1005-gd.gif (6609 bytes)
posted: 01.10.2005
Nguyễn
Mạnh
Quang
MỘT SỐ NHỮNG SAI LẦM
TRONG CUỐN "VIỆT NAM 1945-1995"

Đây không phải là bài điểm sách. Chủ điểm của người viết bải này là chỉ nêu lên trước công luận “một số những điểm sai lầm” của tác giả Lê Xuân Khoa trong cuốn Việt Nam 1945-1995. Hy vọng rằng sau khi bài viết này được phổ biến trên các diễn đàn, tác giả và quý vị độc giả cao minh lên tiếng để cho mọi người trong nước cũng như ở hải ngoại cùng biết những điều người viết cho là “lỗi lầm” (cũng có thể  cho là “bưng bít và bóp méo sự thật lịch sự thật lịch sử”)  ĐÚNG hay SAI.

Bản Việt Nam 1945-1995 Tập I của tác giả Lê Xuân Khoa được sử dụng trong bài viết này do nhà xuất bản Tiên Rồng phát hành vào năm 2004 (Không đề giá tiền). Sách dầy 568 trang, được chia ra làm 3 phần và lời Lời Kết:

Phần I: Những Nguyên Nhân Gốc của Tị Nạn. (Từ Chương 1 đến Chương 3)

Phần II: Chiến Tranh Chống Pháp và Tị Nạn 1954. (Tử Chương 4 đến Chương 9)   

Phần III: Nội Chiến hay Chiến Tranh Ủy Nhiệm? (Từ Chương 7 đến Chương 10)     

Ngòai 3 phần trên đây và lời kết, còn có các bản Phụ Lục A, B, C, D, E.

Bình thường, nếu chỉ viết một bài viết khoảng 15 hay 20 trang  nói về một khía cạnh nào trong cuộc chiến Việt Nam mà không nói tới bàn tay của Giáo Hội La Mã trên vũ đài chính trị và quân sự ở Việt Nam trong thời cận và hiện đại thì cũng không sao. Đằng này, ông Lê Xuân Khoa biên sọan cả một bộ sách nói về một giai đọan lịch sử từ 1945 trở về sau trong đó nhân dân ta đã phải trải qua một thảm nạn với hai triệu người chết đói (vì bị chính quyền Bảo Hộ bóc lột và cố ý đẩy dân vào tính trạng chết đói với mục đích là tê liệt khả năng kháng chiến của nhân dân[1]) cùng với hai cuộc chiến giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước mà lại không nói đến vai trò của Giáo Hội La Mã thì chẳng khác nào như một vị công tố viện đưa ra trước tòa án xét xử một vụ sát nhân có dự mưu, lại chỉ truy tố  tên sát thủ mà không truy tầm “chân hung” là kẻ chủ mưu và bỏ tiền ra mướn tên sát thủ này thi hành việc giết người cho tên chủ mưu. 

Viết sử mà viết như vậy thì quả thật là viết sử tài tử, không  hiểu gì về nguyên tắc viết sử nếu không muốn nói là có gian ý bưng bít và giấu nhẹm những tội ác cho một thế lực mà tác giả muốn bao che.

Bài viết này không phải là bài điểm sách mà chỉ nêu lên một số những sai lầm của tác giả.   Dưới đây là những sai lầm này:

1.- Không nói đến vai trò của Giáo Hội La Mã trong thời cận và  hiện đại, đặc biệt nhất là trong các chính quyền miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975.

2.- Sai lầm khi nói rằng,“Cuộc chiến thứ nhất là kháng chiến chống Pháp và chống Quốc Gia Việt Nam do Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (tức Mặt Trận Việt Minh) lãnh đạo 1945-1954.”  (Trang 29). Trong thực tế, đây là cuộc kháng chiến chống Liên Minh Pháp – Vatican. Cuộc chiến này cjhỉ là  nối tiếp các cuộc kháng chiến của nhân dân ta từ đầu thập niên 1860 cho đến lúc bấy giờ và có mục đích số 1 là giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thống trị của người ngoại bang. Chính vì cái mục đích số 1 này mà  gần như toàn thể nhân dân ta (ngoại trừ một nhóm thiểu số “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa  đã lũ lượt nô nức lên đường đi đòi lại núi sông  từ trong tay giặc.

Ông Lê Xuân Khoa hiểu như thế nào về cụm từ “Quốc Gia Việt Nam”? Và nghĩ như thế nào về triều đình Huế sau khi đã ký các Thoả Hiệp Nhâm Tuất 1862, Giáp Tuất 1874 và Giáp Thân 1884 để rồi:

“Pháp thành ông chủ cơ đồ,

Vua thành tượng gỗ, dân nô lệ người.”?

Ông Lê Xuân Khoa nghĩ  như thế nào về vai trò ông Bảo Đại trong tình trạng là vua của một nước mà tất cả mọi thứ quyền lực  như chính trị quân sự, ngoại giao, kinh tế, tài chánh và quản trị nhân dân đều nằm trong tay liên minh Pháp – Vatican? Làm vua như vậy có phải là cua gỗ, vua hề không?

Để làm  cho  độc giả nhìn thấy rỏ sự thực về ông Bảo Đại và cái mà chính  quyền quốc gia do ông ta lãnh đạo, người việt xin ghi lại đây mấy đoạn văn trong cuốn Thối Nát của ông Bùi Nhung (Houston, TX, Xuân Thu, 1976) với nguyên văn như sau:

“Khi nhà học giả Trần Trọng Kim xách chiếc va ly từ Nam Kinh trở về Hương Cảng, thì ông Bảo Đại đương hồi “ba đào”. Học giả   Trần Trọng Kim kể lại rằng:

“Lúc tôi tới nhà hàng “Ngài” trọ, hỏi được số phòng ngài ở, tôi vội vã leo thang chân lên lầu, vì thang máy đông người đợi. Ngài đương đánh “mặt chược” ở phòng bên, mình trần trùng trục. Ngài thấy tôi, liếc mắt ra hiệu, bảo cứ vào ngồi đợi trong phòng ngài. Ý hẳn ngài không muốn cho ai biết hành tung chăng?”

Có người bào ông Bảo Đại đánh “mặt chược” cao lắm, nên khi ở Hương Cảng “hoạnh tài” giúp ông đỡ túng. Điều đó không biết có thực không, nhưng tôi được biết ông Bảo Đại đã có lúc phải cầm cố, bán chác cả đồ dùng để lấy tiền ăn. Một số người “tòng vong” lẻ tẻ như các ông Đặng Văn Sung, Đỗ Đình Đạo, Bùi Diễm, v.v… đều bữa nhịn, bữa ăn..

Đến cuối năm 1947, thời cuộc xoay chuyển, thực dân Pháp lại dùng ông Bảo Đại làm một con cờ! Tại Bắc Việt, một viên quan cai trị cũ, tên Cousseau được thực dân giao phó chức vụ điều động các chính khách và chính đảng để tôn ông Bảo Đại làm Quốc Trưởng. Ông Mao Trach Đông đánh ông Tưởng Giới Thạch càng mạnh, thì thực dân Pháp càng hoạt động dữ, để mau mau nắm trọn quyền điều động Việt Nam, kẻo lỡ ra Việt Minh được Cộng Sản Tàu giúp thì thêm khó - một khi đảng này làm chủ lục địa Trung Quốc. Vì thế, Cousseau luôn luôn tiếp xúc với Hoàng Đế lưu vong Bảo Đại tại Hương Cảng. Các chính khách Việt Nam “đánh hơi” thấy mùi, liền đổ xô tới. Giữa Việt Nam và Hương Cảng thuộc địa của Anh, phi cơ và tầu thủy chở các chánh khách Việt Nam đi lại như mắc cửi! Béo bở quá! Các chánh khách đăng tiền cho “ngài” tiêu xài! Các ông ấy tranh nhau lối buôn bán của Lữ Bất Vi và vô số kẻ đã thành công.

Một chánh phủ lâm thời được thành lập vào năm 1948. Thủ Tướng là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân, một võ quan pháo binh kỳ tài, người Việt, quốc tịch Pháp. Chức Thủ Hiến Trung Phần và  Nam Phần lọt vào tay hai ông Phan Văn Giáo và Trần Văn Hữu, còn chức Tổng Trấn Bắc Phần vào tay ông Nghiêm Xuân Thiện. Ông Bảo Đại được tháo khoán. Nhưng có lẽ số tiền Pháp thực dân tháo khoán cho ông Bảo Đại không được rộng rãi lắm, thành thử các vị cao cấp trong chính phủ trung ương tạm thời tháng tháng trích một số tiền ở quỹ đen ra gửi cho ông Bảo Đại như sau:

Thủ Tướng Xuân 50 ngàn đồng.
Thủ Tướng Trần Văn Hữu 50 ngàn đồng.
Tổng Trấn Nghiêm Xuân Thiện 30 ngàn đồng.

Còn Thủ Hiến Phan Văn Giáo bao nhiêu không biết. “Thị Trường” bán quan mua tước tại Việt Nam trong giai đọan này càng nhộn nhịp lắm. Năm 1948, tôi vớ được ba bản danh sách chánh quyền, chi chít những tên tuổi. Cả ba bản, tên một ông luật sư người Việt, vợ đầm, những vẫn Việt tịch bị ông Bảo Đại gạch ở chức vụ Bộ Trưởng Kinh Tế!, Một chức vụ bở nhất, hái ra tiền! Không phải ông Bảo Đại ghét gì ông luật sư đâu, nhưng cái chức đó  khi đem “bán đấu giá” ngầm, có nhiều kẻ tranh giành quá! Ông luật sư mua hụt….

Ông Bảo Đại nằm tại Hồng Kông, cho nguyên Thủ Tướng Trần Trọng Kim về tiếp xúc với Cao Ủy Pháp tại Sàigòn. Cụ Kim kể lại đoạn này với tôi, lúc tôi từ Hà Nội vào thăm cụ ở Nam Vang, đường Lasana số 4: “Tôi trở về nước có nhiệm vụ dọ dẫm xem Pháp có thật tình không, nghĩa là có cho Việt Nam tự do, độc lập thật sự như trong khối thịnh vượng chung của Anh không? (commonwealth). Tôi gặp ông Cao Ủy ở Sàigòn. Sau một giờ chuyện trò, tôi biết rõ cái dã tâm của thực dân! Liên Hiệp Pháp chỉ là một thứ cái cũi chó mạ vàng! Ông Cao Ủy, lúc tiễn tôi ra cửa, có nhã ý, muốn nhân danh chính phủ Pháp giúp tôi một số tiền mở nhà in, để theo đuổi con đường văn hóa. Tôi cảm ơn, không nhận! Cũng tiền của dân Việt Nam, chứ tiền đâu của Pháp! Hồi Nhật đầu hàng Đồng Minh, các cố vấn Nhật biếu tôimột lúc cả 50 triệu để làm vốn mở mang văn hóa, tôi cũng kiếu, huống hồ của thực dân.”[2]

3.- Khẳng định cuộc chiến 1954-1975 giữa hai miền Nam và miền Bắc là một cuộc chiến tranh ủy nhiệm, ông viết:

“…một cuộc tranh chấp hai mươi năm mà phe quốc gia gọi là cuộc chiến đấu chống chế độ cộng sản của dân tộc Việt Nam, còn phe cộng sản thì gọi là chiến tranh chống Mỹ - Ngụy để cứu nước. Thực tế thì đây là một cuộc chiến giữ hai phe người Việt theo đuổi những lý tưởng khác nhau, đồng thời cũng là một cuộc chiến tranh ủy nhiệm trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh giữa hai khối quốc tế tư bản và cộng sản, với sự tham dự trực tiếp của Hoa Kỳ.”  (trang 271)

Về vấn đề ông cho rằng cuộc chiến 1954-1975 là “một cuộc chiến tranh ủy nhiệm”. Tôi hoàn toàn không đồng ý với ông, và khẳng định đây là “cuộc chiến tranh thống nhất đất nước.” Trong cuộc chiến này, NẾU miền Nam có chính nghĩa và NẾU thành công thay vì miền Bắc, THÌ tôi cũng gọi nó là “cuộc chiến tranh thống nhất đất nước.”  Thế nhưng miền Nam đào đâu ra được chính nghĩa khi mà ba ông Da-tô  Bảo Đại, Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu lần lượt được Giáo Hội La Mã  cùng với và Pháp và Mỹ đưa lên lãnh đạo chính quyền?

4.- Tránh né không nói đến ông Ngô Đình Diệm là một tín đồ Gia-tô cuồng tín như trong sách The Two Vietnams đã nói (trang 236) và cái bản chất “tuyết đối trung thành với Tòa Thánh Vatican” như   các sách sử đã đưa ra. Ông Lê Xuân Khoa cũng không hề nói tới việc ông Ngô Đình Diệm tổ chức một cuộc đại lễ vô cùng long trọng để dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ Vô Nhiệm (tức là Vatican) vào tháng 2 năm 1959. Buổi lễ này được Linh-mục Trần Tàm Tỉnh nói rõ ở nơi các trang 126-127 trong cuốn Thập Giá Va Lưỡi Gươm (Paris, Sudestasie, 1978).  Hành động này chứng tỏ rằng ông Ngô Đình Diệm và chính quyền của ông ta là tay sai của Vatican.

5.- Suy tôn ông Ngô Đình Diệm là một nhà ái quốc và khen tụng là người có lý tưởng (trang 432).

Xin hỏi ông Lê Xuiân Khoa đây là thứ lý tưởng gì khi mà chính miệng ông Ngô Đình Diệm tuyên bố công khai với các chính khách có thế lực trên sân khấu Hoa Kỳ rằng ông ta “tin tưởng vào Tòa Thánh Vatican”?  Chẳng lẽ là một sử gia viết về thời cận và hiện đại của đất nước mà ông lại không biết Vatican là một đế quốc thực dân  xâm lược và là một kẻ thù lâu dài nhất ghê tởm nhất của dân tộc Việt Nam hay sao?

Chẳng lẽ ông Lê Xuân Khoa không biết chủ đích của Vatican đưa ông Diệm sang Hoa Kỳ vận động để đưa ông ta lên cầm quyền ở Việt Nam là nhằm phục vụ cho quyền lợi của Vatican hay sao?

6.- Ông Lê Xuân Khoa đã cố tình lờ đi không nói đến ông Diệm đã làm gì để có khối tài sản riêng của ông ta như các sách sử đã công bố, rồi gộp chung ông ta vào một nhóm với hai ông Nguyễn Tường Tam và Nguyễn Hải Thần  (trang 419) để khen tụng.

Làm như vậy thì chẳng khác nào ông suy tôn ông Ngô Đình Khả  và Trần Lục là nhà ái quốc rồi gom chung hai tên Da-tô Việt gian này vào một nhóm với cụ Phan Đình Phùng và cụ Đinh Công Tráng.

7.- Tránh né, không nói đến con số nạn nhân ở miền Nam bị sát hại như các sách Thập Giá Và Lưỡi Guơm, Vietnam: Why Did We Go? (trang 88-89) và Đảng Cần Lao (trang 133)  đã đưa ra.

8.- Giảm con  số nạn nhân bị sát hại ở Rwanda và không nêu đích danh các ông tu sĩ Da-tô chịu trách nhiệm trong vụ tàn sát người tập thể vì tôn giáo này.  Ông viết như sau:

Mặc dầu đã có từ lâu, dân di tản nội địa (IDPs) được nói đến nhiều nhất từ sau Chiến Tranh Lạnh, thường do những cuộc tranh chấp về tôn giáo, chủng tộc và vi phạm nhân quyền một cách có hệ thống, mạnh mẽ nhất vào đầu thập kỷ 1990. Chẳng hạn như vụ dân Hutu tàn sát người Tutsis ở Rwanda (500,000 ngiười bị giết trong vòng vài tháng) hay những vụ thanh tẩy “chủng tộc” (ethnic cleansing) ở Bosnia-Hercegovia với tổng số trên 200,000 người thiệt mạng. Riêng hai cuộc chiến này vào những lúc cao điểm gây ra trên 4 triệu dân di tản.”(trang 240).

Người viết xin khẳng định cuộc tàn sát hơn 800 ngàn người ở  Rwanda vào mấy tháng giữa năm 1994 là cuộc tàn sát người vì tôn giáo vì rằng vai trò của ông Giám Mục Augustin Misago của Giáo Hội La Mã ở trong đó. Cuộc tàn sát này không khác gic cuộc tàn sát người ở  Croatia trong những năm 1941-1945 và ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1963 Dưới đây là nguyên văn bản tin  nói về vụ tàn sát này viết bằng tiếng Anh lấy ra từ  www.google.com, ngày 29/6/2005:

Hơn 800 ngàn người, phần lớn là người Tutsis và một số người Hutus ôn hòa, bị tàn sát vào năm 1994. Nhiều nguời sống sót đứng ra tố cáo nam nữ tu sĩ của Giáo Hội La Mã đã chủ mưu trong vụ  tàn sát này.  Giám-mục Misago là viên chức cao cấp nhất của Giáo Hội bị truy tố. Ở Rwanda,  đạo Kitô La Mã là chính.  

Narcisse Musoni, quyền Tổng Thư Ký quỹ viện trợ  những người sống sót trong vụ diệt chủng này nói rằng nếu không thay đổi bản án tuyên bố vô tội của bị cáo, thì “sẽ là nguyên nhân cho mối nghi ngờ hệ thống tư pháp của chúng ta.” 

Mutagwera phàn nàn rằng “cái lối xử lý vụ án diệt chủng này làm hủy hoại hệ thống tư pháp của đất nước chúng ta.” 

Mutagwera nói rằng việc đưa ra những lá thư của giáo hoàng có thể làm cho tòa án thiên lệch và xử lý có lợi cho Giám-mục Misago. Tu sĩ Augustin Musada, Tổng Thư Ký của Hội Nghị Kitô La Mã ở Rwanda  thì nói rằng điều ngạc nhiên là nếu giáo hoàng “đã không  biểu lộ tình liên đới.” Một hậu quả của việc xử án bất công này đã được nói rõ trong tờ New York Times:

KIGALI, Rwanda khi  800,000  Tutsis bị sát hại trong một cuộc tàn sát cách đây 10 năm vào tuần lễ này, nhiều người Rwanda không những mất niềm tin nơi chính quyền của họ mà còn mất luôn cả niềm tin  đối với tôn giáo của họ nữa. Ngày nay, ở đất nước mà phần lớn là dân theo đạo Da-tô, đạo Hồi lại là  tôn giáo phát triền mau nhất..”

Nguyên văn: “More than 800,000 people, most of them Tutsis and some moderate Hutus, were killed in fighting in 1994. Many survivors have accused priests and nuns of the Roman Catholic Church of complicity in the killing. Bishop Misago was the highest-ranking Catholic charged.  Rwanda is primarily Catholic.

Narcisse Musoni, acting general secretary of the Genocide Survivors assistance fund, said if the acquittal is not reversed, "there would be cause to doubt our judiciary."

"The manner in which the justice system is handling genocide cases is destroying our country's justice system," Mutagwera complained.

Mutagwera said the introduction of letters from the pope may have biased the court in favor of Bishop Misago. It would have been surprising if the pope "had not shown solidarity," said the Rev. Augustin Musada, general secretary of the Rwandan Catholic Episcopal Conference. One effect of this injustice has been pointed out in the New York Times:

KIGALI, Rwanda When 800,000 of their Tutsi countrymen were slaughtered in a massacre that began 10 years ago this week, many Rwandans lost faith not only in their government but also in their religion. Today, in what is still a predominantly Roman Catholic country, Islam is the fastest-growing religion.”[3]

Vụ tàn sát này cũng được tờ The New Tribune phát hành ngày Thứ Sáu 15 tháng 7/2005 ghi lại nơi trang A4 ở dưới tấm hình Bà Đệ Nhất Phu Nhân Laura Bush và ái nữ Jenna Bush của bà ôm hai em bé Rwanda với đọan văn dưới đây:

Bà Laura Bush và ái nữ Jenna ẵm hai em bé Rwanda trong giờ lễ trong nhà thờ ở Kigali, Rwanda vào ngày Thứ Năm (14/7). Trong chuyến tham quan này, Bà Bush thuyết phục người  Rwanda đừng thất vọng và cố gắng hàn gắn vết thương về nạn diệt chủng ở đất nước họ. Trong năm 1994, dân quân Hutu đã sát hại tới 800 ngàn người thuộc nhóm thiểu số Tutsis và những người Hutu ôn hòa. Bà Laura Bush đã dùng thì giờ đẩy mạnh phương cách để Hoa Kỳ  giúp Rwanda trong vấn đề  chữa trị những bệnh nhân mắc bệnh sida (AIDS) và vấn đề giáo dục các trẻ em con gái.” (“Laura Bush and her daughter Jenna hold HIV-positive Rwanda children at a church service in Kigali, Rwanda, on Thurday. During her visit, the first lady urged Rwandans not to lose hope as they try to heal the pain of their country’s genecide. In 1994, Hutu militias shot and hacked to death 800.000 minority Tutsis and moderate Hutus. Laura Bush also spent time promoting ways the U.S. is helping Rwanda, such as assisting with the treatment of AIDS patients and helping girls an education.”)

9.- Nói đến vụ Phật giáo (Tr 449-450 và 451), nhưng lại cho rằng ông Diệm không có trách nhiệm..

10.- Tránh né không nói đến vai trò Hoa Kỳ trong việc thúc giục chính quyền Ngô Đình Diệm thi hành chương trình cải cách ruộng đất và tránh né không nói đến việc chính quyền Diệm không rớ tới khối ruộng đất không lồ của Giáo Hội La Mã như sách Việt Nam A Dragon Embattled đã nói rõ ở trang 932-933.

11.- Xác nhận tội ác của Ngô Đình Cẩn (trang 454), nhưng không nêu rõ những tội ác tầy đình của Ngô Đình Cẩn như các tội giết người đoạt của, bắt giam và tra tấn người trái phép, thủ tiêu nhiều người vô tội   và cũng không nói đến tội ác của chính quyền Ngô Đình Diệm đã không đưa Ngô Đình Cẩn ra trước công lý.

12.- Không đả động gì đến vụ chính quyền Ngô Đình Diệm yêu cầu Hoa Kỳ sử dụng chất da cam rài trên ruộng đất canh tác và đất rừng ở miền Nam Việt Nam  từ năm 1962.

Trên đây là những sai lầm có chủ ý của tác giả Lê Xuân Khoa. Người viết không biết khi có những chủ ý sai lầm này của tác ciủa có phải là để chạy tội cho Giáo Hội La Mã và các chính quyền đạo phiệt Da-tô ở miền Nam trong những năm 1954-1975 hay không. Điều này chỉ có ông Lê Xuân Khoa biết và yêu cầu ông lên tiềng về vấn đề này. 


[1] Hoàng Trọng Miên, Đệ Nhất Phu Nhân, Tập 1 (Los Alamatos, CA: Xuân Thu, 1989), tr. 79-84

[2] Bùi Nhung, Sdd., tr 97-100.

[3] www.google.com. Ngày 29/6/2005.

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com