1204-world.gif (4030 bytes)
 

posted: 04.12.04

Đồng Chí Kerry Đã Chạy ng Câu Chuyện Thật của Những Cựu Chiến Binh Việtnam Chống Chiến Tranh.

(“The Comrades Kerry Abandoned The Real Story of Vietnam Veterans Against the War”); Tác giả Joe Allen

(Source: socialistworker.org   18/92004)

Thường Đức dịch

                                               sunrise_over_pond_sw.gif (6995 bytes)

Những cựu chiến binh Việtnam “hoàn toàn khác biệt với những cựu chiến binh trong các cuộc chiến trước đó,”  đó là nhận xét của Ralph Nader vào năm 1973 --ở thời kì tên tuổi của ông lên tột đỉnh trong vai trò của một luật sư của người tiêu thụ. Không có cuộc chiến nào trước đó, mà “các binh sĩ và những cựu chiến binh mới lại là nhân chứng cho sự bất đồng về đạo lí như họ”, Ralph Nader nhấn mạnh.  Chiến tranh Việtnam là gì mà đã tạo ra mức độ chống đối cao ở trong quân đội đến vậy?  Sự phản kháng và những tổ chức như “Cựu Chiến Binh Chống Chiến Tranh Việt-nam” (viết tắt: VVAW) đã giữ vai trò nào trong việc kết liễu chiến tranh ở Việt-nam?

Cuộc chiến mà Mỹ chiến đấu ở Việtnam là cuộc chiến tranh chống lại nhân dân đã từng chiến đấu để giải phóng đất nước họ thoát ra khỏi sự đô hộ của ngoại bang trong hàng thập niên.  Một phong trào có thế lực –gọi là Việt-minh, lãnh đạo bởi Hồ Chí Minh –đã đánh bại sự chiếm đóng của Nhật trong suốt cuộc Thế Chiến Thứ Hai.

Năm 1945, Việt-minh đã tuyên bố Việt-nam độc lập khỏi quan thầy thực dân Pháp. Người Pháp lại cố tìm cách thực dân hóa Việt-nam lần nữa, nhưng đã bị Việt-minh đánh bại sau cuộc chiến 9-năm ròng.

Vào thời điểm số lượng lớn quân đội Mỹ đến Việt-nam thì đất nước này đã bị chia cắt, và ở Nam Việt-nam một phong trào cách mạng dân tộc mới đã bùng lên gọi là Mặt Trận Giải Phóng Dân Tộc (MTGPDT) –mà người Mỹ gọi là ‘Việt Cọng’. Đến năm 1965, Mặt Trận Giải Phóng Dân Tộc đã mở rộng cuộc chiến trong nhiều năm ròng chống lại một chế độ thối nát, độc tài Nam Việt-nam có thủ đô là Sài-gòn. Mỹ đã xâm lăng để ngăn chận MTGPDT khỏi nắm quyền lực. Hoa Thịnh Đốn đã gởi sang một số quân khổng lồ, có lúc lên đến nửa triệu lính, và đã sử dụng những vũ khí tàn bạo nhất nhằm hủy diệt những căn cứ của MTGPMN ở nông thôn.

Phần lớn những binh sĩ mà Mỹ gởi đi chiến đấu với nhân dân Việt-nam là thành phần  gia đình thuộc giai cấp lao động, chiến tranh ấy là cú “sốc” kinh hoàng. Những binh sĩ trẻ được huấn luyện rằng cái thứ được gọi là “chiến đấu giải phóng dân tộc” là âm mưu của cọng sản, bắt nguồn từ cựu Liên Bang Sô-viết hay Trung quốc. Họ được huấn luyện cho một cuộc chiến tương tự như Thế Chiến Thứ Hai, tạo hình thái như là cuộc chiến giữa các đội quân lớn.

Thay vào đó, các chàng lính Mỹ lại tự thấy mình đang chiến đấu với một quân đội du kích nông dân toàn thanh niên và thiếu nữ. Chiến lược của Hoa Thịnh Đốn là một cuộc “chiến tranh toàn diện” –nơi đó, binh sĩ được lệnh đốt phá làng mạc, phá hủy những vùng nông thôn rộng lớn và càng giết nhiều du kích MTGP càng tốt. Một cuộc chiến đã làm nhiều lính Mỹ mang cảm giác bệnh hoạn, tưởng như là một cuộc diễn tập hủy diệt vô nghĩa.

Một số quân nhân khác bắt đầu nhận ra rằng họ đang ở phía sai lầm. Bill Ehrhardt, một thủy quân lục chiến nói rằng, “sự choáng váng” của cuộc chiến đã được “hiện thực hóa.”   “Trong các lớp học, chúng ta học biết về bọn lính Anh, những tên lính bẩn thỉu ô trọc đã tìm cách khống chế sự tự do của chúng ta,” anh ta viết. “Điều đó nằm trong tiềm thức, nhưng cũng không hẳn hoàn toàn là nằm ở tiềm thức nữa, càng lúc tôi càng có cảm tưởng tôi cũng là một tên lính Ăng-lê.”

Sự phản kháng chiến tranh của lính Mỹ đã bằt đầu từ rất sớm hơn là ngày nay người ta biết đến. Tháng Sáu 1965, Đại úy Richard Steinke, một sĩ quan tốt nghiệp trường West Point đang đóng quân ở Việt-nam đã từ chối lên máy bay mà anh ta nghĩ sẽ đưa anh ta đến một làng xôi đậu. “Chiến tranh Việt-nam,”  Steinke viết, “chẳng đáng để thiệt dù chỉ một sinh mạng người Mỹ.”  Thế là anh ta bị ra tòa án quân sự và bị sa thải khỏi quân đội.

Tháng Hai 1966, một cựu Trung sĩ Nhất lính Mũ Xanh Donald Duncan, người từng phục vụ ở Việt-nam, đã ra mắt một bản cáo trạng chiến tranh hùng hồn tựa đề là “Tất cả chỉ là lời dối gạt!” đăng trong tờ tạp chí cánh-tả Ramparts.   Duncan từng là ‘chiến sĩ’ chống-Cọng, thế nhưng sau kinh nghiệm ở Việt-nam đã biến đổi quan điểm của anh về chiến tranh.  Duncan đã tự thuyết phục mình rằng đại đa số người dân miền Nam Việt-nam “hoặc họ chống chế độ Sài-gòn hoặc thân Việt-cọng hoặc là cả hai.”

Bộ-Ba-The-Fort-Hood, gồm ba người lính trong Bộ binh Mỹ --James Johnson, Dennis Mora, va David Samas, họ là thành viên trong Sư đoàn 2 Thiết giáp ở căn cứ Fort Hood, bang Texas –đã từ chối phục vụ ở Việt-nam. Ba người đều xuất thân từ các gia đình thuộc giai cấp-lao động, họ đã lên án chiến tranh là “phi nhân, bất hợp pháp và vô chính nghĩa.”  Cả ba đều bị bắt giữ, ra tòa án quân sự và bị cầm tù.

Năm 1967, Bác sĩ Lục quân Mỹ Howard Levy đã từ chối huấn luyện lính Mũ Xanh ở Fort Jackson, bang South Carolina. Levy viện dẫn rằng lính Mũ Xanh từng là “những kẻ sát nhân phụ nữ và trẻ em.” và “những kẻ giết hại người nông dân.” Ông bị đưa ra tòa án quân sự và bị giam 27 tháng trong nhà tù quân đội. Viên đại tá thụ lý phiên tòa quân sự đó đã nói rằng: “Sự thật trong văn bản trong phải là vấn đề trong trường hợp này.”

Sử gia cánh-tả Howard Zinn đã viết, “Hành động của cá nhân có thể tạo ra kết quả cấp số nhân. Một binh nhì da Đen ở Oakland đã từ chối lên máy bay quân sự đi Việt-nam, dù cho anh ta phải đối đầu với 11 năm lao động khổ sai. Một y tá hải quân, Trung úy Susan Schnall, đã bị ra tòa án quân sự chỉ vì cô tham gia xuống đường cho hòa bình trong lúc bận quân phục, và đã rải truyền đơn chống chiến tranh từ máy bay xuống các căn cứ hải quân.”

Những thí dụ về sự phản kháng cá nhân này đã đẩy lên tới đỉnh cao các cuộc nổi loạn và đào ngũ, như một số toàn nhóm binh lính, thủy thủ đoàn hoặc phi công đã từ khước tham gia cuộc chiến. Một đại tá quân đội Mỹ đã mô tả sự tan rã của quân đội Mỹ tương tự như “cuộc sụp đỗ của quân đội Sa hoàng [Nga]  trong Thế Chiến Thứ Nhất.”

Năm 1967, sự triển rộng của phong trào chống chiến tranh đã đưa tới sự thành lập tổ chức Cựu Chiến Binh Việt-nam Chống Chiến Tranh của Jan Barry. Jan Barry là cựu chiến binh đã từng phục vụ ở Việt-nam từ năm 1963.  Anh đã quá phiền não với những điều đã chứng kiến ở nơi đó nên về sau anh bỏ học trường quân sự West Point để theo đuổi nghề viêt văn.

Trong thời kì năm 1967 và 1968, có hàng trăm cựu chiến binh đã tham gia tổ chức Cựu Chiến Binh Việt-nam Chống Chiến Tranh, nhưng hầu như tổ chức đã biến mất vào chiến dịch vận động đề cử Eugene McCarthy cho cuộc tranh cử tổng thống của Đảng Dân Chủ năm 1968. Rồi trong vòng hai năm kế tiếp, tổ chức đã hồi sinh nhờ vào nhận thức chính trị của các cựu chiến binh Việt-nam –chung quanh các vấn đề như họ đã bị đối xử tồi tệ trong các bệnh viện Veteran Administrations dành cho cựu chiến binh, sự phơi bày tội ác chiến tranh đã tạo ra ở Mỹ Lai, và vụ bắn giết các sinh viên biểu tình chống chiến tranh ở đại học Kent, theo sau cuộc xâm lăng Cambodia của Richard Nixon năm 1970.

Sự hồi sinh này đã mang đến những thành viên mới đến từ các gia đình của giai cấp-lao động –và chính họ là chứng nhân những điều tàn ác đã xảy ra trong chiến tranh. Người nổi bật nhất là Ron Kovic mà cuộc đời của anh đã được mô tả trong cuốn phim Born on the Fourth of July. Al Hubbard, một cựu chiến binh da Đen đã khởi xướng lên nhu cầu diễn thuyết về sự đối xử kì thị với các cựu chiến binh và binh sĩ Mỹ Da Đen.

John Kerry đã nhập cuộc trong thời gian này. Nhưng điều làm ông trở thành kẻ khác biệt chính là từ chỗ ông xuất thân từ gia đình giàu có và có những liên đới với các tầng lớp thượng lưu xã hội trong Đảng Dân Chủ.

Có Hai biến cố lịch sử được tổ chức bởi VVAW đã tạo nên bệ phóng trong sự lãnh đạo phong trào chống chiến tranh là cuộc Điều tra Chiến binh Mùa đông (the Winter Soldier Investigation) và cuộc biểu kháng ở thủ đô Washington D.C., còn được gọi là Dewey Canyon III.

Tổ chức Cựu Chiến Binh Việt-nam Chống Chiến Tranh dùng cụm từ “Winter Soldier” cho cuộc điều tra về tội ác chiến tranh là ám chỉ đến sự tôn vinh Tom Paine đối với các binh sĩ tại ngũ trong những ngày đen tối nhất trong chiến tranh Cách mạng Mỹ vào thế kỉ 18. “Binh sĩ mùa đông mới” này như họ đã tự nhận, mong ước chấm dứt chiến tranh Việt-nam bằng sự lột trần tội ác chiến tranh của Mỹ. Al Hubbard phát biểu mục đích của cuộc điều tra là để phơi bày ra “Mỹ Lai không phải là tai nạn riêng lẻ,” mà “chỉ là bước nhỏ trong chính sách cụ thể của Mỹ ở Đông Dương.”

Cuộc Điều tra Chiến binh Mùa Đông xảy ra ở Detroit vào tháng Giêng và Hai năm 1971 (hiện có bản văn đầy đủ trên các mạng lưới điện tử). Trong suốt các ngày cuối tuần lúc đó, có hơn 100 cựu chiến binh từ Việt-nam đã cung khai truớc tòa về những sự tàn bạo mà chính họ đã tham gia hoặc nhân chứng. Chừng 500 đến 700 cựu chiến binh khác từ khắp nước tụ tập đến để nghe. Những lời phát biểu của các cựu chiến binh nghe đau đớn, đứt ruột và tràn nước mắt, thu hút lòng căm phẩn của những người có mặt. Trung sĩ Jamie Henry nói rằng ông là nhân chứng một vụ tàn sát 19 phụ nữ và trẻ em trong một cuộc hành quân, anh đã báo cáo lên thượng cấp, nhưng họ không thèm trả lời.

Henry đã giải thích sự kì thị chủng tộc đã được in nhuộm vào đầu người lính như thế nào để những sự tàn bạo như thế dễ dàng xảy ra. “Anh đã được huấn luyện chúng (người Việt –người dịch) là bọn ‘gớm ghiếc, gớm ghiếc…’ (gook, gook, gook), và một khi quân đội đã làm cho ý tưởng đó in sâu vào đầu anh rằng họ không phải là giống người… làm cho anh có thể giết họ một cách dễ dàng hơn.”

Thế rồi hàng hàng lớp lớp cựu chiến binh đã tham gia vào tổ chức VVAW sau phiên tòa đó –một dấu hiệu bất ngờ là chiến dịch Winter Soldier Investigation đã nói dùm kinh nghiệm của chính họ.  Những phiên tòa khác cùng dạng thức như ở Detroit đã xảy ra khắp nước, đến nỗi các thành viên Quốc hội phải công khai kêu gọi những cuộc điều tra chính thức có trách nhiệm như “Winter Soldiers” đã tạo dựng.

Kế đến là biến cố Dewey Canyon III. Trong năm ngày xuống đường phản kháng vào tháng Tư 1971 được gọi là Dewey Canyons I và II, tên mật mã của Ngũ Giác Đài gọi hai “cuộc tấn công bất ngờ và giới han” –dịch ra là những cuộc xâm lăng vào nước Lào, gần biên giới Việt-nam. Tổ chức VVAW đã mô tả những cuộc xuống đường này cũng là “những cuộc tấn công bất ngờ và giới hạn vào lãnh địa của Quốc hội.”  Có đến 2000 cựu chiến binh Việt-nam đến Hoa Thịnh Đốn biểu tình chống chiến tranh và chống những sự đối xử mà họ đã nhận được từ chính phủ khi gởi họ đi chiến đấu.  Những người biểu tình đã quấy động không nhân nhượng quyền lực chính trị Hoa Thịnh Đốn. Họ tụ tập trước Tối cao Pháp viện để phản đối sự bất hợp pháp của chiến tranh. Họ nhục mạ Strom Thurmond, một tên thượng nghị sĩ ủng hộ chiến tranh và kì thị chủng tộc đầy mù quáng.

Các cựu chiến binh cùng với các bà mẹ của các quân nhân tử trận có Huy chương Vàng mang những vòng hoa tang tiếp nối trong đợt tiến công thứ hai đến Nghĩa trang Quốc gia Arlington.  Jan Barry đã đưa cho một phái đoàn Quốc hội một bản danh sách bao gồm 16 đòi hỏi của VVAW, trong đó có: “triệt thoái tức thì, đơn phương và vô điều kiện” các lực lượng quân đội Mỹ ra khỏi Đông-dương; ân xá cho mọi công dân Mỹ từ chối chiến đấu ở Việt-nam; phải điều tra cụ thể các tội ác chiến tranh; và cải thiện quyền lợi của các cựu chiến binh.

Có hai điểm cao vượt trong biến cố Dewey Canyon III. Một là diễn văn hùng hồn của Kerry trước Ủy ban Đối ngoại Thượng Viện, trong đó ông đã đặt vấn đề: “Làm sao quí vị có thể đòi hỏi một người nào đó là kẻ chết sau cùng ở Việt-nam?  Làm sao quí vị lại đòi hỏi một người phải chết cho một sự sai lầm?”  Trong giây phút đó, Kerry đã trở thành bộ mặt sáng chói trong phong trào chống chiến tranh.

Điểm thứ hai –còn quan trọng hơn nữa, là buổi lễ các cựu chiến binh “hoàn trả” huy chương lại cho chính phủ Mỹ, bằng cách ném chúng qua hàng rào vào Tòa nhà Quốc hội Mỹ.  Jack Smith, một trung sĩ cựu thủy quân lục chiến có nhiều huy chương nhất là người dẫn đầu.  Anh phát biểu, những huy chương dành cho tôi chỉ là “biểu tượng của ô nhục, hổ thẹn và phi nhân.”

Smith đã đưa ra lời xin lỗi nhân dân Việt-nam “trái tim họ tan nát, không phải thắng trận,” bởi vì “sự diệt chủng, kì thị chủng tộc và tàn bạo.”   Hàng hàng lớp lớp cựu chiến binh đã bước theo anh.

Các cuộc biểu dương Dewey Canyon III đã dẫn đầu câu chuyện thời sự trong mục tin tức trên các đài truyền hình mỗi đêm –và trên trang nhất các nhật báo khắp nước. Bộ mặt của phong trào chống chiến tranh –cho tới lúc đó chính yếu xuất phát từ các sinh viên đại học –làm thay đổi hàng triệu con người.

Đối với mọi công dân Mỹ, chiến tranh Việt-nam đã chấm dứt vào tháng Giêng năm 1973, khi Richard Nixon ra thông cáo tạo lập hòa bình –mặc dù, sự sụp đỗ của Sài-gòn, đánh dấu sự bại trận của Hoa Thịnh Đốn, còn chờ đến hai năm sau đó. Tổ chức Cựu Chiến Binh Việt-nam Chống Chếin tranh (VVAW) đã đóng vai trò quan trọng mang lại sự chấm dứt chiến tranh –và cho tới hôm nay, tổ chức này vẫn còn tiếp tục, tham gia vào cuộc phản kháng chống lại cuộc xâm lăng của Bush ở Iraq.

Cuộc đấu tranh của chiến binh Mỹ chống lại chiến tranh –và tổ chức của họ, như VVAW, cần phải được ghi nhớ, xiển dương và bảo vệ.  Điều đó còn có nghĩa là hiệu lệnh cho phóng bản lịch sử của Các Cựu Chiến Binh Tàu Tốc Đỉnh (Swift Boat Veterans). Và đó cũng chính là thử thách cho John Kerry ngày hôm nay, kẻ đang muốn chạy trốn khỏi di sản chống chiến tranh.

Joe Allen

Source: http://socialistworker.org/  ngày 18/9/2004

 TĐ. 04/12/04

 

 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com