về Vua Arthur ở bên Anh với cái Holy Grail.

4.  The Jesus Conspiracy: The Turin Shroud & The Truth About The Resurrection của Holger Kersten & Elmar R. Gruber, xuất bản năm 1995:

Trong cuốn sách này, hai tác giả trên đã chứng minh những điểm sau đây:

-          Dê-su không có chết trên thập giá.

-          Dê-su không thể sống lại từ chết (resurrection).

-          Tấm vải liệm Dê-su là thực, không phải được ngụy tạo trong thời Trung Cổ.

-          Cách định tuổi tấm vải liệm bằng chất phóng xạ Carbon cố ý lừa dối.

-          Vatican đã âm mưu sự lừa dối này (Powers in the Vatican conspired the fraud)

Holger Kersten & Elmar R. Gruber đã đi khắp Âu Châu để tìm hiểu sự thực và đưa ra những bằng chứng để chứng minh những điểm trên.

5. The Tomb of God: The Body of Jesus and the Solution To a 2000-Year-Old Mystery của Richard Andrews & Paul Schellenberger, xuất bản năm 1996.

            Cuối thế kỷ 19, một linh mục, tên là Francois Bérenger Saunière,  trong cái làng nhỏ Rennes-le-Château ở miền Languedoc nước Pháp, tình cờ kiếm thấy những mảnh viết trên giấy da (parchments) được dấu kín dưới bàn thờ trong nhà thờ làng.  Những mảnh viết này, bằng chữ La-tinh, theo truyền thuyết, có liên hệ gì đến cái Ark of the Covenant ở Jerusalem hay cái Holy Grail, đã là đề tài tranh luận của nhiều học giả.  Trong cuốn sách trên, hai học giả đã cho ra giải đáp và đồng thời đã phanh phui ra lịch sử bí mật của Ki-tô Giáo.

            Phối hợp với những bản đồ, những nấm mồ, và tác phẩm nghệ thuật trong nhiều thế kỷ, đặc biệt là bức tranh nổi tiếng của Nicolas Poussin trong thế kỷ 17, tác giả đã khám phá ra là những mảnh viết trên giấy da trên che dấu họa đồ của miền Rennes-le-Château, mà các đường thẳng, khám phá ra bằng cách nối những chữ trên mảnh viết theo một mật mã, và góc độ giữa các đường thẳng đã chỉ đến chỗ chôn Dê-su, một bí mật được che dấu dưới hàng tấn đá, ở ngay trong vùng Rennes-le-Château.  Để chứng minh điều này, hai tác giả đã vận dụng đến lịch sử, nền thần học Ki-tô Giáo và khoa khảo cổ.

            Tôi tin, rằng Dan Brown chắc chắn đã phải đọc những cuốn này rồi tưởng tượng ra một câu chuyện hiện đại theo ý mình.  Cái tên Saunière dĩ nhiên là từ nhân vật có thực, linh mục Francois Bérenger Saunière, người khám phá ra những mảnh giấy viết trên da, và về sau cũng bị ám sát hay chết một cách mờ ám [chết ngày 17 tháng 1, 1917 nhưng người ta đã tìm thấy một hóa đơn mua quan tài cho linh mục Saunière ngày 12 tháng 1, 1917].  Tên Sophie trong truyện là tên tiếng Pháp của Sofia, có nghĩa là “wisdom”, một tên đã từng được đặt cho Mary Magdalene.

            Muốn biết về những truyền thuyết về Holy Grail, xin đọc cuốn The Holy Grail: The Legend, the History, the Evidence, by Justin E. Griffin, McFarland & Company, Inc., Publishers, London 2001, hoặc cuốn Holy Blood, Holy Grail ở trên.

            Muốn biết về tổ chức Prieuré de Sion, xin đọc cuốn The Rise and Fall of The Knights Templar, by Gordon Napier, Spellmount Limited, UK, 2003, hoặc cuốn Holy Blood, Holy Grail ở trên.

            Và muốn hiểu tường tận về tổ chức Opus Dei, xin đọc cuốn Beyond The Threshold: A Life In Opus Dei, by Maria del Carmen Tapia, Continuum Publishing Company, New York, 1997.

[Đây là câu chuyện thực của một phụ nữ, Maria del Carmen Tapia, một thành viên trong 18 năm trong tổ chức Opus Dei, đã từng giữ những chức vụ cao cấp trong tổ chức này, câu chuyện của một phụ nữ bị dụ vào tổ chức từ khi còn trẻ, đã bị nhào nặn, nhồi sọ để biến thành một kẻ cuồng tín (was manipulated, turned into a fanatic) nhưng cuối cùng đã tỉnh ngộ khi nhận ra sự thật.  Opus Dei là tổ chức mạnh nhất trong triều đại của giáo hoàng hiện thời, John Paul II. (the most powerful organization during the pontificate of pope John Paul II). Được mô tả như là một “Holy Mafia” bởi các nhà phê bình (Described as a “Holy Mafia” by critics), Opus Dei đã bị lên án là có những hoạt động bí mật, phản động chính trị, và mập mờ về tài chánh (secrecy, reactionasry politics, and questionable financial practices).  Nhưng Maria del Carmen Tapia đã cho độc giả thấy rõ tường tận về những hoạt động nội bộ của Opus Dei và những thủ đoạn dơ dáy để trả thù sau khi Tapia quyết định rời khỏi tổ chức trong chương 9: “Reprisals”.  Tapia đã viết thư thẳng cho giáo hoàng John Paul II phản đối vụ hấp tấp “phong thánh” vào năm 1992 cho Đức Ông José-Mariá Escrivá, sáng lập viên tổ chức Opus Dei, vì bản chất của Escrivá là một “advocatus diaboli”, kèm theo nhiều tài liệu chứng minh [Appendix C, pp 354-355].

 

     


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com