
posted: 07.12.04
Thế Phong TRUYỆN HOA ĐÀO NĂM NGOÁI (Tác giả trong nước -- tiếp theo kỳ trước) một Chàng khách hào hoa của tôi ngoài bốn mươi, tóc hoa râm, tướng tá con nhà giàu, lịch lãm, có tiền, có lái xe riêng đưa chàng đến vũ trường nhảy nhót, ăn chơi. Chàng biết xài đồng tiền, nói như ngạn ngữ phương Tây, đồng tiền chàng kiếm ra chỉ là một đầy tớ được chủ sử dụng; không phải là tên thầy xấu. Nhớ lại lúc chàng tiễn tôi ngoài cửa, chàng nói rất nhỏ: “Ngày mai tụi này đi Dalat. Thủy có thể cùng đi thì hay quá! Người xưa gặp cảnh cũ bao giờ cũng tuyệt vời!” Chính câu nói bỏ lửng sau cùng này đánh thức dĩ vãng tôi, vào thời gian mở quán cà phê Huyền ở đó. Tay Thị trưởng thấy khách nườm nượp đến đây, nhiều nhất là sinh viên, quân đội, ông thấy ngại nên ra lệnh đóng cửa. Cũng phải thôi, không trách ông được, có buổi trưa, tôi nói thật – không xấu hổ – tiếp mười tám thanh niên trong vòng mấy tiếng đồng hồ chung chăn gối. Thân thể rã rời, mệt lơ lửng; nhất là khi tiếp người mình có chút tình cảm. Một số sĩ quan quân đội cô-vơ cho quán rất khó chịu khi nghe tôi dự định về Sàigòn. Một chàng có cảm tình với tôi bậc nhất gằn giọng: “Anh sẽ lên gặp hắn, bảo hủy lệnh này. Nó là bạn
cùng khóa với anh xưa đó.” “Không được đâu, bạn là bạn. Nhưng lệnh đã ra khó rút. Thế anh không nghe em kể, khi ông mời lên gặp, ông tâm tình như tình anh em. Mấy ông lớn Sàigòn ra lệnh thì chịu!” Thời kỳ Tổng Thống Diệm ra lệnh, không được ngắt một cành hoa anh đào, một nhánh thông rời khỏi Dalat. Bắt gặp trên đường bộ, khách mang theo bị phạt tiền và tài xế xe liên đới chịu trách nhiệm: từ hai đến ba, bốn tiếng, xe bị giam tại chỗ. Nhà xe sống bằng nghề xe, chạy càng nhanh, càng quay tua nhiều hơn. Có xe trong hãng Minh Trung, chạy Sàigòn - Dalat chỉ bốn tiếng mười lăm phút. So sánh một người mua vé máy bay, ra trạm ở Phạm Ngũ Lão lên Tân Sơn Nhất, chờ chuyến, lên máy bay, sau đến Liên Khương. Rồi ở Liên Khương chờ xe ca đưa về Dalat trên dưới ba chục cây số đường bộ, người đi xe Minh Trung đã tới từ lâu. Như vậy, lệnh Sàigòn đã ra, Thị trưởng Trung Tá chỉ còn nước van vỉ chủ quán Huyền trả nhà, ôm va li về Sàigòn thôi. Cảnh sát ở đây cũng biết rõ quá đi. Thanh niên ra vào nườm nượp, luân phiên lên lầu, tôi lấy điếu thuốc châm, hít một hơi là đá phóc một anh ra ngoài lâm trận làm tình. Tôi không thể ngờ mình dai phông như vậy. Bây giờ, chàng khách của tôi mời lên Dalat, làm sao chối từ. Mặc dầu tôi và T6 sống chung như vợ chồng mà thật ra là non vợ chồng, già nhân ngãi. Chúng tôi đã có một cháu nhỏ ngoài ba tháng. Thực tế đời dạy cho tôi không được coi thường, khi con khóc, đói; cần có sữa pha, con đau, cần có thuốc, quần áo, tã lót ... Tất cả những thứ này cần phải có tiền. Nên tôi nhận lời cai gà, chị N., đi làm là vậy. Đi chơi xa với khách quen, không thể giữ được, hiển nhiên thế. Nhưng tôi cũng cần thay đổi không khí, và sự đó có xảy ra; cũng chẳng là cái gì, bởi tôi chưa là vợ chính thức của T6 kia mà! Tôi tặc lưỡi, gọi cho phía bên kia, nghe được: “Em đồng ý. Cho xe đến đón em. T3 có cùng đi với anh không?” Một chút ngần ngừ nơi điện thoại. Rồi chàng đáp: “Anh chưa cùng đi. Lên sau một ngày. Cho xe đến đón em và T3 cùng đi. Tụi anh lên Dalat còn công việc khác, rồi em sẽ biết.” Chiếc xe hơi từ từ lăn vào khúc quẹo cầu Định An, chỉ còn cách Dalat mười bốn cây số. Bên trái Núi Voi sừng sững, bao nhiêu năm trải qua biến đổi, thời gian vẫn như nhìn xuống phía dưới đầy thay đổi biến thiên. Chiếc cầu này, vào khoảng năm 1942, chứng kiến anh tài xế Phủ Toàn Quyền chở Phu Nhân lên Dalat gặp Hoàng Hậu Nam Phương. Như dự định, hòa giải mâu thuẫn gia đình với Hoàng Đế Bảo Đại. Ông vua không ngai, mặc dầu trị vì nước, nhưng đám quan thầy Tây đứng phía sau chỉ tay năm ngón, đi vào Kinh giữa ban ngày còn dám ghẹo nguyệt giữa thanh thiên, ngả bàn đèn phụ nữ trên sập như kèm theo ẩn dụ, “Ta sang đây với tư cách là Khâm Sứ Quan Đại Pháp làm cho dòng giống chúng mày lai căng hết. Khí huyết tao mạnh như khí huyết dân da đen chung chạ với phụ nữ da trắng, sẽ có đứa con lai tóc quăn, da bóng nhẫy màu đen.” Thanh niên trai tráng, lính Phù Tang, cưới vợ Đại Hàn làm lai giống dòng dân tộc này. Tôi nghĩ thật đúng, từ lối cúi đầu chào theo kiểu Nhật; dân Đại Hàn cũng hùng hục làm tình, xong rồi chân trái đá sang phía nam, chân phải phía tây; xốc quần lếch thếch bước ra cửa vội vã, còn quay gập người lại một trăm tám mươi độ chào người đàn bà Việt Nam vừa cho anh ta được hạ hỏa. Chính khúc cua cầu này, xe lật, bà Toàn Quyền Decoux qua đời ở đây, không kịp trối trăn, chẳng kịp gặp Nam Phương Hoàng Hậu triều Nam; nhưng rồi chuyện tình của ông vua ba lăng nhăng tình ái này vẫn kéo dài cho đến bây giờ, có chết chóc ai đâu? Tôi vừa châm điếu thuốc lá, T3 văn sĩ hỏi ngay: “Bà nghĩ gì như là nhớ nhung ai đó, có kỷ niệm sâu sắc gì với khung cảnh này?” “Đúng. Nhớ phu nhân Toàn Quyền chưa kịp lên Dalat đã gửi phút giã từ ở đây.” “Vậy tối nay bà có thích ăn cơm Tây, do bếp quan Toàn Quyền Decoux nấu không? Tôi không phịa đâu, ngon nhất là món bí-tết Chateaubriand, khoai tây chiên tuyệt vời. Bà ăn, sẽ thấy được điều này nhé. Cũng vẫn là thịt bò phi-lê, cũng khoai, cũng mỡ, nhưng tay chiên của người này có khác người kia. Đó cũng là cái tài thiên phú, có phải vậy không?” Trời Dalat se se. Một làn gió như lùa qua làm mát lạnh
mặt mày. Một thứ gió khác, như báo cho biết không khí trong lành ở đây
bắt đầu. Thủy ngả người ra phía sau. Bây giờ T3 mới nhìn rõ cặp môi
dầy, như tướng tinh dạy; đam mê nhiệt tình, nếu hôn không đủ độ, Thủy
sẽ vít cổ xuống buộc hôn cho đã điếu. T3 nhớ lại lần Thủy kể tiếp khách một hơi gần hai chục mạng. Nghe
như huyền thoại, nhưng thực ra vô cùng thực dụng đối với bản năng sức
vóc Thủy. Người gốc Nam, nói giọng Hà Nội
tuyệt nhiên nếu không muốn gọi là hơn cả người Hà Nội cơm trắng,
nước trong, thanh lịch Tràng An. Thằng nào lúc chưa, cũng hùng hục; vội cởi
quần áo, lao như thú vồ mồi. Mồ hôi nhễ nhại, một, hai phút quay lơ; lấy
ngón tay chọc vào hông, đuổi xuống. Thằng khác tiếp theo, cũng không hơn,
hùng hục, rồi anh cuốc, em cào, anh nhoai, em ruổi, rồi
lục cục lào cào, cuối cùng anh mệt nhoài; lại ngoắc tay, tiếp thằng
khác. Ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, khoan ... cho châm điếu thuốc. Hít
một hơi, thằng khác tiếp; mấy rồi, bẩy,
tám, ..., mười hai, -ba, -bốn, ..., đếm chậm lại, còn bốn thằng nữa. Dứt.
Tiếp tục. Thằng mười tám, phán: Xong, bây giờ nghỉ. Không ai nữa. Giờ này thằng nhóc ba tháng mới cục cựa, chắc là đói, đòi bú. Thủy đem theo con, như có ý muốn bước một bước mới khác đường đời cũ. Chàng bốn mươi nhà buôn khá giầu có, có vợ con, con
gái dăm ba đứa. Đứa lớn đi với Thủy như hai chị em. Đào, xinh nhất,
người cao cao, đôi môi mọng, khuôn mặt trái xoan bắt mắt đàn ông, giọng
ngọt ngào đầy duyên thầm, như chàng bốn mươi cho biết sửa soạn tuyển một anh Mẽo làm con rể, hải quân đại úy. Chàng
bốn mươi là con rể độc nhất của đại kịch sĩ kiêm giám đốc nhà xuất
bản Tân Dân lớn bậc nhất Hà Nội.
Ông có cô con gái rượu duy nhất lọt vào tầm mắt chàng bốn mươi họ
Đinh. Đinh cũng là một kịch tác gia như bố, bé hơn; nhưng anh em gọi là
nhà văn. Anh làm thơ, anh viết kịch, anh viết văn; gặp nhau giới thiệu
chung chung: nhà văn là bảnh nhất. Gọi
là nhà thơ, nhà viết kịch, đối với người đời, như là người có nghề
mà không có nghề, nó chẳng có ấn tượng gì đối với người được giới
thiệu. Nhà văn họ Đinh tiêu tiền như rác, điều này Thủy biết rồi! Những
trận rửa tiền ở Tự Do, Moulin Rouge, Đứa con bú ngon lành trên xe, nét mặt ngây thơ không lo lắng gì, như nó biết có sự che chở lớn lao của mẹ, nó không sợ hãi gì. Xe bắt đầu vào bến. T3 gọi chiếc tắc xi Peugeot, mở cửa mời Thủy bế con ngồi băng sau. Anh lên băng trước chỉ đường cho tài xế bon chạy về khách sạn Au Sans Souci... lẩn trong rừng thông mờ sương. Khách sạn Au Sans Souci, ở mặt tiền đường Nguyễn Trường Tộ là cơ sở chính, nơi tiếp nhận khách là văn phòng. Biệt thự nằm trong rừng thông, nhìn lên đường Trần Hưng Đạo lẩn trong rừng thông, có sáu phòng. Hai phòng lớn, T3 ở một phòng cùng với Thức và Phong, hai bạn trẻ, người của Đinh, trong việc lên Dalat để đào mỏ vàng ở Phi Nôm. Thủy và đứa con nhỏ ở một phòng lớn đối diện. Chẳng là, Đinh mua được bản đồ của một nhà báo có tên Phan Chu Tế, gốc Đà Nẵng, ra Bắc làm báo trước năm 54, cùng trong tòa soạn nhật báo Tân Dân với T3 thuở mới vào nghề của văn sĩ này. Theo như kể lại, Đảng Hắc Long của Nhật vơ vét vàng ở Đông Nam Á hồi thế chiến thứ hai, đem giấu ở nhiều nơi. Một trong những mỏ vàng lớn nhất ở Krong Pha, trước đây, Nhật đã ký thỏa ước với gia đình họ Ngô, thành lập Nhà Máy Điện Đa Nhim, gọi là bồi thường chiến tranh cho Việt Nam. Bà Ngô Đình Nhu, người được giao quyền làm ăn với Nhật, kinh tài cho họ Ngô, người từng có thời gian đem thân lụa là trải thảm cho Thụy Hoàng, lót đường cho anh chồng được đưa về làm Thủ tướng. Bà thuộc Dalat như người bản địa, bà từng nằm trên lá thông khô xào xạc giữa ban ngày để cùng ai ghẹo nguyệt, vấy khí lên thân. Bây giờ tuy không sung sức như hồi ấy, bà vẫn còn quyến rũ, sức hút đam mê đàn ông, như giọt mật vàng óng ánh chôn chân bọn đàn ông ham muốn nơi bà. Bà xây một biệt thự thật tráng lệ nguy nga, bể tắm phun đầy sữa, để tấm thân ngọc ngà nhầy nhụa vẫy vùng. Thủy nghĩ đến đây, quay lại chỉ vào đoạn thơ có hàng chữ: ... Tôi muốn theo người
tình không bao giờ cần cưới “Bà Nhu thật đẹp, quyến rũ ông ạ, Thủy quay lại hỏi T3 đang cầm chiếc nĩa cắm miếng khoai tây đưa lên miệng. Ông đưa tôi đến 26 Hoàng Diệu này ăn bí-tết, quán Ba Cao, chủ là bếp tài ba của quan Toàn Quyền, có thật vậy không? Cái kiosque bát giác này của ông chủ cũng rất lạ lẫm, khác với bất cứ kiến trúc nào? Tôi cũng muốn được làm bà Nhu một đêm nhầy nhụa đấy ông ạ.” T3 vừa cười vừa dẫn giải: “Bà làm tôi nhớ đến một câu chuyện được viết thành tiểu thuyết, một nữ văn sĩ tiền chiến, cũng có đời sống tình ái có thể là khá nhầy nhụa. Nên từ đó, bà viết cuốn Một Linh Hồn, tả gia đình của ông bà Trần Văn Chương, bố mẹ Trần Lệ Xuân đấy. Vậy thì bà Cố Vấn Ngô Đình Nhu này là người ăn rất ít cơm, nhưng phung phí nhiều sức vóc nhụa nhầy của giọt sương nhầy nhụa.” “Ông nói tôi chả hiểu gì cả.” “Dễ thôi. Ba bát cơm mới được một giọt máu, ba giọt máu được một giọt đám mây trôi. Một đêm ân ái ở Dalat này, bà ấy ăn ít cơm – nhưng đổ nhiều giọt sương nhầy nhụa!” “Ông đúng là thằng phải gió!” Vào Tulipe chán lại sang Night Club. Thủy khiêu vũ với Đinh. Thủy chẳng nghĩ gì tới con vào lúc này. Đã có người vú, Đinh thuê coi sóc ở khách sạn. Nửa đêm, có tiếng quen quen gọi từ ngoài: “Anh đây.” Nhà văn mang tên Đinh rất hào hoa. Người to lớn, trông
cứ như có giọt máu lai giống như Hoàng Đế Việt “Để anh đi tắm đã, em. Anh nóng hơn em nhiều. Những lần ôm em vào lòng khiêu vũ, anh vẫn phải lấy tay giữ nó lại. Sau đó giả vờ gãi gãi như có muỗi đốt ở vũ trường. Nhiều lần ôm em vào lòng, chưa một lần hạ hỏa; nó canh cánh thế nào ấy, tưng tức ở bụng dưới. Đành vào nằm cạnh vợ cái, lại không chào cờ được. Thật lạ, Thủy ạ!” “Em cởi khuy áo cho anh đây. Và anh đừng hôn em chứ. Trước sau gì, ở đây, không thích; em vẫn cho anh cơ mà. Nói thực ra, em cần anh hơn anh cần em. Bấy lâu nay, chưa lần nào em được cùng tuôn chảy một lần ân ái với chồng.” Thủy nhớ lại ngày xưa,
mười tám, đôi mươi, ôm gần hai chục mạng chỉ có một đứa làm Thủy
sướng; một lần tuôn chảy mà thôi. Thủy mong cái đinh ấy cứng cáp để
nàng được cậy nhờ. Nước chảy trong phòng tắm làm nàng nôn nóng. Nàng cởi váy ngủ, phủ chăn lên thân người, mắt nhìn lên trần nhà. Một cảm giác thích thú của dục vọng len lỏi qua máu Thủy. Chẳng lẽ mình bắt đầu yêu chàng thực? Không? Có? Nhưng điều này khiến nàng hưng phấn, nằm bên cạnh chàng lần đầu, sau rất nhiều đêm ở vũ trường ôm sát vòng lưng. Lâu nay, hôn không còn làm cảm giác thích thú như ban đầu. Lưỡi này đánh đáo lưỡi kia chẳng tạo một cảm giác nào, ngoài lợm giọng nước miếng. Nhớ lần đầu tiên, nàng bị mất cái quý nhất, tên hiếp dâm lực lưỡng, có cái nhìn như xoáy chém da thịt, bàn tay nhám của lưỡi con mèo lướt qua da. Hắn ta lột hết quần áo nàng, nhét vào miệng khăn tay và bắt đầu mưa hôn. Chẳng kêu cứu ai được trong căn phòng trên gác ba; chính nàng cũng muốn biết cảm giác này lần đầu nó như thế nào? Hắn ta từ từ cởi từng khuy áo, đặt tay lên nương long xoay tít, nhay nhay nhè nhẹ. Như con nàng đòi bú, lưỡi đưa ra xoáy quanh bồng đảo, khiến nàng rùng mình. Cứ từ từ như thế, xoay sang nương long còn lại, nàng đê mê nhắm mắt thích thú. Rồi từ từ đi xuống phần bụng dưới, thắt lưng bắt đầu tuột mối buộc; hai tay hắn kéo từ từ ra khỏi đôi chân thon dài, rồi từ đấy lưỡi hắn nhám nhô lướt qua cặp đùi ếch đang tơ. Nàng thích thú và giật bắn người, đưa hai tay ôm lấy hắn, người co quắp, chờ đợi... Bây giờ, nghĩ lại không thể bảo hắn hiếp mình được, chính nàng cũng hiến dâng cho kẻ chinh phục xứng đáng là đàn ông biết làm đàn bà, con gái sướng. Chẳng bù cho T6, vừa hùng hục cởi quần áo đã nhảy phóc lên; tìm môi trường hít đất, đôi cánh tay không thể đỡ nổi thân còm, nhịp nhàng lên, xuống, rồi... xuội lơ. Sau, ngủ, ngáy o o, nước dãi chảy ra từ khe miệng, trông tởm. Ngủ dậy, T6 hỏi vợ: “Em thấy sướng không?” Cái gật đầu thay thế lời nói. Rõ là giả dối, nhưng cũng đành. Chỉ quết một khí huyết, nửa giọt sương hoa, cũng đủ tạo hình hài con trai âu yếm của chúng ta. Có phải không người chồng yêu dấu làm em sướng? Tôi nói dối còn thực hơn thực; nên chồng tôi chớp đôi mắt trên khuôn mặt đàn ông, có râu quai nón hãnh diện vô cùng! Bản nhạc dứt. Đèn bật sáng. Đinh dìu nàng về chỗ ngồi. Lúc này trên bục lại có lời giới thiệu ca sĩ mới, Khánh Ly. Tên ca sĩ hoàn toàn mới, giọng ca có bản sắc, nhưng mới vào nghề, non trẻ đáng yêu. Thấp thoáng gần đấy, có anh cảnh sát mặc cảnh phục Cảnh sát Dã chiến, mắt láo liên như bảo vệ hình hài ca sĩ trẻ. Đinh nói chuyện với T3: “Ông không nhẩy sao?” “Không, tốt nhất là tôi nhìn người ta nhẩy. Người ta nhẩy với nhau đẹp hơn tôi nhẩy. Và họ âu yếm với nhau hơn tôi âu yếm.” Tôi cười, nhớ tới Nguyệt, bạn đồng nghiệp của tôi
ở Tự Do, có lần hỏi dò về T3. Ông văn
sĩ này lẩm cẩm lắm chị ạ. Em nói, chị đừng cười. Có lần ông ta
đưa em về nhà, rạp Quốc Thanh. Ông ta đi bên cạnh em, cứ nép về một
phía, như sợ chạm vào thân hình em. Em lại càng trêu tợn, đi sát vào,
ông ta né. Ông này có vẻ khiếp sợ phụ nữ, nên em càng trêu chọc. Khi gần
đến phòng em, em mở cửa mời ông vào chơi. Em thuê ở đây với chị em,
bữa nay chị em về Vĩnh Long, em ở nhà một mình. Ông ta nhìn đồng hồ, nói
là quá khuya rồi. Ông quay gót chúc em ngủ ngon. Chị biết hôn, ông ta bỏ
lỡ dịp may... “Này T3 ơi, Nguyệt Tự Do, ông nhớ chứ? Cô em khá xinh, tuy hơi quê một chút. Ông định cắm sào, đưa đón nàng đi làm, tôi tình nguyện mối mang. Con bé này làm vợ là số dzách đấy”! Đinh chêm lời: “Ông sợ nghèo phải không? Kỳ này chúng ta trúng mỏ vàng ở Phi Nôm, tôi chia cho triệu phú cưới vợ nhé.” “Chưa đỗ ông Nghè, đã đe hàng Tổng!” Thức nói với tôi, “bây giờ đào chưa thấy gì thì còn anh còn em. Khi đào thấy vàng, có thể anh em giết nhau vì vàng đấy!” Hàng ngày, chỉ có Thủy ở nhà với cậu nhỏ, chúng tôi ra đi từ sáng sớm xuống Phi Nôm. Có lần T3 gặp Phạm Công Thiện, giáo sư Anh văn dạy tư cho con cháu công chức Vĩnh Tường kiếm cơm. 16 tuổi, chàng này đã cho xuất bản Anh ngữ tinh âm khiến học giả Nguyễn Hiến Lê lắc đầu, tấm tắc khen. T3 nhớ lại chiều thứ bảy, anh và Thiện đi xe Minh Chánh về Mỹ Tho, nhà bố mẹ Thiện mở cửa hàng bán xe đạp và phụ tùng xe gắn máy ở 41 Thủ Khoa Huân. Ở lại ngủ với bạn một hai đêm, sáng thứ hai cả hai lại trở về Sàigòn, mỗi đứa theo nghiệp văn của mình mở rộng lãnh địa. T3 hơn Phạm Công Thiện chín tuổi, thằng tuổi rắn, thằng tuổi khỉ, bây giờ gặp nhau ở đây: Phi Nôm. Thằng đi đào vàng, thằng dạy to be or not to be... Chán thật, nhưng vui! Buổi chiều, khoảng bốn giờ, chúng tôi thay quần áo, lên xe hơi về Dalat, tắm rửa, thay quần áo đi ăn, tối khiêu vũ. Và Đinh còn nhẩy đầm theo hai nghĩa, không biết anh chàng này nhẩy đầm với Thủy hiệu quả tới mức nào? Hiệu lực hay không, rồi ra Thủy cũng tâm sự cho mình biết thôi. Một nụ cười ruồi chỉ cho một mình T3 hiểu ý nghĩ của chính mình. Thủy nói với T3: “Ông nhớ con Cúc không? Có một dạo nó sống với thằng văn sĩ mặt
ngựa ấy. Thằng Thải Mai và con Cúc tưởng như ăn đời ở kiếp với
nhau được. Ông lại sợ, giả thiết nếu ông cặp với Nguyệt, cũng giống
như Thải Mai ăn bám váy vợ chứ gì? Nhưng, như tôi nói với ông, ba bảy
hai mươi mốt ngày, con Cúc phải bỏ nó. Bởi cái con Cúc cần, Thải Mai
không có; cái có của Thải Mai, con Cúc không dùng vào việc gì được. Tôi
mới thấy nó thấp thoáng với thằng trẻ cặp kè trên pít (piste) Tulipe.” “Này, bà có đọc cuốn Mười Đêm Ngà Ngọc không? Khiêu khích dục vọng, phấn hưng làm tình, đá lâu đá hay, đá đến người tình nữ phải kêu lên, rên lên như mời gọi: nữa đi anh! Nhưng đó là văn chương dồn nén, tả hay về cái điều mình không thực hiện được. Nhưng văn sĩ là hót hay nên đánh lừa được chính mình và người đọc.” Thủy kể tiếp: “Tôi bảo nó, mày có
thằng chồng sáng giá đấy. Cao ráo này, trí thức, có nụ cười rất say
đắm, hớp hồn phái đẹp, ăn nói tài hoa, văn chương lừng lẫy, tiền của
dồi dào, gia đình thuộc loại con ông cháu cha. Anh ruột từng làm Tỉnh trưởng...
họ hàng với cả giáo sư triết lý Nguyễn Đăng Thục, mà thằng bạn dám
xấc mé gọi là giáo sư triết lý C'est à dire...
bởi ông nói tiếng Tây, ông thường lặp đi lặp lại câu này
đến nhiều, rất nhiều lần ... Giáo sư triết lý bởi vì. Chồng mày viết
văn hiện sinh, tả làm tình; tao đọc cũng sướng rên. Cũng phải cảm ơn
chồng mày nhé. Tao đọc truyện của ổng, là bù đắp cho thằng chồng tao
chưa lên đã xuống. Mày tốt phúc thật, Cúc ạ.” “Thủy ơi, mày lầm rồi,
mày không ngủ trong chăn tao, làm sao biết chăn có rận. Nó viết hay thật,
nhưng nó cũng như chồng mày, chưa lên đã xuống, tao chán quá! Nên cặp với
thằng có vòi xài được việc, chứ không phải chỉ để đi đái thôi.” “Thằng bồ mới của
mày bây giờ đã vừa sướng cho mày chưa Cúc?” “Thằng này thì dư sướng
cho tao. Nhưng nó chẳng có đức ([3])
bằng thằng chồng hờ cũ của tao.” “Được cái này, mất
cái kia.” “Đúng vậy!” Cúc đáp.
“Khi tao với nó lăn lóc trên giường, nó thấy tao rên hai chân quắp lấy
nó. Thì, xong việc, tắm rửa, mặc quần áo đi ăn, nó vòi thêm tiền, Thủy
ạ. Lắm khi tao bắt nó làm đúp cho bõ lúc thằng kia chưa lên đã xuội...
Tao có kinh nghiệm này chia xẻ với mày, Thủy. Mày
đừng cặp bồ hay lấy bất cứ thằng viết văn nào. Đa số chúng nó cầm
bút kia thì nhiều mực, văn hay chữ tốt – nhưng đến cái khoản viết bằng
khí huyết, chán lắm! Nên ngay từ khi ấy, tao đã phải thuê thằng sơ cua,
mỗi khi tao chưa thỏa mãn... Có một lần, nó thấy thằng kia đến làm
tình với tao, nó ghen. Tao chửi thẳng, không có nó, tôi bỏ anh sớm hơn.
Khi đêm khuya, lạnh như Dalat, tao cần hơi ấm từ nó lăn lộn trên giường
với tao, làm tao sướng, thì nó không đáp ứng được. Rõ dởm, ghen cái nỗi
gì?” Cúc ôm lấy Thủy, dắt
đi quanh quanh, tâm sự: “Nói đi cũng phải nói
lại, nó chịu khó kiếm ‘đức’ cho tao xài. Tiền viện trợ của Mẽo
cho làm báo từ cậu Lê Kim ([4])
đưa, nó ngắt ra đưa tao trước. Hoặc khi chưa có viện trợ, nó theo học
đánh bê phé với Hoàng Thư (mày biết ông này không, sáng giá nhất là Trấn
Thủ Lưu Đồn) rồi mướn phòng Hoàng Thư năm trăm một ngày đêm để đánh
phé bê (đánh bịp đó Thủy) đem tiền về cho tao. Thương ghê cái mặt ngựa
của thằng chồng cũ của tao.” “Thế bây giờ mày bỏ
ổng hở Cúc?” “Chẳng bỏ cũng chẳng
không. Khi tao cần sìn, tao lại ổng, tao ỏn ẻn, tao khen ổng viết Mười
Đêm Ngà Ngọc hay hết xẩy. Không có tao, làm
sao ổng đẻ ra văn chương mười đêm ngà ngọc được? Ông đưa tiền cho
tao và lấy tay sờ soạng tùm lum, như bốc hốt ấy mà!” “Mày dã man lắm Cúc
ạ.” “Mày thương làm gì bọn
đàn ông. Chúng nó là lũ ngốc để mình xài, thằng nào pin mạnh cho tăng
tốc; pin yếu, ném ra cửa sổ – làm bẩn bôi nhơ giang sơn bà.” Rồi chẳng hiểu sao, Thủy lại giở giọng mối mang với T3: “Này, tôi hỏi thật ông nhé. Pin ông có mạnh không – mạnh, tôi giới thiệu ông với con Cúc. Được không?” “Bà thích tôi xài đồ đã dùng qua chắc?” “Đồ bản địa Nhật chế cho dân chúng họ xài bảo đảm hàng tốt, bền, không hư lung tung. Đàn ông như ông lắm lúc cũng cần chứ – cần mà vớ loạng quạng – có ngày dính chấu. Con Cúc này máy tốt, bền, ông thử xem?” “Sao bà lo lắng cho tôi quá vậy?” “Bởi tôi nhớ bữa ông đi mua hộp sữa cho con tôi, đúng vào lúc kiệt quệ tài chính. Hơn nữa, con Cúc gặp tôi đi với ông, nó hỏi thằng cha nào cao ráo đi với mày, trông cũng tạm được. Giới thiệu đi, Thủy.” “Cảm ơn bà. Hạ hồi phân giải. Sinh hoạt tình dục với tôi cũng như mọi người, đói ăn, khát uống – cần thì tìm nhau mà... Nhưng quan trọng hơn hết vẫn là đối tượng cần và đủ. Có xài lại đồ của thằng văn sĩ Thải Mai cũng chẳng hại gì. Cũ người mới ta, với Thải Mai – nó đã dùng hữu hiệu đâu mà coi là cũ...” Cả ba nghe đến đây cùng cười, ra khỏi vũ trường. Đinh đẩy một vũ nữ người thon, nhỏ thó, trông được, qua phía T3: “Chúc bạn ta vui vẻ... Em này trông cũng không xấu, nhưng mặt xấu chấu tốt, bạn ta nhớ vậy.” Trời đêm Dalat bữa nay, nói chuyện với nhau, miệng thở ra khói. hai “Hôm nay ông khỏi phải xuống Phi Nôm. Để tụi tôi lo, cháu Đào mới đem máy khoan dò kim loại lên. Ông chú đưa cháu đi chơi thăm cảnh quan Dalat nhé.” Đinh nói xong, nháy mắt, cười. Như không cần nói thêm, T3 đủ hiểu ý của Đinh giải thích. Từ lâu nay, Đinh có ý vun quén cho con gái mình thân thiết hơn với T3. Là con gái thứ hai của Đinh, dáng vóc Tây phương, học trường đầm, còn sắc vóc đủ làm cho người khác phái rung động, một khi hợp nhãn. Nụ cười tuyệt vời, âm thanh vang lanh lảnh khó quên, vừa trầm ấm lại nũng nịu. T3 biết Đào có một hải quân đại úy Mỹ đeo đuổi; chiếc máy dò kim loại kia là của anh chàng cung cấp cho bố vợ tương lai tìm vàng trên đỉnh núi Phi Nôm. Từ Sàigòn lên quốc lộ 20, cây số 22 cách Dalat, rẽ vào vườn đi thẳng lên đồi, lưng chừng mới xây một lán của những kẻ đào vàng. Trong lúc anh em trò chuyện, cơm nước, hay quây quần bên ly cà phê, ai cũng cho mình là bạn đồng nghiệp hậu duệ của nhà báo lớn Nguyễn Văn Vĩnh. Ông Vĩnh sang Lào đào vàng, để trả nợ. Vàng chưa tìm thấy, nợ chưa trả xong, thân xác đã vùi lấp nơi đất Lào heo hút rừng già, nước độc. Văn chương chữ nghĩa, giỏi thượng thừa như người đương thời phong tặng: Cụ Quỳnh cụ Vĩnh, thế nhưng... Nhưng có thằng ni a ni b, đánh vần trắc, bằng chưa thông, dám gọi hai cụ bằng thằng đã chết ai đâu? Nhưng cụ Vĩnh đã chết vì vàng. Nói như đại kịch tác gia cổ điển Anh: Vàng óng ánh, mi đã giết người, đổi trắng thay đen, quả không sai! Giỏi như Phạm Quỳnh, chỉ tốt nghiệp diplôme, nhưng viết tiếng Pháp cừ không kém văn gia, học giả mẫu quốc. T3 vừa trình bày với anh em có cả Đinh tham dự, ngồi kề bên Thủy: “Nói có sách, mách có chứng. Bài diễn văn chót của cụ Thượng Phạm Quỳnh nói về Quan Ba Đỗ Hữu Vị, một vị anh hùng Pháp Việt, đọc ở Sàigòn, ngày 5 Novembre 1937, kèm theo bản dịch quốc văn của Nguyễn-Tiến-Lãng (tên nhà văn viết tiếng Pháp này ba chữ đều có gạch nối), cũng không thể không nói là tuyệt vời.” “Cho dẫn chứng kèm theo tuyệt vời,” Thủy nói. “Chứ tuyệt vời không thôi chưa đủ là tuyệt vời.” “Đúng,” T3 đáp. “Nói nôm na, văn chương nịnh cũng phải có đầu có cuối. Lại càng phải có sách có sử – mới không thuộc loại ngậm miệng ăn tiền, như bọn gia nô văn chương thời ông Ngô Đình Diệm. Phạm Quỳnh giới thiệu phi công Đỗ Hữu Vị thế này: ...Thưa các Ngài, có một câu văn của Maurice Barrès vẫn trở lại trong ký ức tôi một khi tôi nghĩ đến cuộc hội đàm đáng ghi nhớ, mà trong lúc đó ngài Đỗ Hữu Vị đối đáp với quan Toàn Quyền Van Valloenhoven, lại một vị anh hùng nữa, một vị anh hùng xứng đáng với những hiệp sĩ đời xưa, ngài Đỗ Hữu Vị lúc ấy đã nói một lời mà bây giờ sử sách ghi tạc: ‘Tôi vừa là người Pháp, vừa là người Nam, vậy tôi phải gánh vác gấp hai nghĩa vụ’. Ông Maurice Barrès nhân khi bàn luận về nhà thi sĩ José Maria de Hérédia đã nói rằng: ‘Nước Pháp có cái tài là khéo dùng chất vàng của ngoại quốc đem tới mà tạc thành ảnh tượng Pháp’...”( )” Đào đột ngột bước vào, nghe chuyện, liền góp ý: ”Cháu biết rồi, cô giáo xưa có giảng câu văn của
Maurice Barrès, bây giờ cháu có thể đọc nguyên văn: ‘La “Toàn nói chuyện dính líu với vàng và văn chương,” Đinh kết luận. “Bây giờ, mỗi người làm theo công việc của mình nhé.” Nói xong Đinh ra xe, cùng với Thức, Phong và chiếc máy khoan dò kim loại. Đào và T3 dắt nhau ra phố. “Ta lên cà phê Tùng”, T3 rủ Đào. Đào gật đầu, lùa tay khoác tay T3: “Cháu cũng thấy thích không khí quán này. Nhất là trời lạnh, uống cà phê nóng và ngon, lại có chỗ ngồi thoải mái nghe nhạc thính phòng.” Hai người bước vào quán, chủ gật đầu chào. Đào hỏi: “Chú quen ổng?” “Ừ.” Rồi Đào chỉ cho T3, bức tranh treo trên tường phía bên trái, nhìn từ cửa ngoài vào. “Bức tranh của Vị Ý đấy!” “Chú quen ổng?” “Quen, chính chú chở bức tranh này từ Sàigòn lên cho ông chủ quán Tùng. Năm ngoái hoa đào nở, Vị Ý triển lãm tranh ở nóc chợ Dalat, hoa đào nở rộ.” “Sao triển lãm ở đây, tranh lại đem về Sàigòn; rồi chú lại đưa lên?” “Bởi, ông chủ quán Tùng hỏi mua muộn. Ông thích bức tranh Nghệ sĩ đánh đàn, chưa kịp mua, ông Vị Ý đã đóng cửa và đem tranh trở lại Sàigòn. Nên chú lại mang lên. Bây giờ Nghệ sĩ đánh đàn có một chỗ dung thân.” “Chú nói như có vẻ mai mỉa, kể cả khoác cho bức tranh là tĩnh vật có linh hồn, biết trò chuyện về thân phận.” “Điều ấy cháu nói chứ không là chú. Như đôi giầy
chú đang đi đây này. Nó giống như những đôi giầy khác đóng ở đất
nước mình. Nhưng nó cũng có số phận. Đôi giầy của chú từ người bạn
học cũ Trung học ở Hà Nội. Anh ta con nhà giầu, nhân dịp Việt Minh tấn
công thu đông ở Nghĩa Lộ vào năm 1952, bố mẹ anh muốn cho yên ổn học
hành, gửi con sang Pháp. Năm ngoái anh ta về gặp lại chú, tặng lại đôi
giầy này, để nhớ nhau. Nên chú cứ lết nó như lết bạn theo, đến khi
đế hỏng, lại đóng – cho đến bao giờ không đóng lại được nữa mới
bỏ. Thế có phải nó có số phận không? Nó được thợ đóng giầy ở “Chú cứ nói thế,” nàng nhón tay nhéo chàng. “Không đúng sao, như hôm nay chú cháu mình ngồi bên nhau ở Tùng, nghe nhạc uống cà phê, như là có một sự sắp đặt của Đấng nào đó. Lại được ngắm bức tranh của họa sĩ Vị Ý. Riêng ông này cũng là một phong cách ẩn ức dồn nén.” “Chú muốn nói đến Sigmund Freud trong tranh Vị Ý?” “Phải, không những tác phẩm thôi đâu, cuộc đời riêng tư cũng thế.” “Chú kể cho cháu nghe.” Đào đóng cúc áo khoác manteau rồi dựa vào chú, mắt nhắm nghiền; chẳng coi chốn này là đâu, cứ như trong nhà hay ở phòng khách sạn Au sans souci vậy. “Chú cho cháu dựa, chú kể cháu nghe cho đã điếu.” Như một người kể chuyện cổ tích cho em bé thường ưa, T3 tỉ tê, giọng lúc trầm bổng, tùy theo sự sống một thời của họa sĩ gần như độc thân, chỉ biết tranh vẽ, chữ nghĩa, bạn bè, đôi khi một người được gọi là tình nhân thoáng qua. * T3 và Tâm (tên thật của
Vị Ý, lúc này Tâm chưa là họa sĩ, mới chỉ là một công chức tùng sự
tại bộ Thông tin) quen nhau thật tình cờ; như là có sắp đặt, lại của
đấng Cao Sâu. Tâm là nhân viên của một Giám đốc một Nha sở thuộc Bộ
Thông tin. Và T3 là tùy viên báo chí cho Tổng trưởng Bộ, là chiến hữu
trong Việt Nam Phục Quốc Hội (Cao Đài), dầu chỉ là chiến hữu cầm bút
viết báo Thời Đại, cơ quan của Hội. Và lúc đó, Tổng Thái là chủ
bút. Tâm tuy là công chức, nhưng vóc dáng, lối ăn nói, đi đứng cũng khác
thường. Ngậm ống vố to tổ bố, ăn nói có ngôn ngữ riêng, tuy không ra
cái điều mình là nghệ sĩ; nhưng anh được anh chị em phê bình “ông
này nghệ sĩ tợn”! Rồi cho đến khi sang làm tạp chí Sống, chủ nhiệm
Ngô Trọng Hiếu, sau này cũng là Bộ trưởng, anh có tranh in trên báo, lại
trình bày. Ngoài ra, anh vẽ những bức tranh thật lớn, hoặc nhỏ; nhưng phụ
nữ Việt T3 và Vị Ý thường hay
đến nhà cô Tâm ở Ngã Tư Bình Hòa. Bố mất sớm, còn mẹ. Cô Tâm có hiếu
với mẹ, tìm việc làm đỡ đần gia đình. Cô em gái của cô Tâm cũng lại
làm thơ, như chị; nhưng lao vào thơ bằng cách cho ra bằng được một tác
phẩm thơ in trong nhà xuất bản Nhân Chứng của Phổ Đức. T3 và Vị Ý đến
đây cũng gặp rất nhiều thanh niên cùng tuổi với Tâm, mê nàng. Chẳng biết
tại sao các cụ xưa lại cho rằng mê gái cao độ là “mê như điếu đổ”.
Chỉ hiểu được rằng nước điếu lâu ngày đổ vào đâu là sát trùng
khiếp đảm. Ra trường Tâm thuê nhà ở riêng gần cổng xe lửa số 6. Căn
nhà nhỏ có hai phòng, phòng ngủ phía trong, phòng khách ngoài. Tuy chưa chồng,
nhưng là “bà non” rất chững chạc và có truyền thống quý phái. Chính
vì mê cô chị, nên Vị Ý (bây giờ không còn gọi Tâm nữa) buộc Diễm
Phúc, cô em gái làm thơ ngồi hàng giờ của nhiều buổi, để anh vẽ tranh phác họa chân dung màu đầu tiên. T3 phải
nói bức tranh màu đầu tiên, vì Vị Ý vẽ màu rất ít, đa số là màu
đen, như Thon Nhỏ chẳng hạn hoặc Cô Bán Rượu in trên Thế Giới Tự Do.
Lúc này Vị Ý về ở Nguyễn Tiểu La, Sàigòn 10, xóm Tàu. Nhà Vị Ý một
căn nhà lá nằm sâu heo hút, trong hẻm tối om, chỉ có tranh và tranh. Anh
ăn, ngủ, vẽ, tiếp bạn bè cũng vẫn chỉ có một buồng duy nhất. Vị Ý
cũng thường lấy cớ mình có nhà, mời cô Tâm đến chơi, nhưng hình như
chưa có lần nào cô Tâm tới. Lần ấy, họa sĩ rủ T3 đến nhà cô Tâm
treo bức họa vẽ Diễm Phúc đã xong. Gặp cô Tâm ở nhà, lại trong phòng,
Ý bảo T3: “Ông còn thuốc lá
không?” “Còn, ông cần?” “Không.” “Hỏi làm gì?” “Tôi muốn ông ra
ngoài mua thuốc lá dự trữ... Ông để tôi ở đây một mình. Đi lâu càng
tốt.” T3 tự cười thầm với
mình. Anh chàng này nổi cơn tình ái, có dám làm ẩu không đây? Vừa ra khỏi
cửa, nghe thấy tiếng cô Tâm kêu: “Ôi, anh Tê Ba, anh vào
đây em nhờ một chút.” T3 cứ như không nghe thấy.
Cô Tâm vùng chạy theo T3, lời nói hụt hẫng: “Anh Ý đòi hôn em giữa
ban ngày ban mặt.” “Thế cô không thích?” “Ở hoàn cảnh này chưa
thích được.” Cô Tâm lôi T3 vào nhà,
ngồi phòng khách, nói lảng: “Cảm ơn hai anh đem
tranh tới cho chúng em. Bức tranh Diễm Phúc đẹp, nhưng còn thiếu môi hôn
nồng nàn, nên anh Vị Ý định hôn em trừ phải không?” T3 không ngờ cô Tâm
nói không ngượng ngùng. Vị Ý nói lảng: “Anh yêu em Tâm ạ, có
anh Tê Ba đây biết. Anh ấy xui anh cứ hôn đại em rồi từ đó tình yêu sẽ
tới theo...” “Ngày đó cũng sẽ tới,
nhưng chưa phải bây giờ...” Cô Tâm nói một cách thật
hồn nhiên, khiến Vị Ý đỡ ngượng ngùng và cũng rất hy vọng về lời
nói chẳng biết tương lai gần hay xa sẽ đưa tới sự thực. Hai người uống trà
xong, ra về. T3 nói với Vị Ý: “Ông liều hơn tôi nhiều.” “Chả dám.” “Thế trong trường thiên
thơ Tôi của anh; rồi có đoạn nào tả nụ hôn hụt như bữa nay không?” “Không biết.” “Vậy tôi đọc cho
ông nghe một đoạn thơ tôi viết về tác giả của Nụ Hôn hụt hẫng
nhé.” “............... Người họa sĩ già sống
bốn mươi lăm vất vưởng tên anh tô bất tử non sông tâm hồn Việt Nam vợ
con chưa có, nhà một gian xẻ làm hai nửa ngoài vẽ tranh nửa phía sau làm
ổ ngủ tôi gặp anh gần mười năm máu lửa hình hài buổi đầu ba mươi
tuổi, tuổi hào hoa mười năm sau đem mắt môi tâm hồn trải rộng ra
phên, vải, mực sơn hóa ra tàn tạ đường vào nhà anh, Nguyễn Tiểu La, Chợ
Lớn nhà sơn màu đỏ quan tài, sức sống hiên ngang, dị biệt anh thường
đập bàn nhìn tôi không hề than van bữa no đói dăm ba đồng bữa cơm nghệ
sĩ không hẹn anh nhưng chúng tôi cùng gặp gỡ đỉnh đồi Dalat rừng thông
như cây Giáng Sinh ngút ngàn mái tóc phong sương rừng lau thưa chắn gió đôi
mắt sắc sảo hiện trên hai lần gò má hương thơm thuốc từ trong tẩu tỏa
ra ngoài anh mang lại cho sinh hoạt đời mầu mắt mát da hoa hồng đào trên
khung vải màu xám trộn pha sự nghiệp dài thường trải mấp mô trên đá
tảng rêu xanh và lối dã thảo và buồn không thốt ra tôi chỉ thấy anh cười
thoang thoảng trầm hùng bi ca xẻ tấm phản nằm vẽ sinh hoạt đời không
còn tiền mua khung vải và màu sơn đỏ ứa lên nghẹn ngào như máu tứa
hãy nhìn lên cao trời sáng đến sao băng rằng chúng ta không chỉ biết đời
chát chúa vô ngần! chúng tôi dắt tay
nhau đi trên ngọn cây leo đồi thông...” “Ông tả tôi đẹp, hào
hoa quá đấy. Tôi xù xì, chỉ đáng so sánh với gốc thông già thôi.” “Nhưng ông có bằng
lòng cho đôi nam nữ đến ngồi tâm sự dưới gốc thông đó không? Nhất
là người nữ này thon nhỏ lại có bộ ngực ngồn ngộn như Núi Bà trên
đỉnh Lâm Viên.” (lấy tay chỉ về dãy núi xa xa ...) “Thế thì ... hiểu Vị
Ý ([5])
đến chân tơ kẽ tóc rồi.” * Đào nghe xong, thở dài: “Vì vậy cháu ngắm bức tranh của họa sĩ, đôi cánh tay thật mạnh, đầy sức Hercule đánh đàn, để cố thu phục được người đẹp nào đó chưa cho họa sĩ nụ hôn có thực, chú ạ. Bữa nay cháu đề nghị với chú việc này nhé, chú bằng lòng không?” “Chuyện gì cháu chưa nói, lại bắt chú phải đồng ý, như thế có quá đáng không?” “Cháu có đọc một truyện ngắn Người Đàn Bà Nữ Sĩ Dalat của chú đăng trên báo. Bữa trước cháu hỏi ba cháu có biết người đàn bà nữ sĩ ấy không? Ba cháu lắc đầu, bảo cháu hỏi chú. Vậy bữa nay cho cháu cùng đi thăm bà, được không?” “Biết người ta có tiếp không?” “Sao lại không? Chú gọi điện thoại hỏi bạn chú giáo sư Bích, nhân vật trong truyện của chú, rồi cả ba cùng đến thăm bà. Chú chiều cháu đi.” “Thôi cũng đành ừ ...” * Thành phố cao nguyên, một
sáng chủ nhật. Loại du khách như tôi, bao giờ cũng dậy muộn vì đêm qua
còn mải miết trong những quán cà phê, hoặc phòng trà; hoặc sau đó, còn
tự dấn thân trong gió lạnh đi quanh hồ Xuân Hương. Khi ra đến phố nhìn
đồng hồ, đã quá giờ hẹn với người bạn làm nghề giáo sư tư thục.
Anh tuy còn trẻ tuổi hơn tôi; nhưng bề ngoài già nua ấy, không quan tâm bằng
nội tâm. Anh là người của giờ
giấc, đúng hẹn và mỗi khi phải sai hẹn với ai, anh lấy làm khổ tâm
nhiều. Tôi hớt hải, vội vã, lòng hơi lo lắng. Hẳn anh chàng này đang trách
mình rồi nhìn đồng hồ tay, mà cho rằng quả là nghệ sĩ có khác! Từ
lâu, tôi có ý định đánh lảng thành kiến với bạn bè; về cái gọi là
nghệ sĩ bất cần gì đời đó. Phần lợi chẳng là bao, nhưng hại không
phải nhỏ. Khi tôi đến gặp anh, câu đầu tiên là xin lỗi anh ngay. Vì anh
bạn tôi đã mặc xong quần áo từ bao giờ rồi. Tay anh đang cầm chiếc
tăm xỉa răng, và anh đang soi gương chải mái tóc, có nếp đường ngôi thẳng
như xa lộ. Hình như anh chưa lấy làm
hài lòng vẻ đẹp của mình. Đáng thương, thực ra, không những anh có mặc
cảm xấu trai; đúng như mẫu mực thanh niên ngoài đời bây giờ; anh lại
còn giống triết-gia-văn-sĩ Giăng-Pôn-Xạc (Jean-Paul Sartre ) lé kim. Nên tôi
vẫn thường đùa cợt anh một cách thật tế nhị, mỗi khi nghe thấy bạn
hữu khen cô gái đẹp; tôi chêm câu này vào “làm con gái không đẹp, uổng”
và “con trai đâu cần đẹp trai, chỉ cần có tài, có tiền, có sức khỏe”. Dường như, Huy, tên anh bạn giáo sư của tôi,
đoán được ý nghĩ của tôi là đang cười thầm anh làm đỏm; nên vội
lên tiếng bào chữa một cách thật tế nhị. Như bài giảng nghĩa Việt
Văn của anh, dạy học trò đệ nhị vậy: “Tao vẫn thường nói rằng
nói làm đàn bà không đẹp, uổng. Còn con trai chỉ cần có tài. Có phải
vậy không? Nhưng tao vẫn hài lòng về tao, nên soi vóc dáng mình hoài hoài”.
Tôi gật đầu và ngẫm nghĩ về anh chàng giáo sư này. Rất ít xưng hô
tao, mày, trừ khi nào có hai đứa chúng tôi và khi đó cảm thấy rằng
thân thiết lắm. Tôi cũng rất ưa xử thế lối ấy, tránh được suồng sã
và đôi khi quá trớn. Huy hỏi tôi, bây giờ chỉ đi uống cà phê, tuyệt
đối cấm ăn sáng. Tất nhiên đây là cách phạt tôi đến muộn, nên đành
phải đồng ý. Trên đường đi đến quán cà phê, chợt anh dừng lại hỏi.
Thật đột nhiên. Rằng, tôi có biết tiếng nữ sĩ Vi Kh.? Tôi gật đầu.
Huy hẹn sẽ đưa tôi đến, sau khi ở quán cà phê ra. Và anh lại đe dọa
trước. Đại để người ta có chồng, con. Thì ra, Huy cho tôi thuộc vào loại
chuyên viên phá phách hạnh phúc không bằng? Tôi bảo anh thế, nhưng giọng
đùa cợt. Thì phải trả mạng này cho nhau chứ gì? Huy lại phê bình, qua
đời tình ái, bằng câu này: “Tôi biết tính bạn quá mà!” Vẫn chưa yên
lòng, anh lại căn dặn tôi thêm: Nữ sĩ mới chỉ biết tôi qua văn phẩm,
chứ đừng cho người ta thất vọng rằng tin đồn bê bối về đời sống
là đúng. Tôi gật đầu trả lời anh: Cuộc đời sự nghiệp nữ sĩ nhà
anh, ai còn lạ gì? Vì nàng đã có một thời gian là người tình của thi sĩ
Thoại. Và tôi biết cả bài: “Trăng buồn của thiếu phụ đổi ngôi”,
do chính nữ sĩ kia, làm từ động cơ thúc đẩy của Thoại. Huy nghe xong, lắc
đầu. Không phải anh phục tài biết rõ đời tư văn nhân, thi sĩ của tôi;
mà anh cho rằng nói dóc để ra cái điều với anh. Tôi không đính chính hoặc
cố tâm biện bạch bắt anh tin. Nhưng bấm bụng, sẽ làm cho anh ngạc
nhiên từ một đến hai nhiều nhiều nữa. Một lát sau thôi, nghĩa là hai
chúng tôi bước ra khỏi quán cà phê tới nhà vợ chồng nữ sĩ. Với điều
kiện giáp mặt được nữ sĩ. Chiếc tắc xi đưa chúng
tôi xuống ven hồ Dalat rồi tiến thẳng về lối Sàigòn. Người tài xế hỏi
Huy đi đâu? Huy vội vã trả lời: “Nhà ông Phạm L. nguyên Phó tỉnh”.
Anh lại xác định thêm, các bác tài ở Dalat này, có ai lại không biết biệt
thự Ngọc Nga đâu? Nhưng bác tài này lắc đầu, trả lời một cách ngang
ngược, trái lại ý của khách; bác không cần biết, ai biết bác cũng không
cần đếm xỉa tới làm chi? Tôi hài lòng về sự ngang bướng hợp lý này
của bác, nhưng không nói ra. Anh bạn tôi bắt đầu nhún nhường, giải thích
về ông Phó tỉnh. Nào là trước kia ông là người danh tiếng ở đây, từ
khi giữ chức Phó tỉnh, ai ai cũng khen ông là người tốt. Bác tài trả lời biết
sơ sơ thì cũng có biết; nhưng riêng bác lại không cần biết. Thế là Huy
đành phải chỉ đường lối cho bác tài chạy xe. Quay sang phía tôi, Huy
nói về lai lịch của gia đình. Như để cho bác tài biết thêm: một tiểu
sử danh tiếng của một gia đình danh tiếng; tại sao bác là tài xế mà lại
không biết? Nào là bà cụ ngoại, người thay mặt ông thân sinh ra chồng của
nữ sĩ Vi Kh.. Bà là người giữ gìn coi sóc tư thất cho con rể. Đại để,
bà là bạn thân với gia đình nhà văn sĩ lãnh tụ Tự Lực Văn Đoàn; một
người đàn bà có quá trình tranh đấu cho nghĩa lý đời sống; bà từng
là người khai thác đầu tiên mỏ than Nông Sơn bây giờ. Đến nay, bà ở
đây, đất rộng; nên lập điện thờ cúng Phật mà cũng bị dỡ bỏ. Đó
là vào thời kỳ Phật giáo đang bị nhà cầm quyền thời xưa làm lôi
thôi, một Đức Cha, anh ruột của Tổng Thống đã ra lệnh cho dỡ điện;
vì nó quá gần, so với nhà thờ mới thành lập. Bà từng lên án, nguyền
rủa họ dùng thế lực đàn áp. Nay chế độ cũ đã
nhào; bà cũng chẳng còn ý định lập điện trở lại và oán trách làm
gì? Vì một khi họ không còn sống nữa lại hết uy quyền. Huy dẫn giải
thêm; vì vậy bà rất quý anh em văn nghệ. Họ khổ nhiều, sung sướng ít;
cứ trông cái gương của văn sĩ Nhất
Linh thì rõ. Chị Nhất Linh lam lũ, tần
tảo buôn bán nuôi con, nuôi chồng tự do đeo đuổi lý tưởng, nguyện vọng
ấp ủ. Huy không những khen ngợi những người của tư thất này đẹp ở
tâm hồn; mà cả tư tưởng lẫn đời sống của họ. Rồi tôi sẽ thấy
nghiệm qua lời nói của anh. Tôi gật đầu song bao giờ cũng dè dặt, bất
cứ được nghe một câu chuyện gì chắc nịch đúng hay nghe ai giới thiệu
qua môi miệng là có lòng với văn nghệ. Kinh nghiệm sống không cho phép
tôi dễ tin một khi chính tôi chưa được tiếp xúc, giảo nghiệm qua nhiều
lần. Đường đi xuống đèo, tư thất ấy nằm nghiêng trên sườn đồi thông.
Kế bên một khách sạn nổi tiếng của Dalat: La Savoisienne, một ngày ngàn
rưởi, giá cả bây giờ thì đắt đỏ thế, cho một ngày: ăn theo lối công
tôn, hoàng tử. Tôi nhớ, bởi con đường này lên khách sạn đó. Tắc xi
trở lại thành phố; khi hai chúng tôi nhìn thấy biệt thự Ngọc Nga có hai
cánh cổng mở rộng đón vào. Bác tài cầm ba chục đồng
trên tay, vẫn còn như không hài lòng với ông khách. Tôi nghĩ không phải
vì tiền; có lẽ vì sự thất thố của anh bạn tôi khi nãy. Một bà cụ
già tóc trắng, ăn vận theo lối đẹp của tiền chiến; ra tiếp đón
chúng tôi. Anh Huy giới thiệu tôi là văn sĩ. Bà cụ rất niềm nở. Câu
chuyện đầu tiên, bà cụ nói về địa điểm này. Bao nhiêu là Mỹ đến
thuê, nhưng bà cụ khước từ. Lại phải nấu nước cho họ uống, đưa họ
đi xem nhà, vườn tược. Có những anh thông ngôn người Việt làm cho Mỹ
rất hãnh diện về vai trò làm thông ngôn. Nào anh ta hoạnh học hỏi; sao bà cụ có nhà rộng thế lại không cho
thuê, chủ nhà là ai, họ có thể tiếp xúc thẳng với chủ được không? Bà
cụ nổi giận, nói độp vào mặt, chủ là tôi và tôi không cho thuê, mặc
dầu nhà rộng. Bây giờ tôi bận, xin lỗi các ông, tôi không thể tiếp
chuyện. Tôi nghe đến đây song tầm mắt vẫn nhìn ra ngoài vườn. Sườn
đồi thoai thoải, hoa đào mơn mởn nở. Năm nay hoa đào hai lần nở, âu cũng
là điềm lạ; Dalat từ trước đến nay chưa từng thấy! Đẹp nhất là đồi thông
có cỏ, dưới chân thông là những mảnh lá khô trải đầy. Xác lá trơn
nhoài, lá thông khô mướt cánh làm trượt chân khách nhàn du. Chẳng khác
trải thảm vậy. Xin phép bà cụ ra vườn ngắm hoa. Tôi đi tìm một hình
ảnh dĩ vãng, chôn vùi. Hôm nay tôi lang thang nơi này; trước kia là ai, sau
này đến kẻ nào? Ấy, cứ hay nghĩ vẩn vơ, như lần nào đi bên cạnh người
yêu, nàng thề thốt rằng hai người sống bên nhau, tôi đừng bao giờ phụ
nàng. Rồi chính nàng lại phụ
bạc, đến lúc này thì tôi đâu có trách nàng! Căn nhà này đã lâu đời
lắm. Lối cất nhà giống như nông trại của những người chủ là người
Ý vào thế kỷ trước. Trước ông chủ Phạm L. này; tôi đoán thế, họ
giàu có; còn là một nghệ sĩ rất nhiều cảm quan sành nghệ thuật. Trong nhà, phòng dưới rất
rộng chiếm hết chỗ, một cầu thang bắc lên lầu, đi quanh một góc
phòng. Ở nhà dưới, nhìn xuống đường dưới kia, có thể kiểm soát được
cả một khúc đường quanh co. Gần hơn, hoa nở; xa hơn nữa, đường trần
gian đang tiếp đón bước chân của thế tục lăn vào. Cả những ngày mù
sương rét thật đậm, nhóm lửa, đốt củi và khoác áo đi xuống chân đồi
để nhìn thấy ảo ảnh chập chờn trên khúc quanh kia. Nhưng bây giờ người
chủ này, tôi nghĩ thế, có một cuộc đời gần hết cống hiến cho luật
hành chính mai rùa; họ còn đâu có chữ nhàn để thụ hưởng cảm quan
kia! Bên Tàu thời xưa có những bậc phong lưu quân tử, làm quan, nhưng giàu
cảm quan nghệ sĩ, chứ thời này làm gì có cảnh từ quan về sống ẩn
tích, mai danh. Họ chờ công danh ghế
ngồi, như có một bức tranh trào phúng nào đó đã vẽ, cảnh chờ như ở
nhà vệ sinh công cộng vậy. Đang mải mê với muôn vàn ý nghĩ, không đẹp
gì cho chủ nhân căn nhà này bây giờ; mà thực ra thì tôi chưa biết họ lần
nào. Thì nghe tiếng Huy gọi. Tôi trở lên, và chắc rằng giờ này Vi Kh. tới.
Tôi nhớ ra lúc gặp bà cụ là người miền Bắc và sao Vi Kh. lại là người
Huế? Thì ra, người cháu ngoại
của cụ đã bị câu “thấy cô gái Huế bỏ đi chẳng đành” tóm mất hồn
vía! Từ tầm mắt nhìn lên, xa xa hơn; thấy chiếc xe hơi Peugeot trắng, loại
décapotable hai chỗ ngồi, đậu trước lối ra vào. Nhưng một đôi vợ chồng
son, thì hẳn chiều chiều cảnh hai người đưa nhau ra xe, vụt lướt trên
khắp nẻo đường thơ mộng, rừng thông, hồ Than Thở, khúc quanh mất hút
sau hồ Xuân Hương, vẫn hai kẻ dìu nhau lên Sân Cù, sóng đôi từng bước
trong Công viên Bích Câu, thơ và mộng biết chừng nào! Nhưng thêm dăm ba đứa
con chạy đùa nghịch ngợm, vây quanh lấy bố mẹ cảnh thơ mộng kia không
còn nữa, lại trở thành địa ngục trong chiếc xe hơi chật chội. Anh Huy giới thiệu tôi
với đôi vợ chồng họ. Người đàn ông có một vóc dáng chồng làm đỏm
trí thức; nhận diện sâu hơn sẽ thấy trên khuôn mặt đôi chút thông
minh sáng sủa kia, chỉ là bề ngoài che cho một nội dung rỗng. Nhưng chàng
rất bặt thiệp, thứ bặt thiệp của con nhà giàu; thuở nhỏ cha mẹ cho
ăn học, thì lêu lổng chơi bời, lớn lên một chút tỉnh ngộ biết sửa
sang cho mình có diện mạo trí thức đánh bóng! Vợ mảnh khảnh, bốn
con rồi, nhưng rất chịu khó giữ sắc đẹp; nếu không có đàn con kia,
tôi chỉ có thể đoán chừng một con là cùng với cảm quan khám phá bề
ngoài; khuôn mặt khá xinh, nhiều đam mê ngầm, bặt thiệp và da bánh mật.
Ôi thôi da bánh mật, thứ đàn bà đa tình lại thêm vào mác nữ sĩ, tác
giả những bài thơ chan chứa hiện sinh! Ôi thôi, lại hai lần ôi thôi, lại
phải lấy một anh chồng không nghệ sĩ tính! Một giáo sư không giờ; anh
chàng chỉ trông coi trường học như một Giám đốc Hiệu trưởng. Một thứ có làm chủ
báo, thì anh ta thuộc vào loại không biết viết bài; nhưng có tiền và thế
lực để làm chủ nhiệm xuất vốn. Song nghề báo còn có thể gián tiếp
bịp độc giả được, bằng cách mượn người viết bài, dưới ký tên
mình. Và chịu khó thuê thư ký đánh máy cho hai tuồng chữ trở thành duy
nhất; không ai còn biết bút tự nào là của ai, của mình là được! Còn giáo sư Giám đốc,
khó mà vào lớp học khi không có khả năng dạy học trò. Tôi luống cuống
khi xiết tay người chồng, nghe chàng ta khen tặng
tôi: “Nghe tiếng anh từ lâu, hôm nay được hân hạnh gặp mặt”. Tôi
cũng muốn nịnh anh chàng một câu tương tự; nhưng tiếc thay, anh không là
nhà báo, dầu chỉ một chữ biết ký tên, hay là tác giả một bài báo mua
thôi, cũng sẽ đem lại cho chàng một câu đền đáp tương tự... Tôi đành chịu nhận lời
khen miễn cưỡng của anh, có đi, không có lại. Quay sang phía người vợ,
nàng nghiêng đầu như con chim gi đá, của lần đầu
đứng bên chồng ngoài tổ ân ái mới xây xong. Nàng nói với tôi,
câu khen tặng nồng nàn hơn chồng. Tuy rằng cũng là được biết anh từ lâu,
nay mới gặp mặt. Nhưng vì có căn là nữ sĩ; nên không ngô nghê, sáo mép
láo khoét như anh chồng. Với chồng nàng, tôi
dám chắc, một tên của tôi thôi, anh chàng cũng mới chỉ nghe lần đầu
đây thôi; sao lại nói khen nhau là biết tiếng từ lâu? Với vợ, tôi nói
ngay rằng có đọc nhiều thơ của nàng. Như loạt bài trong Mộng tưởng và
cuộc đời. Nàng ngạc nhiên, hỏi dồn dập tôi, nàng có đăng nhiều thơ
đâu mà tôi được đọc? Ngó sang Huy, chắc bạn tôi đang lo thay cho tôi bị
hố với nữ sĩ. Tôi thấy gương mặt anh phản ánh sự lo lắng. Mà thực
ra, tôi đang lâm vào thế bí như Huy nghĩ. Song đến câu trình bày là nhờ
thi sĩ Thoại cho mượn bản thảo. Nàng hạ giọng, tiếng à như đã biết
rồi; nhưng nàng cũng muốn đánh tan sự nghi kỵ của chồng từ bao lâu
nay. Tôi cố ý như vậy, vì có lần tôi bảo Thoại, khi nghe xong, anh bảo
bài thơ Trăng buồn của thiếu phụ đổi ngôi là sự thất tình lớn lao với
Vi Kh., tình con cô cậu ruột. Bây giờ Thoại đã chết, anh nổi danh, sau
khi hết được làm người. Vi Kh. hơi thất sắc khi trả lời tôi: “Vâng,
chỉ có anh Thoại là có thơ tôi. Anh với Thoại là bạn, tôi có biết tin
này. Giữa tôi và anh Thoại, ngoài cương vị anh họ, chúng tôi còn là bạn
thân. Nhưng chúng tôi sống với nhau qua tình bạn nhiều hơn”. Người chồng
im lặng, có sự ghen ngầm điều ấy; tôi đoán được, từ khi sắp nói.
Tôi định tâm sẽ đem chuyện tình của văn sĩ Hoa Kỳ, Edgar Poe ra, làm
thí dụ; chỉ cần kể mối tình người em họ, hẳn sẽ làm khổ Vi Kh.,
và càng nhiều hơn nữa là anh chồng. Cũng phải nói rằng, khi ấy, tôi cũng
có một sự trả thù. Những tên vô loại của cuộc đời, chúng dùng tiền
để cướp những tình nhân của nghệ sĩ – chúng đâu có cần tình yêu;
chúng chỉ đem tiền ra mua, chỉ cần chúng đánh trúng một điểm tâm lý
này thôi, đủ làm cho văn nghệ sĩ thua cuộc rồi. Là: “Em ơi! Đồng tiền
tuy bẩn thỉu thật, nhưng không có nó cuộc đời sẽ bị trở ngại. Em yêu
chàng thi sĩ kia, được lắm! Nhưng em có thể mài cái tài sản của thi
nhân ấy để nuôi hai đứa không? Tốt hơn hết, tuy anh không xứng đáng
như thi nhân, hay đúng hơn, không được may mắn em ban cho tình yêu kia, nhưng
anh có tiền đủ bảo đảm đời chúng ta thật dư dả! Em vẫn cứ yêu thi
sĩ, nhưng cho phép anh được cưới em, anh hứa không bao giờ ghen, anh hoàn
toàn tôn trọng đời sống tinh thần trầm lặng của em. Em không thấy ư?
Đời nghệ sĩ là yêu muôn vẻ đẹp, nay yêu em, rồi mai yêu người khác,
có bao giờ yêu độc nhất một người nào? Tình yêu của nghệ sĩ là
tình yêu vạn vật, của tất cả muôn vẻ, muôn màu. Em là thi nhân, chắc
em đã và không quên Hồ Dzếnh, từng bày tỏ tâm trạng chung của họ: ‘Tình
chỉ đẹp khi còn dang dở. Đời hết vui khi vẹn câu thề.’ Em cho phép
anh được cùng em chung sống chuỗi ngày dài trong cuộc đời, khi em hết còn
mang hình bóng nghệ sĩ hay là trái lại cũng vậy”. Tôi không hiểu chồng của
nàng, có thể nói được giọng văn đại để như vậy không. Nhưng chắc
chắn phải có một tài riêng để chiếm người đàn bà nữ sĩ kia, làm sở
hữu riêng tư của mình. Trong câu nói không chút gì giấu diếm, Vi Kh. nhấn
mạnh: với Thoại, chúng tôi sống bằng tình bạn nhiều hơn. Hẳn mười
năm trời đằng đẵng, nhiều đau đớn ngầm cho người đàn bà! Đúng hơn,
cho cả hai. Một nghệ sĩ, lấy một người không có tâm hồn nghệ sĩ, sẽ
làm khổ mình khổ kẻ khác, lẽ tất nhiên không thể nào tránh được! Tôi
để ý Huy, nhưng anh lảng tránh từ bao giờ! Huy cùng dạy một trường;
và chồng Vi Kh. là người bỏ tiền mở trường. Hay rõ hơn, Huy được thuê
dạy, họ trả lương; làm sao tránh được phiền hà cho anh, nếu chẳng may
có chuyện gì xảy ra; dầu sao tôi cũng là người do Huy đưa đến. Linh cảm
tôi dường như cho biết trước rằng Huy đang lúng túng trước câu hỏi
khêu mào, về chuyện tình của Thoại và Vi Kh.. Bây giờ anh trở vào phòng
khách, ngồi chung với chúng tôi. Người chồng bày tỏ
thái độ bực dọc, ghen tài với dĩ vãng vợ mình bằng cách đuổi lũ con
nghịch ngợm, bắn súng pàng pàng bằng pháo, làm nhức óc người lớn ra
chỗ khác. Bà cụ ngoại đang thao thao bất tuyệt về tài giữ báo chí của
bà. Nhân đến chỗ nhà văn, thơ, nên hãnh diện về sự tô điểm cho văn
nghiệp mình và cả cho sự nghiệp văn chương nước nhà được thêm phần
rạng rỡ. Bà cụ đưa cho xem một tờ báo hàng ngày, trong đó có bức
tranh hí họa trào phúng, nội dung, người cha đang ăn cơm, mà tay không rời
tờ báo đọc. Khi nhìn lên đồng hồ, thấy gần một giờ; đến giờ đi
làm bảo con cất đi, chiều ở sở về nuốt tiếp. Huy nói ngay rằng, ông
công chức nào không biết, chứ với Vi Kh. (nàng cũng còn là một công chức)
đâu có tệ hại như vậy! Vì đã có ông (quay sang phía người chồng)
đưa tới sở, trước giờ làm việc vào buổi chiều. Câu chuyện khôi hài
này, thực ra nếu không có sự hiện diện của tôi; thì câu chuyện khơi mào
về ghen với dĩ vãng của vợ, khiến người chồng khó chịu ra mặt, thì
đâu đến nỗi nào! Với tôi, tôi không muốn
biết như vậy, và sự cố ý này vẫn hiểu bằng thái độ, của điềm
nhiên nói chuyện với vợ anh, nhưng tỏ ra rất bặt thiệp để người chồng
muốn bắt lỗi, mà không sao tạo được cơ hội, trừ sự cố ý gây hấn
thì không kể làm gì. Tôi nhắc lại chuyện Thoại và những truyện ái
tình đau đớn, cả đến bạn là những tên văn nghệ Mít, Xoài; gọi là cố
kết với Thoại còn sống đói khổ nghiện ngập, chúng nó có tiền lại lắc
đầu không trợ cấp cho bạn. Khi Thoại chết, chúng xây lưng lại với
nhau nhìn mặt Thoại. Bằng cách góp tiền làm cỗ tế ruồi khóc lóc thảm
thiết trên tạp chí Sáng Tạo. Tôi lên án sự vô liêm sỉ như loài vật cũng
không làm như vậy! Người vợ ghen, ăn nói cũng rất kín đáo; hẳn còn
làm khổ nhiều kẻ thèm muốn; hơn nữa tôi cũng có ác ý: khêu lại cái
quá vãng thật diễm lệ, hoặc nói đến cái tương lai, bất cứ thứ
tương lai gì; miễn là làm chán nản hiện tại. Vì tôi hiểu rõ rằng,
không một người đàn bà Huế nào chịu yên phận với hiện tại, bất cứ
với hiện tại nào, và cho bất cứ loại người nào: sang hèn, giàu,
nghèo. Mỗi một kẻ, tùy theo hoàn cảnh mà khơi lên cho họ; đó là nghệ
thuật làm cho họ chán chường hiện tại đang sống. Với tôi, thì cố ý
là hành hạ người chồng. Anh chàng nghệ sĩ giả hiệu này, hắn càng thấm
đòn hơn; khi nhìn vợ suy ngẫm. Người được gọi là vợ mình kia, thật
ra mờ ảo quá; có khi nghĩ ra lại không là vợ mình có thực. Có trong tay
thực tại mà dường như mất rồi. Mang tiếng hình hài vợ mình, song lại
biết chắc tư tưởng, tâm hồn vợ không còn tùy thuộc vào mình nữa;
đau đớn kia sẽ hành hạ thân xác nhiều lần hơn. Tôi lại hay bi thảm
hóa thế thôi để nhìn anh chồng, chắc gì hắn khó
mà nghĩ được vậy. Tôi nhìn đồng hồ, mười
một giờ hơn. Tôi có cái hẹn với một gia đình cô em; tôi chớm để ý
đến cô ta, xưa nay với ai cũng thế, nhất là với giai cấp bình dân lao
động, tôi lại càng tỏ ra mình giữ đúng lời hứa. Trưa nay, mười hai
giờ, họ mời ăn cơm. Hơn nữa, tôi tưởng làm đau đớn cho anh chồng
như thế cũng tạm đủ. Một thứ tình cảm trả thù cho nghệ sĩ, bị kẻ
bình thường dùng tiền cướp người yêu. Tôi lại không ngờ mình có thể
làm như tha thiết với Vi Kh., điều này quả khó khăn! Nhất là đối với
đàn bà, mà lại là thứ đàn bà nghệ sĩ. Phải cần đến người
đóng kịch, đóng thật nổi, mới làm cho kẻ ngồi nghe tin mình là chân
thành. Còn khó hơn nữa, làm sao mà đạt tới được, khi mà có sự hiện
diện của người chồng. Tôi xin phép bà cụ, hai vợ chồng, anh Huy có hẹn,
nên không thể cùng ở lại dùng bữa trưa. Nhưng không một ai cho tôi từ
chối cả. Nhất là người chồng vô cùng khôn khéo tiểu xảo kia; tôi biết
chắc chắn rằng trong lòng chàng là muốn tống khứ tôi đi cho rảnh mắt.
Tôi biết thế, đau đớn cho chàng, tôi đã biết rõ thế. Tôi nhìn đồng
hồ; 11 giờ 30. Có trở về cũng chẳng sao kịp, tại chỗ này không dễ
dàng gì có xe. Có khi phải chờ hàng tiếng đồng hồ, chờ xe của Sàigòn
lên, nếu xe còn chỗ trống. Thường ra các xe qua đây đã đầy hành
khách. Nên tôi đành ở lại. Nhưng tôi nói thẳng chỉ dùng bữa một cách
qua loa thôi. Tôi thú thật, còn phải để bụng trở về chỗ hẹn trước.
Cả gia đình này đồng ý với tôi như thế. Khi sắp chỗ ngồi vào bàn
ăn, người chồng ngồi đối diện với tôi. Còn Vi Kh., nàng ngồi vào đầu
bàn. Bên kia, anh chồng thấy vậy, lần này anh ta quạu quọ, nói thẳng điều
này trước mặt mọi người: “Mình ngồi đằng này
chứ, sao lại ra ngồi tận đấy!” Tôi nhìn sang Huy, nhưng
Huy đã hiểu rồi. Một sự xung đột bắt đầu tỏ lộ công khai. Vi Kh. phải
chiều theo sở thích chồng. Tuy khó chịu, nhưng nàng yên
lặng, sau bắt đầu nói chuyện nhiều với tôi: “Quyển tuyển truyện ([6])
của anh mới in đẹp đấy chứ! Trông giống sách Pháp lắm. Nhưng, có một
điều sẽ khó bán. Trình bày khổ sách, cũng như lối viết; đòi hỏi độc
giả thuộc loại riêng.” Tôi im lặng. Người chồng
cũng khen chung với vợ qua ý kiến trên. Tất nhiên, tôi không trả lời anh
chồng, mà chỉ quay sang phía người vợ: “Thực ra, thưa chị,
đó là một người bạn yêu tôi bỏ vốn. Anh ta cũng là văn sĩ, nên vui
lòng in một tác phẩm theo ý tôi thích. Thương mại, buôn bán tính sau.” “Anh viết truyện Người
Đàn Bà Không Tóc cũng lạ!” Tôi bắt đầu lúng
túng, vì lẽ cuốn truyện Vi Kh. vừa khen thuộc loại tả chân hiện thực,
nói về một đàn bà làm điếm, yêu lại chung tình. Xã hội không cho phép
chị ta làm lại cuộc đời. Tôi cố ý lên án xã hội dân chủ no ấm giả
tạo, của chế độ Ngô tổng thống. Sau đó, Vi Kh. hỏi tôi về nhà báo,
tên Duy Khôi. Riêng với tên bạn này thì bất cứ đàn bà con gái nào mà
đi với anh ta rồi (mà nào anh ta có tha cho ai đâu) ít nhất cũng phải chịu
trận một cái hôn nhẹ. Rồi chống đối hay là giữ thủy chung với chồng
con, hãy giữ sau. Tôi biết chuyện về thằng bạn thân này; người yêu của
nó là nạn nhân của Ria Sâu Róm. Anh ta là ký giả của nhiều tờ báo có
tiếng tại thủ đô. Anh sắp cưới vợ. Một thiếu nữ miền Nam, ngoan và
đẹp. Duy Khôi quen khá thân với
bạn tôi. Một hôm, Duy Khôi đưa xe hơi đến nhà, nói với người vợ
chưa cưới của ký giả rằng: Trần Quân ở tòa báo bị xỉu, bất tỉnh.
Nàng vội lật đật ra đi theo Duy Khôi đến bệnh viện cấp cứu. Khi lên
xe hơi, Duy Khôi lại đưa nàng ra ngoại ô, thay vì vào bệnh viện. Tôi được nghe kể đến
đây, không hỏi thêm chuyện gì xảy ra sau đó. Nhưng chỉ biết nàng khóc
lóc vô kể, sau đó Trần Quân hủy đám cưới. Cũng chẳng ai thèm trách
Ria Sâu Róm một câu nào! Đến nay anh chưa lấy vợ. Hơn ba mươi. Trần Quân
nể bạn một phần, phần nữa là nể danh nhà văn lão thành là thân phụ
của Duy. Tôi chắc thế. Anh bạn ký giả của tôi rất kính mến cha của
Duy Khôi, chủ soái Hàn Thuyên. Tôi ăn uống vội vã
xin rút lui. Tôi bảo Huy ở lại với gia đình này rồi về sau. Tôi biết
chắc chắn rằng khi tôi ra đi rồi, Vi Kh. sẽ trở thành nạn nhân của chồng.
Nhưng Huy không ở lại mà cùng theo tôi ra phố. Người vợ bảo chồng
tiễn khách lên chợ. Chúng tôi lấy cớ đi xe hàng tiện hơn. Tôi rất cám
ơn về sự quý hóa của anh đối với chúng tôi, như
để che mắt sự nút rạn, tạo nhất trí gia đạo trong gia đình anh. Anh
chàng đeo kính trắng, chính nhìn rất thiển cận. Và khi anh chồng hỏi
tôi địa chỉ tôi ở lại trên Cao Nguyên, tôi nghĩ anh chàng này định áp
dụng thủ đoạn thường có trong tay, dùng bạo lực cao bồi khử trừ phần
tử nào nghịch với mình chăng? Như anh chàng vẫn áp dụng với trường lớp
tranh giành học sinh với trường khác. Với tôi cũng thế, cólẽ để trả
thù cho bõ ngày hôm nay chàng bị sao quả tạ chiếu. Tôi cũng chẳng ngại
gì, mà giấu diếm chàng. Tôi trả lời ngay: “Rằng nếu được anh
chị thăm, quả là hân hạnh cho tôi! Nếu người nhà nói tôi đi vắng, xin
anh chị cứ bước thẳng vào nhà. Đó là dấu hiệu cho người nhà biết
khách thân thuộc. Bởi có một lần, bọn cao bồi đến nhà tôi ở Dalat
hành hung tôi chỉ vì đêm trước, tôi mời cô vũ nữ đẹp nhất đi chơi
quanh hồ. Tôi đành chịu ra đòn. Nên từ đó người nhà bạn tôi sợ cảnh
máu me tái diễn; nhớ đến khi ai hỏi tôi, bất cứ ai, họ nói đại tôi
đi vắng. Và khách quen thì cứ vào nhà. Vì lần tôi bị máu me, những ba
anh cao bồi đánh hội chợ, một mình tôi chống chọi không nổi. Cuối
cùng tôi bị thương.” Đi ra ngoài lộ, tôi đã
hỏi ngay Huy, rằng anh có sợ bị thất nghiệp không? Anh ngạc nhiên, trả
lời chậm rãi là không. Cứ làm như anh sống nhờ vào trường ấy? Nếu
không, anh ta chết đói sao? Tôi giải thích với anh, sở dĩ tôi biết hậu
họa đến nên phải hỏi anh trước. Trong trường hợp cần thiết, tôi có
bổn phận báo anh em sửa soạn giờ trước cho anh dạy ở Sàigòn. Người
chồng nữ sĩ được hân hạnh mang danh của vợ kia là “anh Vi Kh.” (tôi
vẫn thường ám chỉ cách gọi danh vợ, cho người chồng của nữ sĩ nào
không danh tiếng tài ba bằng vợ, bằng cách thêm chữ “Anh” lên trên người
vợ) thế nào cũng có một sự cãi vã, hành hạ nhau. Kẻ chịu nhiều hậu
lụy lúc này, chính là tôi. Song tôi không còn ở lại Cao Nguyên bao lâu,
nên Huy phải nhận hậu quả thay. Huy vẫn coi thường chuyện này. Rồi anh
tự cho rằng người chồng nữ sĩ kia chẳng đổ tội cho anh được! Tôi bảo
anh, hãy chờ một thời gian nữa không lâu rồi anh hãy trả lời tôi dứt
khoát hơn. Bổn phận tôi phải báo tin cho anh biết, chuyện sẽ xảy đến.
Tôi im lặng rồi chúng tôi chia tay nhau. Hôm sau, bà cụ ngoại
đã hớt hải lên phố chợ Dalat kể lại tất chuyện cãi nhau của đôi vợ
chồng, sau khi chúng tôi ra về. Nguyên nhân của chuyện tình ngày cũ. Người
vợ bé nhỏ kia, nói với ông chồng rằng: “Mi bóc lột đời tau mười
năm. Nay tau không còn gì để không nói cho mi rõ.” Người chồng bảo giống
nghệ sĩ là giống đa tình. Chưa thấy trai mà cứ như rước nó vào nhà. Từ
nay cấm không cho thằng nào là nghệ sĩ gặp vợ nữa. Hành văn một cách
tục tằn là như vậy, nên bà cụ phải lên báo tin cho Huy rõ. Nếu chị ta
có tìm nhà văn gì, bảo ông ta đừng đi, đừng đến làm gì, vì chuyện
chẳng lành cho họ. Huy bảo tôi vậy. Lại nhận một cách gián tiếp rằng
người chồng nữ sĩ có trách Huy tại sao cho tôi gặp vợ chàng? Mà đúng
lý ra, chỉ nên gặp một mình người chồng thôi. Vợ anh nhiều đức tính
bốc đồng. Không nói ra thì Huy đã rõ rồi. Tôi mỉm cười trả lời
Huy, rằng tôi đã gọi điện thoại lại thăm Vi Kh. chiều nay tại nhà
hàng ca nhạc. Trước hết, tôi xin lỗi sự có mặt của tôi làm rộn gia
đình nàng. Và tôi cũng sẽ lại thăm chồng nàng. Lời xin lỗi tương tự.
Tôi rất ân hận, không ngờ tôi là một thứ cản trở, làm gia đình cãi
nhau. Huy nghe đến đây, nhẩy
lên như choi choi. Tôi cười, không đáp lời
anh là hỏi tôi “thật hay đùa?” Tôi bảo Huy, anh cứ điện thoại hỏi
thẳng Vi Kh.. Tôi nhớ số điện thoại của Vi Kh. rồi. Sáng hôm sau, tôi ra bến
xe về Sàigòn. Lần sau, lên nghỉ mát ở Cao Nguyên, tôi chẳng lại thăm
ai. Chuyện tình Người Đàn Bà Nữ Sĩ Dalat đang nhảy trên những dòng chữ đánh máy. Sau ngày đảo chánh
1963, báo chí được phép xuất bản nhiều tờ, trong số ấy có tên C.B.
Anh-Vi-Kh. là chủ bút một tạp chí Phụ Nữ rất nổi tiếng, thuộc vào loại
báo đàn chị của Sàigòn thanh lịch. * Đào quay sang bảo chú: “Mấy ông văn nghệ sĩ rắc rối lắm! Cháu chỉ thích yêu mà không như mẹ cháu đã yêu, rồi làm vợ bố cháu.” “Chú đồng ý với cháu hoàn toàn.” “Chú có nhiều kỷ niệm với Dalat. Chú có thể kể cho cháu nghe một chuyện nào khác không? Cháu sẽ không bắt chú kể nữa đâu, trừ một chuyện duy nhất này nữa cháu yêu cầu.” T3 nhớ lại chuyện thằng bạn nhiếp ảnh ở Dalat. Tên
nó, chẳng quan trọng bằng sự sống một
thời của nó. Là đàn em của một chính khách, sau đàn anh trở thành Bộ
trưởng Thông tin, người kế chức vụ của Tổng trưởng Thông tin Phạm
Xuân Thái vào cuối 1955 ở Sàigòn. Đổng lý văn phòng của Bộ trưởng là
Lê Khải Trạch. Đổng lý Đoàn Cù trong truyện, ngoài đời chính là tác
giả tập thơ Nhạc Dế và Tê Ba văn sĩ đội tên Thoa, thằng nhà báo mất
dạy. Trước khi kể cho Đào nghe, thâm tâm tôi cũng muốn cho Đào biết rằng
chỉ nên có cảm tình với chú, còn thực
tế muốn chú đóng vai bố cháu cưới con gái của kịch tác gia
kiêm Giám đốc nhà xuất bản lớn có hạng tiền chiến (Tân Dân), chú cũng đành không dám. Bởi
thế, Đào ạ, chú thật sự muốn hôn cháu, nhưng lại không dám... là vì
vậy. (Còn tiếp) [] |