1005-gd.gif (6609 bytes)
posted: 11.10.2005
 
Phong Trào Quốc Gia và Tranh Đấu Giai Cấp ở Việt Nam
ANH VĂN và JACKELINE ROUSSEL
Hà Cương NghịĐỗ Văn Bái dịch

CHƯƠNG   II

TỔNG KẾT 70 NĂM THUỘC ĐỊA

Việc khai thác Đông Dương chỉ khởi đâu từ năm 1900. Còn trong thời gian về trước, quân xâm lược Pháp phải bận lo thiết lập việc thống trị bằng binh bị để đề phòng những cuộc nổi dậy, đàn áp những dân trong xứ không chịu quy hang cùng tảo trừ quân Tàu lai vãng vùng biên giới. Cũng vì thế việc khai thác trong thời kì sơ khởi chỉ có tính cách quân sự; đoạn đường xe lửa đầu tiên, làm từ 1891 đến 1894 dài có khoảng 100 cây số, chỉ có mục đích là canh giữ quan ải ở biên giới Bắc bộ, và đường xá cũng chỉ làm cốt đi vào khám phá những vùng chiến khu của quân du kích Việt Nam.

Đến khi nền thống trị về mặt chính trị và binh bị đã thiết lập xong, tư bản Pháp mới mang vốn đến kinh doanh. Ngay từ 1882, Lãnh binh Rivière đã biết phân biệt Bắc bộ về lúa gạo, với Bắc bộ về mỏ than đá ở Hòn Gay chạy dài 150 cây số cùng nhiều mỏ kẽm, mỏ thiếc.v.v. “Là điều không phải không có liên can gì tới việc can thiệp của chúng ta”, đó là lời thú của một tay Địa lý học trưởng gỉa Pháp.

Vì công cuộc khai thác những mỏ ấy, đến năm 1895, Pháp đã xuất vốn ra 80 triệu quan, và mở đường đất, đường xe lửa ở xứ Đông dương. Nhưng đến thời Paul Doumer làm Toàn quyền Đông Dương vào năm 1897, mới khởi đầu một chương trình lớn, xuất vốn tới 200 triệu quan. Kế hoạch ấy sửa soạn đắp đường cái và làm đường xe lửa chạy suốt theo duyên hải, và sâu vào nội địa – Nhưng cho đến nửa thế kỷ sau cũng chưa hoàn thành. Mặt khác Paul Doumer, vì chủ trương một nền cai trị trường cửu, mở ra công quỹ chung cho Đông Dương, lập ra những thứ thuế, như thuế Thân, thuế Đất, thuế Nhập cảng, thuế Rượu, thuế Muối và thuế Thuốc Phiện…

Công cuộc của Sở Lục Lộ làm trong thời kì đó, như lời bọn thực dân công nhận (1)[1] “Có tính cách du lịch và phô trương hơn là dùng để đóng góp vào việc mở mang kinh tế”. Sau 70 năm, thử hỏi sự mở mang ấy đem lại những gì, đó là điều ta sẽ thấy dưới đây.

I.- CHÍNH SÁCH THUỘC ĐỊA ĐEM LẠI NHỮNG GÌ?

Nói rằng bọn thực dân chẳng đem lại gì cho Đông dương cả, thì sai sự thật. Sau 70 năm thuộc địa, sự khai thác của họ tạo được 16,000 cây số đường rải đá và 3,000 cây số đường xe lửa, với cả những cây cầu bằng sắt hay bằng xi măng. Họ có mở nhà thương và trường học, cũng có đắp những đập nước để tưới 90,000 mẫu tây ruộng ở  bắc Trung bộ. Vậy ta nên kết luận thế nào? Thực dân Pháp luôn nêu ra những cái ấy để quảng cáo công nghiệp của họ, luôn luôn phô trương “cái tài” của họ, và lập đi lập lại ân nghĩa cùng  ân sủng mà họ đã đem lại cho dân Đông Dương, mà theo lời họ bảo, nếu không có họ đến, dân ấy vẫn trong vòng u tối.

Một tay viết báo trưởng gỉa tên H. Cucherousset (2) muốn khoe sự tiến bộ ở Đông Dương đã tự tại viết rằng: “Sau cái bánh xe bánh gỗ, nay đã thay thế bằng bánh xe kéo bằng cao xu”.

Thiên hạ đã biết câu chuyện hành tội: Tantale bị trói ở bên cạnh giòng nước mà phải chết khát. Chế độ thuộc địa cũng dùng lối tay cầm bầu nước, nhỏ từng giọt vào cổ họng dân Việt đang khao khát tiến bộ. Những giọt nước không làm hết cơn khát, trái lại chỉ làm tăng cơn khát. Cái bầu nước kia, dân Việt bị xiềng xích nên không với tới được. Chắc chắn là lúc xiềng xích kia được cởi bỏ, thì Việt Nam sẽ tiến thẳng tới sự canh tân, đạt tới cái thiện mỹ của kỹ thuật, nghệ thuật, và văn hoá. Đông Dương cần phải có một cải đổi vĩ đại, thế mà chỉ được hưởng có mỗi một giọt nước. Mà giọt nước kia thật ra không phải cho dân Đông Dương được hưởng. Xe hoả với đường bộ, trước hết làm ra để cho thực dân dùng vào việc Quân sự, Thương mãi, và Khai thác sản vật trong xứ để kiếm lời.

1/ Vận tải.

Đường xá: Sự thật, tài “Kinh bang Tế thế “ của bọn thuộc địa Pháp, chỉ có bọn chuyên bào chữa cho đế quốc chủ nghĩa, và bọn tiểu trưởng gỉa ngu muội tin theo được mà thôi.

Đắp 16 nghìn cây số trong ba phấn tư thế kỷ là việc hết sức nhỏ mọn đối với kỹ thuật tân thời. Mà nhựng đường xá ấy thế nào? Đường xấu xí, đá lởm chởm, nhiều nơi phủ một lớp cát dày đến nỗi xe chạy qua bụi bay mù mắt, bịt tai, bịt mồm không thở được!

Vừa rồi có chiếu trên màn ảnh một con đường ở Đông Dương trải nhựa bóng nhoáng, rộng rãi, trồng cây lấy bóng mát, lại kèm theo một lề đường có tráng xi măng cho xe đạp chạy. Ôi, con đưởng đẹp đẽ ấy, một con đường đặc biệt, chạy từ một khu phố ở Sài gòn tới ngoại ô Gia Định, dài chừng 800 mét! Hạng người ngờ nghệch lấy kính hiển vi ra nhìn thấy chút sạch sẽ trên da lưng con voi, bèn hạ kết luận rằng con voi sạch sẽ hết cả, và lấy làm vinh hạnh lắm!

Nhưng ta thử nghe môt tay Địa dư học trưởng giả, Charles Robequain, giáo sư Đại học đường Rennes tuyên bố: “Dân bản xứ hưởng ngay ích lợi của đường xá: Hai bên lề đường người gánh gồng đi nối đuôi nhau, ngày càng đông thêm ở những quãng gần thành phố hoặc chợ búa.”  Và,” Đường xá ấy giúp cho những xe cũ kỹ của dân bản xứ chạy được êm, hơn xe bù-ệt của Tàu, xe ngựa ở thượng du Bắc bộ,   xe bò ở Hạ Lào và Cao Mên. Các tiếng xe gập ghềnh qua lại trong trời đêm mát dịu.” Cái lối nói khêu gợi nên thơ của “tiếng xe gập ghềnh trong trời đêm mát dịu” cốt để người ta quên một điều, rằng xe đó gọi là xe bò, người đánh xe phải ì-ạch trên quãng đường lởm chởm đá dài chừng 50 cây số, dưới trời nắng như thiêu như đốt. Nó cũng làm người ta quên một hình ảnh nên thơ hơn nữa, rằng đó là người cu-ly xe kéo, cong lưng trên các ngả đường, dưới ánh nắng của 50 nhiệt độ, hay dưới những cơn mưa như trút!

Xe hơi. – Đây ta không cần chú ý đến số nhỏ nhà giàu bản xứ có xe hơi để đi chơi hay làm ăn, nhưng chỉ chú ý đến đại đa số dân chúng. Theo lời của giáo sư Robequain (1)[2]: “Số xe hơi trong năm 1913 có 350 chiếc, đến 1932 lên đến 15 nghìn chiếc (2)[3]” Từ năm 1920, sự vận tải bằng xe hơi đã phát đạt và có 2,500 chiếc xe-tay cộc cệch, lổng chổng lúc nào cũng đầy ứ hành khách, tính có đến 40 hay 50 triệu dân bản xứ đi xe trong năm 1930”.

Ta phải khen cho cách thực dân chăm sóc tính mạng cho dân bị bảo hộ. Một chiếc xe chạy cọc cạch, lổng chổng mà vừa chở nặng hàng hoá, lại chứa 6 hoặc 8 chục hành khách, mà cứ phải chạy trên những con đường gồ ghề miền thượng du hay dọc theo đường đèo Trung bộ. Vì thế, tính từ 1925 đến 1935, tai nạn xảy ra không biết bao nhiêu mà kể. Lắm lúc người ta thường thấy xe chở khách rơi xuống hố, lật ngược bánh lên trời, hay xe chết máy giữa đường là thường.

Đường xe lửa.- Trong thời gian ba phần tư thế kỉ, thực dân Pháp làm ra chừng 3,000 cây số tuyến đường rày xe lửa bằng những nguyên liệu cũ kĩ. Trong khi ấy ở Mỹ, người ta làm được 700,000 cây số, ở Nga, người ta chế những đầu tàu 200 nghìn mã lực, ở Mãn Châu người ta dùng máy điện 80 nghìn kilô-vát. Thế mà trong ngót 70 năm, Đông Dương chỉ làm được 3,000 cây số đường sắt, gia dĩ đường lại độc đạo và rộng có một thước tây, nghĩ cũng không phải việc tày trời. Chỉ có bọn gạo-giấy cho Bộ Thuộc địa mới lấy đó làm hãnh diện! Giáo sư Robequain tả cảnh tượng “ngộ nghĩnh” của đường xe lửa việt Nam như sau: “Mỗi chuyến tàu, ngoài những toa của ba hạng trên, có những toa hạng tư cho dân bản xứ: Ghế gỗ đóng dọc theo sườn toa, giữa hai dãy ghế có chỗ trống để hành khách chồng chất hành lý, hàng hoá đủ thứ, và có cả đến heo nữa.”

Hành khách đi hạng tư cùng với heo, đó cũng là một cảnh “nên thơ”, để dành cho chính sách thuộc địa.

2/ Canh nông -Đồn điền.-

Canh nông.- Báo chí sách vở của trưởng gỉa Pháp thường khoe rằng công cuộc khai phá và dẫn thủy nhập điền đã khai khẩn thêm được nhiều đất đai để làm đồn điền, hay những đất tốt để cày cấy được. Đất ấy tính ra được hơn một triệu mẫu tây, nhưng người Việt đâu được quyền khai khẩn, trái lại chỉ cho người Pháp, và thường là họ hưởng không tốn tiền. Xin xem bản kiểm kê dưới đây sẽ rõ.

Năm 1931

Đất cày cấy (tính theo mẫu tây)

Đất người Pháp chiếm làm Đồn điền

Đất người Pháp đã khai khẩn, cày cấy được

Bắc bộ

Trung bộ

Nam bộ

Tổng cộng:

1.200,000

1.000,000

2.400,000

4.600,000

134,400

168,400

606,000

909,300

34,350

13,748

351,854

399,988

Năm 1937

Dân số Việt Nam, (Trung và Bắc bộ)

Dân số Pháp tại Việt Nam

Dân số Việt Nam ở thôn quê

 

18.972,000

39,237

Số người Pháp làm chủ đất: 705

17.460,000

 Xem bản thống kê trên ta thấy một nhóm người Âu chừng 700 làm chủ 1/5 số đất ruộng ở Việt Nam, trong đó họ để hoang tới hơn nửa không khai khẩn. Trái lại, 17 triệu dân bản xứ phải sống nheo nhóc trong những khỏanh đất nhỏ, hay không có đất phải làm muớn cho chủ đất một cách khổ cực.

Ông Colonel Bernard (1)[4] nói rõ những ai được hưởng những đồn điền miễn phí ấy:

Nhờ có sự khai phá, những đất đai trở nên phì nhiêu, song chưa ai lấy cả. Lẽ ra để cho những nhóm dân nhỏ di cư đến làm ăn, trái lại, chúng ta để cho những kẻ, tuy biết họ có chút công lao và là tay chân của chính phủ, dù không xứng đáng với món qùa to quý như thế. Bởi cũng để khỏi ta làm trái quy tắc di dân ở Đông Dương.”

                                     (- Xem báo “Combat Magasine”, ngày 15-7-45).

Thế là dân Đông Dương chẳng được hưởng chút gì về đất khai khẩn, do mồ hôi nước mắt họ. Chỉ vài “tay chân” chính phủ mà chiếm giữ tới hơn triệu mẫu đất – Trong khi ở Bắc bộ 62% gia đình, mỗi nhà chỉ có 0,36 mẫu, và 30% gia đình có chừng dưới 1, 80 mét.

Một điều nữa phải để ý, là việc tháo nước, dẫn thủy nhập điền không dùng những phương pháp để có kết quả hoàn toàn giải quyết được việc tăng hoa lơi cho ruộng đất. Nó chỉ có kết quả được cho 1/3 đất để trồng trọt được, và rất tốn phí. Theo bình quân, hoa lợi đất ở Việt Nam rất thấp: Ở Nam bộ (2) mỗi mẫu đất chỉ được 12, 1 tạ; Bắc bộ 14 tạ; (kể cả 2 mùa). Trong khi Miến Diện mỗi mẫu thu 17 tạ,; Nhật bản thu 32 tạ. Hoa lợi kém như vậy, vì đất cũ đã hết màu (từ nhiều thế kỷ ở Bắc) mà không phân bón tốt. Nhưng dân Việt không được dùng, vì chất bón đã đem bán ra ngoại quốc.

Đồn điền.- Cao su là một trong những thổ sản nhiều nhất ở Đông Dương. Những năm trước chiến tranh, số sản xuất thu hoạch tăng rất nhanh, từ 20 nghìn tấn năm 1934, tăng 45 nghìn tấn năm 1937, rồi 59 nghìn tấn năm 1938, và 80 nghìn tấn năm 1939. Điều kiện phu đồn điền ta sẽ nói sau. Chí chú ý là tuy mở rộng sự trồng trọt cao su, nhưng không lập một nền kỹ nghệ cao su: Nếu có, thì sự phát triển kinh tế Đông Dương thay đổi nhiều

Bởi vậy, nhựa cao su không chế tạo tại chỗ, mà chở về Pháp cho bọn như Michelin hưởng lợi: Chúng mua nguyên liệu rẻ, bán phẩm vật tạo ra đắt hết sức.

  3/ Kỹ nghệ và Thương mãi.

Thường kẻ nào bênh vực chính sách thuộc địa, viện lẽ là dân thuộc địa vốn hậu tiến, nên kinh tế phát triển chậm, cho nên phải giúp họ vượt qua bước đường ấy, trong lịch sử. Sự thật, vì muốn thu lợi, thực dân bắt buộc phải mở mang sao cho lực sản xuất tăng đôi chút. Chỉ tăng đôi chút thôi, va chỉ đủ đáp ứng nhu cầu của họ. Xu hướng thông thường của họ, là hạn chế kỹ nghệ ở thuộc địa, vì e nó sẽ cạnh tranh với chính quốc, và có thể sẽ đưa các xứ bị trị lên trình độ có thể thoát khỏi vòng áp bức. Trong việc khai thác cao su, ta thấy chính họ cản trởviệc lập nền kỹ nghệ cao su tại xứ. Các ngành khác, có thể thành kỹ nghệ cũng vậy Thế mà chính kỹ nghệ mời là việc cần thi hành cấp tốc trong xứ, nếu muốn cho dân thoát khỏi nạn đói hàng năm, khỏi đời sống nheo nhóc bây lâu. Một tay chuyên môn về vấn đề Đông Dương, là P. Bernard đã thú nhận: “Kế hoạch tối thiểu làm cho 23 triệu dân Việt có đủ ăn, nhà ở, cùng hai bộ áo vải một năm, là phải mở nền kỹ nghệ trong xứ sao cho tới mức ngoài trình độ tưởng tượng của chính chúng ta .”

Đông Dương có đủ điều kiện cho một nền Đại kỹ nghệ thành lập phát đạt. Tất cả bọn chuyên môn trưởng gỉa đều đồng ý, công nhận rằng Đông dương là một trong những thuôc địa có thể kỹ nghệ hoá được. Các nguồn động lực như than đá, thác nước làm điện…có rất nhiều – nhưng hiện tại khai khẩn chưa bao nhiêu. Còn nguyên liệu và kim khí, có: Sắt, kẽm, thiếc, chì, nhựa cao su, bông gòn…cùng các thứ đậu, cà phê. Nông phẩm như: Gạo, bắp, cà .v.v. thì trong xứ cũng lắm. Nhân công lại rất nhiều và rẻ, vì ở Trung châu và bình nguyên dân cư đông đúc. Thế mà, ở Đông Dương chỉ có một cái lò đúc sắt (Bắc bộ). Đáng lẽ than đá được dùng để mở mang thành Kỹ nghệ Nặng trong nước được, thì chỉ dùng để xuất cảng ra nước ngoài. Các nguyên liệu khác cũng vậy. Xem những tỷ số thống kê về sự xuất cảng thì đủ rõ (1)[5] : Trong tổng số xuất cảng của Đông Dương năm 1937, đồ chế tạo bản xứ bán ra được 3,5%; còn nguyên liệu xuất cảng 96,5%.

Tỷ số xuất cảng hàng hoá chỉ rõ tính cách nghèo nàn của kinh tế tại Đông Dương: Năm 1937, căn cứ giá trị xuất cảng trên đầu mỗi người dân, thì Pháp là 1,570 fr; dân Nam Dương 310 fr; Phi Luật Tân 470 fr; nhưng Đông Dương…chỉ có 180 fr.

So việc thương mại tại Đông Dương với các xứ khác cho ta ý niệm về chính sách kinh tế của tư bản đế quốc Pháp. Chính sách ấy có hai mặt. Một là làm Đông Dương thành một thị trường dành riêng cho sự tiêu thụ hàng hoá chính quốc, làm cho Đông Dương là một khách hang cưỡng bách phải mua đồ kim loại, cùng kim chỉ, vải từ Pháp nhập qua (nếu cần còn đánh thuế nhập cảnh rất nặng vào đồ nhập vào Viễn Đông); Môt mặt, thì giữ chặt lấy nguyên liệu từ Đông Dương. Vì vậy, đến năm 1937, thì 52% đồ xuất cảng từ Đông Dương là để qua Pháp hoặc các thuộc địa của Pháp, chỉ 16% bán cho Tàu, còn lại mới bán cho các xứ khác ở Thái Bình Dương. Cũng cùng năm, 58% đồ nhập là từ Pháp, (hay từ các xứ thuộc địa Pháp), 16% từ Tàu, và 26% từ các xứ khác.

Cũng nên để ý, gần 50% đồ xuất cảng từ Đông Dương là gạo, điều đó chỉ làm giàu cho giai cấp đại điền chủ Nam bộ, nhưng dân chúng lại thiếu gạo ăn, mà gạo là thực phẩm căn bản cho họ.

           II. MỘT TỔ CHỨC CƯỚP BÓC: ĐÔNG DƯƠNG NGÂN HÀNG

Không thể nào lập một bản thống kê, dẫu ngắn đến đâu của 70 năm thống trị của người Pháp tại Đông Dương mà không nói đến cái “Ngục Bastille Đông Dương”, là Đông Dương Ngân Hàng, không vạch rõ sức mạnh của nó đã đè bẹp sự phát triển trong xứ đến mức nào. Hiểu nó, ta hiểu thêm được nhiệm vụ “truyền bá văn minh” của Pháp.

Vào năm 1863, ngay khi Pháp mới chiếm cứ, một chi nhánh của Comtoir National d’Escomte đã mở ra ở Sàigòn. Năm 1873, chi nhánh ấy mở rộng thêm, thành một ngân hàng thương mãi là Đông Dương Ngân Hàng, do vốn của công ty Société Generale de Credit Industriel et Commercial, và Banque de Paris et des Pay-Bas góp phần hùn. Từ ngày 21 tháng Giêng 1875, Đông Dương Ngân Hàng trở nên một cơ sở phát hành giấy bạc, cho xứ Nam bộ cùng thuộc địa Pháp ở Ấn Độ (Indes Francaise), theo sắc lệnh, thì nó được độc quyền trong 20 năm. Ngày nay, nó là một chi nhánh chính thức của những Đại Ngân Hàng: Ba Ngân Hàng sáng lập, và những Ngân Hàng khác) như: Société Generale, Le Credit Foncier de France, Le Credit Lyonaise. Ngày 31 tháng Ba 1931, Đông Dương Ngân Hàng được công nhận giữ độc quyền thêm 25 năm nữa. Từ đó vốn lại tăng thêm, trở thành Ngân Hàng hưởng quyền bảo trợ của chính phủ trong toàn cõi Đông Dương. Nhưng nó lại vẫn ở ngoài vòng kiểm soát của chính phủ.

Các tay luật học, khi khảo sát cách tổ chức Đông Dương Ngân Hàng, đều công nhận nó mang tính chất của một công ty tư nhân, cái đặc tính ấy đã làm hại rất nhiều cho nền kinh tế Đông Dương, Ông W. Oualid đã viết rằng:” Đông Dương Ngân Hàng là một tổ chức của bọn qủa đầu chính trị (Oligarchie), tuy bề ngoài có ban Quản trị do hội viên cổ phần bầu cử lên, kì thật chỉ để che đậy sức mạnh của một nhóm đại ngân hang từng thành lập ra nó. Bọn đó nắm hết đại đa số của các cổ đông, điều hành mọi việc…Còn sự kiểm soát của chính phủ thì rất tùy nghi, và bị cản trở bởi sức mạnh của các chủ nhân ông bỏ vốn.”

Người ủy quyền của chính phủ ở cạnh ban Quản trị chỉ có nhiệm vụ thu thập tin tức mà thôi. Vì vậy, ngay cả sau năm 1931, Ngân Hàng đã hiện ra như một tổ chức không dính dáng gì đến chính phủ, ngược lại, chính quyền còn phải nhờ cậy nó in giùm giấy bạc, công nhận nó được đem danh hiệu chính thức của Nhà nước trong việc liên hệ với nước ngoài. Thành thử nó vừa được hưởng những đặc quyền của một Ngân Hàng Quốc gia,, lại vẫn không bị chính phủ kiểm soát.

Từ 1875, nó đoạt được nhiều đặc quyền khác. Không những chỉ là nơi phát hành giấy bạc, lại còn là trung tâm cho vay:Trái hẳn với nguyên tắc thông dụng của các ngân hàng phát hành giấy bạc, nó đứng ra việc chủ trương cho vay tiền trên bình diện các nước, như cho chính phủ Tàu, chính phủ Xiêm vay, và cho chính quyền Pháp ở Đông Dương vay tiền làm đường xe lửa. Nó lại còn bỏ vốn vào nhiều lãnh vực kinh doanh ở Đông Dương cũng như những quốc gia khác. Tại Đông dương, nó đầu tư vào nhiều công ty, như Công ty Hỏa xa Đông Dương và Vân Nam, công ty Thương thuyền Á đông, công ty Than đá Đà Nẵng, công ty Bông sợi Đông Dương, Liên đoàn Thương mãi Đông Dương, công ty Mỏ và Kim khí Đông Dương, công ty Điện lực Đông Dương, công ty Nấu rượu Đông Dương, công ty Cao su Đông Dương. Ngoài xứ Đông Dương, nó còn có cổ phần trong sở Hỏa xa từ Djibouti đến Addio-Abebas (Phi châu), công ty Tàu điện và điện khí Thượng Hải, công ty Franco-Tahitienne, công ty tơ lụa Pháp…v.v.

Vài thí dụ kể trên, đủ tỏ trường hoạt động của nó rộng lớn dường nào. Toàn thể kinh tế Đông Dương trong tay nó. Tuy thế lực như thế, nó không hề mở mang gì cho trong xứ cả. Nó chỉ chuyên đầu cơ tài chính, cho vay, như vậy thu nhiều lợi nhuận hơn là bỏ vốn vào canh nông, đồn điền hay vào việc kinh doanh cho đám thực dân bản xứ: Việc đầu cơ buôn bán chứng khoán cổ phần là việc thu mối lợi chắc chắn hơn. Dù nền cnh nông Đông Dương sống ngắc ngoải trong thời sơ khai, nhưng Đông Dương Ngân Hàng chỉ cho hưởng một phần mười số tiền số tiền nó xuất ra, cho vay để khai triển mà thôi. Nó chú trọng việc kinh doanh nước khác nhiều hơn, nhất là ở Tàu: Gần 70% vốn của nó luân chuyển ở Tàu, ở Xiêm, hay Singapour. Nó coi Tàu là môi trường hoạt động chính, và có đủ cách bắt chính phủ Tàu phục tùng nó.

Ông P.Lamant, trong một bài viết trên báo LIBERTES, ngày 8-3-46, đã cho ta những chứng cớ kinh khủng về những hoạt động của Đông Dương Ngân Hàng:

Càng ăn, càng ngon miệng muốn ăn thêm, nó (Đông Dương Ngân Hàng) muốn thêm có lời nữa, nên cũng không nương tay với hạng tiểu kỹ nghệ và điền chủ Pháp. Nông phố ngân hàng là một cơ quan cho vay bóp họng nổi tiếng, kẻ tới vay chịu tới 14% tiền lời, ấy là đã phải gán cả cơ nghiệp để bảo đảm thế chấp. Vả lại, Đông Dương Ngân Hàng dụng ý muốn đoạt cả những cơ ngơi theo một giá rẻ, chứ mục đích nào chỉ lấy số lời thường niên mà thôi. Nó thừa cơ hội mà những nhà cửa hay điền sản mất giá, mua lại với giá 1/10 hay 1/20 giá cũ. Thất cơ lỡ vận, lớp khổ chủ ấy làm nô lệ cho nó suốt đời. Lớp điền chủ việt Nam là lớp khốn cùng nhất. Họ đi vay của ngân hàng (Offices de banques) để trả bớt nợ cũ, và cố trả trước mùa lúa sắp tới. Ngân Hàng bắt làng đòi nợ cho nó, một khi tiền vay đáo hạn chưa trả - Chính người Lý trưởng phải dùng những “thủ đoạn hợp pháp” để bắt kẻ mắc nợ phải trả. Vẫn  không thu được, Lý trưởng phải bán mùa lúa hay gia sản của kẻ nợ. Rút cục, kẻ nợ phải bán cơ nghiệp cho Ngân Hàng, vì Ngân Hàng tìm đủ cách cho kẻ mắc nợ không bao giờ hết được nợ cả! Người ta còn nhớ cái lối Đông Dương Ngân Hàng đã “đổi” đồng bạc Đông Dương trước thì theo ngân-bản, sau theo “kim-bản”, nghĩa là theo ngân-bản thì tới ngày 31-51930, đồng bạc nặng 27 gram, trị giá có 7 quan, nhưng khi qua kim-bản, nó trị giá 10 quan. Như thế nghĩa là đã gian lận bằng cách tăng giá đồng bạc lên 42%! Rồi giá đồng bạc theo kim-bản cứ thế tăng lên mãi. Lũ con nợ phải trả gần gấp đôi số nợ đã vay: Đồng bạc kim-bản giá gần gấp đôi đồng ngân-bản, nhưng vẫn gọi là đồng bạc. Và Đông Dương Ngân Hàng bắt con nợ phải trả bằng đồng kim-bản, cũng không giảm cho số nợ, mà giá vàng cũng không đổi theo giá mới của đồng bạc. Vì thế thiên hạ phá sản, có nhiều người phải tự tử.

Cả một dân tộc bị Đông Dương Ngân Hàng tham tàn ấy thống trị, cho đế khi xảy ra chiến tranh, xứ Đông Dương bị cơ quan hiểm độc ấy vơ vét sạch.”

Thêm vào tang chứng kể trên, ta còn có thể phụ vào lời của W. Oualid, giáo sư luật học, người không ai nghi ngờ là thiên vị đầu óc. Ông Oualid thêm vào đặc tính của Ngân Hàng, rằng:

Là một ngân hàng kinh doanh, nó chỉ biết thu lợi, chỉ bày mưu kế sao cho thêm lợi. Là một ngân hàng phát hành giấy bạc, nó lợi dụng đặc quyền ấy để tham gia vào các cuộc kinh doanh tại ngoại quốc hay các xứ thuộc địa,  sao có lợi cho nó, chẳng cần biết có hại cho nền kinh tế Đông Dương hay không! Vì đã giũ độc quyền, nó không sợ cạnh tranh trong xứ, và trong chính sách buôn bán, nó có tính cách ngoại giao và chính trị rõ rệt.”

Chỉ cần ghi vài tên tuổi, chức vụ một vài người trong ban giám đốc đương nhiệm tại Đông Dương Ngân Hàng, ta tức khắc hiểu cuộc đánh chiếm Đông Dương hoàn toàn do trục lợi:

Alexandre Cellier: Giám đốc Comptoir National d’Escompte, của Compagnie du Gas de Paris, cũng là Giám đốc của Phi châu Ngân Hàng, của Credit Egyptien, của Société des Cokeries de la Seine v.v.

Jean Laurent: Phó Giám đốc Pháp Hóa Ngân Hàng, Giám đốc Caisse Centrale d’Escompte, giám đốc Air France, công ty Muối ở Djibouti, Sfax và Madagascar .v.v.

Henri Jahan: Giám đốc Ngân Hàng Paris và Hà Lan (Đảng cố đạo Bình dân M.R.P. có dính dấp đến Ngân Hàng này, nên ta đã thấy tại sao có thái độ cả quyết đòi đánh chiếm Đông Dương), Giám đốc Ngân Hàng Trung Âu, Giám đốc công ty Hoả xa Maroc, Giám đốc công ty dầu hỏa..v.v.

Emie Minost: Giám Đốc Đông Dương Ngân Hàng đương nhiệm, Giám đốc Credit Foncier Egyptien, Ngân Hàng Quốc gia Ai cập.v.v.

Philippe Langlois Berthelot: Giám đốc Financière de Caoutchous Compagnie des Coutchou s du Mekong.v.v.

Mười lăm nhân viên đầu nậu trong ban Quản trị Ngân Hàng Đông Dương đều có những chức vụ tương tự như thế cả.

Ta cũng không lấy làm lạ khi ở thuộc địa cũng như ở chính quốc, Đông Dương Ngân Hàng lúc nào cũng đỡ đầu cho bọn Phản động, bọn thù địch hàng đầu đối với giai cấp Lao động tại Pháp cũng như tại Đông Dương. Lúc có biến, chúng cấp tiền cho lũ quân chủ phản động là Cagoule. Dưới thời bị Đức chiếm đóng, giám đốc của nó là Paul Baudoin đã thành Tổng trưởng trong chính phủ Pétain. Đầu năm 1945, nó nhúng tay vào việc buôn súng lậu cho bọn quân chủ Tây Ban Nha, và vừa rồi, nó cũng nhúng tay vào  vụ D.G.E.R, là bọn Gestapo (Bộ phận trinh thám của Phátxít Đức) thuộc phái De Gaulle.

Đông Dương Ngân Hàng là thành trì của chính thể thuộc địa tại Đông Dương, nó cũng là thành trì của tư bản Pháp, đồng thời cũng là cột trụ cho bọn phátxít đang muốn ngóc đầu lên.

II.     ĐẶC ĐIỂM CỦA CHẾ ĐỘ THUỘC ĐỊA.

1/ Nhà tù nhiều hơn trường học.

Bọn đồ đệ của chính sách thuộc địa, lúc nào cũng luôn miệng nói mấy chữ “văn hoá”, “văn minh”. Nghe bọn chúng nói, thì nuớc Pháp phải có mặt ở Đông Dương vì trình độ ngu dốt của dân bản xứ, chưa đủ trình độ để cai trị lấy mình. Theo lời lẽ bác ái cao thượng của chúng, thì Pháp quốc chỉ chăm lo sao cho dân chúng sớm trưởng thành. Chúng càng nói bao nhiêu, thì càng dối bấy nhiêu. Vả lại, lời nói có nghĩa gì, chỉ hành động mới đáng chú ý. Mà trong hành động thì đế quốc đầy tội lỗi. Ta thử xem việc học.

Tỉ số dưới đây, là những con số chính thức từ phủ Toàn quyền công bố trong những năm 1930, 1939, 1941. Những con số cho ta thấy, năm 1930 toàn cõi Đông Dương có 4,806 ngôi trường. Từ 1930 đến 1941 (trong 11 năm), bọn cai trị cố gắng làm thêm 850 nhà trường nữa. Nhưng nếu số trường học đã ít như thế, số nhà tù tăng nhanh gấp bội, rất tốt đẹp: Năm 1939 có 14,350 nhà tù. Năm 1941 có tới 20,852 nhà tù. Tính ra năm 1941, ta có 1 nhà trường cho 3,245 người dân, và 1 nhà tù cho gần 1,000 người. Tỉ số khá vinh dự cho nền văn hoá Pháp! Tất nhiên ta phải nhớ rằng trong hoàn cảnh ấy, tỉ số thất học trên toàn quốc trung bình là 60%, còn vùng Thượng du thì phải kể 100%.

Điều đó chứng tỏ bọn Bảo hộ không hề vội vàng lo nâng cao trình độ học vấn của dân Việt. Hay là dân này không chịu học? Muôn nghìn chứng cớ chứng tỏ tinh thần hiếu học của họ, nhất là chứng cớ về hội “Đông Kinh Nghĩa Thục” (1)[6] đã bác bỏ ngay lí lẽ trên. Để rõ hơn, không gì bằng dẫn ngay lời của Louis Roubaud, trong cuốn “Việt Nam”, có câu:

Một bước mà dân bản địa trèo lên được, là một bước trụt xuống của người Âu…(hạng sau này) họ không chịu được là đôi bên có thể lên cùng một bước thang ngang nhau. Nói trắng ra, bộ óc thực dân là như thế này: “Một người Việt được học là mất đi một tên cu-li.” Bọn thực dân có cảm tưởng làm một việc ngược với quyền lợi của chúng, nếu chúng mở sự  học vấn cho dân bản xứ.”

Một nền học vấn chỉ tới Trung đẳng và Cao đẳng, cố nhiên là chưa mở mang gì. Trong một xứ 23 triệu dân, chỉ có 6 trường Trung học (Trong đó 3 trường dành riêng cho người Pháp), và chỉ có 1 trường Đại học.

Môt minh họa cho ta thấy sự thứ yếu của học vấn: Nha Học-chính Sài gòn trông tồi tàn như một cái chuồng ngựa, đứng bên cạnh một dãy nhà nguy nga, là nơi chế thuốc phiện.

Điều khó khăn nhất mà thanh niên hiếu học Việt Nam gặp phải, là con nhà nghèo. Ở Trung Bộ chẳng hạn, trẻ nhỏ tập viết, phải dùng que vẽ trên cát, hay chấm nước viết trên tấm gỗ, vì giấy bút, mực đắt quá. Trong một xứ mà, năm 1937, 90% dân kiếm bình quân 80 quan mỗi tháng, sách vở thì cũng đồng giá – hay có khi còn đắt hơn bên Pháp – thì một cuốn sách học giá 30 quan, một cuốn Trung đẳng gía 70 quan (hay có khi là 100, hay 150 quan). Dân nghèo làm sao mua nổi?

Việc thi hạch lại rào đón kỹ càng để hạn chế bớt học tròn được lên Trung đẳng. Thi bằng cấp Tiểu học Đông Dương – cũng như các thuộc địa khác – khó khăn, chặt chẽ hơn cả ở chính quốc. Một điều cũng nói thêm, là mỗi năm, học trò được cấp học bổng du học cực kì ít ỏi.

2). Chế độ Võ lực và Độc đoán.

Thật là trống rỗng, một khi người ta nói đến quyền chính trị của dân chúng xứ Đông Dương, vì quyền ấy không có. Luật lệ bản xứ đã đẩy dân ấy xuống hàng cuối cùng, bị coi là người hạ đẳng trên mọi phương diện.

Đại đa số dân chúng, nếu không phải là toàn thể, bị bịt mồm bịt miệng, không được tự do báo chí, không tự do hội họp, tổ chức, không tự do thông hành trong xứ. Luôn luôn bị kiểm soát, canh giữ suốt năm suốt tháng. Dân bị nhục nhã đủ bề, dưới sự hống hách của quan cai trị, bọn lính chiếm đóng, lũ thực dân, công chức sở thuộc địa như sở thuốc lá, thuốc phiện, rượu…Nhân dân sống trong vòng khiếp sợ quanh năm. Thực dân có toàn quyền định đoạt sự sống chết của dân bản xứ: Chỉ có thực dân, nhà binh cùng lực lượng cảnh sát mới có quyền giữ khí giới. Trái lại, dù người dân sống trong vùng có thú dữ cũng không được quyền có vũ khí, dù là để đi săn. Người da trắng là Trời, dân bản xứ là nô lệ. Lối gọi tao-mầy chỉ dân da trắng được quyền, còn dân bản xứ phải thưa-bẩm, vâng-dạ đối với họ.

Hai tay “cấp-tiến” Albert Sarraut và A. Varenne cựu Toàn quyền Đông Dương, muốn tạo ra cái mặt nạ Cộng hoà hòng che đậy chính sách thuộc địa dã man, nên thành lập tại Đông Dương những Hội đồng bù nhìn, như Hội đồng Thuộc địa và Hội đồng Thành phố. Lấy thí dụ, như Sàigòn là “một cảnh tự do” so với các nơi khác: Bên cạnh 120 nghìn người Việt có 5,000 người Pháp, nhưng Hội đồng Thành phố có 12 Nghị viên Pháp và 4 dự khuyết, cùng với 6 hội viên Annam và 2 dự khuyết, được bầu theo lối hạn-chế tuyển-cử. Gia dĩ, bọn cai trị luôn đưa thủ hạ của chúng vào đó. Chỉ đến năm 1936, nhóm Tranh Đấu, mặc dù bị phản đối của bọn cai trị, mới lần được lần đầu tiên có 2 nghị viên Thành phố, để thay mặt một chính đảng của người Việt, dĩ nhiên bên cạnh họ vẫn còn đám thủ hạ thực dân. Theo nhà báo Louis Roubaud, thì ngay Poincaré cũng phải nói, “Hội đồng dân chủ cho dân bản xứ, có tên trịnh trọng là Hội đồng Dân biểu, thật ra chỉ là cái vỏ.”

Chế độ thuộc địa đè nặng trên cuộc sống những ai chẳng may sinh ra trên mảnh đất Đông Dương ấy. Bọn Cố đạo thì vừa làm Mật thám, vừa làm ngu-dân để phụng sự cho mục đích đế quốc. Bọn này, một tay cướp đất của tín đồ, một tay rảy nuớc Thánh vừa quất roi mây vào đít dân nghèo. Có một Cố đạo đã bảo, “chúa Trời sinh ra   cây mây tại Việt Nam, đó là để trừng trị dân Việt.” Ông ta hẳn cũng có thể nói thêm, “Chúa Trời sinh ra đất Việt phì nhiêu, là để cho các Cố đạo”.

Người Đông Dương sống ngay trên xứ mình, nhưng cảm tưởng như trên một xứ xa lạ nào. Sống trên đất mình mà họ bị xua đuổi, cùng bị đánh đập hàng ngày. Không một luật lệ nào che chở cho họ. Vì thế nên họ đành bấu víu vào luật pháp cao xa mà sống. Bị đè ép ở thế gian, họ tìm an ủi nơi cảnh đẹp đẽ ở trên Trời. Và các tay Toàn quyền như Pasquier, năm 1930-31 khuyến khích thêm sự mê tín ấy, bằng cách ủng hộ sự xây chùa, lập miếu và nhất là mở mang nhà Thờ.

Ta thấy rằng trong giai đoạn đế quốc, Tư bản đã quên hẳn thời kì chống đạo lúc họ làm cách mạng Tư sản trưởng giả, đoạt chính quyền. Nay chính họ lại khuyến khích sự mê tín tôn giáo trên mọi hình thức, chỉ cốt duy trì chính quyền của họ.

Độc tài cùng sử dụng võ lực không chỉ riêng là chính sách của lớp cai trị. Bọn lính tráng người Pháp ở Đông Dương - nhất là lính Lê Dương lại tàn nhẫn trắng trợn, hết sức khốn nạn. Chúng say sưa rượu chè, lại không sợ bị trừng phạt gì, nên tha hồ cướp bóc, hãm hiếp, áp bức dân chúng. Người ta chỉ cần đọc cuốn “Indochine S.O.S” (Đông Dương kêu cứu mạng) của bà André Viollis, hay cuốn “Lên án chính sách Thuộc địa Pháp” của Nguyễn Ái Quốc thì đủ tang chứng.

Không chỉ ở bọn lính tráng mới có những hành vi như vậy. Đoạn sau sách này, chúng ta sẽ cùng nhìn vào hành vi mà những người thợ trong các đồn điền cao su gánh chịu. Họ bị giới chủ ngược đãi, đến nỗi mà L. Roubaud phải gọi là “chính sách nô lệ”. Lại có thêm sự hống hách của bọn thực dân xi-vin (dân sự) hợp lực vào nữa Thí dụ tại Sàogòn, bọn chủ Pháp của các hang xe điện, xe hơi, rất ghét mọi thứ xe ngựa, chúng coi là dám cạnh tranh với chúng, nên người ta thường thấy những chiếc “xe hòm quẹt” ấy thường bị nã những phát súng sáu vào đầu người đánh xe, từ các xe hơi bắn ra. Dù bị giết chết, nhưng không toà án nào xét xử. Có khi người ta thấy một xe ca-mi-ông hay xe buýt cố tình nghiền nát  những “xe hòm quẹt” trên đường phố.(1)[7]

Chúng tôi thêm nơi đây vài lời mô tả cảnh nhà tù. Báo La Lutte tại Sàogòn (ra tháng 10,11-1934) có viết về nhà tù nỗi tiếng nhất, là nhà tù CônLôn, như sau,

Một gian phòng dài 12 thước, rộng 8,5 thước, chỉ để giam đủ cho 40 người tối đa, nhưng bị nhồi tới 80 tù nhân. Cái cửa độc nhất rộng 0,70 thước, không đủ không khí cho người thở. Thêm vào là những mùi hôi thối từ nhà tiêu trộn lẫn với mùi nồng nặc của mồ hôi nhễ nhại của những thân hình trần trưồng.”

Nhà thì thường không chịu nổi bão táp, nên nó suy sụp trên đầu dân tù như năm 1931, tù ở khám Pecherie và một số tù phải chết…Lúc nước xuống, tù phải đi mò san hô, rách chân, trầy tay. Họ phải mang về một số nhất định, nếu không, sẽ bị đánh đá và bỏ vào ngục tối…Tù nhân thay bò để kéo những xe chở nặng, nhiều kẻ vì đói và kiệt sức ngã gục giữa đường, rồi bị xe đè chết. Thường ngày tù phải kéo xe nện đất dưới trời nắng cháy da.”

Những chuyện đó kể không sao hết được. Bất cứ nơi nào, dưới chế độ tư bản nào, những cảnh nhà tù đều giống nhau. Những người đã thoát chết ở Buchenwald, Auschwitz, Dachau (1)[8] và nhiều nơi khác, họ đã là chứng nhân những cảnh khủng khiếp: Song họ lại thường quên rằng, tại nước “Đại Cộng hoà Pháp” cũng không kém, cũng có những đao phủ tương tự phục vụ cho chúng như thế. Đó có phải một án đáng đem ra xử trước lương tâm nhân loại hay không? Những án ấy, hạng Xã hội như đám Moutet, hay hạng Cộng sản (?!) Đệ Tam Pháp đều không muốn nhắc đến. Chúng đang mải hô hào cho đám Liên Hiệp Pháp (2).

3.- Nền Văn minh của thuốc phiện và Rượu cồn

Chỉ nhìn qua Ngân qũy Đông Dương cũng hiểu ngay tính cách của cuộc đô hộ đế quốc. Dưới đây là bản Thống kê Ngân quỹ năm 1933 và 1938 đã thâu được:

 

1933

Tỉ số Ngân quỹ

1938

Tỉ số Ngân quỹ

Thương Chính, ty Rượu, Thuốc phiện và Muối

82,3%

79,6%

Enregistrement

10,4%

13,5%

Kỹ nghệ

7,3%

6,9%

Tỉ lệ so sánh kỹ nghệ.

1/10

1/10

 

 

 

 Theo tỉ số trên ta thấy thuốc Phiện, Rượu cồn choán hết 6/10 ngân quỹ, nhưng kỹ nghệ chỉ 1/10. Tính đục khoét và hèn mạt của lối khai thác thuộc địa đã chứng tỏ qua mấy con số trên.

  Chính sách đặt ra các ty thuốc phiện, rượu và muối đã bị dân Việt đả đảo. Chính sách ấy đã áp dụng tại Đông Dương một cách áp chế như hồi phong kiến. Một món tối cần như muối, bị Thương chánh đánh thuế rất cao, dân phải mua giá đắt. Ông P.Gourou đã nói như sau,

“Việc Thương chính đặt ty giữ độc quyền về muối có cái còn tệ hại hơn cả sự độc quyền về thuốc phiện và rượu cồn. Muối là món cần dung cho Âu châu, nhưng đối với người Á đông nó là chuyện sống chết. Ở Viễn đông, gạo có thể ví như bánh mì của người Âu, thì mắm muối và cá khô muối cũng có thể ví như món thịt hầm của người Âu. Khen thay thiên nhiên đã cung cấp cho Việt Nam một dải ruộng muối dọc theo bờ duyên hải và nhiều bãi cát trong nội địa có thể làm ruộng muối được.

“Dân chài cá nếu không có muối thì phải đổ cá đi vì trời nóng thối ngay…Lắm lúc, thấy kẻ chài cá phải khóc mà vứt kết quả một ngày công của mình, vì không có tiền mua muối ướp cá, vì giá muối quá cao. Trong lúc ấy, muối chất thành đống chỉ cách chỗ anh ta có mấy trăm thước !

“Năm 1929, thuế muối đem lại cho ngân quỹ Đông Dương 11 triệu đồng, (1/10 ngân quỹ) nhưng nhân dân nguyền rủa nó vô cùng…” (1)[9]

Ba ty: Thương chánh, Rượu cồn & Thuốc phiện và Muối, đặt ra, nào những cơ quan kiểm soát, nào hệ thống mật thám, điềm chỉ để bắt bớ truy tố, hành phạt kẻ buôn lậu rất tàn bạo.

Mỗi khi khi nhà Chức trách ra lệnh cấm, như không cho tự do bán rượu, thì toàn xứ bị đàn áp một cách quy mô ghê gớm. Ta thử đọc biên bản một tay Khâm sứ Bắc bộ, tên Simoni gửi quan Toàn quyền Đông Dương (2-3-1912):

“ Cuộc đàn áp (nấu rượu lậu) hết sức tàn nhẫn, hình phạt rất nặng, nên bọn điềm chỉ hoá ra rất đông. Nếu không có vụ nào để bắt, chúng bay ra để gieo họa. Chỉ cần một nắm gạo ngâm chua vứt vào sân nhà nào, là cả nhà đó phải tan nát. Hơi thù nhau là có chuyện ấy xảy ra. Thôn xã sống trong vòng luôn luôn khủng khiếp như thế.”

Nhưng còn những chuyện quái đản hơn thế: Năm 1930, vài tay Khâm sứ Trung bộ cưỡng bách dân phải uống một số rượu đã định. Toàn quyền Albert Sarraut (một tai mắt của Đệ Tam Dân chủ Pháp) đã khuyến khích việc mở thêm nhiều cơ sở nấu rượu và thuộc phiện. Nguyễn Ái Quốc, nay là hồ Chí Minh, đã viết về chuyện đó rằng (2)[10]:

“Ông Albert Sarraut đạo mạo kia, mồm nói đầy những sự nhân đạo, ai cũng biết thế, nhưng không kiêng một tội ác nào. Đây là chứng cớ từ một bức thư của ông ta lúc làm Toàn quyền Đông Dương gửi cho thủ hạ trong việc vơ vét tiền về quỹ thuộc địa:

Cùng khâm sứ,

“Theo lời kêu gọi của Chánh đốc sứ Thương Chánh, tôi hân hạnh yêu cầu ngài giúp sức với các chức việc trong việc mở thêm các ty bán thuốc phiện & rượu cồn.

“Về việc đó, tôi kèm đây những bản danh sách liệt kê những ty cần mở ở những làng đã ghi tên, những nơi hoàn toàn chưa có thuốc phiện &rượu cồn.

“Dựa vào oai thế của các quan cai trị, trong hạt, ngài có thể dùng quyền lực riêng mà làm những người buôn bản xứ thấy rõ mối lợi lớn trong việc buôn bán thêm này.

“Về phần tôi, sẽ cho các tay tuyên truyền, đi khắp nới cổ động việc thiết lập những ty ấy. Hay là ngài muốn hành động trước việc ấy, thì cứ tin cho tôi rõ.

“Chỉ có sự hợp tác chặt chẽ giữa chi bộ của ngài và chi bộ của tôi, chúng ta mới đạt hiệu quả tốt để làm lợi cho kho bạc. Ký tên: A.Sarraut.”

Tính ra, có 1,500 ty rượu cồn và thuốc phiện cho 1,000 làng, mà chỉ có 10 nhà trường cho các làng ấy. Trước khi có bức thư ấy, người ta đã tống cho 12 triệu dân bản xứ (gồm đàn bà trẻ con) 24 lít rượu cồn một năm.

Chúng tôi không nói nhiều những điều ích lợi của chính sách thuộc địa. Nói hết, phải có một cuốn riêng, và không nằm trong mục đích cuốn này. Tang chứng cụ thể về sự tàn bạo, có thể tìm trong các cuốn đã dẫn. Chúng tôi chỉ kể đại lược.

Kết luận tóm tắt của chương này, có ba điểm:

1- Đế quốc pháp hẳn có mang đến vài tân tiến của văn minh mới, nhưng chỉ trong mục đích làm lợi cho giai cấp thống trị, và cũng để bóc lột được thêm nhiều, cùng giam hãm dân trong vòng cùng cực, áp chế như thời Trung cổ.

2- Nếu thực dân đưa vào Đông Dương vài hình thức sản xuất theo đường lối tư bản, nếu chúng đưa vào vài mở mang trong xứ, thì chúng đã tìm hết cách kềm hãm mọi phát triển kỹ nghệ, điều độc nhất có thể nâng cao trình độ sinh hoạt dân chúng cùng những tiến bộ tại Đông Dương. Chúng duy trì lối canh nông cổ hủ, duy trì bộ máy cai trị phong kiến quan lại. Dựa vào bọn này, chúng bảo tồn cùng khuyến khích mọi mê tín dị đoan thời cổ,

3- Sau hết, ta không thể không so sánh phương pháp thực dân Pháp với thủ đoạn của Phát-xít Hítle. Người ta thường tuyên truyền trên thế giới, là sự dã man là đặc tính của người Đức ở quãng lịch sử mới đây. Nhưng người ta quên nói đến tư bản Pháp (và tư bản các nước), khi cần, họ cũng dã man tàn bạo như Phát-xít. Không ai có thể cam đoan, rằng những phương pháp mà đế quốc đang áp dụng tại Việt Nam, lại chẳng đem dùng với thợ thuyền ở Pháp, khi phong trào thợ thuyền nổi dậy ở Pháp.

Có thể nói, ngày nào xứ Đông Dương và các thuộc địa còn chịu trong chế độ bảo hộ bóc lột dã man, thì những câu “Cộng hoà”, “Gieo rắc văn minh” của họ, chỉ là những sáo ngữ, giả dối và lừa gạt, dù cho câu nói ấy xuất phát từ cửa miệng những người tự xưng “Tả-phái” cũng vậy.

Hết Tập Một
(Novembre 1950)

[1] (1) Paul Bernard, tác giả cuốn “Phương diện mới của vấn đề kinh tế Đông Dương”.

(2) H.Coucherousset, tác gỉa “Đông Dương ngày xưa và ngày nay”

[2] (1) Coi cuốn “Địa dư Đông Dương”. 

[3] (2)  nghìn người Âu, nghĩa là hai phần nghìn trong dân số, mà sở hữu đến một nửa số xe ở Đông dương.

[4] (1) Ông C.Bernard giũ mục báo nói về vấn đề thuộc địa của tờ “Combat”, xưa là một tay thực dân tại Đông Dương. Giữ chức Quản lý Nông-phố Ngân hàng, Giám đốc hàng vận tải Hải thuyền Nam bộ, Quản lý sở chế tạo Oxygene –Acitylene Viễn Đông, Giám đốc danh dự sở đồn điền Mimot, Quản đốc sở Cao su Đông Dương, Quản lý Đông Dương Ngân hang. Các chức vị kể trên cho ta thấy cái chuyên môn của ông ta trên báo Combat.!

(2) P.Bernard:”Phương diện mới của vấn đề kinh tế Đông Dương”

[5] (1) Con số thống kê của chính Robequain: “Tiến bộ về kinh tế Đông Dương”

[6] Phong trào khuyến học do các nhà cách mạng Việt Nam thành lập. Coi chương III.

[7] (1) Xem báo La Lutte (Tranh đấu), số 15, ngày 13-12-1934.

[8] (1) Những nhà tù vô nhân đạo của Phátxít Đức trong chiến tranh vừa qua.

  (2) Những trang này viết hồi năm 1946.

[9]  (1) Coi cuốn “Les Paysant du Delta Tonkinois” của giáo sư Gourou.

[10] (2) Coi cuốn “Lên án chế độ thuộc địa Pháp” của Nguyễn Ái Quốc.

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com