
posted: 29.11.04
![]() BÀI III Tin Lành là một hiểm
họa, một họa rất nguy hiểm cho nhân loại nói chung, cho Việt * Trong Phần I, tôi đã chứng
minh thực chất của Tin Lành Lê Anh Huy chỉ là một trí thức dỏm, cuồng
tín, kiến thức thấp kém v..v... Trong
Phần II, tôi đã phê bình vài đoạn của Tin Lành Huỳnh Thiên Hồng và chứng
tỏ đầu óc của Huỳnh Thiên Hồng thì đồng loại với đầu óc của Lê
Anh Huy. Trong Phần III này, tôi muốn
nói đến Nguyễn Huệ Nhật. Về Nguyễn
Huệ Nhật thì tư cách của ông ta không nên bàn tới. Tự nhận là tu theo Phật Giáo trong 15 năm,
bỏ Phật Giáo theo Tin Lành rồi quay lại bài bác Phật Giáo và đánh bóng
Tin Lành. Về phương diện trí thức, nếu
Nguyễn Huệ Nhật bài bác Phật Giáo đúng và đánh bóng Ki-tô giáo đúng
thì không nói làm gì. Nhưng vì kiến
thức của Nguyễn Huệ Nhật về đạo Phật cũng như về Ki-tô giáo thật
là quá tệ, vô cùng hời hợt, cùng loại với Lê Anh Huy và Huỳnh Thiên Hồng,
cho nên những gì ông ta viết về đạo Phật cũng như Ki-tô giáo chỉ có
tác dụng làm cho độc giả thấy rõ trình độ và con người của ông ta,
một trình độ vô trình độ, và một con người không có tư cách của con
người. Đây là điều rõ ràng nhất trong những bài viết của Nguyễn Huệ
Nhật. Tôi không đặt vấn
đề Nguyễn Huệ Nhật hay bất cứ ai bỏ đạo Phật, vì tôi cho đó là
quyền tự do tín ngưỡng của con người. Nhưng
sau khi đọc những bài của Nguyễn Huệ Nhật tôi cảm thấy Nguyễn Huệ
Nhật bỏ đạo Phật là một điều rất đáng mừng cho Phật Giáo. Vì nếu ông ta ở lại đạo Phật và lên
làm Tăng Sĩ Phật Giáo, thì với kiến thức và tư cách như vậy ông ta chỉ
dẫn Phật tử đi vào ma đạo. Để chứng minh, chúng
ta hãy điểm qua một vài câu của Nguyễn Huệ Nhật viết về đạo Phật
cũng như về Ki-tô giáo để chứng minh kiến thức của Nguyễn Huệ Nhật
về cả hai tôn giáo đều thuộc loại vô trình độ, bất kể là ông ta tự
nhận là đã tu theo Phật Giáo trong 15 năm và sau đó đã nhận được hồng
ân Thiên Chúa của Tin Lành và nghe đâu, vì vài bài viết thuộc loại nô lệ
Kinh Thánh, đã được ban chức Mục sư của Tin Lành. Mừng cho Tin Lành đã tuyển mộ được một
Mục sư như Nguyễn Huệ Nhật. Tội
nghiệp cho các tín đồ Tin Lành đã có một Mục sư như Nguyễn Huệ Nhật.
Trước hết là vài câu về Phật Giáo.
Nguyễn Huệ Nhật viết về quyết định xuất gia của Đức Phật
như sau trong bài có đầu đề “Các Bạn
Phật Tử Thân Mến”:
“Đã là con người thì không ai tuyệt
đối thánh khiết vô tội cả. Đã là
con người thì ai ai cũng mong ước được hoàn hảo. Chính Thái tử cũng mong cho mình như thế. Ngài thao thức về chân lý. Ngài muốn tìm cho ra lẽ đạo huyền vi mầu
nhiệm. Ngài muốn biết nguyên nhân
nào đã đưa nhân loại đến tình trạng tranh chấp chém giết lẫn nhau để
phải chuốc lấy khổ đau giữa thế gian này...”
Chúng ta có thấy ai viết bậy về đạo Phật như Nguyễn Huệ Nhật
chưa? Một Phật tử tầm thường, không
cần phải tu 15 năm (sic) như Nguyễn Huệ Nhật tự nhận, cũng biết rằng
Đức Phật xuất gia là tìm giải đáp cho những phiền não của chúng sinh
qua ba cảnh Thái tử đích thân chứng kiến: bệnh tật, già yếu, chết
chóc, và động cơ thúc đẩy sự xuất gia của Đức Phật là vẻ siêu
thoát, thong dong, từ tốn của người tu hành và Người đã chọn con đường
đi tìm chân lý giải thoát trong cuộc đời tu hành. Cuối cùng Người đã giác ngộ, tìm ra
chân lý, sau 6 năm tích cực sống trong
cuộc đời của người xuất gia. Còn
chúng ta “muốn biết nguyên nhân nào đã
đưa nhân loại đến tình trạng tranh chấp chém giết lẫn nhau để phải
chuốc lấy khổ đau giữa thế gian này...” thì dễ thôi. Đó chính là do sự ngu dốt, ác độc của Thiên
Chúa của Ki Tô Giáo như được viết rõ trong cuốn gọi là Kinh Thánh của
Ki-tô Giáo, và tất nhiên, của những tôi tớ của Thiên Chúa ngu dốt, ác
độc này”. Thật vậy, chúng ta chỉ
cần mở cuốn Kinh Thánh của Ki-tô Giáo ra đọc, và đọc lịch sử của
Ki-tô Giáo từ ngày ra đời đến nay, thì thấy tất cả giải đáp nằm
trong đó. Có cần tôi phải chứng minh không?
Một câu khác viết láo lếu về Phật Giáo của Nguyễn Huệ Nhật như
sau: “Phật Giáo Việt
Phải chăng Nguyễn Huệ Nhật đã biết tất cả về Phật Giáo Việt
Nam và thế nào là Phật Giáo chính cống nên biết là “Phật Giáo Việt Nam không phải là Phật
Giáo chính cống.”? Phật Giáo Việt
Chúng ta hãy đọc một câu khác bắt nguồn từ cái đầu óc bệnh hoạn
của Nguyễn Huệ Nhật viết trả lời Trần Duy Phô:
“TDP chứng minh dùm tôi các vị thiền
tổ như ngài Hoằng Nhẫn, Huệ Năng, Thần Tú đã chứng ngộ thiền được
không?”
Tự nhận là tu theo Phật Giáo trong 15 năm mà đặt một câu hỏi hết
sức ngớ ngẩn. Chứng minh để làm
gì? Trong Phật Giáo, ai tu người ấy
chứng. Người khác có chứng ngộ thiền
hay không, chẳng liên quan gì đến sự tu tập của bản thân. Trong cuốn Từ Áo Cà Sa Đến Thập Tự Giá Nguyễn
Huệ Nhật đã từng thú nhận là vì thấy vài tu sĩ Phật Giáo khác không
tu, và điều này cũng chỉ là ý kiến cá nhân của Nguyễn Huệ Nhật, nên
mình cũng không tu. Nguyễn Huệ Nhật cần
ngó vào người khác để bắt chước theo. Nay Nguyễn Huệ Nhật thấy người
khác tin nhảm tin nhí vào đạo Tin Lành nên bèn bắt chước theo, cũng đi
tin nhảm tin nhí vào Tin Lành. Điều này
thật là rõ rệt, khi chúng ta đọc những điều ông ta viết về Ki tô
Giáo.
Trên đây chỉ là vài điều Nguyễn Huệ Nhật viết láo lếu về Phật
Giáo trong số nhiều điều láo lếu
khác. Trong bài này tôi không có ý định
giảng cho Nguyễn Huệ Nhật về Phật Giáo, vì tự nhận là 15 năm “tu
theo Phật Giáo” mà Nguyễn Huệ Nhật chẳng học được cái gì của Phật
Giáo, thì chuyện giảng giải Phật Pháp cho Nguyễn Huệ Nhật là cả một
chuyện phí công, vô ích. Đầu óc thuộc
loại hạ căn như của Nguyễn Huệ Nhật thì chỉ thích hợp với Tin Lành. Vì Nguyễn Huệ Nhật theo Tin Lành nên tôi
nghĩ tốt hơn là giảng cho Nguyễn Huệ Nhật về chính đạo Tin Lành của
ông ta.
Điều rõ ràng là không những viết bậy về Phật Giáo mà Nguyễn Huệ
Nhật còn viết bậy về Ki-tô Giáo rất nhiều.
Điều này chứng tỏ kiến thức tôn giáo của Nguyễn Huệ Nhật thuộc
loại vô trình độ, vô cùng hời hợt, sản phẩm của một khuôn đúc ngu
dân của Tin Lành, một khuôn đúc đã tạo ra những mẫu người giống nhau
về trình độ hiểu biết tôn giáo như Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng, Nguyễn
Huệ Nhật v..v..., một trình độ mà theo Mục sư Ernie Bringas, thuộc thế kỷ
17, luôn luôn phát dị ứng với những tiến bộ của nhân loại. Chứng minh? Huệ Nhật viết bậy
rất nhiều, ở đây tôi chỉ đưa ra vài điều điển hình và chúng ta sẽ
thấy những người Tin Lành cuồng tín như Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng và
Nguyễn Huệ Nhật thật giống nhau ở điểm cùng có một luận điệu truyền
đạo rất ấu trĩ, lỗi thời, hoàn toàn vô nghĩa trong thời đại ngày
nay, phản ánh một trình độ hiểu biết quá sơ đẳng về chính Ki-tô
Giáo. Chúng ta hãy nghe Nguyễn Huệ Nhật
nhắc lại như con vẹt những điều Tin Lành dạy cho ông ta:
“Nhân loại vốn sinh ra trong vực
sâu tội lỗi. Chúng ta cần được cứu
ra khỏi tội lỗi, cần được ơn tha thứ của đức Chúa trời. Những ai chưa trở về tiếp nhận ơn cứu
rỗi của đức Chúa trời thì vẫn còn mò mẫm trong sai lầm...
Khi thắc mắc về Thượng đế và Kinh Thánh, chúng ta cần xem Kinh
Thánh kỹ hơn để biết trong đó nói gì. Kinh
Thánh cho chúng ta thấy rằng: Đức Chúa trời dựng nên thế gian với đầy
đủ mọi thứ. Sau cùng Ngài dựng nên
loài người và ban cho họ quyền quản trị thiên nhiên để họ (sic) làm ích
lợi cho mình...
Nhưng theo Kinh Thánh thì Thượng đế dựng lên muôn vật. Ngài là đấng tạo hóa hằng hữu, loài người
là loài thọ tạo duy nhất được Ngài ban cho hình ảnh của Ngài. Đọc những đoạn
đầu trong sách Sáng Thế Ký, chúng ta có thể tin và cũng có thể không
tin. Nhưng dù tin hay không tin, suốt nhiều
ngàn năm tri thức nhân loại không ai có thể chứng minh ngược lại để bài
bác một cách cụ thể” Chúng ta thấy ngay sự
hiểu biết của Nguyễn Huệ Nhật về thế giới ngày nay thuộc loại hiểu
biết của những tín đồ Ki-tô ngu si ở Âu Châu trong thời đại đen tối
trí thức (dark ages) hay thời đại Trung Cổ.
Những câu tôi trích dẫn của Linh mục James Kavanaugh, Mục sư
Tin Lành Ernie Bringas và Giám Mục Tin Lành John Shelby Spong trong Phần I và Phần II của loạt bài về Hiểm Họa Tin
Lành tưởng cũng đủ để dạy cho Nguyễn Huệ Nhật một bài học
về những điều hoang đường thuộc nền thần học Ki-tô giáo như: sinh ra
trong tội lỗi, ơn tha thứ của Dê-su, và thuyết sáng tạo trong Kinh Thánh. Tuy nhiên, để khai sáng
đầu óc của Nguyễn Huệ Nhật một chút thôi, nếu trong đầu óc của
ông ta còn chỗ để có thể được khai sáng sau khi đã bị cái bả Tin
Lành làm cho mụ mị, tôi xin đặt vài vấn đề với Nguyễn Huệ Nhật. Trước hết, Nguyễn
Huệ Nhật viết: “Sau cùng Ngài (Thượng
đế) dựng nên loài người và ban cho họ
quyền quản trị thiên nhiên để họ (sic) làm ích lợi
cho mình...”
Một câu hỏi được đặt ra là: Có thật là loài người có “quyền quản trị thiên nhiên để họ làm ích lợi cho mình...” không? Nguyễn Huệ Nhật hiểu “thiên nhiên” như
thế nào? Nói riêng về trái đất, loài
người đã quản trị những trận bão lụt, cuồng phong, sóng thần, động
đất, các dã thú, siêu vi trùng v..v.. để “họ làm
ích lợi cho mình” như thế nào? Mặt khác, thiên nhiên không chỉ là
trái đất và những hiện tượng xảy ra trên trái đất, mà còn gồm cả
vũ trụ rộng khoảng 15 tỷ năm ánh sáng trong đó có khoảng 100 tỷ thiên
hà, mỗi thiên hà có hàng trăm tỷ ngôi sao v..v..
Vậy loài người quản trị “thiên nhiên” như thế nào? Có làm ngưng được sự đang nở rộng của
vũ trụ, có thay đổi được nhiệt độ trên trái đất để trên Bắc Cực
thì ấm, ở đường xích đạo thì mát v..v.. hay không? Nguyễn Huệ Nhật chép trong Kinh Thánh ra
điều mê tín, hoang đường, ngớ ngẩn của thời bán khai mà thực sự
không biết là mình đang nói cái gì. Nguyễn Huệ Nhật tin
tất cả vào Kinh Thánh, nhưng lại không biết rằng Kinh Thánh chỉ là sản
phẩm của những đầu óc ngu si đầy sự mê tín trong thời đại chưa khai
hóa (A product derived from primitive superstitions), do đó đã không còn mấy giá
trị trong thế giới văn minh tiến bộ, cho nên cứ luôn luôn viện dẫn
Kinh Thánh, làm như những điều viết trong Kinh Thánh phải có giá trị tuyệt
đối, không thể sai lầm, không hề biết đến nhân loại đã ra khỏi, bỏ
lại đàng sau Thời Đại Của Đức Tin (The Age of
Faith = Thời Trung Cổ) để bước sang những Thời Đại
Của Lý Trí (The Age of Reason = Thế kỷ 17), Thời Đại Cách
Mạng Khoa Học (The Age of Scientific Revolution = Thế kỷ 17-18), Thời Đại
Khai Sáng (The Age of Enlightenment = Thế kỷ 18), Thời Đại Của
Hệ Tư Tưởng (The Age of Ideology = Thế Kỷ 19), và Thời Đại Phân
Tích (The Age of Analysis = Thế Kỷ 20). Những
thời đại sau này, đặc biệt là thuyết Tiến Hóa của Charles Darwin vào
giữa thế kỷ 19 và những hoàn chỉnh của thuyết này trong các bộ môn
khoa học trong vòng 150 nay, đã bác bỏ
mọi luận điệu thần học của Ki-tô giáo về sự hiện hữu của một
Thiên Chúa, về thuyết sáng tạo trong Kinh Thánh, về công cuộc chuộc tội
và cứu rỗi của Dê-su Kờ-rít, và tước đoạt mọi quyền lực thế tục
của Ki-tô Giáo, thu hẹp Ki-tô Giáo trong những ốc đảo mê tín lỗi thời,
điển hình là tài sản đất đai rộng lớn của Ca-tô Giáo Rô-ma ở Âu
Châu đã bị thu hẹp lại trong một diện tích bằng hai cái sân chơi banh,
phạm vi của Vatican và Thánh Đường Phê-rô ngày nay, mười điều răn của
Thượng đế Ki-tô không được phép trưng bày trong những nơi công cộng,
thuyết Sáng Tạo không được phép dạy song song với thuyết Tiến Hóa
trong các trường công lập v...v... Nguyễn
Huệ Nhật thật đúng là một loại ếch ngồi đáy giếng, coi trời bằng
vung. Với những công cuộc
khảo cứu hiện đại nhất về nhân vật Dê-su và với những kết quả
khoa học không ai có thể phủ bác, kể cả tòa thánh Vatican, về nguồn gốc
vũ trụ và con người, thì con người không sinh ra trong vực sâu tội lỗi,
không cần đến sự "cứu rỗi" đầy tính hoang đường và huyễn
hoặc của nền thần học Ki Tô Giáo dựng lên.
Trong Phần II tôi đã luận về cái gọi là “ơn cứu rỗi”
trong Ki Tô Giáo. Ngày nay chỉ còn những
kẻ “ngụp lặn trong ngu si, cuồng tín, mò mẫm trong sai lầm” mới cần
được cứu ra khỏi tội lỗi, cần được ơn tha thứ của đức Chúa trời,
và “trở về (sic) tiếp nhận ơn cứu rỗi của đức Chúa trời”. Hơn 4 tỷ người trên thế giới chưa bao
giờ quan tâm đến điều mê tín của thời bán khai mang nhãn hiệu “ơn cứu
rỗi”. Tại sao? Bởi vì lịch sử thế giới đã chứng
minh rằng: Những ai chưa trở về tiếp nhận ơn cứu rỗi
của đức Chúa trời thì vẫn còn có đầu óc lành mạnh , sáng suốt. Trái lại, những ai “đã “trở về (sic) tiếp nhận ơn cứu rỗi
của đức Chúa trời” thì tiếp tục có đầu óc mụ mị mò mẫm trong
sai lầm... Lịch sử các cuộc
Thánh Chiến, Tòa án xử dị giáo, săn lùng thiêu sống phù thủy (sic) và
những kẻ lạc đạo (heretics) của Ca-tô Giáo Rô Ma; những cuộc cưỡng
ép thổ dân cùng thiêu sống thổ dân Mỹ của Tin Lành; chính sách truyền
đạo ngu đần vô đạo đức của Ca-tô và Tin Lành; và những cuộc chiến
tranh triền miên giữa Ca-tô, Tin Lành, Chính Thống, Hồi Giáo, Do Thái Giáo
là những bằng chứng hùng hồn nhất để chứng minh là những kẻ “đã “trở về (sic) tiếp nhận ơn cứu rỗi
của đức Chúa trời” thì vẫn còn tiếp tục “ mò mẫm trong sai lầm..” Ai có thể xóa bỏ được những lời nói,
hành động ác ôn của Thiên Chúa, Chúa Cha cũng như Chúa Con, trong Kinh
Thánh Ki-tô Giáo? Ai có thể xóa bỏ
được lịch sử ác độc, đẫm máu của Ki-tô Giáo, tập đoàn của những
người đã tiếp nhận “ơn cứu rỗi” của đức Chúa trời? xin lên tiếng!!!
Nguyễn Huệ Nhật viết: Nhưng theo
Kinh Thánh thì Thượng đế dựng lên muôn vật. Nếu thật quả như vậy thì thật là tội
nghiệp cho Thượng đế vì ông ta đã tạo nên những mẫu người như Nguyễn
Huệ Nhật. Ở đây, để bình luận về
điều mê tín của Nguyễn Huệ Nhật trong Kinh Thánh: “Nhưng theo Kinh Thánh thì Thượng đế dựng
lên muôn vật” tôi tưởng nhắc lại
một đoạn trong Phần I cũng không phải là vô ích: James A.
Haught đã đưa ra một nhận định bất khả phủ bác trong cuốn 2000 years of disbelief: famous people with the
courage to doubt, trang 324, như sau, về
Thượng đế của Nguyễn Huệ Nhật: Qua luận lý, chúng ta có thể thấy... Nếu có một đấng thần linh sáng tạo ra
muôn loài thì ông ta đã làm ra ung thư vú cho phái nữ, bệnh hoại huyết
cho trẻ con, bệnh cùi, bệnh AIDS, bệnh mất trí nhớ (alzheimer), và hội chứng
down (khuyết tật tinh thần). Ông ta ra
lệnh cho những con cáo cắn xé nát những con thỏ ra từng mảnh, những con
báo giết những hươu nai. Không có một
con người nào độc ác đến độ hoạch định những sự khủng khiếp
như vậy. Nếu một đấng siêu nhiên
làm như vậy, ông ta là một con ác quỷ...
(Through logic, you can see
that... If a divine maker fashioned everything that exists, he designed breast cancer for
women, childhood leukemia, leprosy, aids, alzheimer's disease, and down's syndrome. He madated foxes to rip rabbits apart and cheetahs
to slaughter fawns. No human would be cruel
enough to plan such horrors. If a supernatural
being did so, he's a monster...) Vậy thì, nếu Nguyễn
Huệ Nhật tin rằng Thượng đế của ông ta trong Kinh Thánh dựng lên muôn
vật thì Nguyễn Huệ Nhật cũng phải tin Thượng đế của ông ta chính là
một ác quỷ. Ngoài ra, Nguyễn Huệ Nhật cũng phải tin là Thiên Chúa hay
Chúa Trời nhân từ, lòng lành của Nguyễn Huệ Nhật đã có những hành động
điển hình sau đây, hoặc là đích thân ra tay, hoặc đích thân chỉ huy, hoặc
là ra lệnh cho tôi tớ làm: -
Thiên Chúa đòi hỏi và chấp nhận giết người để tế Thiên
Chúa (Leviticus 27; Judges 11; 2 Samuel 21). -
Thiên Chúa giết đứa con đầu lòng trong mọi gia đình Ai Cập
(Exodus 12) -
Thiên Chúa chấp nhận nô lệ (Exodus 21; Leviticus 25) -
Thiên Chúa chấp nhận việc bán con gái làm nô lệ (Exodus 21) -
Thiên Chúa ra lệnh giết các phù thủy và những kẻ lạc đạo
(Exodus 22) -
Thiên Chúa xử chết những người vi phạm ngày lễ Sabbath
(không nghỉ làm việc ngày thứ Bảy) (Exodus 31) -
Thiên Chúa giết 70000 người trong một dịch hạch do chính Chúa
tạo ra (2 Samuel 24) -
Thiên Chúa cho 2 con gấu cắn nát 42 đứa trẻ vì chúng chế riễu
nhà tiên tri Elisha (2 Kings 2) -
Thiên Chúa tạo ra hồng thủy giết chết mọi người và mọi
sinh vật, chỉ chừa lại gia đình tên say rượu Noah và giống vật mỗi thứ
một cặp, vì Chúa thấy loài người, do chính Chúa “sáng tạo” ra, tội lỗi (Genesis 6) [Dưới con mắt
cận thị của Thiên Chúa thì con người sa ngã, mang tội với Thiên Chúa,
do đó Thiên Chúa tạo ra Hồng Thủy để giết hại hầu hết loài người.
Nhưng thử hỏi, tại sao Thiên Chúa lại giết cả mọi sinh vật hoàn toàn
vô tội, gồm có nhiều triệu chủng loại khác nhau, khi chúng do chính Chúa
“sáng tạo” ra và không hề làm điều gì trái với ý của Thiên Chúa?] -
Thiên Chúa ra lệnh giết vợ con, anh em nếu họ theo tôn giáo
khác (Deuteronomy 13) -
Thiên Chúa xử chết những đứa trẻ nào không cắt miếng da
đầu dương vật (Genesis 17) Và đây chỉ là một
số nhỏ trong vô số những hành động ác ôn tương tự mà Thiên Chúa của
Nguyễn Huệ Nhật là thủ phạm, trực tiếp hay gián tiếp. Có bao giờ Nguyễn Huệ Nhật cũng như những
đồng đạo của ông ta biết đến những điều trên, đã được viết rõ
trong Kinh Thánh của Ki-tô giáo không? Nguyễn Huệ Nhật
cùng các đồng đạo Tin Dữ hãy giải thích, hoặc đi hỏi các bề trên,
để giải thích những hành động ác ôn của Thiên Chúa như trên, và cũng
nên đọc bài Ngày Tận Thế Của Ki Tô Giáo trên
trang nhà Giao Điểm tháng 9, viết về sách Khải Huyền trong Tân ước để
biết thêm là Thiên Chúa của Nguyễn Huệ Nhật và đồng đạo độc ác
và khủng khiếp như thế nào, và cũng để biết không làm gì có chuyện
Thiên Chúa “cứu rỗi” những người không phải là Do Thái mà Thiên
Chúa đã từng coi họ như chó, không thể ném cái mẩu bánh “cứu rỗi”
của người Do Thái cho chúng ăn. Kinh
Thánh viết rõ như vậy, Nguyễn Huệ Nhật và các đồng đạo hãy theo đúng
lời của chính Nguyễn Huệ Nhật viết: Khi thắc mắc về Thượng đế và Kinh
Thánh, chúng ta cần xem Kinh Thánh kỹ hơn để biết trong đó nói gì. Nhưng thực ra đây chỉ là câu nói
dỏm, vu vơ của Nguyễn Huệ Nhật, vì rõ ràng là Nguyễn Huệ Nhật chưa từng
đọc Kinh Thánh, hay chỉ đọc những đoạn được phép đọc và được phép
hiểu theo “lý luận” của Tin Lành. Thật vậy, nếu đọc kỹ Kinh Thánh
thì chúng ta không ngần ngại gì mà không vứt bỏ nó đi, hoặc giữ làm
tài liệu để “chống Ki-tô Giáo” như nhiều học giả, chuyên gia về
Kinh Thánh đã làm. Khoa học gia Ira Cardiff đã đưa ra một nhận xét rất
chính xác như sau: “Nếu một người thông minh
đọc cả cuốn Thánh kinh với một óc
phê phán thì chắc chắn họ sẽ vứt
bỏ nó đi." (If an intelligent man should critically read
it (the Bible) all, he would certainly reject it.) Tại sao lại
phải vứt bỏ nó đi? Ruth Hurmence Green, một phụ nữ đã trưởng thành
trong một gia đình Ki-tô và trong nền giáo dục Ki-tô trong mấy chục năm
đã trả lời thay cho chúng ta trong cuốn "The
Book of Ruth", trg. 59-60, sau khi bà ta đọc kỹ cuốn Kinh Thánh, như
sau: "Không có cuốn sách nào mà trong đó mạng
sống con người, thật ra là mọi mạng sống, lại rẻ rúng như vậy. Thiên Chúa ác ôn trong Cựu Ước ra lệnh
cho dân Do Thái giết, cưỡng hiếp, và tra tấn không thương sót toàn thể
dân chúng nhiều quốc gia, "trẻ thơ và sơ sinh, thiếu niên và trinh nữ,
và người già cả.".. Không
có một trang sách nào trong Kinh Thánh mà không làm tôi bất bình về một
phương diện nào đó. Thật ra, sau mỗi
lần tìm hiểu Thánh Kinh tôi lại muốn đi tắm rửa sạch sẽ với xà
bông "lye" của bà nội. Và khi
tôi thấy Kinh Thánh coi thường phụ nữ thường là tôi muốn quẳng nó ra
cuối phòng. Tôi nguyện không bao
giờ còn cầm cuốn Thánh Kinh một cách lộ liễu trên tay ở nơi công cộng. Thomas Paine, đấng cứu rỗi thực sự của thế giới, đã tố
cáo cuốn Thánh Kinh thay tôi: "Tôi
thành thật ghê tởm nó như là tôi ghê tởm mọi sự độc ác."...
Nếu luật kiểm duyệt được thi hành
một cách chặt chẽ, cuốn Kinh Thánh sẽ phải bán dấu diếm dưới quầy
hàng" (There is no other book in which human life,
all life in fact, is so cheap. The fiendish
Lord of the Old Testament orders the Jews to kill, rape, and torture without pity entire
nations, "infant and suckling, young man and virgin, and the man with gray
hair." ...There wansn't one page of this
book that didn't offend me in some way. In
fact, after a session of searching the scriptures, I always wanted to take a bath with
Grandma's lye soap. And when I encountered the
Bible's disdain for women, I very often almost pitched the good book across the room. I vowed never to be seen in public with an
unconcealed Bible in my hands. Thomas Paine,
the true savior of the world, denounced the Bible for me: "I sincerely detest it as I
detest everything that is cruel."... Strict
censorship would mean that the Bible would have to be sold from under the counter.) Nhưng có một điều
mà Nguyễn Huệ Nhật và các đồng đạo Tin Dữ của ông ta cũng như tuyệt
đại đa số tín đồ Ki-tô Giáo không biết đến là nhân loại đã “đưa đám Thượng đế” từ cuối thế
kỷ 18, đầu thế kỷ 19 [Xin đọc cuốn Đám Tang Thượng Đế (God’s Funeral) của
A. N. Wilson, W. W. Norton and Company, Inc., New York, 1999] chứ không chờ đến lời
tuyên bố “Thượng
đế đã chết” (God is dead) của Friedrich Nietzsche. Thật vậy, ngay từ cuối thế kỷ 18,
Edward Gibbon với cuốn Lịch Sử Suy Thoái và Sụp Đổ Của Đế Quốc
La Mã (The History of the Decline and Fall of the Roman Empire ), xuất bản
làm 3 tập trong khoảng 1776-1788, và David Hume, với cuốn Đối Thoại Về
Tôn Giáo Thiên Nhiên (Dialogues Concerning Natural Religion) năm 1779, đã khai tử Thượng đế của Ki Tô Giáo. Khai tử như thế nào? Quan điểm khoa học,
ngay từ cuối thế kỷ 18, đã lay đổ nền tảng của một tôn giáo cũ kỹ
tin rằng Thượng đế đã ban cho Adam quyền quản trị mọi vật thụ tạo
của Thượng đế trên trái đất, và Thượng đế dựng nên con người
theo hình ảnh của Thượng đế và giống như Thượng đế, rồi khi con
người không tuân lệnh Thượng đế, chính cái ông Thượng đế cũng là
Người này lại biến mình thành Người, và tự xuống trần để chuộc tội
những tội lỗi của chính mình (Wilson, p.x: Scientific viewpoints shook the
foundation of an old religion which believed that God had put Adam in charge of all His
earthly creation, and made Man in His own image and likeness; even, when Man had disobeyed
Him, this self-same God had Himself become Man, and come down to earth to redeem Him of
His sins). Tác phẩm của Gibbon, không những
vạch trần những sự sa đọa và đạo đức giả của những Thánh vĩ đại
nhất trong Ki-tô Giáo, những giáo hoàng và cột trụ thần học của giáo hội
(greatest saints, popes and doctors of the Universal Church) mà còn khinh bỉ những
lý tưởng cao quý nhất của họ (sheer contemptibility of their highest ideals). Còn tác phẩm Dialogues của Hume đã loại bỏ
mọi sự cần thiết triết lý về niềm tin vào Thượng đế (remove any
necessity for believing in God) và đã được một nhà bình luận đương đại
coi như là một “giấy chứng tử” (death certificate) đối với Ki-tô
giáo. Vì vậy, những thập niên cuối
thế kỷ 19 được coi như là thời đại đích thực của “cái chết của
Thượng đế” (Wilson, p. 281: The closing decades of the 19th century
were the true era of the “death of God”). Kiến thức con người
hiện đại đã bác bỏ dứt khoát quan niệm về một vị Thần toàn năng,
sáng tạo ra muôn loài vì quan niệm này cực kỳ phi lý trước những bằng
chứng không ai có thể phủ bác của khoa vũ trụ học, sinh học, sinh hóa học,
địa chất học v..v.... Nguyễn Huệ Nhật nhắm mắt tin vào Kinh Thánh mà
không biết đến sự tiến bộ trí thức của nhân loại trong mấy thế kỷ
nay. Nguyễn Huệ Nhật có vẻ như quên hẳn rằng thuyết Sáng Tạo trong
Kinh Thánh không được chứng minh bởi bất cứ một sự kiện nào trong khi
thuyết khoa học về nguồn gốc vũ trụ và thuyết Tiến Hóa đã được chứng
minh bởi vô số những kết quả nghiên cứu trong nhiều bộ môn khoa học. Thật vậy, chúng ta hãy so sánh sơ lược mức
độ khả tín của niềm tin vào thuyết Sáng Tạo trong Kinh Thánh và những
bằng chứng khoa học về vũ trụ: Dựa theo những dữ
kiện không thể sai lầm trong Kinh Thánh, Tổng Giám Mục James Ussher ở Ái
Nhĩ Lan (Ireland) đã tính rất kỹ và xác quyết rằng Thượng đế đã
sáng tạo ra vũ trụ muôn loài này vào tối ngày thứ Bảy, 22 tháng 10, năm
4004 Trước Thường Lịch (TTL)
(Archbishop James Ussher...concluded that God had made heaven and earth on the evening of
Saturday, October 22, 4004 B.C.), nghĩa là cách đây khoảng hơn 6000 năm. Nhưng ngay từ đầu
thế kỷ 19, các nhà địa chất học (geologists) đã nhận thức được rằng,
thế giới đã tiến hóa qua nhiều kỷ nguyên (aeons), không phải là do Thượng
đế sáng tạo ra trong 6 ngày như được Thượng đế mạc khải trong sách
Sáng Thế Ký, và thật là khó chịu cho những nhà thần học hơn nữa, vũ
trụ mà chúng ta đang sống trong đó là một vũ trụ tàn nhẫn (pitiless
universe). Nhiều chủng loại đã tiến
hóa để rồi bị tuyệt chủng, đây là thông điệp của những sinh vật hóa
thạch. Người ta tự hỏi, có gì bảo
đảm là nhân loại, một chủng loại trong số nhiều triệu chủng loại hiện
hữu, một ngày nào đó sẽ không chịu chung số phận của các chủng loại
đã bị tuyệt chủng? Niềm tin vào một
Thượng đế đầy tình thương yêu, nhân từ và toàn năng thật khó mà có
thể chấp nhận trước sự kiện hiển nhiên về một vũ trụ vô nhân
tính, tàn nhẫn, và nhất là Thượng đế, nếu có một Thượng đế, chỉ
có thể khoanh tay ngồi nhìn, hoàn toàn bất lực trước sự vận hành của
vũ trụ và thiên nhiên. Điều không ai có thể
phủ nhận là khoa học ngày nay đã xác định tuổi của vũ trụ là vào
khoảng 15 tỷ năm, tuổi của trái đất là vào khoảng từ 4 tỷ rưỡi đến
5 tỷ năm, và loài người đã có mặt trên địa cầu cả vài triệu năm,
hình thành theo định luật tiến hóa. Tất
cả những điều này đều do sự tiến bộ trí thức của nhân loại khám
phá ra và đều đã được chính Giáo hoàng John Paul II, đại diện cho khoảng
1 tỷ tín đồ của Ca-tô Giáo Rô-ma, công nhận.
Nhưng Nguyễn Huệ Nhật vẫn mù quáng viết rằng: “Đọc những đoạn đầu trong sách Sáng Thế
Ký, chúng ta có thể tin và cũng có thể không tin.
Nhưng dù tin hay không tin, suốt nhiều ngàn năm tri thức nhân loại
không ai có thể chứng minh ngược lại để bài bác một cách cụ thể” Thật
là tội nghiệp cho những đầu óc thuộc loại như của Nguyễn Huệ Nhật
nếu chúng ta đi làm một công việc ngớ ngẩn là so sánh đầu óc của
ông ta với đầu óc của hàng ngàn thức giả trong những xã hội Tây phương
cỡ Bertrand Russell, Thomas Paine, Thomas Jefferson, Victor Hugo, Voltaire v..v.., khoan
kể đến những bậc lãnh đạo trong Ki-tô Giáo như Giáo hoàng John Paul II,
Giám mục John Shelby Spong, Linh mục James Kavanaugh, Mục sư Ernie Bringas, nhà
thần học Hans Kung, Uta Ranke-Heinemann v..v..., tương tự như so sánh ánh sáng
của một con đom đóm với ánh sáng của mặt trời. Quyền chọn lựa là
quyền tự do của con người. Theo Nguyễn
Huệ Nhật thì chúng ta có thể tin hoặc không tin thuyết sáng tạo trong
Kinh Thánh. Nhưng thế nào là tin, và thế
nào là không tin. Dựa vào đâu mà tin? Và
dựa vào đâu mà không tin? Vấn đề
chính là ngày nay chúng ta có 100% bằng chứng là trái đất đã hình thành
cách đây hơn 4 tỷ năm, và 0% bằng chứng về một trái đất có tuổi từ 6 tới 10000 năm. Như
vậy, chúng ta đang đối diện với “100% đúng” của các bằng chứng
khoa học và “100% sai” vô bằng chứng của thuyết Sáng Tạo trong Kinh
Thánh, nếu chúng ta xét đến tổng hợp những kết quả nghiên cứu, đo
lường trong vũ trụ học, địa chất học, hóa học, vật lý học, cổ
sinh vật học, sinh học đưa đến việc xác định tuổi của trái đất. “100% đúng” là kết quả của lý trí,
và “100% sai” hay “0% đúng” là sản phẩm của đức tin. Thật là thú vị khi chúng ta so sánh hai con
số về tuổi của trái đất: nếu chúng ta biểu diễn tuổi thực của
trái đất, thí dụ 4 tỷ rưỡi năm, bằng một đoạn giây dài 150 thước
(m), thì tuổi của trái đất trong Thánh Kinh, 10000 năm, chỉ mỏng bằng một
tờ giấy. Trong đức tin Tin Lành của
Nguyễn Huệ Nhật, dựa vào vài điều viết láo lếu trong Kinh Thánh, phạm
vi hiểu biết chỉ bằng bề dày của một tờ giấy; ngoài đức tin Tin Lành,
kiến thức con người trải dài 150 m. Đây
là điều Lê Anh Huy, Nguyễn Huệ Nhật và Huỳnh Thiên Hồng cần biết để
dạy lại cho những đồng đạo Tin Lành còn sống trong bóng tối của ngu
si vô trí. Như vậy, chúng ta thấy
rằng, những người ngày nay còn tin vào thuyết Sáng Tạo và kế hoạch “cứu
rỗi” của Dê-su Kờ-rít như Nguyễn Huệ Nhật thật ra chỉ là những người
không có mấy đầu óc, tự giam mình trong những sai lầm vĩ đại. Thật vậy, nếu Nguyễn Huệ Nhật đã đọc
kỹ Kinh Thánh, đây là điều hầu như không thể có, và tin thuyết Sáng Tạo,
và đối với Tin Lành, Kinh Thánh là những lời của Thượng đế (Words of
God) nên không thể sai lầm, thì Nguyễn Huệ Nhật cũng phải tin rằng trái
đất thực sự phẳng, có 4 góc, mặt trời quay xung quanh trái đất, trời
là một cái vòm bằng đồng thau, trên có những cánh cửa để cho các
thiên thần mở ra cho mưa rơi xuống khi Thượng đế muốn, Thượng đế làm
cho mặt trời ngưng lại suốt một ngày, ngày tận thế đã xảy ra trong thời
của Dê-su khi một số tông đồ của Dê-su còn sống v..v.. và tất cả những
chuyện thuộc các loại sau đây chiếm hơn nửa cuốn Kinh Thánh: bạo hành giết
người (Violence & Murder), giết người hàng loạt (Mass Killing), loạn luân
(Incest), ăn
thịt người (Human Cannibalism), độc ác đối với trẻ con (Child
cruelty), tục
tĩu quá mức (Scatology), trần truồng (Nakedness), đĩ điếm
(Harlotry), hiếp
dâm (Rape), thù hận tôn giáo và chủng tộc
(Religious & Ethnic Hatred), nô lệ (Slavery), say rượu
(Drunkeness) v..v.. [Xin đọc cuốn Tất Cả Những Chuyện Tục Tĩu Trong Kinh Thánh
(All The Obscenities In The Bible) của Gene
Kamar]. Với một kiến thức
tôn giáo thuộc loại vô trình độ mà tôi vừa chứng minh ở trên, vậy
mà Nguyễn Huệ Nhật dám huênh hoang viết: “Tôi
sẵn sàng đối thoại với các anh trong tình yêu Thiên Chúa” . Với
trình độ của Nguyễn Huệ Nhật như vậy, ai lại đi tự hạ mình để đối
thoại với Nguyễn Huệ Nhật? Riêng
tôi, tôi xin được từ chối. Bởi
vì, đối thoại là giữa những người có trình độ sấp sỉ nhau hoặc
tương đương, chứ khoảng cách kiến thức cách nhau cả vài thế kỷ thì
làm sao có thể đối thoại được.
Người Ki-tô Giáo thường khoe rằng, cuốn Kinh Thánh là cuốn sách đã
được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất [nhưng hiển nhiên là ít được đọc
nhất], và Ki-tô giáo có số tín đồ đông đảo nhất [hiển nhiên là tuyệt
đại đa số tín đồ thuộc loại nghèo khổ, thấp kém, không có mấy đầu
óc, ở các nước trong thế giới thứ ba] hàm ý Ki-tô Giáo tất nhiên phải
có giá trị. Lẽ dĩ nhiên, Ki-tô giáo
có giá trị đối với những người có đầu óc như của Nguyễn Huệ Nhật. Có hai câu hỏi thường được
đặt ra: Thứ nhất, tại sao, với nội
dung cuốn Kinh Thánh như trên mà cuốn
“Kinh Thánh” vẫn được bày bán tự do và để trong thư viện các trường
học trên đất Mỹ? Không có gì là khó hiểu. Vì trong các nước Ki-tô Giáo trong thế giới
tự do, nếu các loại sách khiêu dâm và cả các dụng cụ kích dâm, các
phim ảnh đầy cảnh bạo tàn và tình dục, những chuyện hoang đường về
ngày tận thế của Tim LaHaye v...v... vẫn
được bán tự do thì không có lý do gì lại cấm bán cuốn “Kinh Thánh”. Trong các nước này, cuốn “Kinh Thánh”
là vật để thờ phụng tuy chẳng có mấy người đọc nó, cho nên nó vẫn
được lưu trữ trong các thư viện, bên cạnh loại sách huyền thoại. Một trong những lý do mà Gene Kamar viết cuốn
All The Obscenities In The Bible nêu trên
là để phản đối sự kiểm duyệt một số sách mà các nhà bảo thủ
Ki-tô Giáo (fundamentalists) cho rằng không thích hợp để trong thư viện các
trường công lập. Gene Kamar chứng minh
rằng cuốn “Holy Bible” còn tệ hơn nhiều so với những cuốn sách bị
kiểm duyệt. Lẽ dĩ nhiên Gene Kasmar
không thành công trong ý định loại bỏ cuốn Kinh Thánh ra khỏi các thư viện
công cộng, vì đa số người dân Mỹ theo Ki-tô-giáo và các nhà bảo thủ
Ki-tô Giáo viện lẽ đó là những lời mạc khải của God và chứa những
điều đạo đức trong đó. Chúng ta cũng
không nên quên rằng, Ruth Hermence Green, một phụ nữ theo Ki-tô Giáo đã 50
năm, sau khi đọc kỹ cuốn Kinh Thánh đã viết: “Nếu luật kiểm duyệt được thi hành đứng
đắn thì cuốn Kinh Thánh phải được bán dấu diếm dưới quầy hàng.” (Strict
censorship would mean that the Bible would have to be sold from under the counter.)
Thứ nhì, tại sao một cái đạo
ác ôn đã gây ra bao thảm họa cho nhân loại trong bao nhiêu thế kỷ như vậy
lại có số tín đồ đông nhất? Cách đây hơn 1 thế
kỷ, Robert G. Ingersoll đã giải thích điều này. [Robert G. Ingersoll được
coi như là một nhà hùng biện nổi danh của Mỹ (A celebrated orator of 19th
century "Hãy
để tôi nói thầm vào tai người Tin Lành: Ca-Tô
Giáo Rô-ma thật sống dai. Điều này
chứng tỏ cái gì? Nó chứng tỏ rằng
quần chúng thì ngu dốt (ignorant) và các linh mục thì xảo quyệt. Hãy để tôi nói thầm vào tai người
Ca Tô Rô-ma: Tin Lành Giáo thật sống dai. Điều
này chứng tỏ cái gì? Nó chứng tỏ
là quần chúng thì mê tín và các mục sư thì đần độn (stupid). Hãy để cho tôi nói thầm vào tai tất
cả mọi người: những người không theo Ki-tô Giáo không có chết - họ đang mỗi ngày một lớn
mạnh. Và điều đó chứng tỏ cái
gì? Nó chứng tỏ là quần chúng càng
ngày càng học hỏi được nhiều hơn - và họ đang tiến bộ - rằng đầu
óc con người đang được giải thoát, và loài người đang văn minh lên.” (Let me whisper in the
ear of the Protestant: Roman Catholicism dies hard. What
does that prove? It proves that the people are
ignorant and that the priests are cunning. Let me whisper in the ear of the Roman
Catholic: Protestantism dies hard. What does
that prove? It proves that the people are
superstitious and the preachers stupid. Let me whisper in all your ears: Infidelity
is not dying - it is growing - it increases every day.
And what does that prove? It
proves that the people are learning more and more - that they are advancing - that the
mind is getting free, and that the human race is being civilized.) Vài Lời Kết-
Nhận định của Robert G. Ingersoll như trên đúng hay sai, xin để cho
quý độc giả tự mình phán xét, và tôi tin chắc những người Tin Lành
ngoài phái bảo thủ cũng tự biết bản chất của tôn giáo mình theo là như
thế nào. Riêng đối với tôi, đọc
những bài của nhóm Tin Lành Việt Nam, từ các Mục sư cho tới những “trí
thức” như Huỳnh Thiên Hồng, Lê Anh Huy, Nguyễn Huệ Nhật v..v.. chúng ta
thấy rõ là nhận định của Ingersoll không sai một mảy may. Hiện nay, Tin Lành đang mở chiến dịch chống
phá Phật Giáo và từ bỏ nguồn gốc dân tộc Việt Nam, nhưng với loại
kiến thức dỏm và đầu óc mê tín, đần độn như Ingersoll đã phê phán,
họ làm sao có thể thành công được. Một
trong những sách lược rất ấu trĩ của Tin Lành là tung ra những nhân chứng
dỏm, vô tên tuổi, chẳng ai biết đến, để bịa đặt tuyên bố là đã
bỏ đạo Phật để trở về với Chúa của họ.
Họ đần độn đến độ không hiểu rằng, ai có thể tin được những
nhân chứng dỏm này, khoan kể là lý luận trình bày của những nhân chứng
này không khác gì “lý luận” của Nguyễn Huệ Nhật et al... Có người nào trong bọn họ có thể sánh
nổi với Victor Hugo, Voltaire, Bertrand Russell, Albert Einstein, Carl Sagan, Stephen
Hawking, Giám mục John Shelby Spong, Mục sư Ernie Bringas, Linh Mục James
Kavanaugh và các nhà thần học nổi danh trên thế giới như Uta
Ranke-Heinemann, Hans Kung cũng như hàng trăm học giả, chuyên gia về Ki Tô
Giáo trên thế giới, những người đã thấy rõ bản chất mê tín, ác ôn,
độc hại của Ki-tô Giáo? Sự thật
là Ki-tô Giáo đang xuống dốc không phanh ở phương trời Âu Mỹ, và Phật
Giáo đang phát triển mạnh mẽ trên khắp thế giới. Vậy những lời chứng hay những bài viết
vô giá trị của mấy nhân chứng quèn cũng như của mấy trí thức dỏm
này có thể đi đến đâu??
Chúng ta chỉ có một câu để hỏi những người đang ra công truyền
đạo Tin Lành và đánh phá Phật Giáo: “Quý vị quảng
cáo cho cái đạo Chúa của quý vị. Hay
lắm. Nhưng tại sao cái đạo Chúa của
quý vị lại gây ra bao nhiêu tai họa cho nhân loại như lịch sử đã ghi
rõ, trong khi Phật Giáo của chúng tôi, trên 2500 năm nay chưa hề làm đổ một
giọt máu trong quá trình truyền đạo?” Qua ba bài phân tích của tôi về
những bài của Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng, và Nguyễn Huệ Nhật, tôi nghĩ
chúng ta đã thấy rõ phần nào hiểm họa Tin Lành. Tuy nhiên, hiểm họa của
Tin Lành không phải là ở chỗ tín đồ Tin Lành thì mê tín, và các mục sư
Tin Lành thì đần độn, theo như nhận định của Ingersoll, mà là ảnh hưởng
tác hại của sự đần độn và mê tín trên xã hội khi Tin Lành dùng mọi
thủ đoạn và dựa vào ưu thế về kinh tế, và quân sự nếu có thể được,
để áp đặt sự mê tín và đần độn trên những cộng đồng yếu kém về
kinh tế, vật chất, và từ đó tạo nên một lực lượng chính trị để
làm áp lực hoặc khuynh đảo các chính quyền địa phương sau bình phong,
chiêu bài tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, nhân quyền. Mất chỗ đứng hay ít ra là không thể ép
buộc tư tưởng người dân và chính quyền trong những xã hội văn minh tiến
bộ Âu Mỹ, Tin Lành đang tìm cách xuất cảng những đồ phế thải trong
những xã hội văn minh tiến bộ này sang các quốc gia yếu kém về kinh tế,
ra công tuyển mộ những tín đồ không có mấy đầu óc, với hi vọng có
thể đưa người dân trong những nước kém mở mang giật lùi trở về thời
đại thần quyền đứng trên thế quyền ở Âu Châu khi xưa. Hiểm họa Tin Lành là một sự
kiện rõ như ban ngày, khó ai có thể chối cãi. Người Việt chúng ta có
nên ngăn chận cái hiểm họa này, cái tế bào ung thư này lan rộng trong
xã hội lành mạnh về tâm linh của chúng ta hay không? Tôi nghĩ, con cháu Lạc Hồng quyết không để
cho con cháu của Do Thái Adam và Eve đưa chúng ta trở lại thời bán khai dưới
bất cứ dưới hình thức nào. Và đây
chính là trách nhiệm bảo vệ nền văn hóa Việt Nam của Nhà Nước Việt
Nam ngày nay, của các chính quyền Việt Nam mai sau, của toàn dân phi-Ki-tô
trong nước, và của những người Việt Nam yêu nước trên khắp thế giới. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com