1005-gd.gif (6609 bytes)
posted: 04.10.2005
Phong Trào Quốc Gia và Tranh Đấu Giai Cấp ở Việt Nam
ANH VĂN và JACKELINE ROUSSEL
 
Hà Cương NghịĐỗ Văn Bái dịch
 
CHƯƠNG IV

NHỮNG BIẾN ĐỔI XÃ HỘI TỪ KHI KHỞI ĐẦU CUỘC ĐÔ HỘ

Những giai cấp mới

Dưới sự ảnh hưởng của cuộc đô hộ người Pháp, sự khuyếch trương kinh tế Đông Dương dù eo hẹp, thiếu thốn, nhưng cũng làm biến đổi cấu trúc xã hội. Những biến đôi ấy có thể tóm lại trong sự xuất hiện hai giai cấp mới: Vô sản, và Trưởng giả. Tư bản Pháp có thể thoả hiệp được với giai cấp Trưởng giả, nhưng đối với giai cấp vô sản mới mọc, đầy nhiệt huyết, thì chúng đo lường trước được mối hại. Song luật tiến hoá nội bộ của chế độ tư bản, thì bắt buộc chúng muốn thâu thêm lợi, phải khuyếc trương lực sản xuất - lực lượng mà dù kềm hãm tại các xứ thuộc địa, vẫn tiếp tục sinh sôi nẩy nở - quy luật ấy mạnh hơn cả những lời than vãn kiểu phù thủy sinh âm binh rồi bị âm binh vật chúng. Sự nảy nở vô sản ngày càng tập trung, làm thực dân run sợ, chúng đem những lý luận thượng thừa để mạt sát, như nói rằng “Vô sản không khác một cỗ máy lớn, không hồn, tượng trưng tiêu biểu cho vật chất đòi thống trị tinh thần.”[1] (1)

Muốn chứng tỏ tinh thần thắng vât chất – dĩ nhiên đồng thời chúng tìm cách bảo đảm quyền lợi vật chất của chúng - thực dân đã nghĩ ra những giải pháp lưng chừng, là thay đại kỹ nghệ bằng vô số những sản nghiệp nhỏ có tính gia đình và tiểu công nghệ cho dân thuộc địa thực hiện là đủ phát triển rồi. Chỉ suy xét một chút, cũng đủ hiểu chủ trương ấy là vô lý, vì đường lối kỹ nghệ tối tân, thì cần phải có vật liệu kiến thiết tối tân mà chỉ xưởng máy mới chế tạo được.

Những sự phân phối ngôi thứ tuyền thống: Sĩ Nông Công Thương nay nhừng chỗ cho sự đối chọi gay gắt giữa hai phe: Giai cấp có của (vết tích của giai cấp phong-kiến biến thể, (dưới hình thức quan lại), đại địa chủ và trưởng giả mới; và giai cấp bị bóc lột (thợ thuyền kỹ nghệ, mìn mỏ, tá điền, phu cao su, nông dân, tiểu điền chủ, hạng cầy rẽ…)

1. GIAI CẤP CÓ CỦA: TRƯỞNG GIẢ.

Đế quốc Pháp viện cớ tôn trọng văn hoá Việt Nam, vẫn cố duy trì bộ máy hành chánh cũ kỹ, thực ra để đặt nền thống trị cho vững chãi. Bọn quan lại đặt để mỗi tỉnh lỵ, phủ huyện…là giường cột trung thành nhất của chế độ thực dân.

Sau cuộc thất bại của lớp Văn Thân cách mạng, chế độ quan trường chỉ thu thập toàn là cặn bã, những phần tử thối nát, vô lương trong xã hội. Bọn này quây quần chung quanh triều đình Huế, trụ cột thực dân, chuyên ăn hối lộ, đút lót, hút máu mủ dân chúng. Một viên tri phủ lương tháng trăm bạc, mà đủ nhà lầu, xe hơi, ruộng đất, hầu non.

Cạnh lớp quan lại, nẩy sinh một lớp trưởng giả mới, theo nghĩa sát nhất của danh từ. Giai cấp mới này xuất hiện, từ khởi đầu chiến tranh 1914-18. Thực vậy, chỉ từ khi có chiến tranh, Đông Dương mới bắt đầu khuyếch trương kỹ nghệ. Nào Công xưởng, rồi các của hàng bản xứ xuất hiện, đua nhau bành trướng để cung cấp binh nhu cho quân đội hầu chuyển sang Pháp. Hồi xưa, thời cổ Việt Nam, giai cấp Trưởng giả không có đất phát sinh. Dân quê thì không có lực, cũng như không có sức làm giàu; Quan trường, nha lại thì khinh thị nghề chân tay, việc buôn bán hoặc thủ công. Nay cùng chế độ thực dân, hạng trưởng giả và tiểu tư sản nảy nở, vừa theo đặc tính nông nghiệp Nam bộ, vừa theo đặc tính kỹ nghệ thương nghiệp Bắc bộ.(1)[2]

Trên đã nói, ngoài bọn Thầu khoán cầu cống, bọn Vận tải, Tiểu thương…lại còn một bọn trưởng giả, gồm những tay kỹ thụât, bọn chuyên môn, rồi chủ Đồn điền, chủ Tàu thủy, chủ đại Kỹ nghệ, các kỹ sư…Những hạng này, theo như một viên chủ báo tư bản Pháp ở Đông Dương, H. Cucheruosset, đã nhận xét một cách hài lòng, “họ thụ hưởng tiền của một cách không e dè, lại còn được chính phủ nể vì…Họ là một lực lượng cho nền trật tự xã hội, vì họ cũng có ích nếu một khi có Hoà bình, môt nền an ninh được duy trì.” Đấy, chỉ câu nói đó đủ vạch trần tính chất đặc biệt của giai cấp Trưởng giả thuộc địa, thiết tưởng chính xác hơn là những lý luận quàng xiên của những người chủ trương Mặt trận Quốc gia, luôn bác bỏ cuộc đấu tranh giai cấp…

Bất lực của giai cấp trưởng gỉa.

Song, sự bành trướng của gai cấp trương giả kỹ nghệ thương mại, xét toàn di65n, thì cũng bị tư bản Pháp kềm hãm. Tuy không đạo luật nào cấm người Việt không đuợc tham dự vào các công ty kỹ nghệ Pháp, vậy mà không thể kiếm ra một người Việt nào có chân trong các hội đồng quản trị các Đại Công ty. Điều đó có thể giúp ta thấy tại sao trưởng giả Bắc bộ, cũng như Bắc Trung bộ vẫn có thái độ đối lập bất mãn với đế quốc Pháp. Do nền tảng mở mang kinh tế ở Đông Dương còn yếu, khó uớc lượng chính xác để có tỷ lệ so sánh chỉ số nền phát triển kinh tế toàn xú. Tuy vậy, vài con số trưng ra trong một bài phúc trình trên báo đáng chú ý của P. Naville (2) [3]cũng cho ta ý niệm:

Trong số 44,759 hiệu buôn bản xứ phải nộp thuế môn bài (3)[4], có 4 vạn hiệu nộp từ 2 đến 10 đồng (bạc Đông Dương), 150 hiệu từ 100 đến 500 đồng, chỉ có 5 hiệu nộp từ 500 đến 600 đồng. Không một hiệu nàp trên số đó.

“Trái lại phía người Âu, 57 hiệu nộp từ 2 đến 10 đồng, 70 hiệu từ 1,200 đến 6,000 đồng

hoặc hơn. Điều đó chứng tỏ đám thương mại bản xứ rải rác trong từng hiệu buôn nhỏ, và chỉ người Âu là sinh hoạt đại thương (đặc biệt là xuất cảng).”

Tư bản thương mại Việt – theo đúng định nghĩa chữ tư bản - tuyệt không có.

Nếu xét về sự kế tự của người bản xứ, thì bản thống kê chính thức ở Nam bộ, công bố năm 1936, thì vỏn vện chỉ có 40 tài sản trên 1 vạn bạc (dưới số ấy, tài sản được miễn thuế). Trong số các tài sản đó, 28 từ 1 đến 2 vạn, 11 từ 2 đến 4 vạn, và 1 từ 10 đến 25 vạn. Những con số đó có thể coi còn kém với sự thực, nhưng nó cũng chứng tỏ sự bất lực của trưởng gỉa bản xứ trong việc gây dựng những số vốn to, và chứng tỏ căn bản kinh tế rất eo hẹp của trưởng gỉa theo phương diện giai cấp.

Song phải ghi nhận rằng con số trên chỉ của Nam bộ là nơi ít tư bản kỹ nghệ, thương mại ít khuyếch trương. Nơi khuyếch trương và tập trung hơn lại là miền Bắc.

Dầu sao nền tảng kinh tế trưởng gỉa Việt còn rất yếu. Đặc điểm đó hết sức quan trọng để giúp ta hiểu tình hình chính trị lúc ấy tại Đông Dương, là tại sao trưởng gỉa tỏ ra bất lực không thể nào tự mình đóng vai trò cách mạng hoặc phản cách mạng một cách hiệu quả.

Đặc điểm khác nữa của trưởng gỉa Đông Dương là sự dính líu đến quyền lợi mật thiết với giai cấp địa chủ. Sự dính líu dưới hai quá trình. Một là bọn trưởng gỉa nhỏ, buôn bán giàu có đã đem tiền mua ruộng đất, vì có ruộng nên có ngôi thứ cùng oai quyền trong thôn xóm, lại nhờ cho vay bóp họng dân nghèo, thu được mối lợi chắc chắn. Hai là bọn đại địa chủ, nhất là tại Nam bộ, họ không đem của cải đầu tư vào khai khẩn đất ruộn, mà vào trong ngành khác hẳn việc canh nông. Ví dụ một đại điền chủ có hang chục hang trăm mẫu ruộng, đồng thời cũng làm chủ một nhà máy ép dầu, một xưởng máy đúc, một xưởng xay lúa, một tiệm hát, một nhà cho thuê. Một tay đại địa chủ khác thì khai thác đồn điền cao su, nhà máy vôi, xưởng cưa gỗ, lò gạch, lò đá, công ty vận tải.

Nhưng tất cả những hoạt động ấy cũng chỉ là phụ thuộc, và số doanh nghiệp đó rất hạn chế. Đó là điều dễ hiểu, vì sự bóc lột về canh nông được coi như chắc chắn nhất, nhờ cách cho vay nặng lãi, điều sẽ bàn thêm trong chương sau.

2. GIAI CẤP CÓ CỦA: ĐẠI ĐỊA CHỦ

Lối kiến trúc của tu bản Đông Dương rất khác nhau từ Bắc vào Nam.

Bắc và Trung bộ, trước Pháp thuộc, là những xứ gồm đa số tiểu tư sản. Từ hồi Pháp thuộc, ta thấy có hai sự biến cải: Một phần, sự phân tán ruộng đất tăng gia vì nhân số đông thêm, và vì sự quân phân gia tài (1) [5]cho con cái. Ví dụ sở kiểm lâm muốn thuê hai mẫu rưỡi ruộng phải ký tới 75 giao kèo với các chủ điền (2)[6]. Phần thứ hai, sự bành trướng kinh tế nhờ lối giao thương mới và sự kưu hành tiền tệ làm tư bản khuyếch trương thêm, nhờ đó tư bản của đại địa chủ bành trướng thuận lợi. Xét vậy thì dư luận của một vài phần tử cách mạng (dự thảo lập trường của Nhóm Tranh Đấu (3)[7], cho rằng đế quốc Pháp đã tạo điều kiện khách quan, giúp trưởng giả Đông Dương phát triển, là su64 sai lầm lớn. Thực ra, rõ là đế quốc Pháp tăng thêm mâu thuẫn cho một cuộc cách mạng mà giới trưởng gỉa làm rõ nét để thực hiện.

Ta xem xét sự phân bố điền địa tại Bắc bộ để thấy khác biệt. Theo những nhà nghiên cứu công phu nhất thì những con số chỉ gần sát thực tế thôi. Như P. Gourou cho rằng hạng tiểu công (sở hữu 1 mẫu 8 (1)[8]) chiếm 36,6% ruộng đất canh tác; hang trung nông (từ 1,8 đến 3,6 mẫu) chiếm 26,6%; hạng phú nông (từ 3,6 mẫu trờ lên) chiếm 16,6%. Còn lại là công điền. Tác giả lại bảo nên chú ý rất nhiều tới hạng tiểu nông (586,000) chỉ có dưới 0,36 mẫu, và cách phân phối chi vụn, đến nỗi có những diện tích không to tát gì (khỏng 3,6 m2) cũng được coi là điền sản. Tuy thế, Bắc bộ cũng có đại địa chủ. Ch. Robequain cho những con số sau, bổ ích trong việc phân tích bọn này: 594 địa chủ (61,6%) có dưới 0,36 mẫu, và 288,000 (30%) dưới 1 mẫu 8. Nếu so với con số của Gourou, thì ước chừng có 882,000 địa chủ (91,6%) chiếm hữu 36,6% đất ruộng.

Gourou lại ước lượng số địa chủ Bắc bộ là 965,000, vậy chỉ có 83,000 địa chủ (8,4%) đã sở hữu 43,4% (lây tổng số diện tích, trừ 36,6% +20% công điền). Cũng phải nói trong số 83,000 địa chủ, rất nhuều chỉ có 1,8 đến 3,6 mẫu mà thôi. Không quy địng tuyệt đối chính xác hạng Trung nông, nhưng chắc chắn là một sốt rất ít địa chủ đã sở hữu một số đất không nhỏ tại Bắc bộ. Trái với dư luận thông thường, Bắc bộ thực ra có đại địa chủ. Gourou vạch lí do sự hiện hữu của họ ngay từ trong thống kê: Một cá nhân có thể mượn tên tuổi để đứng tên đất tại nhiều thôn xã khác nhau, và ngoài ruộng đất của mình, còn kiểm soát một số ruộng đất của các tiểu nông khác, những người vì nợ nần mà làm tá điền cho người khác ngay trên ruộng đất của mình. Như tại Thái Bình, 122,000 tiểu điền chủ có dưới 0,36 mẫu (tổng cộng 21,960 mẫu); còn 253 đại điền chủ chiếm hẳn 10,080 mẫu, và kiểm soát 14,280 mẫu.

Tại Nam bộ, số đại địa chủ chiếm vị trí rõ rệt hơn: Chế độ thực dân thành lập ở đó lâu hơn, uốn nắn xong xứ ấy theo ý chúng do đất mới, dân thưa. Đại đa số đại điền chủ là bọn mới nảy sinh, do hai nguyên nhân: Những đất hoang được khai khẩn do vốn tư bản thực dân Pháp, hai do sự tăng gia sinh hoạt kinh tế, rồi chính sach cho vay nặng lãi, đã thu được rất nhiều đất đai của tuểu đia chủ. Bảng thống kê (2)[9]cho thấy so sánh sự phân phối ruộng của Nam và Bắc bộ:

Thống kê

Tổng số nông dân

Tổng số địa chủ

Diện tích ruộng tính theo mẫu tây

Trung bình điền thổ

Trung bình theo số dân

Nam bộ

Bắc bộ (3)[10]

4,000,000

6,500,000

255,000

965,000

2,400,000

1,200,000

9 mẫu

1,2 mẫu

15 ng/mẫu

6,7 ng/mẫu

Xét tổng quát, thì Nam bộ đại điền chủ chiếm 45% đất trong tay 2,5% tổng số địa chủ, và có đồn điền diện tích hàng nghìn mẫu lọt trong tay một người. Trung Nam bộ, địa chủ có 31,3% đất, miền Tây 9,6% địa chủ có 65,5% đất.

Nội con số cũng chỉ tính chất phong kiến của tư sản Nam bộ.

Nếu nghiên cứu về tính chất khai thác về canh nông, thì tính phong kiến còn rõ hơn nữa. Nợ nần tại thôn quê ngày càng đè nặng trên nông dân. Năm 1937, một viên Công sứ (1)[11]viết,”Không còn người nào không là người hoặc cho vay, hoặc đi vay. Tá điền vay địa chủ, địa chủ lúc cần đi vay ông chủ tư bản lớn hơn.”

Đại điền chủ quanh năm, chẳng những không lo khai thác chăm sóc ruộng đất của họ, mà còn không sống ở đó nữa. Chúng chia ấp trại cho tá điền cấy rẽ, hạng sau làm ăn trên điền địa ấy như nhà mình. Bọn điền chủ Pháp Việt thường lừa dối dư luận, hô hào phải mua máy móc tốn kém cho nông dân làm ăn, cốt che đậy sự bóc lột tàn nhẫn, nhưng xa sự thực, vì các đồn điền lớn vẫn cày bừa theo cách thủ cựu, hủ lậu…như vẫn làm lụng trên những miếng đất nhỏ, vì những đồn điền ấy đã biến cải bằng cách chia thành những khoảnh đất nhỏ, xen kẽ nhau.

Đối với bọn tá điền và nông phu, thì đại địa chủ Việt Nam giữ một địa vị không khác nào một chúa phong kiến đối với nông nô. Ngoài những thuế má bắt dân cày đóng góp, lại còn bắt họ biếu xén ngày giỗ, ngày Tết nữa.

Ở Đông Dương viên chúa ấy là một tên cho vay nặng lãi, vì thế áp lực đè lên giai cấp cùng khổ nhất, là dân đen. Đến đây càng hiện rõ sự liên hệ giữa địa chủ và trưởng giả, và đặc tính giai cấp trưởng giả này. Tuy mới xuất hiện, giai cấp trưởng gỉa đã kéo theo sau họ tất cả sự ràng buộc với phong kiến, dù phong kiến tàn lụi. Giai cấp trưởng giả cùng chung một thần-thế với các chúa đất. Bởi bản chất của họ, họ bất lực trong việc phá vỡ những trói buộc họ, bất lực trong việc đem lại một phương thức sản xuất mới: Trưởng gỉa chỉ có thể sống vất vưởng, dựa bóng đế quốc, và lùi bước trước việc phải giải quyết những nhiệm vụ lịch sử trước mắt.

Vai trò quan hệ của chính sách cho vay nặng lãi ở Đông Dương giải thích tại sao sự phát triển của giai cấp trưởng gỉa kỹ nghệ, thương mại lại bạc nhược đến thế, và tại sao họ chỉ bỏ tư bản vào việc đầu tư ruộng đất. Thục vậy, họ tội gì mà liều lĩnh buôn bán, hay mở mang kỹ nghệ…là những ngành hoạt động mà thời cuộc kinh tế hoàn cầu có thể làm sụp đổ chốc lát bằng một cuộc khủng hoảng tiêu tan mọi vốn liếng của họ, trong lúc ngay tại xứ, họ có thể khuyếch trương một cách rất lợi, lại an toàn? (2)[12]Tội gì phí công lao, tiền của  khai thác triệt để về ruộng đất, như mua máy cày…trong khi dùng lối cho vay nặng lãi còn thu lợi gấp bội so với lối gia tăng sản xuất điền thổ? Các Mác đã nói,”Giữa anh trọc phú cho vay một vốn bốn lời, với anh chủ công ty ngân hàng có khác nhau chăng, chỉ là ở hai chế độ sản xuất, và do cách tổ chức xã hội mỗi chế độ không giống nhau.” (3)[13] Ở Đông Dương nạn cho vay bành trướng như vậy, tỏ ra có hai chế độ lồng vào nhau: Một chế độ tư bản do thực dân đem tới, và một chế độ phong kiến suy đồi mà trưởng gỉa bản xứ duy trì, hoà nhập với đế quốc, cùng nhau ngăn cản sự bành trướng của các lực lượng sản xuất trong xứ.

Sự cầm cố ruộng đất, một tai họa cho dân quê, không phải chỉ là một hiện tượng do sự túng thiếu mà ra, mà đó là biểu trưng cho sự lệ thuộc vào bọn điền chủ, bọn này ép nông dân phải chịu để biểu dương uy quyền tuyệt đối của chúng, thứ uy quyền bất khả kiểm soát(1)[14]. Ngay từ đầu mùa cấy, điền chủ đã thúc bách tá điền phải vay một số tiền tương đương với hoa lợi họ sắp gặt hái. Nếu tá điền không chịu, chứng tỏ người ấy không đáng tin tưởng vào nỗ lựclàm việc, bị đuổi ngay. Tiền vay đến mùa gặt, (6 tháng sau) phải trả bằng thóc (2)[15] Một thí dụ để chứng tỏ việc bóc lột: Trước 1940, một đồng bạc vay nợ phải trả bằng 2 gịa rưỡi thóc (3)[16]; một giạ thóc tính giá năm 1930 trị giá 1$5, có nghĩa 1$ vay phải trả 3$75, tức là lãi 250 đến 300%. Cách đầu tư như vậy thực là chắc: Nếu mùa màng hư, tá điền nhịn ăn gạo nhưng địa chủ vẫn thu được nợ. Một lối cho vay khác, lối “Muợn tiền” điền chủ cũng nặng không kém: Trung bình lãi phải trả từ 30 tới 48%, có khi tới 300% khi số nợ nhỏ. Nếu vay từng ngày thì lãi xuất còn cao hơn nữa. Một đồng bạc vay buổi sáng, chiều trả, phải trả 1 hào (các) tiền lãi. Dân quê không có ruộng cầm cố phải làm muớn trả nợ. Vay 1$ phải làm 10 ngày công, tính thời giá 1937 là 2$50. Có khi phải cho cả con cái đến nhà chủ nợ ở đợ, cung hiến con gái làm hầu thiếp, đôi khi phải bán cả con. Người không có của hoàn toàn trong tay đứa có tiền: Một hình thức bóc lột tàn tệ thay cho các hình thức nô lệ khả ố ngày xưa. (4)[17]

Bọn cho vay

Bọn cho vay chia làm hai hạng: Thứ nhất là bọn đại địa chủ Việt, và bọn “sét ty” (5)[18] đã cho tiểu điền chủ và tiểu tư sản bản xứ vay. Nhưng bọn đại địa chủ - đặc biệt tại Nam bộ - cũng mắc nợ bọn đại công ty ngân hàng (5)[19] và nhất là các công ty Nông khố. (Công ty điền thổ, hay Canh nông), cho vay theo cách thế chân ruộng đất. Vì thế Toàn quyền Pasquier, trong diễn văn đọc tại Đại hội kinh tế Đông Dương ngày 25-11-31, đã cho biết, những điền chủ việt xin hoãn nợ có cả những điền chủ tài sản lớn, như Trương Văn Bền (18 ngàn mẫu), Trương Đắc Danh (8 ngàn),Nguyễn Văn Kiên (5,5 ngàn), Bùi Quang Chiêu (1,5 ngàn). Lớp đại địa chủ ấy lại dùng tiền vay mượn để cho vay lại, lãi xuất cực nặng. Feyssal kể rằng, một tên vừa vay của Công ty Điền thổ 10 vạn bạc, đã cho vay lại 6 vạn. Một tên khác có 7 ngàn mẫu ruộng, năm 1932 phải mắc nợ 5 triệu , nhưng y được người khác mắc nợ y cũng số tiền đó! Nguyên nhân chính mà tư sản, điền chủ Việt mắc nợvì phần phải tranh nhau trong sự khai thác đất mới Tây Nam phần, cùng sự tăng gia mở các ngành khác cạnh tranh với nghề nông. Đại cương như sau: Nhiều kẻ đem đồn điền cầm cố, bị lãi nặng không trả nối, rồi mất cả đồn điền. Rồi các đất mới khai khẩn cũng đem cần để có vốn xây nhà cho thuê, lập xưởng xay lúa - năm 1928, có hẳn một “Phong trào Quốc gia” về kinh tế, mục đích chống người Tàu độc quyền xay lúa - mở các công ty Vận tải…Những công cuộc ấy rủi gặp lúc kinh tế khủng hoảng liền đột quỵ, chủ nhân mắc nợ.

Nợ nần và hậu quả. Chủ trương “Nam kì tự trị”

Riêng tại Nam bộ, cuối năm 1932 tổng số nợ lên tới 35,600,000$, bao trùm 44 vạn mẫu ruộng. Số nợ này thuộc chủ nợ sét ty 9,617,557$; người Việt có 9,573,517$, còn lại chủ nợ là từ các ngân hàng trực hệ Đông Dương Ngân hàng các Nông khố Pháp xuất vốn cho vay. (Bắc bộ đất ruộng lớn hiếm, nên số nợ chỉ có 1,800,000$, bao trùm 31,500 mẫu).

Từ những chi tiết trên, ta thấy rằng:

1. Tư sản nông dân Đông Dương, nhất là Nam bộ, vì mắc nợ mà luôn bị lệ thuộc quyền

hành các Đại công ty tài chính Pháp..

2. Lớp tư sản đó muốn đổ phần đông gánh nợ trút lên nông dân nghèo, tiểu điền chủ, tá

điền, thợ cầy. Tư sản thường làm trung gian cho tư bản Pháp để bóc lột.

Viên Đại tá Bernard viết trên báo “Combat” đã tố cáo chính bọn cho vay nặng lãi mới

 bóc lột dân, KHÔNG phải chính quyền thực dân (!). Vì chính quyền thực dân, trái

lại tìm đủ cách tiễu trừ nạn cho vay. Theo lời y, giải pháp như sau:

Năm 1913, chính phủ Pháp khuyến khích sự thành lập các Công ty Nông phố bản xứ ở Nam bộ. Nhưng khó mà gạt bọn người Việt có vai vế đạ lợi dụng phương pháp tỉ mỉ rắc rối của thủ tục cho vay khó hiểu với thường dân, để giành phần lớn tiền vay, thu mua ruộng đất đầu cơ tại các tỉnh miền Tây.” Nhưng nếu ta hiểu rằng chính phủ thực dân đã mộ lính tráng, đặt toà án, mở nhà tù, lập Côn đảo để trừng trị thợ thuyền, nông dân nổi dậy theo ngọn cờ Cộng sản  mong cải thiện cuộc đời, thì ta xét rõ chân giá trị của “Tất cả phương tiện” mà Bernard nói, đồng thời cũng thấy giọng đạo đức đáng khinh của lũ bào chữa cho thực dân. Vì thực ra nông dân Việt Nam phải đương đầu không những đế quốc Pháp, mà còn bọn tư sản Việt Nam nữa. Nếu tình hình tỉnh này có khác tỉnh kia chút ít, (1)[20], sự mắc nợ ruộng đất rõ ràng là một tai họa đặc thù của Đông Dương, nó bắt buộc giai cấp nông dân phải trực tiếp đứng lên đạp đổ giai cấp tư sản bán phong kiến.

Sự bất lực của giai cấp tư sản Việt thật rõ rệt. Tư sản Việt Nam không thể cải cách điền địa, chia đất cho dân cày - một nhiệm vụ đặc biệt của cách mạng tư sản – vì làm thế là họ tự sát. Xưa nay, chưa có giai cấp nào lại tự xử tử mình, tư sản Việt Nam cũng không tránh khỏi quy luật đó của lịch sử. Cho nên cách mạng của quần chúng một khi cao trào, sẽ vuợt khỏi trình độ tranh thủ độc lập, sẽ tìm cách thực hiện những chuẩn đích giai cấp riêng của quần chúng, hất bỏ giai cấp tư sản sang hàng ngũ đế quốc - là giai cấp bảo vệ và duy trì cho đế quốc. Điều đó xảy ra ở Nam bộ, hạng chủ trương thuyết “Nam kì tự trị” tham dự vào chính phủ thực dân toàn là hạng tư sản, đại điền chủ.

3. Tiểu tư sản

Tại Đông Dương, hạng tiểu tư sản gồm có tiểu thương, công chức, trí thức hay bán trí thức…đã đóng và còn đang đóng một vai trò chính trị hệ trọng. Hoặc họ đang gắng sức lập một đảng tiểu tư sản riêng, hoặc họ đào tạo cán bộ cho những tổ chức thợ thuyền. Địa vị vật chất của tầng lớp tiểu tư sản ấy tuy có cao hơn thợ thuyền – nông dân thực, nhưng vẫn còn thấp kém. Họ đau đớn vì bị người da trắng chửi bới khinh miệt, và chịu đựng những sinh hoạt kém hèn. Đặc biệt nhất là hạng trí thức du học bên Pháp chiếm được những mảnh bằng rực rỡ: Y sĩ, kỹ sư, giáo sư, thầy cãi…lúc về nước lại bị hạ xuống cấp phụ thuộc, bị trả lương ít hơn người Pháp cùng một chức vụ. Thường người ta thấy có những viên kỹ sư phải kiếm vợ giàu để thoát khỏi cảnh sống cùng cực. Vì thế tất cả giai tầng xã hội đó là nơi chứa bọn thất chí, bị thúc đẩy hoạt động chính trị…như đã thấy ở trên.

Xét thấu tình trạng, Đại tá Bernard đề nghị phương sách giải quyết là kỹ nghệ hoá thật rộng rãi. Y vạch một đường rất có lý, là càng ngăn hãm kỹ nghệ thì càng thu hẹp môi trường hoạt động thanh niên trí thức Việt Namvào khuôn khổ chật chội của canh nông và tiểu công nghệ”. Bernard viết,”Nếu chính sách kỹ nghệ hoá sớm thực hiện được, phụ thêm công cuộc tại chính quốc, thì sẽ nảy sinh một phong trào giao dịch trí thức, văn hoá, tài chính, kỹ thuât giữa các tầng lớp Việt và pháp. Vấn đề nhập hoá hạng thượng lưu Việt Nam và thượng lưu Pháp sẽ giải quyết xong. Những ý định về độc lập, nguyên vọng tự trị sẽ lùi bước trước những khối quyền lợi tương giao kết chặt.”

Nhưng khốn nỗi, đế quốc không thể thúc đẩy rộng rãi sự phát triển kinh tế thuộc địa được. Khuyếch trương một nền kỹ nghệ bản xứ, trước hết là làm nguy hại đến chính thể thực dân, vì khi giúp cho kỹ nghệ thuộc địa bành trướng biệt lập làm phát sinh một sự cạnh tranh có thể trở nên nguy hiểm. Như vậy đối với tiểu tư sản Việt Nam, không thể tìm một giải pháp nào bền vững dưới bóng đế quốc. Lịch sử phong trào quốc gia đã chứng tỏ tiểu tư sản cũng không thể đứng riêng, như một giai cấp, mà tìm được giải pháp cho riêng mình.

4. Nông Dân

Biểu đồ dưới đây (1)[21] tóm tắt số phàn trăm khái lược về nhân số nông dân ở từng xứ tại Việt Nam (2)[22]

Biểu đồ

Dân số trong xứ

Dân số thị thành

Phần trăm của thị thành với toàn xứ

Phần trăm dân số thôn quê

Bắc bộ

Trung bộ

Nam bộ

8,700,000

5,484,000

4,483,000

400,000

160,000

847,000

4,6%

3,9%

14%

95,4%

96,5%

86%

Tình trạng lầm than nhất là tình trạng phu phen, thợ cầy không chút ruộng đất, mà nhân số chiếm tới 2/3 dân đinh thôn quê. Theo sự nhận xét của ngay bọn sử gia tư bản, (1)[23]thì đám người ấy “chỉ được ăn đủ no vào mùa gặt”.

 Công điền

Theo đường lối tổ chức phong kiến xưa, mỗi làng xã đều có đất công cộng làm ruộng (công điền) cho hạng người không ruộng, nông dân nghèo canh tác. Công điền tuy vẫn còn, nhưng diện tích ngày càng thu hẹp dần, rồi thu hẹp rất nhiều. Nhất là ở Bắc, bọn thực dân dung túng cho địa chủ chiếm cả đất công điền. Trung bộ, công điền hãy còn, chừng 20% trên tổng số canh địa. Bắc còn 20%, nhưng ở Nam chỉ có 2,5% (vì nhiều làng mới được thành lập) trong khi chính ở Nam, đại  đa số nông dân lại không có ruộng (trong ba, thì hai gia đình không ruộng). Vả lại dân canh tác công điền, thì công điền lại cứ ba năm chia lại một lần, do bọn hào mục định đoạt, cho nên người ta không thể bỏ qua được sự chênh lệch. Dân canh tác công điền vốn nghèo, luôn mắc nợ, thành thử lo cầy cấy trả nợ lãi cho chủ nợ trước, ít khi hưởng được công lao chính mình. Tiền công dân cày rất biến hoá: Thợ khoán từng mùa còn khổ cực hơn thợ khoán hàng năm. Nói chung thợ cấy thuê được cho ăn, hoặc ngoài tiền công còn được thưởng thêm bát gạo – nhưng thường gạo xấu, lượm mót quanh đống rơm, đã mốc quá nửa.

Lấy con số chỉ tiêu năm 1937 tại Nam bộ, công một thợ cầy phải nuôi gia đình 5 miệng ăn, có 135$ (2)[24] một năm. Chi tiêu về nhu yếu phẩm (gạo, cá, mắm muối…) đã hết 96$, tức 71% tiền công. Còn vẻn vẹn 35$ để chi phí nhà ở, thuốc men, củi lửa…

Cảnh nghèo khổ ở Bắc còn thảm hơn. WQuỹ gia đình cho 6 miệng ăn, năm 1937, chỉ có 60$. Theo tiền quan Pháp thì một gia đình như vậy phải sống với 700 quan một năm, không đầy 60 quan một tháng. Nhiều nơi ở Trung bộ, tình trạng cũng không khác.

Sự cơ cực thì dân Nam bộ đỡ hơn ngoài Trung, Bắc, nhưng dù cho đất canh tác có rộng hơn, hạng tá điền Tiểu và Trung nông cũng chỉ có thu nhập tương đương với hạng tiểu điền chủ Bắc bộ. Bởi lẽ họ phải chia cho chủ đất 40,5% số thu hoạch, cộng thêm tiền lãi phải trả trước, tiền mướn chỗ ở, cung sêu, lễ Tết…Thành ra phần chủ cho mướn ruộng chiếm tới 70% lúa gặt. Tá điền nào không thể trả sòng phẳng được, phải nai lưng ở đợ, hoàn toàn là một nông nô thuộc quyền chủ. Lợi tức trung bình của đám nông dân ấy chừng 115 $đến 150$, kể cũng không hơn thợ cấy rẽ là mấy.

Hạng Trung nông, hạng tá điền đủ ăn, và hạng chủ đất cho cấy rẽ hàng năm có lợi tức từ 200$ đến 500$, nhờ địa vị khả quan hơn, nhưng có khi vì những phí tổn phụ, phải chi tiêu trên mặt xã hội, lắm khi họ cũng vẫn là nạn nhân của nợ nần.

Cuốn của P.Gourou, “Nông dân Trung châu Bắc kỳ” đã là một bản cáo trạng, chứng minh nạn nghèo khổ luôn giam hãm dân quê Bắc bộ. Gourou tuyên bố,” Ta có thể khẳng định là dân chúng đã chịu nhịn đói đến cùng-cực.” Những nhận định của Ch.Robequin cũng tương tự như thế, đáng ghi lại như sau:

Rất nhiều tiểu điền chủ, ngoài mẫu ruộng và chiếc nhà gianh mỏng manh, chỉ có công cụ cày cấy thô sơ, một con lợn, vài con gà tổng kết giá trị chừng vài đồng bạc. Phần đông không có nổi trâu bò cày cấy, phải đi thuê.”

Khi tới mùa, lúa chưa gặt, phần lớn thóc đã phải đem bán trước. Thôi thì họ phải giảm khẩu phần hàng ngày, thắt bụng chịu cơm độn ngô, khoai, đỗ, đậu đủ thú, mò cua bắt ốc ngoài ngoài đồng mong thêm bữa, gồng gánh bán buôn hết chợ này qua chợ khác, đem hai bàn tay làm mướn đổi lấy đồng công rẻ như bèo.”

Đoạn khác, tác gỉa lại viết,

Xét những duyên cớ sâu xa của số tử, thì cảnh khổ vật chất, sự thiếu ăn mà chết không phải con số nhỏ. Trẻ con chết non không chỉ vì thiếu vệ sinh, mà cũng vì người mẹ vất vả không đủ sữa cho con bú.Tuy nhờ sự thông thương có dễ dãi, tổ chức cấp dưỡng đã quy củ, ảnh hưởng nạn đói không đến nỗi phũ phàng quá (1)[25], nhưng sự đã hiển nhiên, ai cũng rõ thân hình người Việt gầy còm, nhỏ bé, yếu ớt. Người bản xứ hoặc ở muớn, hoặc làm công cho người Âu nếu mặt mũi hồng hào béo tốt chứng tỏ kết quả tốt lành của sự được ăn uống no đủ.”

Kết luận, đại đa số dân bình thường bao giờ cũng trong cảnh khổ cực, mà hễ có bão lụt, thì lâm vào nạn đói. Thời bị thu thuế, cha mẹ phải đem con đi bán lấy 5,6 chục quan một mạng: Nó đã thành thông thường để tỏ ra chế độ “khai hoá “ của thực dân. Bọn lính Lê Dương Pháp ở Đông Dương hồi hương không tiếc gì bỏ ra 130 quan trả cho cha mẹ một bé gái 13 tuổi đem về làm hầu thiếp, vì họ đang túng tiền phải trả thuế. Một bài báo trên tờ “La Lutte” (trang đầu) xuất bản ở Sàogòn, số 5, tháng Muời năm 1934 tường thuật về món thuế thân đối với dân nghèo ra sao:

Món thuế thân 5$5, phụ thêm thuế bách-tức là 40 ngày công không, 40 ngày một năm, họ àm việc không phải dđể nuôi mình nuôi gia đình mà để cống hóên chính phủ thuộc địa.

Khi nông dân không trả được thuế, lính tới còng tay: Lúc đó nhà nước bắt trả bằng vật.

“Chúng ta đã hiểu là thế nào. Suốt nửa tháng, kẻ chịu thuế phải cuốc đường đào hố như tù, có lính huyện canh gác, tỏ oai quyền bằng roi mây, chửi bới. Đó là chính sách làm sâu của thời nô lệ, không thể tha thứ được.”

Sau cùng nên nói thêm về phương pháp cầy cấy vẫn không đổi từ mấy chục thế kỉ nay. Vẫn cày bừa thô sơ, hủ lậu. Lại thiếu phân bón, chọn giống nên lực sinh sản rất kém, mỗi mẫu chỉ thu 12 tạ lúa (so với Diến Điện 17 tạ, Nhật bản 32 tạ.)

5. VÔ SẢN

Với chính thể thực dân, sự khuếch trương nghề trồng cao su Nam kỳ, kỹ nghệ khai thác mỏ ở Bắc (than, thiếc, kẽm, wolfram) và một vài ngành kỹ nghệ chế biến (làm giày, đúc thủy tinh, xi măng, dệt sợi)) đã nẩy nở và đào tạo một giai cấp vô sản.

Mới đầu, đám vô sản Việt Nam còn bị ràng buộc bởi bởi luân lý thống truyền dạy phải tùng phục người trên, như rồi họ thoát ly nhanh chóng. Hồi Thế chiến 14-18, lao động việt Nam bị tuyển sang Pháp, gần gụi với vô sản Pháp, họ càng tiến hoá rất nhanh, nên từ 1920 đến 1925, đã xảy ra những xung đột có tính quan trọng đầu tiên.

Tổng số thợ thuyền rất ít: Năm 1933 (1)[26] tính có đến 223,000 thợ làm kỹ nghệ và làm cao su, so với tổng số nông dân chỉ chiếm 1,5% - kể cả gia đình thì được 5%. Đám Vô sản đó chia thành: Hạng không giao kèo, 180,000 (vận tải, kỹ nghệ), thợ có giao kèo, 43,000 (đồn điền cao su) – trong số đó tính cả 3,000 phu đưa sang các đảo Thái Bình Dương.

Tuy con số ít, vì các bản thống kê chỉ tính số thợ hiện diện khi kiểm tra. Thực ra con số vô sản – dù nhất thời – còn cao hơn, vì lẽ nhân công thay đổi luôn. Như vùng làm cao su Nam bộ, muốn giữ 22,000 phu thường trực, từ 1925-30, đã phải một tới 75,000 người. (2)[27].

Sự luân chuyển nhân công ấy – theo lời nhận định chính xác của Ch.Robequain – “đã lan tràn ảnh hưởng của lối sinh hoạt mới, toả ra trên một phần rất lớn quần chúng.”

Chính sách làm công có giao kèo do bọn cai trị đặt ra năm 1925, đã che đậy cho chính sách nô lệ được tái lập, trong chủ ý là cung cấp phu phen cho các đồn điền cao su. Bọn mộ phu dùng nhan hiệu úp mở là,”Viên chức di dân của công ty tư nhân” đã đại diện mộ phu. Không khác bọn mộ lính của thời phong kiến Pháp, bọn mộ phu Việt Nam thường dung mưu mô đánh lừa thợ thuyền, và vì hám lợi, chúng tuyển cả những người ốm, vì được hưởng hoa hồng trên số người mộ được.

Điều kiện làm việc, giờ giấc, lương bổng và tính nô lệ.

Điều kiện làm việc cho thợ rất thiếu vệ sinh, nhất là tại các đồn điền Nam bộ, lại thêm sự nhũng nhiễu của cai phu, giờ làm việc quá độ…tất cả những sự đó khiến phu chết rất nhiều (thường là 6%). Tiền công lại rất thấp, thợ không có gì bảo đảm, hễ ốm đau phải nghỉ thì không được trả lương.

Năm 1937, “Lao động Quốc tế” cục, đã xuất bản ở Genève (Thụy sĩ) một tập tài liệu điều nghiên về ”Vấn đề lao động ở Đông Dương”, cho ta biết chi tiết về điều kiện sinh hoạt phu đồn điền. Xin trích lục:

Giờ làm: Ông Giám đốc sở cao su Mimot – khi tôi hỏi về thì giờ làm việc - trả lời rằng: ‘5 giờ 30 còi đánh thức, 6 giờ sắp toán đi làm, 11 giờ nghỉ, 12 giờ 30 lại  làm cho đến 17 giờ. Thợ ăn trưa tại chỗ.’

“Nhưng theo tất cả thợ, thì: 3 giờ còi báo thức, 4 giờ sắp toán. Số phu hàng ngàn, như vậy chắc chắn giờ sắp toán cũng phải 4 giờ 30 mới xong để khởi hành. Buổi trưa quả thợ được nghỉ giờ rưỡi, nhưng tất cả khai làm đến tối mịt mới được về.

“Dù cho lời khai viên giám độc có thật, ta cũng tới kết quả như sau:

Từ 5 giờ 30 đến 11 giờ……….5 giờ 30

Từ 12 giờ 30 đến 17 giờ………4 giờ 30

. Tổng cộng……………………10 giờ.

“Thêm vào số 10 giờ làm việc, vì phu ở cách chỗ làm 5,6 cây số, phải kể thêm 1 giờ 30 đi đường, tính trung bình được 4 cây số/giờ, thì tính cả làm việc và giờ đi đường, thì phu phải mất tổng cộng cho chủ là 11 giờ 30 mỗi ngày.

Công xá - Tiền khấu trừ

“Theo giao kèo, đàn ông được trả 4 cắc, đàn bà 3 cắc (tức là 3 quan Pháp). Ngày nghỉ, ngày không việc – bó buộc không được quá 6 ngày - mỗi tháng không được vuợt quá 6 ngày.

“Giao kèo ký 3 năm. Cấm phu không được kiếm chủ khác trong hạn đó. Giao kèo nói rõ, nếu thợ bị đuổi, sẽ không được tiền trợ cấp. Và những người phu ký giao kèo 4 cắc/ngày, họ không biết sau khi trừ tiền gạo, tiền vay trước, trừ những ngày nghỉ không lương cùng tiền phạt…mỗi tháng họ không cầm tới 12$.

“Đây, tiền công họ lĩnh:

“Nửa đầu tháng Hai (15 ngày, trừ 5 ngày Tết không lương, còn 10 ngày).

10 ngày x 0.40$ = 4$.

Trừ khấu: Gạo: 1$10

Tiền vay trước: 0$30

Lĩnh được :……2$60.

Nửa cuối tháng Hai:

11 ngày công: 11 x 0$40 = 4$40.

Trừ:                Gạo:          1$10

Tiền vay trước:                 0$90

Lĩnh được……                    2$40

Tổng cộng lương tháng Hai được 5$. (trích “Vấn đế Lao động ở Đông Dương, trang 308 và tiếp theo.”)

Nhà văn L.Roubaud viết,” Ở Pháp cũng có giao kèo của chủ và thợ. Hễ ai làm hỏng giao kèo phải bồi hoàn một món tiền. Nếu không trả, kẻ thiếu nợ sẽ bị tịch thu đồ đạc. Nhưng người Việt Nam lại khác. Thân mình họ, chứ không phải đồ đạc, bảo đảm cho chữ ký họ. Giám thị, đốc công, cai phu, sen đầm, lính huyện quản lý việc cầm thế, là thân mình họ. Trong những công cụ chỗ làm việc có cả những chiếc xích để còng. Tại chỗ làm việc, có cả trại giam.”

Dù có chướng tai, tôi cũng phải viết rằng: Người thợ Việt Nam đã  ký giao kèo làm  nô lệ trong thời hạn ba năm.” (1)[28]

Số phận thợ không giao kèo cũng chẳng hơn. Không hề có đạo luật nào công khai bảo vệ họ. Họ hoàn toàn theo điều kiện của chủ. Năm 1938, vài điều thợ kêu nài, như cấm không được cho trẻ con dưới 15 tuổi làm trong xưởng máy, kết quả vẫn chỉ trên giấy: Vài xưởng (thí dụ lò gạch) chủ vẫn dùng trẻ 10 đến 12 tuổi. Cách trả và tiền công hoàn toàn chủ định. Nhưng bọn đồng lõa thực dân vẫn vác loa hô”những thực hiện xã hội rực rỡ” của tư bản Pháp. Đúng ra “những thực hiện rực rỡ” thu gọn vào sự xây dựng vài làng “kiểu mẫu”, hậu quả của óc thương người giả dối của vài chủ xưởng đại tư bản muốn duy trì bộ máy các công cụ sản xuất của họ (2)[29]. Những làng đó, ta thấy ở Hòn Gay và vài đồn điền cao su, là những nhà gianh, vách đất, mái rạ. Thứ chỗ ở tư bản nhận là “cực kì sang trọng” cho thợ Việt Nam, thì không một thợ Pháp nào thèm ở.

Vào năm 1945, điều kiện sinh hoạt của một người thợ tự do, thí dụ người thợ của hãng S.T.A.T (công ty vận tải xe hơi Đông Dương) như sau: 8 tiếng làm việc hang ngày, lương trả theo giờ, không phụ cấp gia đình (đủ hiểu vì sao con cái những gia đình đông đúc bắt buộc phải đi làm kiếm ăn từ nhỏ), không tiền dưỡng lão cho thợ về già. Một thợ “chuyên môn” làm 8 giờ hàng ngày, lĩnh được mỗi tháng 200$ và 18 cân gạo. Thợ không hcuyên môn lãnh ít hơn, được 12 cân gạo. Ngoài ra nếu thợ đi làm đều không nghỉ, được thưởng chừng 30% tiền công. Nhưng nếu mất nửa ngày nghỉ không lý do, thì bị trừ còn 25%, cả ngày thì 50%, nếu nghỉ tới 2 ngày thì mất hẳn.

Một đứa trẻ chỉ được lĩnh 6$ công nhật, ngoài ra không được hưởng thêm gì cả (như gạo, tiền thưởng) như thợ trưởng thành.

Số lương ấy, so với giá sinh hoạt thì hết sức hạ. Giá gạo năm 1945 là 10$ một cân, mà một thợ trung bình phải ăn 1,5 đến 2 cân. Chỉ cần làm con tính nhỏ: Tiền lương 200$ + tiền thưởng 60$ (trường hợp lý tưởng) thì đủ thấy người thợ bán hết sức mình vẫn không đủ sống. Nếu có gia đình thì còn nguy ngập hơn nữa, khiến bắt buộc thợ phải xin làm giờ phụ trội để thêm thu nhập.

Tất nhiên, từ trước cho đến cách mạng tháng Tám, phong trào Nghiệp đoàn không hề công khai. Bọn thực dân nghe tiếng “Nghiệp đoàn”, đã tức giận đến run người. Báo “Courrier d’Haiphong”, ngày 17-2-37 viết,”Nếu cho lập Nghiệp đoàn ở Đông Dương, không khác nào rủ cách mạng đến nhanh thêm.” Tuy vậy, phong trào nghiệp đoàn vẫn bí mật tổ chức, dưới quyền điều động của đảng Cộng sản. Điều đó giúp ta hiểu vì sao khi Việt Minh lên thì nghiệp đoàn bành trướng nhanh chóng: Tại Sàigòn và các vùng phụ cận, số người vào nghiệp đoàn trong vài tuần lễ đã lên tới vài vạn.

* * *

                                                         KẾT LUẬN

Tính chất cuộc cách mạng ở Đông Dương

Xứ Đông Dương đứng trước những nhiệm vụ lịch sử rất vĩ đại: Giải thoát xiềng xích đế quốc, đoạt các quyền tự do dân chủ, thục hành cách mạng điền địa. Xét riêng về những mặt đó, cuộc cách mạng Đông Dương không khác nào một cuộc cách mạng Cộng hoà Tư sản, mà đại cương thì có thể so sánh với những cuộc cách mạng mà các xứ Tây phương đã trải qua trong các thế kỷ trước đây.

Nhưng cách phân tích yếu tố ấy có đủ giải thích đặc tính sự tiến triển cách mạng Đông Dương, có đủ để kết luận cuộc cách mạng là tư sản - tức là cũng như xưa - phải để giai cấp tư sản thúc đẩy và chỉ huy sự tiến hành không? Nghĩ như vậy là máy móc, bỏ qua những điều kiện thực tế lịch sử. Ngày xưa, nhiệm vụ cách mạng tư sản là do giai cấp tư sản thực hiện, nhưng hồi đó tư sản giữ một vai trò hết sức cấp tiến, vì đã đem lại một phương thức (mode) sản xuất mới. Nếu muốn ngày nay tư sản cũng lại thi hành nhiệm vụ ấy, trước hết phải tìm thí dụ tại các quốc gia, có nền văn hoá cách biệt hẳn nhau. Lại còn phải không thừa nhận là tư bản quốc tế luôn tìm cách bành trướng kinh tế, nối liền các xứ khác nhau, làm thăng bằng mục đích phát triển. Sở dĩ ngày nay còn sự chênh lệch trong phát triển từng nước, phần vì lúc khởi đầu chế độ tư bản mỗi nước không phát triển đồng đều nhau, hai nữa vì tư bản phát triển trong những cực kì hỗn loạn, như tại các xứ thuộc địa, vừa muốn mở mang phát triển, vừa muốn kìm hãm phát triển. Vừa muốn mở mang các xứ lạc hậu lại vừa muốn củng cố chế độ phong kiến cũ. 

Cuốn sách ngiên cứu này, đại thể muốn chứng tỏ vì sao Đông Dương ngày nay (1)[30]khác với Đông Dương 1860-1870. Kiểu mẫu xã hội hiện nay Đông Dương đang sống, không thể đồng hoá với kiểu mẫu xã hội các xứ phong kiến “cổ điển” (nghĩa là những xứ phong kiến giống trước hồi cách mạng tư sản Âu châu), lại càng không giống kiểu mẫu xã hội tại các xứ tư bản tiền tiến. Đông Dương, đó là một kiểu mẫu xã hội đặc biệt, chung cho các xứ còn lạc hậu trong thời đại này, là kiểu mẫu một xã hội “hiệp đồng”, kết quả một sự gặp gỡ của tình trạng hậu tiến trên phương diện lịch sử, với sự tiến triển của xã hội tư bản.

Sự nhập nội các phương thức sản xuất của tư bản vào các quốc gia lạc hậu đã làm xuất hiện những thành phần xã hội hoàn toàn mới - trưởng giả và vô sản - đứng đầu giữa hai thái cực trong nước, nên họ có những nguyện vọng riêng, nhu cầu riêng của giai cấp mình. Không thể coi những yếu tố ấy không tác động gì đến những động lực của cách mạng, trong mục đích và phương pháp tiến hành cách mạng. Những vấn nạn chưa giải quyết có thể tóm tắt:”Làm thế nào xứ Đông Dương thực hiện được nền độc lập quốc gia, thực hiện các nhiệm vụ dân chủ tư sản và cách mạng điền địa?(2)[31] Hai, là giai cấp nào có thể thực hiện được những điều đó?”

* * *

Trưởng gỉa và đế quốc.

Chỉ sự nghiên cứu thái độ mỗi giai cấp đứng trước những nhiệm vụ lịch sử của quốc gia, mới có thể có đáp án cho vấn nạn trên, giải quyết vấn đề một cách đích đáng, dựa trên những căn bản khách quan. Đã đầy đủ chứng cớ, giai cấp trưởng gỉa Đông Dương tỏ rõ hẳn hoi là hoàn toàn bất lực, không thể dìu dắt công cuộc giải phóng quốc gia và chia đất cho dân cày, vì họ có liên lạc mật thiết với lũ phong kiến địa chủ, lại dính líu chặt chẽ với đế quốc. Điều sau, lịch sử phong trào quốc gia cho chúng ta đầy chứng tích. Thoạt đầu, trưởng giả đứng tiên phong trong việc chống đế quốc, rồi dần dần họ bành trướng, kết lập với thành một tầng lớp có quyền lợi riêng, thì cái nguyện vọng độc lập của trưởng giả lại càng suy dần. Trước kia là địch thủ đế quốc, nay họ thành đồng minh, nếu thảng hoặc còn tỏ ý kháng cự thì cũng chỉ là một phương pháp tranh giành việc cướp giựt thêm cho quyền lợi họ. Lẽ nữa khiến cho trưởng giả chạy theo đế quốc ngoại xâm: Trong những cuộc cách mạng tư sản xưa (1)[32] trưởng giả có nhiệm vụ giải quyết vấn đề điền địa. Vì biệt lập hẳn giai cấp phong kiến, nên giai cấp trưởng giả có thể giải thoát nông dân khỏi ách địa chủ bằng cách triệt tiêu chế độ làm xâu, bãi bỏ thuế má bằng cách chia đất ruộng cho dân nghèo. Ngày nay, phân chia đất ruộng cho nông dân tức là đập cho trưởng giả một đòn chí tử, vì thủ tiêu một cơ bản sinh lợi cho họ. Bởi vậy, khi quần chúng trong lúc tranh đấu chống đế quốc, vượt qua ranh giới của tiêu chuẩn quốc gia thuần túy, sẽ nổi dậy chống áp bức bất kể từ đâu đến, cả địa chủ phong kiến, thì trưởng giả sẽ quay lưng lại cứu tinh độc nhất của họ là đế quốc. Chính sự yếu nhược của trưởng giả Việt Nam bắt họ phải níu bàn tay phò trợ của đế quốc, bàn tay bao giờ cũng sẵn sàng chìa ra.

Các đặc tính của giai cấp trưởng giả

Tính chất phong kiến của trưởng gỉa tại nuớc hậu tiến có hai: Thời đại phát triển trong đế quốc chủ nghĩa, và thời kì mới chớm nở tại các xứ thuộc địa. Sự khác biệt đó, sẽ giải thích sự bất lực của họ. Ở Đông Dương, trưởng giả sinh nở nhờ tư bản Pháp chiếm cứ - khác hẳn trưởng gỉa Tây phương thành lập do những yếu tố kinh tế xã hội chồng chất lần lần trong xã hội phong kiến, cho đến một ngày phải đoạn tuyệt với chính thể suy đồi để tiến hoá. Đại thể, các nước hậu tiến, mặc dầu có những khác biệt (như Trung hoa, trưởng gỉa chỉ thành lập khi tư bản vào nuớc, Nhật vì sợ bị xâm chiếm mà trưởng gỉa phát sinh để bảo vệ quốc gia), nhưng trong tất cả các trường hợp, trưởng giả không thành lập để chống phong kiến, mà phát sinh để bảo vệ những tiết chế, tục lệ của phong kiến.

Vậy thì trưởng gỉa Việt Nam tự bản chất, không thể giải quyết một nhiệm vụ nào của cách mạng cộng hoà tư sản. Đã không cầm đầu nổi cuộc cách mạng, trưởng gỉa lại nhanh chóng nhẩy sang hàng ngũ đế quốc, chạy theo đế quốc mà chống lại sự tranh thủ độc lập của quần chúng. Những sự việc xảy ra ở Đông Dương mới đây hoàn toàn chứng-lý cho nhận xét ấy: Bọn tư sản địa chủ Nam bộ hoảng sợ vì phong trào đòi độc lập dâng cao, quay sang trợ giúp đế quốc, chia rẽ thêm sự đoàn kết quốc gia bằng cách hô hào lập chính phủ Nam Kỳ Tự Trị để làm suy yếu phong trào. Vài con số để chỉ rõ sự bấp bênh của chính phủ đó: Hai tờ báo hô hào chính phủ Tự Trị được 6,000 số; còn 11 tờ báo chủ trương Thống Nhất in đuợc 128,000 số. (1)[33]

Đối với bằng chứng hiển nhiên ở trên, chứng tỏ thái độ chính trị của chúng tôi là đúng. Nhưng cũng có thể có người bẻ lại, rằng giai cấp trưởng giả ở Bắc và Trung vẫn tranh đấu chống đế quốc, có khi các đảng thuộc giai cấp ấy, như Đồng Minh hội, Đại Việt hay Việt Nam Quốc Dân đảng…chống còn quyết liệt hơn cả Việt Minh. Người ta cũng có thể vin cớ: Pháp muốn tái diễn âm mưu chia rẽ Nam bộ bằng cách liên kết trưởng giả chung quanh tín đồ Công giáo bài cộng, như Nguyễn Mạnh Hà, chung quanh Bảo Đại hoặc bất cứ tên bù nhìn nào khác. Nhưng những ý định ấy từ trước đến nay đều không thành hình, vì lẽ quần chúng kháng cự, vừa vì các tầng lớp trưởng gỉa cũng không hưởng ứng. Rồi kết luậ: Điều đó chả chứng minh giai cấp trưởng gỉa cũng chống đế quốc! Kỳ thực, nếu kết luận như vậy sẽ là nông nổi. Hẳn là trưởng gỉa Bắc và Trung chống đế quốc Pháp mạnh hơn trửơng gỉa Nam bộ - điều này hẳn vì điều kiện lịch sử đặc biệt – Nhưng thử hỏi họ có chống tất cả các đế quốc? Chương IV, đã giải thích Trưởng gỉa Bắc và Trung, do phát triển kỹ nghệ, thương mại hơn trưởng giả Nam chỉ trông về canh nông, ắt hẳn đã chống đế quốc, vì những mâu thuẫn giữa họ với đế quốc nhiều hơn: Quyền lợi kinh tế lúc phôi thai va chạm quyền lợi đế quốc, ta hiểu vì sao trưởng gỉa Bắc, Trung chống đế quốc Pháp sâu xa hơn, nhưng đồng thời họ còn công nhiên nghiêng về phía Trung hoa hơn (2)[34](Quốc Dân Đảng), và theo ngả đó, trông đợi Đế quốc Mỹ. Tại sao? Bởi vì họ không lo giải thoát tất cả các đế quốc để có độc lập thực sự, mở đường cho quần chúng giải phóng xã hội, mà chính họ chỉ muốn làm sao đế quốc biến đổi cách cai trị mềm dẻo, cho họ có lợi. Chính trị ấy khác xa mục đích tranh đấu thiết thực chống đế quốc chủ nghĩa, xét trên tổng thể. Về điểm này, nhận định của chúng tôi cũng có chỗ chứng nghiệm.

Tiểu tư sản thành thị.

Nhưng ta thử hỏi hạng tiểu tư sản thành thị: Viên chức, trí thức, tiểu thương…có đủ lực điều khiển cuộc tranh đấu cách mạng hơn trưởng gỉa không? Ti63u tư ản là giai cấp giữ địa vị trung gian giữa gai cấp trưởng gỉa và quần chúng bình dân; họ lại cũng không có quyền lợi chung như một giai cấp. Với thực tế ấy, thử hỏi họ có năng lực kết hợp chặt chẽ và thái độ độc lập cho cách mạng không? Lịch sử các phong trào quốc gia tiểu tư sản những năm 1925-1930 đã trả lời đầy đủ câu hỏi đó, trong chương trước. Các đảng cách mạng tiểu tư sản đã bất lực theo đuổi một cuộc cách mạng có liên hệ với mọi thành phần quần chúng, bất lực tổ chức quần chúng kết hợp chung quanh một chương trình chính trị rõ rệt, có viễn đồ rộng rãi. Họ đã chỉ kết tinh thành sự tuyệt vọng, và bất kể cơ hội nào, phương pháp nào, họ thí thân vào những cuộc mạo hiểm thúc đẩy họ thêm vào con đường phản bội, hoặc tự sát.

Vả lại lịch sử, xét về phương diện quốc tế, cũng đã chứng tỏ sự bất lực của tiểu tư sản đóng vai trò chỉ đạo cách mạng. Thí dụ như phong trào cách mạng Âu châu 1848-1849, và cách mạng Nga tháng Hai, 1917.

Giai cấp nông dân

Giai cấp nông dân đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển cuộc cách mạng Đông Dương, vì giai cấp đó bao gồm quảng đại quần chúng. Nông dân đã tỏ lực gây những cuộc nổi dậy anh dũng, như ở Cao Lãnh, Nghệ An, Hà Tĩnh năm 1930=1931, nhưng tự nông thôn không thể, a) làm lan phong trào ra toàn quốc. b) Dù bị bóc lột trắng trợn, họ chống đế quốc, địa chủ, nhưng trình độ giác ngộ ít, nội bộ phân hoá, khi cao trào họ lại theo tầng lớp tư sản địa chủ. Tầm nhìn nông dân hạn chế, nên họ trông chờ thành thị. Bởi vậy dù nông dân là động lực quan trọng, họ cũng không có năng lực tạo một nền chính trị giai cấp độc lập, không hoàn tất nổi nhiệm vụ đánh đuổi đế quốc đến cùng để chia lại toàn thể ruộng  đất, là những việc dính dáng chặt chẽ của cách mạng.

Như vậy, giai cấp nào là chủ lực cuộc cách mạng tư sản Đông Dương? Giai cấp đó vừa phải không dính líu đến quyền lợi đế quốc, với lũ quen bóc lột trong xứ, lại vừa phải có tính duy nhất, một sức mạnh tập trung, có thể chỉ huy và làm cách mạng?

Giai cấp Vô sản

Một giai cấp như thế sẵn có ở Đông Dương: Giai cấp Vô sản. Chỉ có vô sản, cầm đầu phong trào cách mạng mới có thể thự hiện được những chuẩn đích cộng hoà tư sản của . Địa vị ưu thắng của vô sản trong cuộc tranh đấu cách mạng, lại nhờ nông dân sẵn sàng ủng hộ - khiến vô sản phải đặt vấn đề cướp chính quyền làm viễn đích.

Nói một cách khác, nghĩa là chỉ có thiết lập chuyên chính vô sản dựa vào nông dân, mới loại trừ thực sự được đế quốc, cùng giải quyết vấn đề điền địa. Tất nhiên khi đoạt được chíng quyền, giai cấp vô sản không những chỉ giới hạn thực hiện những mục đích của cuộc cách mạng tư sản mà thôi, họ sẽ nhanh chóng phải dấn bước, mỗi ngày một sâu vào quyền tư hữu tài sản của trưởng gỉa. Nhờ vậy, giai đoạn đầu của cuộc cách mạng xã hội sẽ nối liền cách mạng tư sản. Cuộc cách mạng tuy khởi đầu là cách mạng quốc gia và điền địa, nhưng nhờ vô sản lãnh đạo, sẽ vượt qua giới hạn, và tiếp tục thành cách mạng xã hội.

Tất nhiên không có gì tiền định trong cuộc cách mạng ấy cả. Có thể là vô sản không đoạt được mục đích là nắm chính quyền. Đó là việc xẩy ra hiện nay bởi sự điều khiển vụ-thời của Việt Minh (Mặt trận quốc gia do Cộng sản Stalinien điều khiển (1)[35], nhất là hồi đầu phong trào). Số phận của cách mạng thực sự từ trước tới nay đều đã trong tay nhóm lãnh tụ Stalinien. Đáng lẽ giúp thợ thuyền thiết lập chính quyền vô sản – chính quyền mà chắc chắn đại đa số nông dân hăng hái ủng hộ, ban lãnh đạo Stalinien lại dung ảnh hưởng mình mà ngăn hãm cách mạng, rồi tự thay thế giai cấp trưởng gỉa yếu nhược, đóng vai phản cách mạng thay cho họ. Bởi thế, tháng Mười Một 1945, họ t