1204-world.gif (4030 bytes)

posted: 07.12.04

            NHÂN QUYỀN KIỂU MỸ

Việt Thường

Giáo sư Amartya Sen, người đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1998, đã đặt một câu hỏi nóng bỏng cho toàn thế giới: Nhân quyền là điều được người khác cung cấp (cho ta) hay là điều (có sẵn trong ta) không ai có thể lấy đi được ? (something that must be provided, or something that simply cannot be taken away ?) (1) Từ cách tiếp cận lấy con người nhân văn làm hệ quy chiếu nầy, vấn đề nhân quyền, mà Mỹ đang sử dụng như một vũ khí văn hóa – chính trị, có thể được nhận diện một cách đích thực và chính xác hơn khi  nhìn từ quan điểm của giới lãnh đạo Mỹ.

Nếu quan hệ quốc tế được định tính và định lượng chủ yếu trong ba lãnh vực chính trị, kinh tế và quân sự, thì từ cuối thế kỷ thứ 20, Mỹ rõ ràng đã trở thành một siêu cường không có đối thủ, ít nhất là ở hai trong ba lãnh vực đó: Quân sự và Kinh tế. Mỹ trở thành một loại “độc cô cầu bại” trên vũ trường quốc tế. Vị trí áp đảo nầy đã cho các tổng thống Mỹ, từ Bush cha đến Clinton đến Bush con, những điều kiện và cơ hội thuận tiện để tiến hành một chính sách đại bá quyền mà không cần phải ngụy trang che đậy như trong quá khứ nữa.

Trước hết, về quân sự, Mỹ đã nỗ lực dàn quân trên khắp mặt địa cầu, có vùng trải quá mỏng đến độ nhiều khi chỉ để duy trì một hiện diện biểu tượng của sức mạnh vũ lực mà thôi. Theo thông tin của Bộ Quốc phòng Mỹ (2003), thì 5 binh chủng của quân đội Mỹ có hơn 6.000 căn cứ quân sự trong nội địa, 702 căn cứ tại 130 nước trên thế giới, và 12 hàng không mẫu hạm như những căn cứ lưu động tiền phương trên 5 đại dương.(2) Mỹ đã không ngần ngại sử dụng sức mạnh nầy, nhiều lúc đơn phương và luôn luôn bất chấp phản đối của cộng đồng thế giới. Thậm chí giới lãnh đạo Mỹ còn đưa ra những lý do dối trá để tìm hậu thuẫn chính trị trong nước hầu biện minh cho hành động xâm lăng thô bạo của mình. Thử kể một vài chiến trường nóng trong 15 năm vừa qua: 1989 Panama, 1991 Iran, 1992 Somalia, 1998 Sudan, 1998 Kosovo, 1999 Balkan, 2001 Afghanistan, và 2003 Iraq. Như vậy là bốn châu lục địa Âu, Á, Phi, Mỹ đều đã bị nếm mùi bom đạn của Mỹ.

Tiếp theo, về kinh tế, Mỹ tiến hành một chính sách “ba mũi giáp công”:

* Thứ nhất là củng cố hàng rào quan thuế, chính sách hối đoái và đặc biệt xây dựng những luật lệ có liên hệ đến Nội an (Homeland security), tạo ra rào chắn một chiều (protectionism) để bảo vệ nền kinh tế nội địa. Vụ kiện cá ba-sa của Việt Nam và vụ giới hạn khả năng cạnh tranh của Airbus trong thị trường không vận là hai trường hợp điển hình.

* Thứ nhì là khuyến khích và tạo điều kiện thuận tiện cho các đại tập đoàn tư bản Mỹ như CocaCola, Ford, IBM, Nike, ... cắm chốt những cơ sở sản xuất (offshore production) và thương mãi trên mọi nước, nhất là các nước đang phát triển như Trung quốc, Ấn Độ, Việt Nam, các nước Đông Âu củ, và tại Nam Mỹ. Chánh sách cắm chốt nầy nhằm gia tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm (nhờ nhân công và nguyên liệu rẻ) khi thâm nhập vào các thị trường mới. Nhưng đó là “diện”, còn “điểm” là tạo ra một nền văn hóa tiêu thụ Made in USA sâu rộng và bền vững, một tâm lý “trọng Mỹ vọng Mỹ ” trong giới tiêu thụ bản địa.  

* Và thứ ba là khuynh loát những định chế tài chánh và tiền tệ quốc tế, đặc biệt trong hai lãnh vực tín dụng và viện trợ, như Tổ chức Thương mãi Quốc tế (WTO), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), và ngay cả các định chế nhỏ và địa bàn hoạt động Vùng như Ngân hàng Phát triển Á châu (ADB), Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), ... để áp đặt luật chơi “Toàn Cầu hóa” có lợi cho Mỹ (như luật lao động về trẻ em, luật bảo vệ môi trường sinh thái, mở rộng thị trường nội địa, ISO, ITAR, NADCAP...), đồng thời làm suy kiệt khả năng hoàn trái của các quốc gia mà nợ, dù lãi suất cho vay thấp, thì cũng càng ngày càng chồng chất.

Tất cả chỉ để làm cho các nước nầy sống trong một sự phồn thịnh giả tạo, bị trói tay trên vũ đài giao thương, và lúc nào trên đầu cũng lủng lẳng một thanh gươm áp lực nợ nần. Hệ quả là các nước nầy phải phụ thuộc vào Mỹ nhiều hơn, không những về mặt kinh tế mà còn các lãnh vực khác mà Mỹ đang cần như chống khủng bố toàn cầu, can thiệp vào nội tình một nước, bao vây kinh tế, thay đổi chế độ, ủng hộ chiến tranh, bầu bán các nghị quyết tại Liên Hiệp quốc, v.v...

Khác với phong trào thực dân trong hai thế kỷ 19 và 20 với đế quốc Anh chiếm Ấn Độ, thực dân Pháp đô hộ Việt Nam, quốc xã Đức chiếm đóng Ba Lan, Mỹ của thế kỷ 21 không cần chiếm cứ đất đai để xây dựng một bộ máy hành chánh thuộc địa dưới họng súng nữa. Ngày nay, Mỹ chỉ cần là một con cọp quân sự và kinh tế thật, rồi từ xa, rót những trái đạn đại pháo chính trị và văn hóa Made in USA vào quốc gia thù nghịch. Song song và sau đó, đào tạo và xúi giục một lực lượng tay sai bản xứ, có ý thức hay vô thức, để làm tròn nhiệm vụ của một đạo quân thứ Năm vô hình vô tướng, nhưng lại có vũ khí và được lãnh đạo.

Trong chiến lược nầy, Mỹ đã, đang và sẽ sử dụng chiêu bài Dân chủ và Nhân quyền, nhất là quyền tự do tôn giáo. Dân chủ là để đánh vào chế độ chính trị và quyền lực lãnh đạo, Nhân quyền là để đánh vào cấu trúc tổ chức xã hội. Tất cả để phục vụ một motto: “Thế giới phải tự do kiểu Mỹ, phải dân chủ kiểu Mỹ, phải có giá trị đạo đức trên cơ sở Thiên Chúa giáo kiểu Mỹ”. Và một ông Tổng thống Mỹ, ngồi ở Tòa Bạch cung, sẽ là Ngọc hoàng Thượng đế của toàn nhân loại.

Tuy nhiên, hiện nay, vì thái độ chính trị ngạo mạn và hành động quân sự hung bạo của quân đội Mỹ cũng như doanh gia Mỹ, hai mũi nhọn Tự do kiểu MỹDân chủ kiểu Mỹ chưa đạt được hiệu quả như những chiến lược gia Hữu-khuynh-Thiên-Chúa-giáo-Tân-Bảo-thủ (Right wing Christian Neo-conservatist) trù hoạch.   

Kế hoạch nầy đã thất bại ở Nam Mỹ (với sự đắc cử của những đãng thiên tả tại Argentina, Brazil, Chile, Venezuela), ở châu Á (với chính sách ngoại giao không thân Mỹ của Ấn Độ, Trung quốc, Bắc Hàn, Miến Điện), và ngay cả ở vùng Vịnh. Một trường hợp điển hình để nói lên sự thất bại đó: Khi chưa đến 3.000 thường dân Mỹ vô tội bị chết trong hai tòa cao ốc của Trung tâm Thương mãi Thế giới tại New York, thì Tổng thống Bush huy động cả nước tung quân đánh chiếm Iraq, lật đổ chế độ và bắt giam Sadam Hussein. Nhưng đồng thời, quân đội Mỹ cũng đã giết chết 100.000 thường dân Iraq vô tội (3), mà tuyệt đại đa số là những người dân nghèo không từng dan díu gì đến chính quyền Sadam và lại càng không liên quan gì đến Osama Bin Ladin cả. Lịch sử Irak, Dân tộc Irak và con cháu họ sẽ nghỉ gì về tội ác thảm sát thường dân vô tội hàng loạt nầy của Mỹ ? Sẽ phản ứng như thế nào trước nền văn hóa đã đào tạo ra những quân nhân đầy thú tính nầy của Mỹ, mà  những hình ảnh man rợ của nhà tù Abu Ghraib là biểu tượng ô nhục không bao giờ phai mờ?  

Chính vì hiệu quả bất cập của hai chiêu bài nầy mà trong những năm gần đây, Mỹ đã chuyển thế và tỏ ra hung hăng hơn trên chiêu bài thứ ba: Nhân quyền, trong đó, tự do tôn giáo là ngọn giáo xung kích. Thật ra, chính quyền Mỹ chỉ hiện đại hóa một sách lược củ của thực dân Pháp, một sách lược đã thành công ít nhất trong gần 120 năm liền trên đất nước Việt Nam. Thật vậy, ngày 31 tháng 8 năm 1858, Đề đốc Rigault de Genouilly đã tấn công cửa khẩu Đà Nẳng vì Việt Nam “cứ đàn áp những người truyền giáo” nên “Cuộc viễn chinh Đà Nẳng vì thế mang tính cách chủ yếu là tôn giáo(4) chính thức mở đầu cuộc xâm lăng quân sự tại Việt Nam...Một thế kỷ rưởi sau, vào ngày 15 tháng 9 năm 2004, Bộ Ngoại giao Mỹ đệ trình Quốc hội Báo cáo về Tự do Tôn giáo để tố cáo Việt Nam (và bảy quốc gia mà đa số dân chúng không theo Thiên Chúa giáo là Miến Điện, Trung Quốc, Eritrea, Iran, Bắc Hàn, Saudi Arabia và Sudan) vi phạm quyền tự do tôn giáo.

Một nghị sĩ Mỹ gốc Do Thái, ông Joseph Liebermann, đã tuyên bố rằng “Nước Mỹ của chúng ta đã được Chúa chọn và được Chúa ủy nhiệm để làm gương mẫu cho cả thế giới(5). Nghĩa là cả thế giới sẽ phải giống như Phi Luật Tân (một thuộc địa củ của Mỹ) với chế độ Tổng thống chế như Mỹ, quân đội được huấn luyện và sử dụng vũ khí quân trang như Mỹ, một ngày lễ Độc lập Quốc gia 4 tháng 7 giống như Mỹ, sử dụng một ngôn ngữ có đệm thêm 65% tiếng Mỹ, và cuồng nhiệt tin vào một Chúa ở trên trời như Mỹ.  

Trong khi tố cáo Việt Nam như vậy thì chính quyền Mỹ có vi phạm nhân quyền không ?

Với chiêu bài “chiến tranh toàn cầu chống khủng bố vì an ninh quốc gia” (global war on terrorism for national security), một cuộc chiến tranh không bao giờ chấm dứt vì trên thế giới không bao giờ hết khủng bố, Mỹ đã bán chính thức ban hành một tình trạng khẩn cấp thường trực trên toàn thế giới (a global and permanent state of emergency), để căn cứ vào đó mà vi phạm nặng nề và có hệ thống những quyền tự do căn bản được ghi ngay trong chính Hiến pháp của họ.

Luật Ái quốc (Patriot Act) chính thức cho phép Bộ Tư pháp Mỹ theo dõi, bắt giam, và lấy khẩu cung vô hạn định những người chỉ mới bị tình nghi mà không cần bằng chứng, và dĩ nhiên là chẳng cần trát tòa. Một phó sản quái thai của Luật Ái quốc nầy là trại giam quân sự Guantanamo của Mỹ ở Cuba. Đây là một thảm kịch, một vết nhơ, một nỗi nhục trong lịch sử nhân quyền của thế kỷ 21: Chính quyền một nước (Mỹ) có thể bắt cóc hay bắt giam công dân của bất kỳ nước nào trên quả địa cầu nầy (Mã Lai hay Algerie chẳng hạn), đem về tống giam ở Guantanamo là một mảnh đất cưỡng chiếm bất hợp pháp của nước khác (Cuba) mà không cần thông báo hay xin phép ai cả. Người bị bắt giam không biết mình bị tội gì, không được tiếp xúc với bên ngoài, và không biết khi nào và ai sẽ xét xử mình. Do đó mà ngày nào Luật Ái quốc còn đó, nhà tù Guantanamo còn đó, thì chính quyền Mỹ không có cơ sở công pháp quốc tế, lại càng không có tư cách văn hóa và đạo đức, để mở miệng phê phán tình trạng nhân quyền ở bất kỳ nước nào khác.

Thật ra thì ngay từ trước biến cố 11/9/2001, tình trạng tự do tôn giáo tại Mỹ đã không lấy gì làm đẹp. Tại vì đó là thứ tự do hỗn loạn của những Mục sư Tin Lành làm “phép lạ” chửa bệnh ung thư trên TV để lừa bịp tín đồ, hay thứ tự do tội ác của những Linh Mục Công giáo hãm hiếp trẻ vị thành niên rồi được Vatican chạy tiền để khỏi đi tù. Đầu năm 1998, sau hai tuần làm việc để tìm hiểu tình hình, ông Abdelfattah Armor của Liên Hiệp quốc đã báo cáo như sau: Nói chung thì có vẽ có tự do, và Hiến pháp Mỹ cũng đã xác định rõ ràng. Nhưng luật pháp không được áp dụng chặt chẽ, và nội dung giáo dục cần phải nhấn mạnh hơn về tinh thần khoan dung trong tôn giáo. Điểm nổi bật là tình trạng đối xử bất công với những người theo đạo Hồi (vì lý do an ninh) và người Mỹ gốc thổ dân da đỏ (vì lý do lịch sử) (6).

Nếu vì lý do an ninh và lịch sử mà Mỹ đã không thể tôn trọng và thực thi hoàn toàn quyền tự do tôn giáo được ghi trong Hiến pháp, ngược lại nhiều khi còn thô bạo đàn áp các thành phần công dân nầy,  thì chính quyền Mỹ đáng lẽ cũng phải hiểu rõ hơn ai hết chính sách tôn giáo của Việt Nam: Lạm dụng quyền tự do tôn giáo để làm tay sai phản lại dân tộc và tổ quốc thì không thể chấp nhận được, phải bị trừng phạt đích đáng.

Lịch sử cận đại Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn tiếp xúc với các cường qước phương Tây, cho thấy yếu tố tôn giáo đã đóng một vai trò chủ động trong quá trình Tây phương xâm lăng, thống trị và đặc biệt vong-thân-hóa người Việt một cách tinh vi và hiệu quả như thế nào. Qua văn hóa (thay chữ Nôm bằng chữ Latinh để chặt đứt con đường tìm về cội nguồn văn minh), qua truyền thống (thờ Chúa Do Thái thay vì thờ anh hùng liệt nữ tổ tiên ông bà), qua giáo dục (với một nội dung trọng vọng run sợ trước học thuật nước ngoài), ... Bây giờ thì Mỹ cũng thế thôi, chỉ tinh vi hơn, hiệu quả hơn, và có nhiều “thí sinh” sẵn sàng tình nguyện làm tay sai hơn. Cho nên Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã tuyên bố thẳng thừng rằng “sẽ không nói chuyện về đề tài tự do tôn giáo trong các cuộc đàm phán song phương với Mỹ(7). Và mới đây nhất, sau cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11 năm 2004, một người Mỹ đã tuyệt vọng than rằng “Chính những người bảo thủ có đạo sẽ quyết định chúng ta sống như thế nào. Đồng bào ơi, hãy dóng lên hồi chuông báo tử: Dân chủ đã chết ở Mỹ rồi” (Religious conservatives will dictate how we live our lives. Toll the bells, my fellow citizens: Democracy is dead in America) (8).

Dân tộc Việt Nam đã chứng tỏ trong suốt quá trình giữ nước và dựng nước rằng đại bộ phận dân ta không thua ai về quân sự và chính trị, lại càng không thua ai trên mặt trận văn hóa, cho nên cuối cùng, ngọn giáo gọi là “Nhân quyền” của Mỹ, dù biến hóa kiểu nào, rồi cũng sẽ bị bẻ gãy thôi.

Chỉ còn lại hai vấn đề rất lớn: Quốc nạn Tham nhũng cực độc đang từng bước tiêu hủy cái cột trụ cơ bản nhất chống đỡ ngôi nhà quốc gia là nhân dân của chính quốc gia đó. Và Niềm Tự hào Dân tộc đang phai nhạt dần trước ảo giác hào nhoáng của các nền văn minh ngoại nhập Tây phương. Đó là hai vấn đề nội sinh của nước ta, vì nước ta, cho nước ta, chứ không phải của, vì, cho ai khác.

Để chống tham nhũng và khơi dậy lại được niềm tự hào dân tộc thì trước hết phải thật sự yêu nước, nghĩa là yêu lịch sử, yêu văn hóa, yêu mảnh đất, yêu con người Việt Nam. Không hiểu cặn kẽ, yêu thiết tha, và bảo vệ đến cùng bốn thuộc tính nầy của Tổ quốc thì chống tham nhũng làm gì, và tự hào về dân tộc nào đây ? Gần một thế kỷ trước, cụ Phan Bội Châu đã nhắn nhủ một cách mộc mạc và chân thành nhưng lại sâu sắc và sống động về Lòng Ái quốc như sau (9):

             Ái cốt ở lòng, ái không ở miệng
             Người ái quốc miệng, bán tiếng mua danh
             Dối người dối mình, trộm nhân trộm nghĩa
             Ái mà ái thế, không ái còn hơn
 
và lời kêu gọi của cụ vẫn còn giá trị hiện thực cháy bỏng cho chúng ta hôm nay:
 
             Nhiều tay xúm lại, cơ nghiệp nước mình
             Mừng mẹ tái sinh, thỏa lòng con cái
             Thề cùng sông núi giữ tấm lòng ngay
             Ái quốc ai đây ? Thiên văn ghi tạc
           
            Việt Thường
            California, 12-2004

Cước chú:

(1)                 http://en.wikipedia.org/wiki/Amartya_Sen

(2)                 Chalmers Johnson, The Sorrows of Empire: Militarism, Secrecy, and the End of the Republic, nxb Metropolitan.

(3)                 Rick McDowell & Mary Trotochaud, Humanitarian Aid is a Casualty in Iraq, Christian Sciences Monitor, số phát hành ngày 23-11-2004.

(4)                 Cao Huy Thuần, Đạo Thiên Chúa và Chủ nghĩa Thực dân tại Việt Nam, trang 84 và 86, nxb Hương Quê, 1996.

(5)                 Richard Cohen, God’s Country, Washington Post, số phát hành ngày 6-9-2000.

(6)                 http://www.religioustolerance.org/un_int02.htm

(7)                 Nhật báo The Guardian (Anh quốc), số ra ngày 14-6-2000.

(8)                 Adam Michael Rosenberg, trong mục Letters, tiểu mục Counting All the Moral Votes, tuần báo Time, số ra ngày 6-12-2004.

(9)                 Phan Bội Châu, Giác Quần Thư, trang 13, nxb Hội Thân hữu Đại học Huế, 1990.

 

     


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com