1005-gd.gif (6609 bytes)
posted: 04.10.2005
Web Giao Điểm: Chiều dài lịch sử của cách mạng ‘quốc tế vô sản’ thế giới có lúc nhảy vọt, có lúc thoái trào; và ở một giai đoạn lịch sử nào đó, biến thể. Một thí dụ về sự biến thể như hiện nay -là một dấu hỏi mà các học giả Mỹ đang nêu vấn đề là tại sao nhóm ‘tân-bảo-thủ’ Mỹ (neo-cons) từ ảnh hưởng của Mác-xít, xã hội chủ nghĩa biến thành những người cực hữu, hiếu chiến?  Tiến trình của lịch sử cách mạng Việt Nam có thể chịu tác động của lịch sử cách mạng thế giới? Trong chiều hướng “nghiên cứu lịch sử”, nằm ngoài biên độ chính trị, web GĐ giới thiệu “Phong trào quốc gia và tranh đấu giai cấp ở VN” của Anh Văn và Jackeline Roussel qua bản dịch của Hà Cương Nghị và Đỗ Văn Bản. Đây là bài thứ nhất trong loạt bài của bản dịch này.   
 
Phong Trào Quốc gia Và Tranh đấu Giai cấp ở Việt Nam
ANH VĂN JACKELINE ROUSSEL
 
.Hà Cương NghịĐỗ Văn Bái dịch

THAY LỜI TỰA

Phàm đứng trước một phong trào quần chúng hay cuộc cách mạng nổi dậy, muốn nhìn sự biến chuyển hay viễn đích của nó, chúng ta phải nhận xét tính chất xã hội, nghĩa là tính chất giai cấp của nó như thế nào? Đó là vấn đề quan trọng nhứt để định rõ vai trò của mỗi giai cấp đặng có một thái độ và phương hướng tranh đấu.

Cuộc cách mạng Việt Nam khởi đầu từ 1945. Song cho tới hiện nay, trong hàng ngũ Việt Minh điều khiển cuộc kháng chiến, chưa có một tài liệu nào khảo cứu xác đáng về phương diện này cả.

Phải chăng là cuộc cách mạng Dân chủ Tư sản đồng tính với cách mạng Pháp 1789?

Phải chăng là cuộc cách mạng Vô sản tương tự như cách mạng Nga 1917?

Giai cấp nào, đứng trên phương diện lịch sử, có vai trò cách mạng?

Những lãnh tụ cộng sản Xitalinien điều kiển phong trào Việt minh vẫn không đem lại câu trả lời rõ nét. Họ nấp sau lưng những tiếng “Đại đoàn kết”, “Mặt trận Dân tộc” để che đậy thiếu thốn sâu xa về lý tưởng cách mạng. Họ không có phương hướng nhất định. Năm 1945 họ tự động giải tán Đông dương Cộng sản Đảng lấy cớ vì quyền lợi giải phóng quốc gia. Thái độ ấy có nghĩa không công nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp Vô sản trong cuộc cách mạng. Ngày nay, tuy rằng cuộc giải phóng quốc gia chưa chấm hết, trái lại, ở vào giai đoạn gay gắt hơn, họ lại tái lập Đông dương Cộng sản đảng. Trong một tài liệu vừa phát hành. Lãnh tụ Trường Chinh cố nhấn mạnh vào vai trò của giai cấp Vô sản, tuy nhiên tư tưởng ấy của Trường Chinh vẫn còn chứa đựng đầy những mâu thuẫn do lý thuyết Xitaliniêng bao phủ.

Người ta nói đó là một chiến thuật tối linh, lấy cớ nó đã đem lại “kết quả”!

Nhưng người ta quên rằng chiến thuật tối linh đó chẳng qua chỉ là một hành động do chính sách đại cương của quan chế Nga trong thời kì đó chỉ định. Nó che mắt quần chúng không cho họ nhận định rõ phương hướng và viễn đồ cách mạng! Nó kìm hãm biết bao khả năng cách mạng hùng hậu của quần chúng! Nó đã hạn chế biết bao sự tiến triển của phjong trào đáng lẽ vượt tới một trình độ cao hơn và mạnh mẽ hơn!

Sự nhận định vai trò lịch sử của một giai cấp không phải là một “mánh lới” hay “chiến thuật” như người ta tưởng. Trái lại nó là vấn đề “viễn đồ và chiến lược” cách mạng, vấn đề căn bản để nhận xét và tranh đấu cho cuộc tiếnhoá của xã hội. Sự thành lập một đảng Vô sản không phải do sự thuận lợi thời cơ, hay do chính sách xoay chiều đổi hướng của điện (Kremlin) Cờremlanh, nhưng là do điều kiện khách quan hiện hữu của xã hội, do tương quan xã hội và tương quan giai cấp trong một xứ và trên thế giới.

Từ bao nhiêu năm nay, Đệ Tứ Quốc tế đã nhấn mạnh vào vai trò lịch sử của giai cấp Vô sản và chủ trương thiết lập ở việt Nam một đảng Vô sản chân chính, có một chương trình, một viễn đồ xác thực, vận động năng lực của Vô sản liên kết với các tầng lớp nông dân nghèo khổ cùng dân chúng bị áp bức, đặng đem cuộc cách mạng tới chỗ toàn thắng. Căn cứ vào lý thuyết cách mạng thường của Trotski, Đảng Cộng sản Đệ Tứ Quốc tế nhận định cách mạng Việt Nam không thể ngừng ở giai đoạn “Dân chủ Tư sản”, nhưng nó phải phát triển thường trực từ tính chất Dân chủ Tư sản đến tính chất “xã hội chủ nghĩa”.

Vì sao cuộc cách mạng giải phóng Viêt Nam phải biến chuyển thường trực tới cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa? Vì sao Vô sản Việt Nam cần phải có một chính đảng để lãnh đạo cách mạng?

Cuốn sách này sẽ đem lại câu trả lời xác đáng.

Bạn đọc sẽ thấy những đoạn khảo cứu xã hội Việt Nam, trước và sau thời kì Pháp đô hộ, tương quan xã hội và tương quan giai cấp trong những thời kì đó, cùng những sự biến đổi sâu xa trải qua 80 năm cai trị của đé quốc Pháp.

Bạn đọc sẽ thấy những đoạn nghiên cứu về các phong trào quốc gia phản đế, từ đám Văn Thân cho tới lớp Tư sản và tiểu Tư sản. Những lớp người này tiếp nhau đóng những vai trò quan trọng, nhưng rốt cuộc, hoặc thất bại, hoặc quay ra đầu hàng đế quốc. Chỉ vì họ thiếu một lý tưởng, thiếu một chương trình, thiếu một viễn đồ cách mạng. Kế tiếp những giai cấp đó là những giai cấp Vô sản và nông dân nghèo, nghiễm nhiên trở nên một động lực căn bản cho cuộc đấu tranh chống đế quốc chủ nghĩa.

Một xứ kinh tế lạc hậu như việt Nam, Vô sản đứng trên nhân số thì rất ít, thế mà xuất hiện những đảng như đảng Đông Dương Cộng sản đảng và Nhóm Đệ Tứ Quốc tế, là hai tổ chức vô sản choán hết cả sân khấu chính trị, điều ấy cũng chứng tỏ vai trò quan trọng và trọng lực mạnh mẽ của giai cấp Vô sản thế nào?

Chúng tôi mong bạn đọc chú ý, cuốn sách này uất bản bằng tiếng Pháp năm 1947, vào giai đoạn những lãnh tụ Xitaliniêng đã giải tán Đông Dương Cộng sản Đảng, và Việt Minh chủ trương hoà hoãn với Đế quốc Pháp, tuyên truyền “Liên hiệp Pháp”, “nước pháp mới”, “quyền lợi tối cao của quốc gia”.v.v. Bản dịch quốc văn đáng nhẽ ra mắt các bạn từ 3 năm nay, nhưng trong thời kì anh em Công binh (1)[1] bị khủng bố và bị bắt về xứ, chúng tôi để thất lạc, mãi tới gần đây chúng tôi mới chủ trương dịch lại. Từ 1947 đến nay đã có nhiều sự thay đổi trong hình hình tại Việt Nam và tình hình thế giới, như căn bản đại cương nó vẫn giữ nghyên vẹn giá trị và vẫn xứng đáng được coi là cuốn sách quý.

Hiện nay chính các lãnh tụ Đông Dương Cộng sản đảng do thời cuộc thúc đẩy đã chuyển theo một phuơng hướng khác với đường lối mà họ tin tưởng trước đây. Nhưng xét về căn bản, họ vẫn còn những quan niệm rất mâu thuẫn và không rõ rệt về tính chất giai cấp và quá trình biến chuyển của cách mạng.

Lý thuyết và hành động của những lãnh tụ Đông Dương Cộng sản đảng đại cương vẫn còn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Xitalinniêng do quan chế Nga phát sinh. Ngà nào mà họ chưa đoạn tuyệt với chủ nghĩa đó, ngày nào mà chưa có thái độ tự lập với chính sách của Kremlin và tự khởi thảo một phương hướng cách mạng căn cứ vào động lực của phong trào quần chúng, ngày ấy cách mạng Việt Nam ở trong tay họ điều khiển vẫn còn bị giam hãm, không thể tiến theo đường lối cách mạng và sau cùng sẽ bị hủy hoại.

Vấn đề cần thiết là phải vạch rõ những lỗi lầm ấy của họ, vạch rõ vai trò lịch sử của gai cấp Vô sản, định rõ phương hướng và viễn đồ cách mạng.

Với hành động ấy đảng Cộng sản Đệ Tứ mang ra một lập trường rõ rệt xác thực, lien hiệp hết thảy mọi phần tử cách mạng cùng nhau kiến thiết một chính đảng chân chính của Vô sản có nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng, giải phóng quốc gia tới cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Cuốn sách sau đây, tuy không được đầy đủ, nhưng cũng giúp chúng ta một phần trong công cuộc lớn lao ấy.

Tháng 5 năm 1951.

Hà-Cương-Nghị.

LỜI NÓI ĐẦU

Thời kì cách mạng nổi dậy ở các xứ thuộc địa

Sự đô hộ của đế quốc ở những xứ thuộc địa làm ngăn cản sự tự do phát triển của nền kinh tế những xứ đó. Bởi vậy, phá tan nó đi, tức là buớc đầu của cuộc cách mạng ở thuộc địa; bởi vậy giúp dân thuộc địa giải phóng, sự thật, không phải al2 giúp cho phong trào quốc gia trưởng giả bản xứ, nhưng chính là mở đường để giải phóng cho Vô sản những xứ đó.”

Đai Hội Nghị Lần Thứ Hai Của Quốc Tế Cộng sản (1920).

Cuộc chiến tranh đế quốc lần thứ hai vừa chấm dứt thì ở xứ Đông Dương và Nam Dương quần đảo, phong trào giải phóng quốc gia bùng dậy một cách   cực kì mạnh mẽ.

Ở khắp nơi, Diến diện, Ấn Dộ, Đài Loan, Cận Đông, Bắc Phi châu lò lửa cách mạng đang nung nấu. Ngay như ở miền Mọi Đen (Afrique Noire) dân chúng cũng đã thức tỉnh. Nguyên nhân của cuộc chấn động này vì sau trận Thế chiến vừa qua các Đế quốc thực dân cùng bị liệt nhược và đồng thời trình độ tự giác của quần chúng thuộc địa lên cao.

Chiến tranh đã vạch rõ sức yếu nhược của đế quốc Pháp, chiến tranh đã làm cho quần chúng thuộc địa thấy rằng đế quốc Anh một ngày kia cũng phải tan tành, và những tiểu quốc tư bản như Bỉ, Hà Lan.v.v.thì lại càng không có địa vị gì trên bàn cờ Âu châu và thế giới. Chiến tranh đã làm mất dần thanh thế của chính quốc: Dân chúng thuộc địa, dầu cho hậu tiến đến đâu, cũng hiểu được cái sức mạnh của ông chủ đế quốc không phải là vĩnh viễn, mãi mãi, cái sức mạnh ấy có thể tìm cách phá tan nó đi được.

Xem đó ta có cắt nghĩa vì sao đám dân chúng nghèo khổ ở Á đông và Phi châu bỗng hiên xuất hiện trên sân khấu của lịch sử. Phong trào cách mạng ở thuộc địa khôg phải là một sự ngẫu nhiên, nó không phải nhờ cuộc chiến tranh này mới có. Chiến tranh chỉ là thôi thúc cho nó nhanh chóng mà thôiNhữn glối bóc lột tàn bạo mà dân thuộc địa phải chịu, những thay đổi lớn trong nền tảng kinh tế và xã hội do cuộc đô hộ đế quốc gây ra, tất cả những điều ấy đã gây cơ sở, nung đúc cho phong trào giải phóng thuộc địa. Mặt khác có thể nói rằng cuộc nổi dậy hiện nay của dân thuộc địa mới chỉ là giai đoạn mở đầu. Trong một thời gian gần, nó sẽ phải đi xa hơn, thích cánh với phong trào cách mạng của Vô sản thế giới.  Cách mạng Vô sản thế gới thế nào cũng phải xay đến, vì chế độ tư bản đã lâm vào thời kì mục nát, suy đồi, bất lực để giải quyết những vấn đề cần kíp cho xã hội, để giải quyết vấn đề khó khăn do cuộc chiến tranh vừa qua gây ra. Trong gai đoạn khủng hoảng hiện thời của tư bản, thời kì cách mạng của những xứ thuộc địa mở đầu.

Không ai có thể cãi được tính quan trọng của nó vì sự đô hộ thuộc địa là một trong những điều kiện sống còn của các nước tư bản đế quốc. Một tay viết báo trưởng giả thốt ra rằng cuộc đô hộ của chính quốc đang lâm nguy, hiện nay không biết người ta dung danh từ gì để gọi cái mà ngày xưa đội tên là “đế quốc Pháp”. Câu nói ấy chứng tỏ rằng thành trì của đế quốc đã bị sứt mẻ.

Sụ hung tàn và bạo ngược của đế quốc trong mấy mươi năm hay đến cả mấy thế kỉ vừa qua cho ta hiểu cái mãnh lực và sự táo bạo của phong trào quần chúng thuộc địa hiện nay: Quần chúng thấy hé mở một tia sáng tự do là nhẩy liền vào cuộc chiến đấu, đầy lòng dũng cảm và chí hi sinh. Thế mới biết sự khao khát được giải phóng của họ mạnh mẽ dường nào! Song lòng  dũng cảm và chí hi sinh ấy cũng chưa đủ để đưa đến một kết quả hoàn toàn. Quả vậy, sau trận giặc này, chưa một phong trào giải phóng nào ở các xứ thuộc địa đã đi tới được mục đích. Nó chỉ thực hiện được một vài điều nhỏ trong một giới hạn hẹp hòi thôi. Giới hạn ấy vì đâu mà có, có thể vuợt qua được hăng, cuộc chiến đấu hiện tại sẽ đi đến đâu, tương lai sẽ ra sao, tính chất của phong trào thế nào, sẽ bành trướng tới đâu là hết…Đó là câu hỏi ta phải trả lời mỗi khi ta quay nhìn về phía Á đông, nơi nhựng cuộc cách mạng đang sục sôi, hay khi ta nhìn về phía Phi châu, nơi đang nung đúc những phong trào tranh đấu.

Vì phong trào bị lẻ loi, vì thiếu hẳn những cuộc cách mạng Vô sản trong những xứ tiền tiến, đó là những ngyuên nhân quan trọng đã làm cho cuộc cách mạng Việt Nam và Nam Dương bị hạn chế. Nhưng đó không phải là nguyên nhân độc nhất. Còn những nguyên nhân khác nữa cũng rất quan trọng về nội dung của phong trào, là nguyên nhân chính trị. Phong trào ở hai xứ Việt Nam và Nam Dương quần đảo đã thiếu hẳn một hàng tiền đạo cách mạng biết nhận định xác đáng bản tính của cuộc cách mạng, và tìm ra những chuẩn đích cần thiết phải đạt được.

Ở Việt Nam, Nam Dương cũng như các xứ thuộc địa khác, kinh nghiệm tranh đấu cho ta thấy rằng cần phải có một hàng ngũ tiền phong cách mạng, cần phải có một chính đảng mạnh mẽ của Vô sản biết nhận định thời cuộc và giải quyết những nhiệm vụ phải thực hiện. Đảng Cộng sản Đệ Tứ Quốc tế trước hết chú trọng đến việc đào tạo một lớp cán bộ cách mạng, lựa lọc ra những người cầm đầu xứng đáng để điều khiển cách mạng. Muốn vậy, công việc làm phải sát cạnh quần chúng, phấn đấu với quần chúng…Nhưng như vậy cĩng chưa đủ, cấn phải có quan niệm xác đáng về mọi vấn đề, tìm cách giải quyết cho thích hợp với điều kiện đặc biệt của từng xứ. Đông Dương hiện nay mới ở giai đoạn đầu của cuộc đấu tranh giải phóng; dầu đế quốc Pháp tạm đẩy lùi được cuộc đấu tranh giải phóng – mà đã chắc gì - dầu rằng chính sách nhượng bộ và cộng tác giai cấp của phái Xitaliniêng trong việt Minh đã ngăn cản nổi sức mạnh nổi sức thúc đẩy cua quần chúng cách mạng. Dầu sao mặc lòng, cuộc cách mạng ở Việt Nam sẽ bùng dậy nhờ có những cuộc cách mạng ở Á đông và hoàn cầu sẽ xảy đến không xa.

Một viễn đồ rộng rãi sẽ bày ra trước mắt Vô sản Việt Nam. Vậy nên, giải thích rõ rang cách mạng cho quần chúng biết, vạch trần những lý thuyết mờ ám, lộn xộn của những hạng cầm đầu quần chúng như phái Xitaliniêng chẳng hạn, đã chủ trương giam hãm quần chúng, đó là điều tối quan trọng cho tương lai Việt Nam.

Mục đích cuốn sách này muốn vạch ra một con đường chân chính độc nhất đem tới nền độc lập, và phân giải tính chất đấu tranh của phong trào cách mạng Việt Nam.

Với những phương pháp nói trên, với sức tranh đấu hàng ngày của những chiến sĩ của đảng, đảng Cộng sản Đệ Tứ đem tài liệu này chung góp vào phong trào giải phóng của quần chúng Viêt Nam. Cuốn sách này chỉ khảo cứu tổng quát chính trị và xã hội Việt Nam tới thời kỳ chiến tranh vừa qua. Chúng tôi sẽ sưu tầm tài liệu để tổng kê cuộc tranh đấu xẩy ra từ năm 1945.

CHƯƠNG I

Vấn đề Việt Nam Trước Thời Pháp Thuộc

Khào sát qua tình hình chính trị và xã hội Việt Nam trước hồi Pháp thuộc không phải là một việc vô ích. Làm việc này chúng tôi không có mục đích sưu tầm suông để làm mất thì giờ của mấy nhà trí thức, nhưng là một sự cần thiết phải làm về phương diện chính trị. Quả vậy, những tay thuyết lý quốc gia mà ngày nay phái Xitaliniêng đang theo gót cốt biện bạch cho cái thuyết Liên hiệp quốc gia cùng cộng tác giai cấp của họ. Những tay thuyết lý quốc gia ấy thường luôn mồm ca tụng xứ Việt Nam xưa kia là một xứ không giai cấp. Như vậy họ có câu kết luận rất dễ dàng: Giành độc lập đã – dù là độc lập cái vỏ - rồi thì tất cả mọi vấn đề xã hội cần được thực hiện sẽ tự nhiên giải quyết. Cái lối nhận xét xu thời ấy không có căn bản gì cả và không thể đứng vững được trước một khảo sát tường tận về lịch sử Việt Nam.

Trần Đức Thảo, một nhân viên của Tổng Ủy ban Đại diện Việt Nam ở Pháp, trong bài viết đăng báo “Temps Moderne” (Thời Mới) ra ngày 1 tháng Hai 1945, cũng giải thích một cách thiển cận cái quan niệm quốc gia tiểu trưởng giả đó. Muốn kết án chính sách thuộc địa của Pháp, Thảo tìm ra những lý lẽ rất trẻ con để ca tụng xã hội Việt Nam trước thời Pháp thuộc. Anh ta mô tả nước việt Nam xưa như một xã hội tuyệt vời. Độc giả cần phải đọc cả bài báo đó mới thấy ông Thạc sĩ đó đã ca tụng một cách phiếm sáo như thế nào? Ta không ngờ một tay học thức khá cao mà trình độ hiểu biết chỉ có thế! Chúng tôi trích ra một vài đoạn các bạn đủ rõ:

Là một xứ canh nông tiến tới trình độ thủ công nghệ, nước Việt Nam biết áp dụng một cách đặc biệt nền văn hoá Tàu nên đã thực hiện được một trật tự xã hội hoàn hảo, và cũng chính vì sự hoàn hảo nên đã phải suy tàn. Luật lệ và phong tục thời xưa đã bảo đảm tột bực cho lớp quần chúng ở dưới và đồng thời bảo đảm cho quyền thế của lớp người cai trị ở trên. Nước Việt Nam lúc đó tính ra không có người thất học.

Vừa là tượng trưng của tinh thần thống nhất và nền tảng quốc gia, nhưng quyền chính lại thuộc về những tay nhà Nho tài đức hơn người. Nước Việt nam không có sự cạnh tranh giữa các đẳng cấp, dân gian được hưởng sự tự do bình đẳng, bình quyền trong một nền văn hoá canh nông. Những ngôi thứ trong xã hội đoạt được là do tài đức cá nhân…

Và nữa nước Việt Nam là một xứ tiểu điền sản. Đại tư sản không có vì mỗi gia đình đều quân phân gia tài và điền địa ra từng phần nhỏ cho một số con cháu ngày mỗi đông them. Trong lịch sử người ta không thấy một xứ nào đã thực hiện được một nền tảng xã hội thăng bằng và điều hành như thế.”

Cái cảnh xã hội mà Trần Đức Thảo vừa mô tả ra đó gọi là tuyệt vời, danh từ ấy không phải là quá đúng vậy! Theo luận điệu của Thảo, thì đó goi là “xã hội chủ nghĩa”…canh nông!

Ý Trần Đức Thảo muốn bênh vực Việt Nam để chống đế quốc, đó là một điều đáng khen. Nhưng muốn thế cần chi phải dùng đến ngụy biện, bảo rằng, vào khỏng năm 1860 ở Việt Nam không có người thất học - giữa lúc mà chữ Hán là một thứ chữ rất khó khăn chưa phổ cập biến trong dân chúng. Còn nhiều điều sai lầm như thế nữa ở những trang sách dưới đây, các bạn đọc sẽ lần lượt hiểu rõ. Theo ý chúng tôi, muốn chứng tỏ quyền độc lập, người Việt không cần phải tìm tòi xa xôi trong lịch sử và cũng không cần giải thích lịch sử theo lối nguỵ biện. Sự trưởng thành về phương diện chính trị của quần chúng Việt Nam hiện nay, lòng ham muốn tự do và ý chí tự lập của người Việt Nam hiện nay, đó là những lý lẽ cứng cát và chắc chắn nhứt.

Ngụy biện của Trần Đức Thảo chỉ có kết quả là làm sai lạc trước mắt quần chúng cái ý nghĩa và mục đích của cuộc tranh thủ độc lập hiện nay ở Việt Nam. Mà thật vậy, Trần Đức Thảo không những chỉ ca tụng cái quá khứ của Việt Nam mà thôi, anh ta còn rút ra ở cái quá khứ mà anh ta bịa ra đó những lý lẽ để bênh vực cho cái hiện tại mà anh ta nhận xét sai sự thực. Anh ta viết rằng: “Ở Việt Nam sự đòan kết của xã hội lúc nào cũng chặt chẽ trong thời kỳ bị đô hộ”. Tô điểm cho cái quá khứ đã hết lời, Trần Đức Thảo còn tô điểm cho cái hiện tại như sau:” Không một người Việt Nam nào lại có thể mất được tinh thần quốc gia.” Biện luận của Trần Đức Thảo có mục đích rõ rệt: Dựa vào một sự đoàn kết quốc gia không bao giờ có, và viện cớ không có tranh đấu giai cấp, Thảo tìm cách che đậy vai trò của trưởng giả Việt nam. Sau đây với những bằng chứng hiển nhiên (1)[2] ta sẽ thấy rõ vì sao trưởng gỉa Việt Nam gần 30 năm nay đã vứt bỏ cuộc tranh thủ quốc gia và trở nên làm tay sai cho đế quốc. Che lấp sự thực đó trước mắt quần chúng, tức là ngăn trở sự tự giác của quần chúng.

Sau những bài học kinh nghiệm vừa qua, vấn đề độc lập của Việt Nam hiện nay sẽ là kết qủa của cuộc tranh đấu của giai cấp thợ thuyền và dân cày Việt Nam: Họ vừa phải thoát khỏi ách đế quốc, vừa phải thoát khỏi ách bóc lột của giai cấp trưởng gỉa trong xứ nữa.

LƯỢC SỬ

Đông Dương đã trải qua một quá khứ nặng nề cũng như các dân tộc hậu tiến khác. Muốn hiểu tình hình hịên tại và căn bản các giai cấp trong xã hội, ta phải trở lại quãng lịch sử trước hồi Pháp thuộc.

Lịch sử nuớc Việt Nam từ 10 thế kỉ nay, là lịch sử của một xã hội sống quằn quại trong một chế độ phong kiến bí nghẹt. Đó là một tràng dài những chuyện tiếm vị, đổi ngôi và những cuộc xung đột lộn xộn giữa các ông Chúa phong kiến. (1)[3]. Nguyên thủy Bắc bộ bị Trung hoa chiếm cứ, phía Bắc Trung bộ thuộc về địa phận người Chàm. Còn Nam bộ là đất của dân Mên. Vào năm 960, Bắc bộ lấy lại nền độc lập, triều vua nọ kế tiếp triều vua kia, rồi tới hồi Thập nhị Sứ quân, các tướng nổi lên tranh hùng. Tất cả giai đoạn lịch sử ấy đã giam hãm dân gian trong vòng loạn lạc. Kể cho hết những cuộc phân tranh đã dày xéo xứ Việt trong giai đoạn ấy thì không sao hết được và rất là dài dòng. Đại loại lịch sử nước Việt là lịch sử một tấm thảm kịch của những cuộc xung đột phong kiến, vua chúa tranh nhau, kẻ thắng xưng hung, kẻ thua chịu lép về làm chư hầu để rồi xuất quân trả thù lại. Mặc dầu các vua Tàu cứ lăm le cuớp đất Bác bộ để nhân đấy thống trị cả Đông Dương, nhưng oai thế nhà Lê càng ngày càng lớn: Đất Chàm dần dần bị Việt Nam xâm chiếm tới năm 1470 thì sát nhập vào xứ Việt Nam. Sau khi vua Lê Hiến Tôn mất, Việt Nam trải qua mấy thế kỷ lại bị chìm đắm trong vòng hỗn độn, và bị chia ra làm hai địa phận khác nhau: Tuy bề ngoài thuộc triều Lê, nhưng thật ra trong tay ở hai vị Đại thần là chúa Trịnh và chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn canh giữ miền Nam, còn chúa Trịnh hoành hành miền Bắc. Vua Lê trở nên một vị bù nhìn vô dụng chẳng khác gì mấy ông vua Pháp hồi xưa.

Ở hai miền Nguyễn và Trịnh chiếm giữ, giặc giã nổi lên luôn luôn. Moiền Nam có Trương Phúc mân ỷ thế chú Nguyễn hãm hiếp và bóc lột dân chúng. Vì vậy nên có ba anh em họ Nguyễn người làng Tây sơn, tỉnh Bình Định nổi dậy cầm quân chống lại. Nguyễn Tây si7n thừa lúc Trịng Nguyễn bất hoà liền chiếm lấy miền Đông Nam bộ năm 1773, tiến chiếm Sàigòn năm 1786. Ta có thể nói an hem Nguyễn Tây sơn là những người đầu tiên thống nhất Việt Nam.

Trong lúc bỏ chạy, tướng tá chúa Nguyễn cứu thoát được một người dòng dõi nhà nguyễn tên là nguyễn Ánh. Nguyễn Ánh trốn sang Viêm la và ở đó gặp cố đạo Bá Đa Lộc (Pigneau de Behaine) nhận hứa sẽ cầu cứu nước Pháp gíup. Năm 1787, Bá Đa Lộc dẫn con NGuyễn Ánh là Hoàng tử Cảnh sang Paris yết kiến vua Lô Y Thập Lục. Sau nhiều cuộc thương thuyết, Lô Y XVI nhận Bá Đa Lộc thay mặt nhà vua ở Nam Bộ.

Khi trở về Pondichery (Ấn D65) Bá Đa Lộc tổ chức được một đạo binh  tinh nhuệ tiến đánh Nam Bộ vàp khỏng tháng Ba 1789. TỪ 1799 đến 1801, nhờ có quân Pháp, Nguyễn Ánh phá tan được binh mã và cả chiến thuyền Tây sơn và tới năm 1802 xưng vương lấy hiệu là Gia Long, sáng lập nhà Nguyễn. Triều Nguyễn kéo dài cho tới Bảo Đại, nghĩa là cho tới tháng 9 năm 1945 thì hết. Các nhà viết sử Pháp thường có ý giảm bớt giá trị của anh em nhà Nguyễn Tây Sơn và ca tụng Gia Long là người có công thống nhất Việt Nam. Lẽ tất nhiên họ cũng không quên khen ngợi vai trò của Bá Đa Lộc. Điều đó rất dễ hiểu: Mục đích sử gia Pháp muốn bênh vực cho sự can thiệp của người Pháp năm 1869 ở Đông Dương. Trái lại với người Việt ở Việt Nam thì gia Long là kẻ tiếm ngôi, và một kẻ phản quốc, cõng rắn cắn gà nhà, chính Tây Sơn mới là anh hùng cứu quốc.

Vì thiếu tài liệu lịchsử về phong trào khởi nghĩa Tây Sơn nên chúng tôi không thể phê bình cho đầy đủ được. Xong xem ra hình như phong trào này được mấy tay nhà buôn và số đông dân nghèo ủng hộ, đó cũng là một hình thức uất ức của đám người bị áp chế muốn chống lại chế độ quan trường. Xã hội Việt Nam hồi ấy không có một giai cấp biệt lập mạnh mẽ khác hẳn với giai cấp quan lại phong kiến và giai cấp nông dân, có lẽ vì thế mà Nguyễn Tây Sơn khon6 gcó căn bản chắc chắn để giữ vững quyền bính đã lấy được. Kết cục Gia Long thắng Tây Sơn, thừa hưởng công trình thống nhất của Tây Sơn để lại (Tây Sơn đã dẹp xong họ Trịnh và làm vua toàn cõi Việt Nam).

Năm 1820 Gia Long mất, nền thống nhất của Việt Nam luôn lung lay vì những cuộc giặc giã địa phương hay những cuộc khởi loạn của đám quan lại bất mãn triều đình Huế.

VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ PHONG KIẾN

·                      Chính sách cai trị Bảo thủ

·                      Làng Xã

·                      Sĩ Nông Công Thương và Dân cày

·                      Điều kiện Kinh tế

·                      Thứ bậc xã hội…

Từ năm 1460 tới 1497 nước Việt Nam nuớc Việt Nam dưới triều vua Lê Thánh Tôn đã có một chính sách cai trị vững chãi, chính sách ấy tiếp tục duy trì mãi tới hồi quân Pháp sang đô hộ.

Chế độ cai trị lúc ấy là một chế độ cai trị độc đoán dựa vào đạo giáo và một bọn quan chế phân chia làm nhiều thứ bậc và có tính chất rất bảo thủ - đó là bọn quan lại vậy. Việc cai trị chia ra làm 6 Bộ: Bộ Lại, Bộ Tài Chánh, Bộ Lễ, Bộ Binh và bộ Hộ. NGoài ra lại có rất nhiều ban Tư vấn để kiểm điểm lại việc cai trị và giám sát, toà án tối cao là toà án Tam Cương (1)[4]

Trong nước chia ra làm từng tỉnh, tỉnh chia ra từng Phủ Huyện, mỗi nơi đều có quan lớn quan nhỏ cai trị. Theo nguyên tắc thì chỉ sự học vấn mới đưa người ta lên làm quan. Do đó những nhà viết sử “trưởng gỉa” mới ca tụng rằng Việt Nam xưa là một xứ rất “cộng hoà”, vì người dân nào học gỉoi, đậu cao cũng sẽ được những chức vị lớn trong nước (2)[5]. Thật ra, điều kiện kinh tế đã làm cho nên học vấn chỉ dành riêng cho giai cấp có tiền của và những đặc quyền quá độ của bọn quan lại, đã đào một hố sâu giữa họ với giai cấp nông dân, và giữa họ với đám nhà Nho do từ giai cấp nông dân xuất thân. Hạng quan lại thật ra thì cha-truyền-con-nối, họ họp thành một từng lớp có tính cách bất di bất dịch trong xã hội, sống trong hủ lậu và giàu sang của họ. Trên thượng từng của giai cấp ấy có bốn ông quan to, gọi là “Tứ Trụ triều đình”. Cũng như các ông Khâm sai thuở xưa ở Pháp, hạng quan lại ấy thâu tóm rất nhiều quyền bính trong tay: Vừa quyền cai trị, hành chánh, lại vừa quyền lập pháp, tôn giáo, và binh bị.

Những Quy chế chính trị (Institution) ấy bề ngoài trông có vẻ chắc chắn, và việc cai trị ngó qua có vẻ tập trung ổn thoả, bọn sử gia trưởng gỉa thường dựa vào cái bề ngoài đó, bảo rằng hồi xưa Việt Nam không có vết tích phong kiến. Thật ra sự tập trung chỉ trên ngọn mà thôi, dưới gốc, về phương diện chính trị cũng như về phương diện cai trị, làng xã vẫn giữ tính biệt lập riêng theo lối người Tàu. Mỗi làng tự cai trị lấy mình, theo lề thói riêng của mình hay theo tục lệ từ xưa để lại. Đó là cái đặc tính của xã hội Việt Nam, Đế quốc Pháp sang xâm chiếm vẫn duy trì nó như cũ. Làng là một đoàn thể người dính líu với nhau trong sự phụng thờ tổ tiên, dân làng chia ra “chính đinh” (người có tiền đóng thuế, và “cùng đinh” (hạng nghèo túng không tiền đóng thuế). Hạng cùng đinh tất nhiên không được dự vào công sự trong làng. Hàng cầm đầu, là hạng hương chúưc đều do bọn chính đinh mà lựa chọn ra.

Trong việc cai trị cũng như trong tục lệ, xã hội chia làm 4 đẳng cấp theo thứ bực: Sĩ, Nông, Công, Thương. Người nhà Nho, người làm ruộng, người làm thợ, và người buôn bán.

Trong xã hội phong kiến ấy, hạng nhà Nho, có thể ví với hạng giáo mục ở Âu châu trong thời Trung cổ là những người chiếm địa vị ưu thế, được tôn trọng nhất; họ làm quan, sứ thần hay cố vấn cho vua. Chính họ đã đem truyền bá nền học vấn Tàu, nhưng nó rất khúc mắc khó hiểu, chữ Tàu lại rắc rối khó học, nên nền học vấn ấy ít phổ cập trong dân chúng. Địa vị kinh tế đã tạo cho hạng nhà Nho một oai quyền lớn, oai quyền ấy cũng do ở sự học vấn của họ, vì chữ Nho là một thứ chữ khó học, viết được một cái văn tự cũng không phải việc dễ dàng. Chỉ cần nhớ rằng phải học thuộc lòng và hiểu chừng 5,000 chữ mới có thể đọc được. Chữ Nho đặt ra mấy ngàn năm về trước, cũng đã góp phần vào sự tiến bộ của người Tàu, nhưng tới một lúc, nó lại là một trở lực lớn trong việc truyền bá  tư tưởng. Đó cũng là một trong những nguyên nhân đã làm chậm hẳn cuộc tiến hoá ở Á đông trong nhiều thế kỷ.

Hạng Nông chia ra hai lớp: Lớp trên, gồm có những người có vương tước, những đại thần về hưu, những vị tướng được vua thưởng công, những tướng giặc đã chịu hàng phục. Lớp người này đô hộ những lớp dân khác trong một thời kì rất dài. Bọn nhà Nho thay họ trị dân, đặt luật lệ, các lề lối luân lý bắt dân theo. Lớp dưới, là hạng dân cày, bị sưu cao thuế nặng, bị sự áp chế quan lại, họ ở vào địa vị gần giống như nông nô.

Tầng lớp dân cày này hợp với lớp thợ thủ công nghiệp, và bọn người buôn bán, tạo thành một đẳng cấp thứ ba. (Tiers d’Etat). Đẳng cấp này sống cằn cỗi, không tương lai, sống một cách nheo nhóc trong một thời kì dài dằng dặc. Hạng dân cày và thủ công nghiệp giống như bọn đầy tớ, khuất phục chủ hơn là một người thợ thuần tuý. Lớp dân cày vì tiền công ít, thường phải mang nợ chủ, mà sự mắc nợ-nần trong luật An-nam xưa, tạo ra một hoàn cảnh như nô lệ vậy.

Tất cả những hiện tượng nói trên: Hỗn độn về chính trị, biệt lập về địa phương, thiếu sự tập trung trong vấn đề cai trị, thêm tính độc đoán của bọn cầm đầu, quyền hành tập trung trong tay một số ít người, tục cha-truyền-con-nối, sự phân chia xã hội chỉ còn hai loại: Địa chủ giàu có và dân cày, dân thợ nghèo cực. Tất cả những hiện tượng đó tiêu biểu cho một chế độ xã hội và chính trị đặc biệt do nền kinh tế lạc hậu của chế độ phong kiến sinh ra. Nền tảng chế độ ấy là canh nông, và một lối sản xuất  trong phạm vi làng xã (1)[6]. Việc canh nông vẫn trong hình thức gia tộc, vì giặc dã nổi dậy luôn ngăn cản sự khai khẩn. Về kỹ nghệ cũng thế, kỹ nghệ chỉ ở vào giai đoạn đầu tiên của thủ công nghiệp. Tóm lại nền kinh tế chỉ sinh ra chế vật đủ dùng chứ không phải để buôn bán. Người dân cày làm lụcg cho có hoa-vật để trả thuế má và lễ Tết cho chủ điền, còn lại để nuôi sống gia đình và đổi chác một vài món đồ cần dung với người công-thương trong làng. Ngoài ra, họ cũng tự chế ra một vài món đồ vật để dung. Một chế độ sản xuất như thế, đã cắt nghĩa nền thương mại ở Việt Nam không bành trướng ra được.

Việc buôn bán, như thế đã bị liệt vào hạng chót trong các ngành hoạt động xã hôi Hàng hoá từ vùng này qua vùng khác lại bị đánh thuế rất nặng. Đời Gia Long có lập ra Trấn Nam Quan ở giữa Trung và Bắc bộ để đánh thuế hang hoá của hai nơi tải qua.

Trong chế độ như thế, sự thịnh vượng xã hội không thể dựa vào lực sản xuất, vì lực sản xuất không thay đổi, lại chỉ dựa vào sức bóc lột tàn nhẫn trên đám dân cày cùng khổ và sự cướp bóc trên những miền mới chiếm cứ. Điều này chứng tỏ tình trạng cực khổ của dân cày và dân tiểu công-thương (1)[7]sống dưới sự áp chế của giai cấp tư-sản. Một phần chứng tỏ giặ dã luôn xảy ra giữa các tướng phong kiến.

Trong thời buổi tư bản hiện tại, chiến tranh luôn xảy ra vì lực lượng sản xuất quá nhiều, mà sức tiêu thụ dân chúng lại ít, nên tư bản phải kiếm thêm thị trường mới để ban hang hoá. Tráilại, ở thời kì phong kiến chiến tranh xảy ra vì lực sản xuất quá ít, đồ vật hiếm, nên các ông Chúa chiếm đoạt lẫn nhau. Tu bản muốn bán, còn các ông Chúa phong kiến muốn cướp. Đó là nguyên nhân của những cuộc chiến tranh.

Xem như vậy, nước Việt Nam xưa là nước có đặc tính phong kiến. Nhưng có một câu hỏi cần phải trả lời: Vì sao nền phog kiến ấy kéo dài tới hơn 10 thế kỷ? và vì sao giai cấp trưởng giả ở việt Nam không phát triển được? Quả vậy, khoảng 1860, trong khji việt Nam sống trong vòng hủ lậu, luôn luôn giặ dã thì nhật bản khai trương phong trào Duy Tân của vua Minh Trị cải cách theo lối Âu tây và làm cho kỹ nghệ phát triển mạnh mẽ. Nhờ cuộc duy tân ấy, chỉ trong vòng 45 năm Nhật đã trở nên một cường quốc mạnh nhất Á đông, đã chiến thắng được Nag là một cường quốc châu Âu. Cũng khoảng thời gian đó nhờ sự giao thiệp với các nước Âu tây, Trung hoa phát sinh một giai cấp trưởng gỉa, phần đông do thương mại mà ra. Sự tiến bộ về hải thuyền, sự khuyếch trương về đường giao thong mặt biển, ảnh hưởng của Âu châu tràn qua (các nước Âu châu bắt Tàu mở của biển buôn bán từ 1860), tất cả điều kiện đó làm giai cấp trưởng gỉa Tàu phát triển thêm ra. Tuy giai cấp ấy còn yếu đuối chưa đủ sức triệt để thực hiện cuộc cách mạng của nó, nhưng vào cuối thế kỉ 19, nó cũng đã cố gắng và tìm đủ cách để mở mang kỹ nghệ, mở mang thông thương theo lối Âu tây. Quốc Dân đảng Tàu do Tôn Dật Tiên lập năm 1904 đã tỏ rõ ý chí của giai cấp trưởng gỉa Tàu muốn thực hành nhiệm vụ lịch sử của họ. Nhưng năm 1911, cuộc cách mạng trưởng gỉa Tàu nửa chừng bị hỏng.

Còn ở Việt Nam từ bao thế kỷ, lực lượng sản xuất, động lực của lịch sử và là động lực phát triển của giai cấp trưởng gỉa chẳng đối mảy may. Nguyên nhân chính là Việt Nam ít có điều kiện giao tiếp với Tây phương (2[8]) do nhiều điều kiện kinh tế và địa dư ngăn cản. Sản vật của Đông Dương như vàng, kẽm, thiếc, tiêu ớt, lụa là,v,v, mà người Âu châu ham chuộng kiếm mua, thì họ lại mua của người Tàu, vì ở Tàu có nhiều hơn. Hai nữa xứ Đông Dương ít hải cảng cho tàu bè đậu, bờ biển lởm chởm đá và có nhiều gió bão. Người lái buôn ghé vào đất liền gặp phải núi non hiểm trở, rừng núi rậm rạp và những đám người rợ mọi. Trong xứ việc giao thông không tiện lợi, lại không có súc vật tải đồ vì ngành chăn nuôi không sẵn có những bãi chăn nuôi trâu bò. Vì thế sự vận tải về đường xá hầu như không có, người ta phải tự khuân vác đồ đạc từ chỗ này qua chỗ khác. Một điều nữa nên chú ý: Ở nước Tàu về mạn bờ biển có một lớp người chuyên nghề đánh cá và làm nghề cho vay lấy lãi, sinh hoạt của họ khác hẳn những giai cấp trong đất liền. Lớp người này muốn có địa vị giàu sang trong xã hội, nên họ tìm cách buôn bán với người ngoại quốc: Chính họ là nguồn gốc của giai cấp trưởng gỉa Tàu ngày nay. Ở Việt Nam trái lại, thường sự cho vay lãi do bọn quan lại có của làm, mà họ lại ghét việc buôn bán. Họ có đất ruộng và hoa lợi sẵn, thành ra không tìm kiếm lợi nhuận từ những ngành nghề khác.

Những cớ về phương diện kinh tế và xã hội kể trên cắt nghĩa thêm sự thâm nhập của người Âu vào Tàu khác với vào Việt Nam. Ở Việt Nam không có mầm rễ của một giai cấp biết buôn bán với người ngoại quốc. Thành ra trong bao thế kỉ, Việt Nam cứ tự giam hãm trong vòng chật hẹp quốc gia. Đến lúc các xứ Âu châu bành trướng, mạnh mẽ tranh nhau tìm nguyên liệu và thị trường cho nền kỹ nghệ của họ thì là lúc Việt Nam bị xâm chiếm một cách tàn bạo. Bên Tàu, sự thâm nhập người Âu có từ lâu, làm phát sinh môt giai cấp trưởng gỉa đã sẵn có mầm giống trong nước. Sự thâm nhập của nước Tàu sở dĩ không biến thành một cuộc đô hộ, vì trong xứ có một giai cấp trưởng gỉa, giai cấp ấy tuy còn non yếu nhưng nhờ có sự cạnh tranh giữa các đế quốc, nó đã giữ được một nền Bán Độc lập cho nước Tàu.

Như thế đó ta đã thấy vì sao chế độ phong kiến đã duy trì lâu ở Vi65t Nam giữa lúc Âu châu có một cuộc cách mạng kinh tế lớn được thực hiện, và lực lượng sản xuất bành trướng nhanh chóng dưới quyền lãnh đạo của Tư bản.

3.- CUỘC XÂM CHIẾM CỦA ĐẾ QUỐC PHÁP

Tường thuật tỉ mỉ cuộc xâm chiếm binh bị của đế quốc Pháp tại Đông Dương không nằm trong phạm vi cuốn sách nhỏ này. Chúng tôi chỉ nhắc sơ lược những giai đọan chính mà thôi.

Lấy cớ là bảo vệ các cố đạo người ngoại quốc sang giảng đạo ở Đông Dương, Pháp đưa quân lính đánh chiếm Việt Nam, lần đầu tiên khỏng năm 1848. Đến 1857, nhân sứ thần Pháp ở Xiêm gửi một thư bắt vua Annam cho Pháp được quyền tự do giảng đạo, tự do mở công ty buôn bán và lập một toà Lãnh sự ở Huế. Sự ấy đủ rõ: Tư bản Pháp tuy muợn cớ bảo vệ tinh thần tự do giảng đạo, nhưng thật ra họ bảo vệ quyền lợi vật chất riêng họ.

Bức thư của Lãnh sự Pháp bị triều đình Huế bác bỏ. Tức thì môt chiến thuyền gồm lính Pháp và lính Y Pha Nho tiến đánh Tourane, nhưng tại đó quân Annam chống cự rất hăng, nên đoàn quân ấy quay xuống vây đánh Saigòn (Tháng 2 năm 1859). Đến 1861, miền Sài gòn và cù lao Côn Lôn bị chiếm (Pháp muốn tránh không cho Anh chiếm trước), tháng 6 - 1862 vua Annam phải ký Hoà Ước nhượng cho Pháp 3 tỉnh “miền Hậu giang Nam kỳ”. Năm 1864, mượn cớ quân Xiêm muốn chiếm Cao mên, Pháp liền chiếm xứ ấy, lập nền Bảo hộ. Tới năm 1866, Pháp chiếm đóng 3 tỉnh miền Tây Nam bộ.

Không đầy 10 năm sau, đến lượt Bắc bộ bị quân Pháp nhòm ngó. Pháp thấy Bắc bộ là một xứ buôn bán tiện lợi, nhờ song Nhị hà có thể chảy qua được miền Nam xứ Tàu, chính là một tay thương gia Pháp tên Jean Dupuis thường theo đường ấy chở sung ống sang bán ở Vân Nam (1875). Triều đình Huế thấy thế muốn ngăn không cho J.Dupuis không cho buôn bán sang Tàu nữa, tức thì một đòn quân Pháp do tướng Francis Garnier chỉ huy, từ Nam bộ tiến ra Bắc, đánh thành Hà nội. Ngày 20-11-1873, Hà nội thất thủ. Song lúc đó dư luận Pháp đa số không tán thành việc tốn kém chi phí cho việc quân đội đem quân chiếm nước khác, một số đông trong giai cấp trưởng gỉa cũng chống lại chế độ thuộc địa, và cho rằng đi đánh giặc như thế là một sự tốn kém rất vô ích. (Ý tưởng đó là phản ảnh hoàn cảnh kinh tế chính trị Páp lúc bấy giờ đang lúc phát triển, chưa bị những khủng hoảng kinh tế ngăn trở, nên chưa thấy cần thiết phải mở rộng, tìm thị trường mới). Bởi vậy, quân Pháp phải rút khỏi Bắc bộ, điều kiện cho Việt Nam là phải mở 3 hải cảng ở Trung và Bắc bộ cho Pháp buôn bán.

Đến năm   1882, lấy cớ dẹp những toán cuớp ngăn cản giao thong trên song nhị hà, Pháp sai tướng Riviere đem một đạo binh tiến đánh Bắc bộ. Năm 1883, triều đình Huế bị bắt buộc phải công nhận nền Bảo hộ Pháp ở Tung và Bắc bộ. Từ đó toàn cõi Đông Dương bị thuộc quyền đô hộ của đế quốc Pháp.


[1] (1) Đoàn thể lính thợ Việt Nam ở Pháp trước đây.

[2] (1) Xem chương III

[3] (2) Xem cuốn sách “Un Empire colonial francaise” của Maspero (trang 81-153)

[4] (1) Coi bộ sách “Empire colonial” của Maspero.

[5] (2) Coi bộ sách “L’Utilisation du sol en Indochine Francaise” của P.Gourou..

[6] (1) Một điều đáng chú ý là việc buôn bán phần lớn trong tay người Tàu, giữ một địa vị cũng như người Do thái ở Âu châu vào thời Trung cổ. Dân chúng lầm than dưới quyền hành quan lại địa phương, bọn này lại bị các tay đại thần bóc lột hành hạ, rồi nhà vua cắt đầu đại thần nào bội nghịch để tịch thu của cải. Hễ có người dân nào tài cán thì bắt vào cung làm việc không công cho nhà vua. Vi65c xây đắp thành quách đều do sự làm xâu (corvée) không công.

[7] (1) Một người Pháp tới Đông Dương năm 1807, đời Gia Long có viết:” Roi mây là một thứ hình phạt trong khắp các thứ bậc trong xã hội, và bằng những trận đòn roi mây, người ta xoá thuế cho dân…”

[8] (2) Ông Marco Polo tới Đông Dương vào năm 1280. Song chưa ch8ác đã đúng. Vào đầu thế kỉ 16 mới có một người Bồ Đào Nha tên Perez de Andrade nhân tìm lối sang Tàu mới khám phá ra xứ Annam mà ông đặt tên là Cochinchine (Nam kì), năm 1517. Tới năm 1540 mới có sự giao thiệp buôn bán với vài tay lài buôn người Bồ. Đầu thế kỉ 17, những thương gia Hà Lan tới cạnh tranh (Năm 1602: Lập công ty Ấ độ Đông phương thương cục, và dòng dã nửa thế kỉ, thương gia Hà Lan và Bồ Đào Nha cạnh tranh nhau rất dữ, có khi đổ máu, nhất là vùng biển Cao Mên. Thật ra bắt đầu giữa khoảng thế kỉ 17, người Âu không có ảnh hưởng gì ở Đông phương cả, song đến năm 1767, một thày tu người Pháp tên Bá Đa Lộc tới Đông Dương và sau lập ra đạo binh giúp Nguyễn Ánh, lập Gia Long làm vua. Ông ta giữ chức cố vấn cho vua tới khi chết (1799). Những vua Việt nam sau nối nghiệp đưởi người Âu ra khỏi nước, Việt Nam sống biệt lập cho tới thời kì Pháp đem quân sang đô hô.

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com