1005-gd.gif (6609 bytes)
posted: 04.10.2005
Phong Trào Quốc Gia và Tranh Đấu Giai Cấp ở Việt Nam
ANH VĂN và JACKELINE ROUSSEL

. Hà Cương NghịĐỗ Văn Bái dịch

Tập Nhì
CHƯƠNG III

Những giai đoạn tranh đấu chống đế quốc

Tám muơi năm nay, từ lúc đế quốc Pháp dung võ lực đặt nền thống trị lên Đông Dương, dân các xứ ấy không ngừng chiến đấu chống sự áp bức đưa họ xuống hàng nô lệ. Lịch sử 80 năm đó là lịch sử cuộc chiến đấu không dứt, vẫn tiệm tiến, thường khi  công khai nổ bùng. Điều đáng chú ý là ở mỗi giai đoạn tranh đấu quốc gia, các giai cấp đứng hàng tiền đạo lại khác nhau. (1)[1] Hồi đầu của chế độ thực dân, tầng lớp quan lại, võ tướng không chịu đầu hang, cầm quân nổi dậy. Nhưng lòng nhiệt thành không đủ đương đầu, chẳng mấy chốc mà dịu nguội. Sau, hạng Văn Thân chịu ảnh hưởng Âu tây, đứng ra trong vai trò giao thời, gạch nối giữa giai cấp phong kiến cũ với giai cấp trưởng giả chớm nở. Hạng này chính là hạng sẽ tranh thủ quyền lợi cho trưởng giả. Vì vậy, trong hàng ngũ này, lúc đầu thì hăng hái, sau lại trụy lạc mau chóng, sa vào hang xu thời nô bộc. Giai đoạn tiếp (từ 1920 trở đi), có đặc điểm là lớp tiểu tư sản và Vô sản đã thức tỉnh, tự giác, xung phong cho những cuộc tranh đấu cách mạng quốc gia, làm lan tràn toàn cõi. Họ cố tìm những viễn đồ tranh đấu.

Tất nhiên các giai đoạn kể trên không có ranh giới tuyệt đối rõ rệt. Giai đoạn này kế tục giai đoạn kia, phát sinh tiếp nhau. Tình trạng đó là tình trạng chung của các giai cấp chống đế quốc: Mỗi thời buổi, do những động lực đặc biệt của những tầng lớp xã hội khác nhau mà thành, cộng với quan hệ những lực lượng giai cấp ấy chi phối.

I- Giai đoạn đầu của cuộc tranh đấu quốc gia (1890-1920)

Giai đoạn đầu có nhiều xu hướng cần phân biệt: a) Hoặc bạo động binh bị, do phái quan lại và Văn Thân bất phục tòng, chủ xướng. b) Hoặc là mưu cầu ngoại quốc trợ lực, mong thực hiện cuộc giáo hoá dân chúng sẽ làm thay đổi tình hình: Đó là những hành động tiêu biểu cho ý niệm của giai cấp trưởng giả bắt đầu nảy nở. Các phong trào kể trên dầu căn bản khác nhau, nhưng có chỗ giống nhau: Họ đều thiếu một lý tưởng chính trị phân minh. Bởi thế, dầu có những danh nhân lỗi lạc, có tài kích động nhiệt tình quần chúng, nhưng họ đã bất lực trong việc thu gộp lại những nhiệt tâm ấy thành một tổ chức hoạt động cụ thể.

Cuộc tranh thủ độc lập thành ra chỉ có tính cách một cuộc tranh đấu có tính cá nhân, anh hùng và tình cảm. Những đặc điểm ấy dễ hiểu, nếu ta chú ý tới tính giai cấp cầm đầu của phong trào: hạng Văn thân và quan lại, hậu thân của chế độ cũ… đều thuộc về giai cấp mà sự thâm nhập của văn hoá Âu tây càng làm họ trở nên bất lực, suy đồi vô phương cứu chữa. Họ đã bị lịch sử lên án, và họ cũng không vạch được viễn đồ gì cho đám môn đệ, ngoài cái chết oanh liệt hoặc sự quy phục kẻ thắng trận. Phong trào của phái trưởng giả chớm nở, cũng thiếu chương trình chính trị, tổ chức, song vì lý do khác hẳn: Giai cấp trưởng giả Việt Nam mới trong giai đoạn chập chững, chưa đủ già đặn, để có thể đóng một vai trò nhất định.

NHỮNG CUỘC NỔI DẬY CỦA TRIỀU ĐÌNH

Thời kì đầu của chế độ thuộc địa, người ta thấy có một lớp vua kế tiếp nhau do bọn Khâm sứ đặt lên, rồi cũng chính chúng truất đi. Đa số vua chỉ trong vai trò hát bộ, trong đám cũng có vài ông vua tỏ ý chống cự. Có ông tưởng truất được ách thực dân bằng việc đầu độc một viên Khâm sứ hay một viên Tư lệnh quân đội. Vua Hàm Nghi đã gây một bất ngờ có chút kết quả : Được Văn Thân nhiều nơi ủng hộ, ông khởi đầu một cuộc bạo loạn, chưa thành hình đã bị phá vỡ. Sau là một cuộc tảo trừ hung bạo đè bẹp phong trào. Kết quả là bọn thủ hạ phải nộp đầu, thay cho vua bị đi đày sang Phi châu.

Những cuộc nổi dậy triêu đình ấy, tương hợp với một thời đại mà dân chúng còn tin tưởng nguồn cội thần thánh của nhà vua, trông đợi Hoàng đế những phép nhiệm màu. Phép lạ không xuất hiện, mà ngược lại Hoàng đế lộ những nhược điểm y như thường dân. Song những âm mưu như vậy đã không phải hoàn toàn cho ta không ý nghĩa nào: Nó vạch rõ sự bất lực của vua chúa, do đó phá tan sự tin tưởng hoang đường, cho là nền quân chủ là bất di bất dịch. Đồng thời nhiều dữ kiện khác cũng đem lại kết quả ấy : Những sáng tạo kỹ thuật Tây phương do thực dân mang tới, gương nước Nhật duy tân, ảnh hưởng các nhà trí thức Tàu như Khương-Lương, tiền bối của Tôn Dật Tiên… tất cả những cái đó đã gây cho phái Văn Thân tiền tiến một hi vọng cho tương lai.

PHONG TRÀO VĂN THÂN

a)                             Kháng chiến trong rừng.

Trái với phái cựu thần và những tầng lớp nho sĩ hủ lậu đã quy hàng sức mạnh kẻ thắng, phái Văn Thân đã chịu ảnh hưởng của nền văn minh mới, óc nuôi tư tưởng những nhà Duy tân Trung hoa, Nhật bản và những nhà tư tưởng Pháp thế kỉ 18, họ đã đứng lên cầm đầu những phong trào giành độc lập, dòng dã 30 năm. Được nông dân Bắc bộ và miền bắc Trung bộ ủng hộ, họ rút lui về những miền Thượng du hiểm trở. Ở đó, họ luôn tấn công quân Pháp theo chiến thuật du kích. Một số đông, tuy binh khí thô sơ, đã kháng cự với lính Pháp được hàng năm trời. Ta hãy kể hai tên tuổi danh tiếng: Phan Đình Phùng, và Đề Thám.

Năm 1889, Phan tuy không học qua trường binh bị nào, đã áp dụng phương pháp chiến đấu của quân đội Pháp tổ chức binh đội mình một cách công hiệu. Về chuyện này, tướng Pháp là Gooselin, viết trong cuốn “Annam quốc”, như sau : “Phan Đình có tài tổ chức binh bị, biết huấn luyện binh sĩ, và phát cho binh sĩ những súng ống kiểu 1871, do quân ông ta tự chế tạo tại chỗ.”

Đề Thám, cựu binh sĩ, kháng chiến từ 1907, đã chống giữ trong nhiều năm, biết khẩn hoang, trồng trọt nuôi quân. Nhưng ông cũng thú nhận là không có viễn đồ rộng rãi. Chỉ được tiếp ứng là lời hứa của Tôn Văn, nhưng lúc đó Tôn đang lao đao bại trận. Rốt cuộc, quân Pháp đuổi đánh, Đề Thám bị bắt rồi bị giết. Phong trào tan vỡ rồi tiêu diệt.

b)                             1905: Tìm ngoại quốc giúp đỡ.

Cuộc đại thắng Nga của Nhật năm 1905 đã dội một tiếng vang rất lớn cho các dân tộc Á châu. Nó chứng tỏ rằng các cường quốc Tây phương không phải là bất khả bại, ách đô hộ thực dân không là vĩnh viễn, mối hi vọng cho nền độc lập không còn là ảo vọng. Bởi thế, phong trào quốc gia, thêm tự tín, càng phấn khởi. Đồng thời phong trào biến đổi tính cách: Những âm mưu tuyệt vọng của khởi nghĩa vũ trang tức khắc, nhường chỗ cho những phong trào chuyển hướng lâu dài hơn về tương lai.

Cuối năm 1905, tại nhà một viên quan, có cuộc họp của 4 nhà nho. Bốn người đều cùng khâm phục tư tưởng mới, cùng thừa nhận phải canh tân xứ xở. Tên tuổi họ được ghi kèm với cuộc lịch sử đấu tranh quốc gia tại Đông Dương. Đó là: Nguyễn Thượng Hiền, Tổng đốc Nam định, Tăng bạt Hổ, nhà cách mạng xa xứ hơn 10 năm, Phan bội Châu một chí sĩ danh tiếng đất Trung kì, và Nguyễn Hiên, một giáo học trẻ tỉnh Lạng Sơn. Tất cả đồng ý chủ đích là thoát bỏ ách đô hộ ngoại xâm, nhưng khác nhau về phương sách hoạt động. Ba người đầu chủ trương bạo động, nhờ sức ngoại quốc giúp. Người thứ tư đề nghị nâng cao trình độ dân chúng về văn hoá, trí thức một cách từ từ, đưa ra khẩu hiệu “Giáo hoá dân tộc”. Ngoài ra người ấy (Nguyễn Hiên) còn đưa ra cảnh báo các bạn, nên đề phòng mưu mô sảo quyệt của đế quốc Nhật có thể xảy đến. Nguyễn Hiên nói,” Không nên mở cửa trước để đuổi hổ, mà cửa sau ngỏ để đón báo.”

Sau cuộc hội đàm bí mật, năm 1908, Tăng bạt Hổ, Phan bội Châu cùng môn đồ là Kỳ Ngoại hầu Cường Để lẩn trốn sang Quảng Châu và Nhật. Ý địng họ là đặt Cường Để lên ngôi vua, bằng cách mượn sức Nhật đuổi Pháp. Nhờ Hán tự uyên thâm, (chữ Nhật cổ cũng như chữ Hán) Phan bội Châu mưu giao dịch, gây cảm tình với vài chính khách cao cấp Nhật. Phan nhầm quốc gia với giai cấp thống trị, nên đặt ảo vọng vào giai cấp ấy: Ý tưởng sai lầm của họ Phan là do ảnh hưởng của giai cấp mình và của thời đại chỉ định vậy. Cho nên Phan đã mắc lừa thuyết Đại Đông Á, “da vàng đoàn kết” của bọn cầm quyền Nhật đưa ra để phục vụ manh tâm đế quốc của chúng, xua đuổi bọn cạnh tranh Âu châu khỏi đất Á. Tuyên truyền của Nhật đã lôi kéo hi vọng bọn trưởng giả và tiểu tư sản Đông Dương, cho nên chí hướng họ hướng sang Nhật. Đại diện danh tiếng nhất của giai cấp ấy, Phan Bội Châu, đã trông cậy đặc biệt vào sự ủng hộ của Khuyển Dưỡng Nghị, chính trị gia hàng đầu lúc ấy, sau làm Thủ tướng Nhật. Khốn nỗi Khuyển Dưỡng Nghị lại đặt quyền lợi thiêng liêng của đế quốc Nhật lên trên mọi vấn đề chung chủng tộc, chung văn hoá. Thắng Nga nhưng khó khăn, lực lượng Nhật ở Viễn Đông còn yếu so với khối đồng minh Anh-Pháp, nên Nhật chưa dám công khai dấn mình vào chính sách xung đột với các cường quốc.

Trong lúc trông đợi sự trợ giúp ngày càng ít hi vọng, càng tỏ ra hư ảo, Phan đành chỉ gửi về nước những áng văn thơ khuyến khích đồng bào, giơ cao ngọn đuốc độc lập.

“Lá thư hải ngoại viết bằng máu” (1)[2] của ông gây một ảnh hưởng sâu sắc. Đồng chí và cảm tình viên của ông tập hợp quanh Phan Bội Châu vì danh tiếng ông hơn là vì một chương trình chính trị phân minh. Họ thiên về những nghị lực quá khích để duy trì nghị lực cách mạng quần chúng: Thời kỳ ấy luôn có những vụ mưu sát, vụ đầu độc trại lính Pháp tại Hà nội, vụ âm mưu đảo chánh bại lộ năm 1913, cuộc dự bị khởi loạn của đồn lính Hà Nội năm 1917. v.v.

Những phần tử quá khích nghĩ rằng, cứ loại bỏ một tên Công sứ hay một viên Toàn quyền, thì sẽ gây ra sự sợ hãi trong hàng ngũ địch và chúng sẽ không thể tìm người thay thế để đảm nhận chức vụ cao cấp nữa. Kết quả chỉ làm tan rã phong trào, đã không giảm được số quân thù, trái lại, còn tiêu diệt dần mòn những nhà cách mạng hăng hái, tận tâm nhất.

Xem như vậy, ta thấy cái mạnh và cái yếu của Phong trào Cách mạng do giai cấp Trưởng giả lãnh đạo như thế nào; Nó mạnh ở chỗ toàn dân đồng thanh muốn giải phóng khỏi kiếp nô lệ (một bài thơ, một điệu hát cũng đủ sức rung động lòng người); nó yếu ở chỗ không có mục tiêu, chương trình rõ rệt. Giai cấp Trưởng giả của các dân tộc bị trị ngay trong thời kì oanh liêt chống ngoại xâm, vẫn thường tỏ ra bất lực trong việc đưa ra một giải pháp chắc chắn cho vấn đề độc lập. Nay lúc ấy, chương trình chính trị duy nhất của họ, là mưu cầu Nhật giúp đỡ. Như thế, giai cấp Trưởng giả Đông Dương bằng lòng cho đế quốc Nhật đem sát nhập nền kinh tế trong xứ vào với Nhật, cùng tất cả mọi hậu quả chính trị do việc sát nhập đó gây ra. Tóm lại Trưởng giả Việt hi vọng thoát khỏi ách đô hộ của một đế quốc, để khuất phục dưới ách một đế quốc khác, mà họ hi vọng bớt nặng nề hơn.

c) Phong Trào Giáo hóa Dân Chúng

Như trên đã nói, người trẻ nhất trong nhóm 4 nhà lãnh tụ quốc gia, là Nguyễn Hiên, đã đề nghị một con đường khác để đi tới độc lập. Nguyễn Hiên xét thấy sự du nhập văn hoá, văn minh tối tân một cách tiệm tiến, là phương pháp độc nhất để chuẩn bị tương lai và gây một lực lượng thiệt sự có thể tranh đấu hiệu quả cho việc giải phóng. Cùng với các bạn trên, Nguyễn Hiên gửi cho chính phủ Doumer một lá đơn yêu cầu được mở một trường tư thục dạy nền học vấn mới. Mới đầu nhà cầm quyền Pháp hoan nghênh, cho rằng hành động đó là một cử chỉ cải quá của giới nho học đối với những gì thuộc Tây phương. (Thực vậy, trước nay các trường công và sự giảng dạy của người Pháp thường bị tẩy chay, coi là phương pháp nhà cầm quyền thu phục thanh niên, ngược lại văn hoá cũ được coi thêm là chính thống, được tôn sung, ái mộ thêm.

Nguyễn Hiên chủ trương nền học vấn mới, không những chỉ dạy những bài luân lý cho học trò, mà còn dạy them những nguyên tắc thông thường về khoa học, kỹ thuật, hướng dẫn họ về huấn nghệ, mỹ thuật để tránh đường quan lại. Nguyễn Hiên phổ thông hoá chữ Quốc ngữ, viết theo văn tự Latin, giản tiện và dễ dùng hơn Hán tự. Tất cả những toan tính ấy tỏ ra từ một khối óc rất bạo dạn: Bày cho kẻ đi học một mục đích ngoài sự đi làm quan đã là một cuộc cách mạng thực sự, lại giảng cho đám người bị văn minh Trung hoa đè nặng trong bao thế kỷ được hiểu biết về lợi ích của chữ Quốc ngữ, với đặc tính mềm dẻo của nó, thật là một thí nghiệm cải cách táo bạo. Vậy mà Nguyễn Hiên đã thành công, lôi cuốn được đa số các nhà nho theo. Trường tư thục đầu tiên ấy mở năm 1907 tại phố hàng Đào, Hà Nội. Ngay lúc khai giảng đã thành công rực rỡ: Có 40 lớp, 1,000 sinh viên. Trường lấy tên là Đông Kinh Nghĩa Thục.

Nguyễn Hiên mưu toan giáo dục cho toàn thể thanh niên. Dân chúng quá nghèo khổ, nay muốn cho đại đa số dân theo học được, nhà trường phải miễn học phí cho một số đông học trò. Quỹ nhà trường phải nhờ tiền lạc quyên. Tiền trợ giúp từ các nơi ùn ùn gửi tới, lên đến hàng ngàn quan, một con số quan trọng vì rất to lớn lúc bấy giờ. Giai cấp trưởng giả mới nẩy nhiệt tâm, ủng hộ tài chánh cùng tinh thần, vì phong trào đó có thể đào tạo cho họ những cán bộ và cơ sở trong tương lai của họ.

Trường có nhà in riêng, ấn hành các sách phổ thông khoa học rất nhiều, phát không cho học trò, cùng một số đông những người hiếu học. Trường cũng phát không về giấy bút, vật liệu cho những trò mà gia đình nghèo không mua nổi. Điều lệ trường có 6 khoản, đáng chú ý:

1.                               Dạy 3 thứ tiếng: Tàu Việt, Pháp. Môn phổ thông triết và khoa học, dùng tiếng Việt.

2.                               Dạy cả nam nữ. Một điều hết sức mới, vì hồi đó phụ nữ giữ vai thấp kém, phải phục tùng đàn ông tuyệt đối.

3.                               Học không mất tiền.

4.                               Dạy thêm nghề thường dùng để học sinh khi ra trường có thể tự lập kiếm ăn.

5.                               Mỗi tuần có mở diễn thuyết về các vấn đề rộng rãi (Giáo dục, khoa học…) do các giáo viên và các nhà trí thức danh tiếng đăng đàn.

6.                               Tại Hà Nội là điểm thử nghiệm, sau sẽ tổ chức một loạt khắp Nam Trung Bắc.

Cuộc thí nghiệm kết quả mỹ mãn đến nỗi nhà cầm quyền Doumer hoảng sợ trước phong trào duy tân, lôi cuốn nhiệt tâm vô hạn của dân chúng, nên tức khắc hạn chế ảnh hưởng và ngăn ngừa sự lan tràn.

Là một tay đắc lực cho đế quốc, Paul Doumer tuy muốn học vấn phổ thông trong dân Việt thực, nhưng học vấn ấy  chỉ dạy cho dân Việt đủ làm đầy tớ tốt cho họ mà thôi. Sau 9 tháng, Nguyễn Hiên và các đồng chí như Lê Đại, Dương Bá Trác, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Phan Long đang hoạt động ráo riết không kể sức thì trường bị cấm, giáo viên bị bắt giam, kết án tử hình. Những người hảo tâm góp tiền thì bị sưu tra đánh đập trong cuộc điều tra của Mật thám trên toàn xứ.

Thái độ độc đoán của chính phủ thực dân kết án tử hình những giáo viên mà họ đã cho phép dạy học, làm hội Nhân Quyền ở Pháp phải động tâm, chống lại sự thi hành án quyết vô lý đó. Án tử hình được đổi thành khổ sai chung thân. Thế là những nhà giáo dục miễn phí bị đầy đi Côn đảo, ở đó hẳn họ có thì giờ nghiền ngẫm về sứ mệnh “khai hoá” của nước Pháp.

d). Sửa đổi phong hoá.

Đồng thời với phong trào duy tân học vấn do Đông Kinh nghĩa thục ở Bắc, những người nho học Trung bộ, trong số có Phan Thành Thi cũng xướng xuất phong trào cải tạo phong tục lễ nghi. Họ nói, “Ta sở dĩ bị đè nén vì yếu hèn; nếu yếu hèn bởi thủ cựu. Vậy phải đả đảo tinh thần thủ cựu!” Một trong những truyền thống thủ cựu đó là cách búi tó của người Annam. Phan Thành Tài cùng bằng hữu tự cắt tóc và tuyên truyền khắp nơi theo mình. Họ được hưởng ứng nhiệt liệt đến nỗi, nhiều nhóm thợ cạo thành lập, tình nguyện cầm dao kéo đến khắp thành thị thôn quê cắt tóc cho mọi người, ưng thuận hay không cũng vậy. Cũng có những người kháng cự vì họ coi búi tóc là để tỏ lòng thành kính với tổ tiên mà sự thờ phụng là căn bản của tôn giáo.

Phong trào “Đồng bào” (cắt tóc) đặc biệt là đã khuấy động được dân 3 tỉnh miền Trung: Quảng Ngãi, Quảng Nam, Bình Định, rồi chuyển sang một phong trào yêu sách xã hội rộng lớn, có mục đích giảm các thứ thuế. Mỗi cuộc tranh đấu đều chuyển  động theo cơ chế nội bộ tại nơi có cuộc tranh đấu ấy: Trong một xứ chết nghẹt dưới chế độ cảnh sát, thì bất kể một phong trào nào cũng dễ lôi cuốn đám người bị áp bức kia, đẩy họ đi xa hơn họ tưởng lúc đầu.

Sau  cách mạng Tàu 1911 (Tân Hợi) và nhất là sau Thế chiến 1914-18, phong trào đề kháng của Văn thân lại phục hoạt đến mức đe dọa chính sách thực dân tại thuộc địa Việt Nam. Để ngăn một cuộc nổi dậy lớn, chính phủ Pháp phái một chính trị gia “Tả phái”, là một nhà xã hội cấp tiến là Albert Sarraut sang. Vừa tới, A. Sarraut hứa hẹn ngay những cải cách, thậm chí còn mang chữ Độc lập ra vuốt ve dân, nếu dân chịu “ngoan nhoãn và trung thành”. Nhưng y có thành công trong việc cứu vớt đế quốc, thì chính là do sự nhụt chí của giai cấp trưởng giả Việt, lúc ấy đứng trước sự liên minh của Tàu, Nhật với Anh Pháp trong Thế chiến. Lại nữa, Nhật vì chưa đủ lực, nên không ngại gì không thân thiện với đế quốc đồng minh hùng cường, hi sinh luôn bạn hữu đồng màu da, đồng văn hoá.

Do Thế chiến chấm dứt, Pháp lại củng cố địa vị tại thuộc địa. Thời điểm ấy cũng đánh dấu cho sự chấm dứt công cuộc duy tân của phong trào Văn thân - nguyện vọng của lớp trưởng giả phôi thai. Thiếu động lực nội bộ (đặt hết lòng vào sự giúp đỡ của Nhật và Tàu), phong trào thất bại, và cũng vì có yếu tố mới: Một giai cấp mới bắt đầu xuất hiện: Đó là giai cấp tiểu tư sản.

Sự chuyển hoá của giai cấp trưởng giả cũ.

Thực vậy, nhờ Thế chiến mà giai cấp trưởng giả và tiểu tư sản bành trướng, tăng gia lực lượng, cùng lúc đó, một số vô sản do kỹ nghệ phát triển cũng nảy sinh. Tuy giai cấp trưởng gỉa có trọng lực xã hội lớn hơn, hiện tượng ấy không kèm theo thái độ cương quyết hơn trong việc đối đầu đế quốc. Trái lại, trong tuyệt vọng, giai cấp ấy quay sang cộng tác với đế quốc Pháp là kẻ thù buổi trước: Trưởng gỉa Việt cũng phát triển trường hoạt động, lập xưởng máy, xây nhà cửa, mua ruộng đất… đồng thời lòng ham tiền của, tăng tài sản của họ cũng tăng theo. Họ chập chững, nên không tự sức thỏa mãn dục vọng: Họ cần có sự giúp đỡ của tư bản ngoại quốc! Nay không trông chờ Nhật được nữa, họ chịu nhận vai trò mại bản cho đế quốc Pháp, tìm cách tăng trưởng sản nghiệp trong lòng đế quốc. Thái độ một người như Phan bội Châu về sau, chứng thực điều đó.

Rất nhiều chứng cớ trên báo chí trưởng giả Việt đã chứng tỏ, trưởng giả hoàn toàn giác ngộ quyền lợi mình trong sự cộng tác với đế quốc. Một trong những đại biểu đáng chú ý về việc này, là Bùi Quang Chiêu, viết như sau trên bài báo nhan đề: “Sự hợp tác Pháp-Việt căn cứ vào đâu?” (1)[3]Người Annam, đang trong thời kì phát triển kinh tế, sẽ không thấy có lợi trong việc đạp đổ tất cả những gì hiện có; Tái lại chỉ có lợi trong một cuộc tiến hoá quy củ, mà nhịp tiến của nó đi theo sự tiến bộ của nhân loại. Nền Bảo hộ của Pháp bảo đảm cho ta một bước đi đều đặn, chúng ta chỉ cần làm sao cho nó tiến nhanh hơn’.”

Ở luận án thi Tiến sĩ của Huỳnh Xuân Canh, bàn về Ngân khố Đông Dương, người ta tìm thấy những câu đặc biệt, chứng tỏ ước vọng và nhu cầu của trưởng giả Việt Nam trong thời kì phôi thai: “Một giải quyết nhanh chóng về vấn đề tiền tệ, và cách tổ chức lại đặc quyền ấn hành giấy bạc (do nhà băng Đông Dương) cho có trật tự, hợp lý hơn sẽ làm tư bản chính quốc đang rụt rè, dồn dập vào Viễn Đông nhiều hơn, đặng đem lại mối lợi cho cả đôi bên. Xứ Đông Dương, dầu muốn dầu không, vẫn chưa thể thoát được sự che chở của nước Pháp, và nếu nước Pháp nhờ nó được giàu mạnh hơn thì nó cũng được nhờ sự giàu mạnh của nước Pháp mà thêm phần an lạc.”

Theo những dòng chữ đó, ta thấy rõ ý chí của giai cấp trưởng giả Việt muốn được một chỗ trong chính sách kinh tế tư bản, bằng cách dựa vào đế quốc xâm lăng. Như thế, không gì lạ, nếu vài đảng trưởng giả, ngay trong thời Thế chiến I – như đảng Lập hiến Nam bộ, đảng Cấp tiến Trung bộ và các chi nhánh của những đảng ấy - đã đóng vai trò cộng tác với chính phủ Thuộc địa hơn là đối lập.

Sự “tiến hoá” của đảng Lập hiến là bằng chứng cụ thể nhất. Thành lập năm 1923 do Nguyễn Phan Long, Bùi Quang Chiêu chủ xướng, đảng thoạt đầu chống địa chủ phong kiến mà đại biểu là Lê Quang Trình, và cũng chống tư bản Pháp. Đảng đặc biệt chống Lê Quang Trình và chính phủ Pháp về dự định nhường độc quyền cảng Sàigòn cho một công ty tập đoàn tài chính rất thế lực, do kỹ sư Candelier chỉ huy. Đảng Lập hiến lôi kéo dư luận quần chúng chống phong kiến, tuyên truyền phỉnh gạt, tổ chức biểu tình (như đám tang Phan Chu Trinh,  tháng Ba - 1926). Lại hứa hẹn hão huyền, nhờ thế ứng cử đảng ấy một loạt trúng cử, đánh đổ nhóm của Lê Quang Trình.

Lúc đã nhờ sức ủng hộ của Lao động để chiếm được địa vị trong trường chính trị, đảng Lập hiến quay sang chống Lao động, không bênh vực gì quyền lợi giới lao động (bảo vệ việc làm, quyền tổ chức đình công .v.v.), bỏ cà những yêu sách dân chủ như tự do hội họp, báo chí… chỉ rụt rè đòi quyền lợi giai cấp họ: Quyền nhập Pháp tịch, tự do làm thầy cãi, sửa đổi các Hội đồng, lập Nông quỹ tín dụng.

Năm 1930, khi phong trào quần chúng nổ bùng, bọn Lập hiến công khai chống hẳn Lao động. Chính Nguyễn Phan Long trong báo chí của y đã cầm nhịp cho phong trào đàn áp 1930-30. Đảng Lập hiến trở nên làm tay sai cho sở Mật thám.

Vận mệnh giai cấp trưởng giả Việt Nam biểu hiện một cách khá tiêu biểu, đầy đủ trong quãng đời của Phan Bội châu, người đại diện giá trị nhất của giai cấp ấy. Từ 1920 đến 1930, đã chứng minh rõ rệt sự suy đồi của nhà lãnh tụ quốc gia ấy, cùng xu huớng của ông: Bị bắt giam ngày 30-6-1925, ông bị kêu án tử hình, rồi nhờ quần chúng ủng hộ, được Toàn quyền ân xá, an trí ở Huế từ 1926, người từng không đội trời chung với Pháp đã chủ trương “Pháp-Việt đề huề”, tức là thuyết Pháp Việt cộng tác. Một phần lớn danh tiếng ông bị mất. Người ta trách ông không có chính trị rõ rệt. Vài phần tử quốc gia tiểu tư sản cũng không thừa nhận cả hành động qúa khứ của ông, còn cam đoan rằng, “Thơ phú ông làm ra, không phài với mục đích khuyến khích đồng bào khởi nghĩa, mà cố lợi dụng kiếm tiền cho mình và cho bạn bè hải ngoại.” (1)[4]

Một câu từ thày cãi Bona bênh vực ông trong vụ xứ 1925, đã tả rất đúng sự tiến trình cùng sự thiểu hẳn một quan niệm chính trị kiên quyết của ông, như sau, “Hồi thanh niên ông thờ vua, khi đứng tuổi ông yêu nước, lúc về già ông yêu khắp mọi người.”

Tuy đại thể giai cấp trưởng giả bị xô vào phe đế quốc, nhưng không phải vì thế đôi bên không có những xung đột quyền lợi hệ trọng. Chính sách Bảo hộ của đế quốc dựa theo khế ước thuộc địa đem thi hành tại Đông dương đã làm trở ngại rất nhiều về sự phát triển kỹ nghệ quốc gia non nớt của Việt Nam. Do đó giải thích vì sao, thỉnh thoảng giai cấp trưởng giả Việt tỏ ra ương ngạnh, đặc biệt trên phương diện kinh tế. Vì non yếu chưa đủ lực cạnh tranh với kỹ nghệ quy mô của ngoại quốc, trưởng giả Việt mở giọng lưỡi phỉnh phờ quần chúng hòng tạo sức mạnh, lợi dụng tình cảm quốc gia hầu mở rộng tiêu thụ hàng nội địa. Vấn đề này tưởng cũng nên trích lục nguyên văn bản hiệu triệu đăng ngày 20-12-19 (?)(2)[5]Chúng ta phải yêu nước cách nào để nâng cao trình độ quốc gia và khiến người ngoài tôn trọng?

“Một người Annam yêu nước phải yêu đồng bào và tỏ tình đoàn kết với họ trong bất kể trường hợp nào.

Đoàn kết kinh tế là hình thức đầu tiên của mọi sự đoàn kết. Nó tỏ ra mỗi ngày và không gì trở ngại được. Có thể tóm tắt như sau:

1.- Hạn chế các món chi tiêu xa hoa để tăng vốn tiết kiệm quốc gia.

2.- Rán sức yêu chuộng hang nội hoá mỗi khi đồng bào bán đồng giá với hàng ngoại quốc.

Thực hiện hai điều đó, người Annam chân thành và nhiệt tâm đã làm tròn bổn phận đoàn kết với đồng bào. Họ đã thực tâm tỏ long yêu nước.”

Lối rao bán lòng ái quốc thiển cận như thế, chỉ là một trong những hình thức “phản đế” mà trưởng giả Việt Nam bắt buộc phải thi hành. Cũng có lúc, như sau 1920, họ còn lợi dụng cao trào cách mạng quần chúng, sôi nổi nhất từ 1925 đến Thế chiến II, để làm lợi khí dọa dẫm đế quốc, hòng được đế quốc nới thả cho thêm quyền lợi. Điều đó giúp chúng ta hiểu được đường lối tương phản của họ: Đông Dương, cũng như các nơi khác, trưởng giả lo thoát ách đế quốc ít hơn mong tháo gỡ sự thống trị, vì họ chỉ cốt được chia lãi nhiều. Họ chỉ mong được sự ổn cố cho họ, thêm địa vị trong thế giới tư bản. Cũng muốn đế quốc thay chân nhau, miễn đế quốc sau mềm dẻo với họ hơn, dễ thoả hiêp hơn. Vì thế trưởng giả Việt Nam từng đặt hết hi vọng vào Nhật, Tàu… nay họ ngoảnh về đế quốc Anh-Mỹ - đặc biệt là đế quốc Mỹ. (1)[6]

Không riêng trưởng gỉa Việt mới có thái độ ấy: Năm 1927, Tưởng giới Thạch chống đế quốc Anh (sau lại ký hòa với chúng trên lưng thợ thuyền và quần chúng lao động), và dung túng đế quốc Nhật. Năm 1931, y nêu thuyết “Bất đề kháng” với Nhật. Mãi khi Nhật bành trướng quân sự năm 1937, y mới theo đuổi chính sách chiến tranh tự vệ chống Nhật. Những đường lối chính trị quanh co ấy, khác xa cuộc tranh đấu thiết thực chống toàn thể Đế quốc Chủ nghĩa, mưu tìm độc lập quốc gia chân chính.

Khi giai cấp trưởng giả từ bỏ hàng ngũ tiền phong chống đế quốc, thì cuộc tranh thủ độc lập là việc của giai cấp Tiểu tư sản đang tìm cách thoát thân. Và cũng của quần chúng lao động hấp thụ nhanh chóng chủ nghĩa Cộng sản.

Điều quan trọng đáng chú ý nhất trong giai đoạn ấy (từ 1920) là sự ra đời các đảng phái. Những đảng quốc gia đủ khuynh hướng, và Đông Dương Cộng sản đảng lan tràn khắp xứ, làm rúng động nhà cầm quyền Pháp, làm chúng hỏang sợ. Cứ xét sự đàn áp dã man của đế quốc thì đủ rõ sức mạnh phong trào.

II. CÁC ĐẢNG QUỐC GIA XUẤT HIỆN (1920-32)

1. Phan Chu Trinh

Giữ khoảng 1920 đế 1925, nẩy sinh xu hướng dân chủ từ giai cấp tiểu tư sản Đông Dương do Phan Chu Trinh là tiêu biểu. Chán ghét chế độ quân chủ, Phan Chu Trinh chỉ chủ trương sửa đổi học vấn và phong hoá một cách triệt để, hơn các tiền bối trong phong trào Văn thân, Phan xuất dương sang Âu châu nhiều lần, tiếp xúc với cac giới xã hội Pháp, mong dựa vào tầng lớp tiểu tư sản dân chủ Pháp mà đạt những cải cách. Một lần diễn thuyết, Phan đều được thanh niên học sinh Việt hoan hô, cổ võ… vì tại một xứ độc tài cảnh sát đè nén như việt Nam, chính sách cải lương đã được coi là một sửa đổi đầy cách mạng.

 

Nhưng cũng như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh tuy có tài kích động thành một phong trào, song bất lực trong việc tạo cho nó một Chính đảng làm giường-cột. Phải đợi tới năm 1925, ta mới thấy các chính đảng thành lập.

2. Tân Việt Cách mạng đảng

Tổ chức này đáng được chú ý, vì lực lượng của nó đã đành, mà vì nó còn là biểu hiện rõ nét những nguyện vọng cùng nhược điểm cua giai cấp Tiểu tư sản. Là một giai cấp trung gian, không duy nhất, giai cấp Tiểu tư sản lúc nào cũng rụt rè giữa Trưởng giả và Vô sản. Họ luôn luôn cố tìm một đường biệt lập nhưng đều thất bại. Rồi hoặc sa vào tình trạng chán nản, hoặc quá khích… rốt cuộc, chỉ làm lợi cho đế quốc.

Tân Việt (1)[7] là một hội kín, thành lập ở miến Bắc Trung bộ, khoảng 1925-26. Gồm nhiều lớp tiểu công chức, tiểu thương gia, và không bao giờ có cội rễ trong quần chúng. Nguyên do lập thành đảng chính trị, vì những phần tử quốc gia từng tham gia bạo động năm 1908-12, bị đày đi Côn đảo tự suy nghiệm sự thất bại, là do sự thiếu tổ chức. Khi ra tù, họ bắt liên hệ với những thanh niên mới, thuộc thế hệ trưởng thành sau chiến tranh thế giới, lập ra nhóm Phục Việt ngày 14-7-1925. Tổ chức Phục Việt không có chương trình chắc chắn, không có chính trị duy nhất: Người thì muốn võ trang bạo động giành độc lập; Kẻ chịu ảnh hưởng Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… đòi sự cải cách ôn hoà, và chủ trương Pháp-Nam hợp tác.

Tổ chức này luôn đổi danh hiệu: Nào Hưng Nam, nào Việt Nam Cách mệnh đảng (1926); Việt Nam Cách mệnh Đồng chí hội (927). Cuối cùng lấy tên Tân Việt Cách Mệnh đảng (7-1928). Mỗi lần đổi danh hiệu, là kết quả từ những cuộc thương thảo mở từ cuối năm 1925, nhằm mục đích sát nhập với Việt Nam Cách mệnh Thanh niên hội, là một đảng gốc tích Cộng sản do Nguyễn Ái Quốc (2)[8] thành lập ở Quảng Châu.

Thực tế, đường lối đảng Tân Việt hoàn toàn do sự giao dịch với đảng Thanh Niên mà có. Chữ Cách Mệnh được ghép vào tên hội, chẳng qua chỉ để mua lòng tin của nhóm Quảng châu. Nhưng hai bên đều ngờ vực nhau: Cộng sản thì vừa nghi, vừa khinh hạng tiểu tư sản nông nổi, bất định. Hạng sau thì muốn tỏ óc quốc gia thuần tuý, đối lập với Cộng sản chủ nghĩa. Nhưng tính chất cách mạng của đảng Thanh niên rất hấp dẫn quần chúng, đảng Tân Việt không thể so bì được. (3)[9]

Đảng Tân Việt thua kém đến nỗi, có những lãnh tụ một khi đi Quảng châu tiếp xúc, lại nhảy sang hàng ngũ đảng Thanh Niên, khi về còn tổ chức mạnh-phân trong nội bộ của đảng một cách rất năng động và hữu hiệu. Những cuộc điều đình của họ, ngưng rồi lại tiếp, rốt cuộc thất bại cả. Song nuôi hi vọng đánh đổ đối phương, đảng Tân Việt từ đó buộc phụ họa với đảng Thanh Niên – nghĩa là cũng thảo một chương trình chiếu lệ, bắt chước y hệt hình thức tổ chức, dựa theo những nguyên tắc Cộng sản.

Xét nỗ lực của họ trong việc cố phân biệt với đảng Thanh Niên, ta càng thấy rõ đặc điểm giai cấp của đảng Tân Việt chỉ là một phong trào của Tiểu tư sản. Đầu óc vừa sợ sệt, vừa khinh thị quần chúng… không khi nào rời bỏ hạng tiểu công chức, hạng trí thức, hạng đại diện cho những tầng lớp ăn trên ngồi chốc đối với nông dân. Ngay cả khi đổi tên đảng là Hưng Nam (1926), điều kiện muốn gia nhập đảng là phải có đôi chút học vấn. Từ 1926, Tân Việt đã có lúc giao dịch với nhóm Nguyễn An Ninh (1)[10], rồi đoạn tuyệt, lấy cớ không ích lợi vì, “Nhóm Nguyễn An Ninh ngoài ba, bốn đảng viên khá, còn toàn bọn phu phen, và bọn vô lương.” (2)[11]. Bọn vô lương ấy, họ trở lại khinh bỉ bọn Tân Việt. Cũng vì vậy, đảng này chẳng bao giờ liên lạc được với lớp quần chúng thợ thuyền và nông dân. Họ chỉ có một đảng viên giai cấp ấy là trung thành, nhưng bị cô lập. Sự lo sợ của họ về bành trướng của đảng Cộng sản ngày càng lớn rộng, là do sự lo sợ của họ đối với quần chúng. Cho nên đảng quốc gia ấy mới có thái độ “nước đôi” kì cục. Thái độ mà ngày nay, về một phương diện mà một vài phần tử đại diện khuôn mẫu cho “phong trào quốc gia” muốn áp dụng : Đi triệt để với phái quốc gia nào đó – dù là phản động - rồi sau kiếm cách vượt họ, rồi đẩy họ sang phong trào Xã hội chủ nghĩa..

Thái độ âm mưu nước đôi ấy (3)[12] là một phát minh đại tài về chính trị của đám lãnh đạo Tân Việt; Bề ngoài, trong giao tiếp với nhóm Quảng châu thì ngang nhiên tỏ ý thân Cộng. Bề trong lại ngấm ngầm tuyên truyên bài Cộng bằng sách vở, tài liệu… vì đối với họ, chủ nghĩa Cộng sản mới là kẻ thù chính, trước cả Đế quốc chủ nghĩa. Bản dự thảo chương trình đảng của Đào Duy Anh – lúc đó là Thư ký đảng, thảo ra năm 1929, viết rõ ràng từng chữ như sau:

Đảng của chúng ta không thể chỉ dựa trên một giai cấp. Giai cấp vô sản chưa phát triển, không theo một chính-cương rõ rệt, giai cấp nông dân bao gồm những phần tử không duy nhất và có thái độ chống với phong trào chúng ta.”

Như vậy không phải đảng Tân Việt vì vô tình mà không ghi vào chương trình sự cải cách điền địa, Và:

Giai cấp trưởng gỉa không cương nghị và thường khi quyền lợi riêng lại chống hẳn quyền lợi cách mạng. Còn như giai cấp tiểu tư sản, thì đã không có sức mạnh, lại không thống nhất. Bởi vậy, chúng ta phải tuyển lựa đảng viên trong đám tiền tiến của tất cả giai cấp xã hội. Chương trình của đảng là chương trình quốc gia, và không tranh đấu chống lại quyền lợi của một lớp người nào đứng trong mặt trận cách mạng cả.”

Tất nhiên, khi quyền lợi trưởng gỉa đi ngược với quyền lợi lao động và nông dân, người ta hi sinh quyền lợi lao động và nông dân là giản tiện nhất!

“Đảng ta phải phòng ngừa Cộng sản và nhất định chỉ theo một đường lối chính trị rõ ràng là quốc gia. Năm 1927, và 1928, chúng ta có áp dụng một vài điểm của cộng sản thực (ý nói những sáo ngữ cách mạng, những tổ chức từng tổ.v.v.), nhưng đấy chỉ là một chiến thuật để ngưng hãm sự công kích của đảng Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng chí hội, và để đi tới sự sát nhập dễ dàng của hai đảng. Mục đích của chúng ta là để chiếm cứ lấy những cơ quan điều khiển quan trọng của đảng đối lập, để tranh đấu chống lại chính trị của họ thuận lợi hơn, ngõ hầu tổ hợp hai đảng thành một đảng quốc gia độc nhất.”

Khốn thay kết quả ngược lại: Đảng Tân Việt mất dần đảng viên cho đảng Thanh Niên (năm 1928, nguyên một miền có 60 đảng viên, thì mất hết 45). Rồi vì nội bộ đã không kết chặt, lại luôn phải cải tổ để gắng bổ khuyết sự yếu đuối về lí thuyết – nguyên nhân sâu xa về sự thất bại của đảng - đảng Tân Việt lần lần tan rã. Sự thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng sau cuộc Hội đàm Hồng Kông (1)[13] ngày 1 tháng 5 – 1929 và kết quả nhanh chóng của cuộc tuyên truyền về đảng ấy (mới mấy tháng trước, đảng Tân Việt muợn ngòi bút Đào Duy Anh khẳng định rằng chủ nghĩa Cộng sản không nhập vào Đông Dương được) đã thôi thúc sự sụp đổ cùa Tân Việt. Một số đông đảng viên dưới gốc của họ đã thành một nhóm Cộng sản, xin gia nhập đảng Cộng sản Đông Dương năm 1930. Nhóm lãnh đạo, phần đông đã ngưng hoạt động cách mạng, vài người hoặc vì quá bài Cộng, đi đến kết cục là phục vụ công khai đế quốc. Đây, Hoàng Đức Thi đã thuật lại bằng những lời lẽ thẹn thùng như thế này, “Các lãnh tụ của đảng Tân Việt bị nhà cầm quyền xét hỏi. Lương tâm thúc bách, họ thấy bổn phận phải cứu vớt dân chúng và cả cứu vớt tính mạng họ, nên họ phải khai báo với Chính phủ những điêu họ biết về đảng Cộng sản.”

Cái chết của đảng Tân Việt chỉ chứng tỏ sự bất lực của giai cấp mà họ tiêu biểu, giai cấp không thể nào làm cách mạng được.

3) - Việt Nam Quốc Dân Đảng (1927-1932)

Và đó cũng là phản ảnh cuộc thất bại của Việt Nam Quốc Dân đảng, theo một cách khác. Đảng này khác đảng Tân Việt không phải ở những quan điểm chính trị cũng mập mờ như đảng Tân Việt, nhưng khác ở ý chí hành động, nên từ 1929 đến 1930, họ là kẻ thù nguy hiểm của Chính phủ thực dân.

VNQDD thành lập tại Bắc bộ năm 1927. Một nhóm các giáo học, văn sĩ, kí giả đã mở Hà Nội đầu năm 1927 một nhà ấn hành lấy tên Nam Đông thư xã, xuất bản những sách luận về cách mạng Tàu, Tôn Dật Tiên và chủ nghĩa Tam Dân, cách mạng hoàn cầu, phong trào quốc gia… Tất nhiên những sách đó bị cấm ngay, nhà ấn hành bị đóng cửa.

Tuy vậy trong nhóm có một cựu học sinh sư phạm, tính tình cương nghị, tên Nguyễn Thái Học, vẫn tiếp tục họp các đồng chí ở Nam Đông thư xã và quyết định tạo lập Việt Nam Quốc Dân đảng vào tháng 11 năm 1927, do Nguyễn Thái Học chỉ huy. Lập tức, đảng ấy giống hệt Quốc dân đảng  của trưởng gỉa Tàu, từ cách tổ chức, điều lệ đều bắt chước hết. Còn chương trình chính trị thì chỉ phác qua vài nét: Đánh đổ đế quốc để thiết lập Dân quốc. Vấn đề cải cách điền địa tuyệt không nói tới.

VNQDD tuyển ngay đảng viên trong giới học sinh bị trục xuất từ các trường về vụ bạo động năm 1925-26, và mở rộng tuyên truyền về phía binh lính, phụ nữ. Đảng xuất bản một tạp chí chép tay, gọi là Hồn Cách Mạng, nội dung không có gì, và sau cũng chẳng được lâu. Sự tuyên truyền của đảng cốt nhất bằng miệng vì căn bản chương trình thô sơ. Để quyên tiền ở một số trưởng gỉa, nên giao dịch rộng hơn, cho nên đầu năm 1929 thì tụ tập được 1,500 đảng viên, trái lại đảng Tân Việt không bao giờ quá số 500.

Đến tháng 2-1929, thì đảng bị khủng bố dữ dội lần đầu, sau vụ ám sát một viên mộ phu Pháp ở Hà Nội. Nhiều người bị bắt giam, trong đó có hơn 60% là trí thức và bán trí thức. Nhưng Nguyễn Thái Học trốn thoát được, vẫn tiếp tục thúc đẩy sự phát triển đảng, cải tổ lại nội bộ theo những nguyên tắc phân tách các cấp hết sức tinh vi theo lối cộng sản. Tuy nhiên chương trình của đảng vẫn không rõ rệt hơn.

Việt Nam Quốc Dân Đảng lúc ấy thiên về hoạt động quá khích một cách hăng hái, mục đích trước hết là diệt trừ phản gián. Các chất nổ chế tạo rất nhiều và phân phát khắp miền Bắc bộ. Từ tháng 11 năm 1929 đến tháng Giêng năm 1930, cảnh sát khám phá được tới 700 nơi tàng trữ. Sở Mật thám truy nã gắt gao đến nỗi, đảng vì bất lực trong việc suy xét chín chắn việc thời cuộc, nên bí thế làm liều, hạ lệnh bạo động. Đêm 10 rạng 11 tháng Hai, 1930, ở Yên Báy, Lâm Thao các đồn lính Việt đóng rải rác biên giới Vân Nam chịu ảnh hưởng tuyên truyền của QDĐảng nổi loạn. Binh lính hạ thủ sĩ quan và chiếm đồn được một đêm. Qua ngày sau, tảng sáng thấy rõ phong trào thiếu liên lạc, thiếu viễn đồ, tương quan lực lượng rõ ràng thêm chênh lệch: Các đồn lính khác thì người ta mong đợi cùng nổi loạn cùng lượt, thì hoặc bất động, hoặc bị dẹp. Làng Cổ Am, khởi nghĩa ngày 15, bị phi cơ triệt hạ rất dã man. Cuộc đàn áp tiếp tục không thương tiếc: Hàng lớp người cách mạng – trong số có Nguyễn Thái Học - bị xử tử; lớp khác bị đi đầy. Đảng tan rã, tiêu mòn trong con đường quá khích cá nhân, chỉ thoi thóp một vài nơi lẻ tẻ.

Về sau một số chiến sĩ thoát được sự khủng bố, rời Bắc bộ qua Tàu, cố gắng tổ chức lại, và nhờ có yếu nhân Quốc Dân đảng Trung hoa giúp đỡ, họ tổ chức lại được đảng viên, một đám ở Quảng Châu, một đám ở Vân Nam.

Nhưng rồi những cuộc tranh dành nội bộ, và viễn đồ chính trị thiển cận không ra ngoài quá phạm vi khủng bố hoặc phá hoại, đã giữ đảng trong vòng bất lực.

Từ năm 1932, sau cuộc thất bại của phong trào quốc gia tiểu tư sản, vì bất lực tìm một giải pháp biệt lập mà nguồn cội xã hội của giai cấp họ không cho phép, chỉ còn Đông Dương Cộng sản đảng là một yếu tố quyết định cho thời cuộc chính trị. Bây giờ ta đứng lại để xét nguồn gốc Đông Dương Cộng sản đảng.

*

*   *

II.                                                           SỰ THÀNH LẬP ĐÔNG DƯƠNG CỘNG SẢN ĐẢNG VÀ NHÓM TRỐTSKIT ĐẦU TIÊN

Sự thành lập ĐDCSD dính líu mật thiết đến tên tuổi người khai sang ra nó, và lãnh tụ của nó là Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh hiện nay [14](1).

 

Nguyễn Ái Quốc sinh ở một gia đình tiểu tư sản tại Nghệ An, một trong hai tỉnh cách mạng nhất miền Bắc Trung bộ. Năm 1919, xuất du qua Pháp và lập ở Paris một tiểu tổ Cộng sản giữa đám Việt kiều, tranh đấu trong phong trào thợ thuyền Pháp. Năm 1920, tại hội nghị tỉnh Tours, với cuộc phân ly của đảng Xã hội, Nguyễn Ái Quốc được coi là thành viên của chi bộ 17 trong Liên đoàn Cộng sản thuộc Seine. Năm 1921, cùng với các kiều dân Á rập, Phi châu và các thuộc địa khác, ông lập hội “Liên Hiệp thuộc địa”, xuất bản tờ  “Cùng dân” (Le Paria), luôn tố cáo chính sách dã man của thực dân. Nhưng hội Liên hiệp ấy khó sinh hoạt vì nó thu nhận phần lớn những phần tử quốc gia không lí thuyết chính trị. Vì thế Nguyễn Ái Quốc chú tâm vào nhóm Việt Nam, cho tới tháng 10 -1923 thì bỏ Pháp là nơi khó dung thân, qua dự Đại hội Quốc tế Nông dân ở Mouscou, thay mặt đảng Cộng sản Pháp. Ông ở lại Nga xô làm đại diện cho các xứ thuộc địa tại ủy ban thường trực của Quốc tế Cộng sản tới 1925, thì theo Borodine sang Quảng Châu. (2)[15]

Quảng Châu hồi đó là một cột trụ mạnh mẽ, hấp dẫn đám thanh niên cách mạng Việt Nam. Nhiều người đã hưởng ứng lời kêu gọi hô hào của Phan bội Châu, lẩn trốn qua, không sợ cảnh sát truy tầm, bị tù tội, đầy ải… khác với thế kỉ trước khi qua biên giới thì bị bắt và chém đầu bởi vua chúa phong kiến.

Việc đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc khi tới Quảng Châu, là kiến thiết một tổ chức chắc chắn. Đến tháng 6–1925 thì có kết quả. Ông cùng với 6 đồng chí (3)[16] thành lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh hội. Nhưng cũng lúc ấy dự định của ông với người Ấn Độ là Roy và một số kiều dân Cao ly thành lập hội “Liên minh các dân tộc bị áp bức” lại thất bại.

Hoạt động của tổ, cần thiết nhất là huấn luyện đám thanh niên Việt Nam ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc tự mình mở và giảng lớp học về chính trị, lại lựa chọn vài phần tử cho học tại trường Võ bị Hoàng Phố. Cơ sở của đảng Thanh Niên ấn hành bí mật theo kiểu chép tay, bắt đầu ra hàng tuần, từ 20-6-1925, và được 88 số, từ tháng 6–1925 đến tháng 7–1927. Tuy in có ít số, nhưng tờ báo đó được rất nhiều người đọc và lưu hành rộng rãi: Đám thanh niên cách mệnh chép tay, rồi truyền tay nhau.

Cuối năm 1925, vài đảng viên được cử về Bắc bộ. Lúc đó phong trào vận động chính trị rất mạnh ở Đông Dương: Các vụ biểu tình, phản đối xảy ra nơi nơi đòi thả Phan Bội Châu (bị bắt ngày 30-6-25, bị án tử hình ngày 23-11). Phan Chu Trinh từ Âu châu về nước từ 26-6, mở các cuộc diễn thuyết liên tiếp. Tình thế ấy thuận lợi cho hoạt động cách mạng của các đảng viên Thanh Niên. Chẳng bao lâu họ lập xong nhiều tổ chức khắp 3 xứ, tuyển được những phần tử khá để gửi sang Quảng Châu.

Đến tháng 4-1927 thì cuộc tàn sát Cộng sản của Quốc Dân đảng Trung hoa thúc bách Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Hán Khấu, sau sang Mouscou. Nhưng mặc dầu trưởng giả Tàu có khủng bố Thanh Niên, ban chấp ủy đảng ấy vẫn không ngừng hoạt động. Tháng Chạp năm 1928, cơ quan đó rời sang Hồng Kông là nơi mở ra Đại hội lần thứ Nhất của đảng Thanh Niên (từ 1 đến 9 tháng 5-1929.)

Cuộc tuyên truyền của đảng Thanh Niên tại Đông Dương cũng bắt đầu có kết quả. Tháng 5 năm 1929 (1)[17] ngót 250 người đã huấn luyện chính trị xong ở Tàu, 200 người đã về Đông Dương, không kể số một ngàn vừa đảng viên, vừa cảm tình viên đã sẵn tại Việt Nam chia ra như sau:

Bắc kỳ: Chừng ngàn đảng viên, 2 thành bộ (Hà Nội, Hải Phòng) (1)[18], 3 tỉnh bộ, một xứ bộ. Thành phần đa số thợ thuyền.

Trung Kỳ: Chừng 200 đảng viên. Thành phần đa dạng hơn ngoài Bắc: Thợ thuyền, giáo học, nông dân, học sinh. Có một xứ bộ.

Nam kỳ: Ngót 100 đảng viên, 275 hội viên các cơ quan phụ (Hội phụ nữ, Hợp tác xã…). Ba khu vực là Sài gòn, Mỹ tho, Cần thơ. Có một xứ bộ. Ban chỉ huy toàn là trí thức hay bán trí thức.

Đại hội Hồng Kông (3)[19] họp ngày 1-5-29, đã chuẩn y các điều lệ, chương trình của đảng Thanh Niên, nhưng chia rẽ quan trọng về nguyên tắc lập đảng. Ba đại biểu (Bắc 2, Trung 1) nêu trước Hội Nghị vấn đề lập đảng, yêu cầu Thanh Niên công khai theo ngọn cờ tranh đấu cho vô sản của Cộng sản. Đề nghị của họ bị ban chỉ đạo cực lực công kích, bị bác. Lý luận của ban chỉ đạo ghi trong phúc trình về điều lệ đảng Thanh Niên không cứng cáp: Ban chỉ đạo công nhận rằng, sự bành trướng của Tư bản, sự tiến triển của Vô sản, sự phân biệt ngày càng rõ giữa quyền lợi các giai cấp xã hội… khiến cho sự thành lập đảng Cộng sản là cần, nhưng thoái thác việc ấy, nói rằng không hợp pháp (Đại hội không có quyền quyết định việc đó) và việc đó không thi hành được. (Phải cải tổ đảng theo những nguyên tắc tổ chức đảng theo lối cộng sản, trước khi tổ chức thành đảng cộng sản). Kỳ thực, đảng Thanh Niên sợ trách nhiệm, không dám vượt qua chính sách Nguyễn Ái Quốc lập ra từ 1927, là thành lập một đảng cách mạng quốc gia, theo xu hướng xã hội. Đoạn sau, ta sẽ thấy thái độ đó hợp với quan niệm tổng quát - hầu như căn bản chính trị của Nguyễn Ái Quốc.

Ba đại biểu Bắc và Trung bỏ Hội nghị ra về (1)[20] Lời họ chỉ trích dữ dội ban lãnh đạo đảng Thanh Niên là tiểu tư sản, là giả dối… đã lôi kéo được theo họ đại đa số tổ chức bắc bộ cùng một phần phân bộ của Trung bộ. Cả hai nhóm họp thành đảng Cộng sản thứ nhất, lấy tên Đông Dương Cộng sản đảng. Một đại biểu được cử vào Nam, trong đó đảng tiến rất nhanh.

Trước sự bành trướng mau lẹ của Đông Dương Cộng Sản Đảng, đối với quần chúng lúc đó lại là đảng cách mạng nhất, ban chỉ đạo đảng Thanh Niên thấy cần phải thi hành chính sách cạnh tranh vượt quá lập trường họ, nên tháng 8-1929, họ thành lập Annam Cộng sản đảng.

Cuối 1929, tình hình như sau: Đông Dương CS đảng bành trướng khắp xứ, nhất là ở Bắc. Annam CS mạnh nhất trong Nam. Còn một nhóm thứ ba, tên “Nhóm Cộng sản Việt Nam” gồm những người trước ở đảng Tân Việt, một đảng có xu hướng quốc gia - mà những lãnh tụ cấp tiến nhất đã quay sang Đông Dương Cộng Sản - số còn lại lập thành Nhóm cộng sản thứ ba kể trên.

Phong trào Cộng sản trong Nam còn tăng gia nhờ thêm đảng viên của nhóm Nguyễn An Ninh gia nhập. Nguyễn An Ninh là một du học sinh từ Pháp về năm 1928, lập đảng với chương trình cải cách điền địa có tính xã hội. Nhóm Nguyễn An Ninh có nhiều kết quả, nhưng khi Ninh bị bắt từ tháng 9–1929, đảng viên mất phương hướng, chạy theo gia nhập cộng sản.

Nguyễn Ái Quốc ở Xiêm từ 1928, hình như giữ trách nhiệm tuyên truyền cho Đệ Tam quốc tế vùng Mã Lai, Xiêm, Đông Dương, nay triệu tập các đại biểu Đông Dương Cộng sản và Annam Cộng sản, là hai xu huớng tách khỏi đảng Thanh Niên từ Hồng Kông. Tháng Ba 1930 thì Nguyễn Ái Quốc thực hiện được sự thống nhất. Annam Cộng sản sát nhập Đông Dương Cộng sản, rồi tháng 10 cùng năm lấy tên chung là Đông Dương Cộng sản, và cải tổ lại hoàn toàn.

Đảng chuẩn y chương trình điều lệ. Từ nay ban Trung uơng đặt tại Sài gòn. Tháng 4-1931, đảng chính thức gia nhập Đệ Tam Quốc tế.

Thoát khỏi giai đoạn sinh nở khó khăn, Đông Dương Cộng sản đảng lập tức đóng vai quan trọng bậc nhất trên đài chính trị khoảng 1930-32. Thời buổi lại thuận tiện: Ảnh hưởng cuộc khủng hoảng hoàn cầu đã tràn sang Đông Dương làm cho quần chúng lâm vào hoàn cảnh nghèo khổ, khốn quẫn thêm, chỉ làm cho cuộc tuyên truyền cách mạng thêm lan rộng. Các đảng viên cộng sản dựa vào đấu tranh giai cấp, hoạt động sâu xa trong quần chúng; Nào lập ra các hội Tương tế, Ái hữu, Nghiệp đoàn… bí mật, nào yêu sách các quyền tự do dân chủ và đòi luật lao động. Nhưng vì theo chuyển hướng Cực Tả của giai đoạn thứ Ba (do Đệ Tam QT. chỉ đạo), họ lại gây ra những bạo động, lưu huyết liều lĩnh, như tại Hà Tĩnh, Nghệ An (1932) mà các Xôviết thành lập nổi lên đánh chiếm các công địa, chia nhau cầy cấy. Các nổi dậy quá sớm ấy đã bị tiêu diệt trong vũng máu.

Nhưng năm 1931-32 đã có những phong trào quần chúng to tát (hàng ngàn người đi bộ lên phủ-lỵ đưa ra bản yêu cầu, các cuộc đình công…). Những cuộc biểu tình ấy đã chứng tỏ một khi quần chúng chịu ảnh hưởng cộng sản đã giác ngộ đến bậc nào. Cho nên dù đại thể dù mang tính chất ôn hoà, vẫn bị thực dân đàn áp thẳng tay. Trang sử máu của thực dân ghi thêm các địa danh, Nghệ An, Quảng Ngãi, Cao Lãnh… Nhân danh nguyên tắc cao đẹp của nền văn minh khai hoá, lính thuộc địa quay súng liên thanh bắn thẳng vào quần chúng tay không ở Nam, ở Bắc… làm họ chết như rạ. Lính Lê dương khủng bố được ở Bắc, Trung lên hàng vạn tử thi; thêm 5 vạn bị bắt giam, đi đầy. Các trang sử của chính thực dân ghi được từ thống kê cuộc tàn sát thợ thuyền lao động Việt Nam.(1)[21]

Đảng Cộng sản Đông Dương bị buộc tội gây rối, thực ra họ chỉ giúp quần chúng giác ngộ số phận cực khổ và tìm đường sống. Tất nhiên đảng viên bị sự khủng bố, truy lùng của thực dân trước tiên.

Cảnh sát tầm nã, truy tố các người cầm đầu cùng đảng viên, toà án đế quốc hoặc xử tử, hoặc đưa đi đầy. Tháng 6-1931, cả ban Trung ương tại Sàigòn bị bắt.

Hoạt động của Cộng sản do sự khủng bố trở nên khó khăn, nhưng không ngưng trệ. Bắt được ban Trung ương, chính phủ thực dân tưởng đã hạ thủ được phong trào. Bước sang 1932, các tiểu tổ cộng sản đã tụ được khắp ba miền, báo chí bí mật lại phát hành, Nghiệp đoàn ngầm được tái lập. Từ tháng Giêng đến tháng Mười, các vụ bắt bớ tiếp tục, bắt đầu ở Bắc và Trung, sau ở Nam, nhưng chính quyền không thể ngăn được phong trào phục hoạt.

Nhất là ở Nam, đầu năm 1933 Trần Văn Giàu là môn đồ trường phái Stalinien từ Moscou, xuất bản các tập báo nghị luận lý thuyết, lấy tên “Cờ Đỏ”, cố lập hội “Cứu tế Đỏ”, cùng hội “Phản Đế”. Từ đó mặc dầu sự quấy nhiễu và đàn áp của thực dân, đảng cộng sản vẫn bành trướng tới khi đế quốc đệ nhị chiến tranh thế giới thì có được hàng ngàn đảng viên.

Trước khi kết thúc đọan này, cần thuật một việc quan trọng: Sự xuất hiện ở Nam kỳ đầu năm 1932 một nhóm Trotskit (1)[22] do Tạ Thu Thâu bị Pháp trục xuất về khởi xướng. Tạ Thu Thâu được huấn luyện chính trị theo học thuyết Mác-Lênin trong khi hoạt động với Liên Minh Quốc tế Cộng sản.

Năm 1932, tổ chức Trốtkít còn phôi thai nên hoạt động hết sức yếu, nhưng nhà cầm quyền đã nhìn thấy mối hại về sau nên cũng đã thẳng tay đàn áp. Ngày 9-8-1932 nhóm bị bắt giam gần hết, bị xử ngày 1-5-1933. Nhưng sự đàn áp không ngăn được nhóm Trotsky tăng gia hoạt động tại Nam kỳ vào những thời kỳ sau.

Muốn hiểu rõ những thái độ hiện nay của Đông Dương Cộng sản đảng và các lãnh tụ của đảng ấy, ta cần xét thái độ khởi thủy của họ. Tính chất xác địng của đảng này tùy theo thái độ đảng từ lúc mới thành lập.

Vào khoảng tháng 10–1923, Nguyễn Ái Quốc sang Moscou giữa lúc vô sản Đức chịu thất bại nặng nề do lỗi lầm của ban chỉ đạo Quốc tế Cộng sản. Vì không biết rõ tình hình, ban chỉ đạo rụt rè, muốn đợi khi giai đoạn chín mùi mới bước đến giai đoạn khởi nghĩa. Sự thất bại cách mạng Đức đè nặng lên số phận Quốc tế Cộng sản. Hội nghi V lại lỗi lầm lần nữa, do đi ngược chính sách đường từng chủ trương năm 1923, lần này QTCS lại muốn tiến cấp tốc: Chuyển hướng theo sự khởi nghĩa giữa lúc thoái trào. Đó là giai đoạn theo khuynh huớng cực tả 1923-1925, đã ngày càng trái ngược với tình trạng thực sự của giai cấp vô sản. Xem thế đủ thấy, muốn thúc đẩy thời cuộc – như Leon Trotsky đã viết, (2)  Người ta bắt đầu tìm ngoài giai cấp vô sản những lực lượng có sẵn, cho nên tán tụng các đảng giả danh nông dân, gạ gẫm bọn Raditch(3)[23], Follette (4)[24], cố hư trương nhiệm vụ Quốc tế nông dân, làm thiệt hại đến thanh thế quốc tế, Nghiệp đoàn Đỏ, nhận định sai lầm đối với hạng cầm đầu Nghiệp đoàn Anh (5)[25], thỏa hiệp giai cấp với Quốc Dân Đảng Trung hoa. Những cái nạng khập khiễng ấy, xu hướng cực tả của QTCS muốn mạo hiểm dựa vào để chống đỡ - sau này thiên hẳn vào làm căn bản chính cho chủ trương thiên hữu, tiếp nối giai đoạn trước (1926-1927).”

Những dòng trên cho ta thấy rõ đường lối chính trị của Nguyễn Ái Quốc, người tuân thủ từng ly mọi chuyển hướng của Đệ Tam Quốc Tế Cộng sản.

Trước hết, phải biết rằng Nguyễn Ái Quốc trở thành lãnh tụ nhằm thời kỳ 1923-1925 trong bộ phận Quốc tế Nông dân. Đó là những năm – như L. Trotsky nhận định - người ta đi tìm những lực lượng ngoài giai cấp Vô sản. Do thế, tính chất Nguyễn Ái Quốc muốn tạo cho đảng Thanh Niên buổi đầu rất dễ hiểu; Ông ta muốn đảng ấy tập trung được các lực lượng quốc gia có xu hướng xã hội, nhưng về tính chất lại mở rộng hơn một đảng cộng sản thực sự. Ngay đến sinh hoạt văn nghệ của đảng Thanh Niên cũng vậy: Báo chí kêu gọi tinh thần quốc gia, hô hào đoàn kết người Việt, nhưng không hề phân ranh giới rõ rệt giữa gia cấp vô sản và trưởng giả trong nước. Điều ấy đã hiển nhiên, vì đó là quan điểm của đảng Thanh Niên làm kế sách đối với toàn cuộc cách mạng Đông Dương, đã ghi trong chương trình của đảng: Cách mạng giai đoạn. Trước là giai đoạn cách mạng quốc gia, giành độc lập xứ sở, lập một chính thể dân chủ trưởng giả; giai đoạn sau, còn xa xôi, mới thực hiện cuộc cách mạng vô sản.

Luận đề ấy là của Quốc tế Cộng sản chủ trương hồi Cách mạng Trung hoa. Nguyễn Ái Quốc lúc đó cạnh Borodine tại Quảng Châu, nên đã áp dụng trong đảng Thanh Niên cũng một phương sách: Đừng làm cho giai cấp trưởng giả khiếp sợ, thực hiện sự đoàn kết các giai cấp xã hội thành một khối chặt chẽ, bất kể dưới hình thức nào cũng được.

Vì vậy, đảng Thanh Niên đã tự kìm hãm trong giới hạn của một phong trào quốc gia cách mạng. Hẳn có người sẽ lí luận, “Tuy nhiên đảng đó sau đã là đảng Cộng sản Đông dương”

Vật ta thử xem từ đó nó có đoạn tuyệt với con đường chính trị cũ không?. Điều đó ta thấy ông Hồ lại đi theo con đường ngả nghiêng của Đệ tam quốc tế.

Sự ngả nghiêng của Đệ Tam Quốc tế

Ở trên ta đã thấy nguyên nhân sự thành lập đảng Cộng sản Đông Dương là từ xu hướng li khai của một số đảng viên từ hội nghị Hồng Kông. Nhưng đó không là nguyên nhân độc nhất. Năm 1930, sau khi từ bỏ kuynh hướng cực Hữu (mà QTCS không hề phê bình để rút kinh nghiệm) Quốc tế Cộng sản lại sang giai đoạn chuyển Tả, mà họ gọi là “Giai đoạn thứ Ba”, tai hại không xiết, đã khiến cho Vô sản Đức bị đè bẹp, Hítle lên chính quyền năm 1933 (1)[26]. Ở các xứ thuộc địa, “giai đoạn thứ Ba” biểu lộ bằng cách chống tuyệt đối với trưởng gỉa trong nước, chủ trương sự độc lập bất di dịch của đảng Cộng sản từng trước đây bị trói buộc phải đi với trưởng gỉa. Do đó, lãnh tụ Ấn Độ Roy trước vốn có thanh thế trong vấn đề thuộc địa lại bị trục xuất, vì anh còn giữ chủ trương cực Hữu (1926-27) là gần gũi với chủ nghĩa quốc gia hơn chủ nghĩa Cộng sản.

 Tại Đông Dương, đảng Cộng sản bỏ hẳn chính sách nhượng bộ trưởng gỉa, tố cáo hạng này là “phản bội hoàn toàn”, đã nhẩy sang khối phản động đế quốc cùng phong kiến. Mặc dầu hình thức cách mạng trong chương trình của Đông Dương Cộng sản năm 1932, họ đã trộn lộn vài phản ảnh của thuyết “Cách Mạng Thường Trực” (1)[27]– là thuyết mà họ thù ghét – song những câu như “phản bội hoàn toàn” chứng tỏ thái độ vô ý thức, sự trộn lộn của các đường lối chính trị đã áp dụng trong thời kì đó. Không hề có một nhận định nào đúng đắn với giai cấp trưởng gỉa. Giai cấp này, phản hay không phản, thực ra không do đạo đức hay lí thuyết gì, mà thực ra lúc nào họ cũng bảo vệ quyền lợi họ mà thôi. Vì thiếu sự minh định, Đông Dương Cộng sản đảng không giải thích cho quần chúng để phòng ngừa những chuyển hướng “quay Tả” có thể xảy ra trong giai cấp trưởng gỉa; không bảo cho quần chúng phải dè dặt trước manh tâm có thể tái sinh của trưởng gỉa khi đứng ra kháng cự đế quốc. Tính cách mạng tại thuộc địa không hề được nêu ra rõ ràng.

Cũng vì vấn đề đó tuyệt không hề được nói rõ, đường lối chính trị do đó thường thay đổi lớn. Tiêu chuẩn dùng để nhận định vai trò giai cấp trưởng gỉa, và thái độ giai cấp tiền phong vô sản dùng để đối với trưởng gỉa… không hề căn cứ vào đặc tính sâu xa của giai cấp trưởng gỉa, vào thái độ họ đối với nhiệm vụ lịch sử phải giải quyết cho quốc gia, trái lại, chỉ căn cứ vào chiêu bài của giai cấp trưởng giả, vào mặt nạ giả hình của họ, rồi gọi họ là “phản bội hoàn toàn”. Sự phản bội mà, chỉ có những kẻ mù chột về chính trị mới chưa biết mà ngạc nhiên thôi.

Giải tán Đông Dương Cộng sản đảng

Theo như thế, thì cuộc tự sát của Đông Dương Cộng sản đảng tháng 11-1945, giữa lúc đảng ảnh hưởng đại đa số quần chúng thợ thuyền nông dân… bỗng dưng tự động giải tán đoàn kết quốc gia, vì muốn đem cuộc tranh đấu thợ thuyền nông dân lên bàn thờ tổ quốc, tóm lại, cuộc tự sát ấy rất dễ hiểu, chúng ta đã tìm ra nguyên nhân xa xôi từ trước.

Tuy thái độ chính trị Đ.D.C.S Đảng không đúng, và không cứng cáp - hai điều cần thiết để dẫn dắt quần chúng cần lao thành công trong việc đạt những yêu cầu của họ, nhưng cũng phải nhận rằng đảng Cộng sản Đông Dương cũng thức tỉnh được đám đông quần chúng lao động, từ thành thị đến thôn quê biết quan tâm sinh hoạt chính trị. Từ 1932, giai cấp trưởng gỉa đã tỏ ra bất lực, và tiểu tư sản thì thất bại, nên hoạt động Đông Dương Cộng sản đảng bao trùm cục diện chính trị Đông Dương. Cho tới 1945, đảng ấy và đảng Trốtkít là những yếu tố chính trị quyết định thời cuộc.

III.              CÁC PHONG TRÀO CHÍNH TRỊ TỪ 1932 TỚI THẾ CHIẾN

Từ năm 1932 tới chiến tranh, tình hình chính trị ở Trung và Bắc bộ tương đối bình tĩnh. Chính sách khủng b61 đã đập gẫy bộ xương sống của phong trào đòi giải phóng là tổ chức cộng sản, còn các nhóm quốc gia thì tan tác. Chỉ có tại Nam bộ là nơi còn tập trung được các vận động chính trị, vì Sàigòn người Âu đông đúc, báo tiếng Pháp còn dễ thở.

Cộng sản Stalinien và Cộng sản Trotsky đều lợi dụng sự “tương đối dễ thở” ấy mà lập công khai một chiến tuyến duy nhất. Tạp chí “Đệ Tứ Quốc tế”, trong một bài báo, thuật lại cách tổ chức,

Cuối tháng Giêng 1933, hai bạn của chúng ta (Trốtkít) được thả tự do tạm thời, đã liên lạc với những phần tử Stalinien còn ngoài vòng kiềm toả cùng số ít “Vô đảng phái”, lập một phong trào công khai. Mọi người đồng quyết định vạch rõ nhiệm vụ lịch sử và vị trí độc lập của giai cấp Vô sản, cùng tiếng nói của quần chúng bị áp bức…đồng thời tuyên truyền cho quảng đại quần chúng rõ thuyết tranh đấu giai cấp là điều thực tế. Để đạt kết quả ấy, họ dự định tham dự cuộc tuyển cử tháng 5 – 1933, sau vụ giải tán Hội Đồng thành phố Sàigòn. Một bản danh sách gồm 2 lao động trí thức, 2 công nhân thương mại, cùng 4 công nhân được chuẩn y để đưa ra ứng cử. Cơ quan ngôn luận công khai của Choiến Tuyến Duy Nhất ra đời, lấy tên là “Tranh Đấu”.

Cuộc vận động tuyển cử tuyên truyền theo thuyết đấu tranh giai cấp. Kết quả, 2 người trong danh sách thợ trúng cử, làm cả bọn cầm quyền lẫn các nhà “cách mạng” đều chưng hửng.

“Vấn đề xã hội được đề cập ngay, từ đó, thực tế của cuộc xung đột xã hội, tranh đấu giai cấp ngày một rõ rệt, thành ra tranh đấu quốc gia mơ hồ, không căn bản bị gạt ra một bên, coi như phụ thuộc. Tuy nhiên cả Trốtkit đế Stalinit đều không hiểu rõ giới hạn mà bọn đế quốc có thể dung thứ cho họ.Thoạt đầu hai bên đồng ý, về phương diện hoạt động công khai thì cùng tuyên truyền bênh vực cho những quyền lợi và có  thái độ chung, là bênh vực giai cấp vô sản, các tầng lớp bị áp bức đối chọi với giai cấp trưởng gỉa. Còn trong vòng bí mật, Trốtkít và Stalinit đều có tổ chức riêng, hoạt động riêng…khi nào cần, sẽ quy định những chương trình tạm thời để có hành động chung.

“Bởi