1005-gd.gif (6609 bytes)
posted: 05.10.2005

Nguyễn Mạnh Quang

Phần I.

MỘT SỐ NHỮNG SỰ KIỆN VỀ VIỆC LÀM CỦA
VATICAN VÀ TÍN ĐỒ DA-TÔ NGƯỜI VIỆT

Dưới đây là mấy sự kiện về những việc làm chống phá Việt Nam của Vatican trong mấy thế kỷ vừa qua.

Thứ nhất, hiện nay con số tín đồ Da-tô ở trong nước và ở hải ngoại lên tới khỏang 5 triệu người. Đặc biệt là trong số gần hai triệu người Việt hải ngọai sinh sống ở Bắc Mỹ, Úc Đại Lợi và Pháp, có khoảng 50% là tín đồ Da-tô. Với kinh nghiệm lăn lộn trên sân khấu chính trị từ thế kỷ 4, Tòa Thánh Vatican thấy rằng con số tín đồ đông đảo này có thể khai thác dùng làm đạo quân xung kích đánh phá Việt Nam trên mặt trận truyền thông. Cũng vì thế mà Văn Phong Trung Ương Tông Đồ Mục Vụ Việt Nam Hải Ngọai được thiết lập và đặt trụ sở ở Orange County, California với nhiệm vụ vận dụng giáo dân người Việt hải ngoại hành động theo lệnh truyền của Giáo Hội. Trước kia, Linh-mục (còn gọi là Đức Ông) Nguyễn Hữu Tiến được giao cho phụ trách văn phòng này. Cách đây mấy năm, Linh-mục Tiến được điều đi nơi khác, và Giám-mục Mai Thanh Lương được chỉ định thay thế.  Chính văn phòng này đã chính thức và bán chính thức vận dụng để cho các tín đồ Da-tô làm chủ các phương tiện truyền thông Việt ngữ ở hải ngọai và nắm gần hết các ban đại diện cộng đồng người Việt tại các địa phương. Một nhóm thiểu số, tuy không phải là tín đồ của Giáo Hội, nhưng lại là thành phần được chính quyền miền Nam (trong thời 1954-1975) ưu đãi hay thuộc giới tiểu tư sản thành thị. Điều này chứng tỏ Giáo Hội đã khống chế các phương tiện truyền thông Việt ngữ ở hải ngoại và các hội đồng người Việt tại các địa phương ở Bắc Mỹ. Với bản chất tuyệt đối trung thành với Tòa Thánh Vatican và triệt để tuân hành những lệnh truyền của các đấng bề trên của họ, các hội đoàn địa phương và các cơ quan truyền thông tay sai của Giáo Hội này đã nhắm mắt  thi hành triệt để những chỉ thị của Vatican theo sách lược “quậy cho ao nước Việt Nam đục ngầu để cho Giáo Hội nhẩy vào tha câu”, hoặc là “Không được ăn thì đạp đổ.” . Đồng thời, Vatican ra lệnh cho những tín đồ có thế lực trên chính trương Mỹ tìm cơ hội vận động với chính quyền Hoa Kỳ can thiệp vào nội tình Việt Nam bằng cách này hay bằng cách khác như Giáo Hội đã làm vào đầu thập niên 1950 đúng theo sách lược “cáo đội lốt hùm” và “theo voi ăn bã mía” cở truyền của Giáo Hội.

Từ cuối thập niên 1970 cho đến ngày nay, họ đã quậy rất nhiều vụ:

1.- Tháng 2 năm 1979, khi Trung Quốc xua quân xâm nhập lãnh thổ Việt Nam thì họ tỏ ra hí hửng hò reo, dùng những phương tiện truyền thông trong tay để gièm pha, phỉ báng Việt Nam và tâng bốc Trung Quốc.

2.- Trong năm 2002, chính họ đã cố tình thêu dệt vụ Việt Nam nhường đất nhường biển cho Trung Quốc  rồi dùng các phương tiện truyền thông trong tay thổi phồng lên.

3.- Năm 2001, chính họ đã gây ra vụ Linh-mục Nguyễn Văn Lý đòi tự do tôn giáo rồi dùng các phương tiện truyền thông trong tay để gây náo động dư luận làm như ở Việt Nam có kỳ thị và đàn áp tôn giáo giống như ở  miền Nam Việt Nam trong thời chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm (1954-1963).

4.- Cũng trong năm 2002, khi người Thượng Tây Nguyên nổi lọan chống chính quyền thì họ sử dụng tất cả phương tiện truyền thông làm rùm beng, thổi phồng vụ này làm như Việt Nam đang xẩy ra những vụ đàn áp tôn giáo còn lớn hơn chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật Giào hồi mùa hè năm 1963.

5.- Trong năm 2003, sau khi Tổng Thống Bush hạ lệnh tấn công  Irak thì họ hồ hởi tụ họp với nhau cho ra đời cái gọi là Tổ Chữc Việt Nam Cộng Hòa Foundation rồi gửi thư cho ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc và Hoa Kỳ yêu cầu dùng sức ép cuỡng bách chính quyền Việt Nam phải tái lập miền Nam Việt Nam như thời 1954-19765 để cho họ phục hồi quyền lực của Vatican ở phần đất này.

Với dã tâm thâm độc như vậy của Tòa Thánh Vatican cùng bản chất vong bản  phản dân tộc của tín đồ Da-tô người Việt mà lịch sử đã chứng minh, nếu Việt Nam  thiết lập quan hệ ngọai giao với Vatican, thì chắc chắn là cái Văn Phong Trung Ương Tông Đồ Mục Vụ Việt Nam Hải Ngọai ở Orange County do ông Giám Mục Mai Thanh Lương sẽ tích cực  họat động  mạnh hơn gấp bội phần để chống lại chính quyền Việt Nam  để gây bất lợi cho Việt Nam theo đúng sách lược “quậy cho nước đục để thả câu” như Giáo Hội đã làm ở Việt Nam trong thế kỷ 19.

Thư hai.- Khi thiết lập quan hệ ngoai giao với Tòa Thánh Vatican, dù là cả hai phía đã thỏa thuận với nhau là “thế quyền” (Việt Nam) và “thần quyền” (Giáo Hội La Mã tức Vatican) là hai lãnh vực riêng biệt không liên hệ gì với nhau, nhưng trong thực tế, vấn đế giáo dục thanh thiếu niên là một vấn đề vô cùng rắc rối vì rằng cả hai bên đều nắm quyền đào tạo các em theo khuôn mẫu đạo đức riêng để biến các em thành những người nhiệt tâm phục vụ cho quyền lợi tối thượng của quốc gia của mình.

Chúng ta biết rằng bất kỳ chính quyền của một quốc gia độc lập nào cũng đều có chủ trương giáo dục thanh thiếu niên theo khuôn mẫu đạo  ý vị tha (phải hành xử sao cho vừa mắt ta ra mắt người), kkhai tâm cho thanh thiêu niên ý thức được trách nhiệm:

1.- Phải làm tròn nghĩa vụ đối với mọi người trong gia đình cũng như trong xã hội,

2.- Phải có tinh thần yêu nước “đặt việc nước phải đi trước việc nhà”  theo đúng truyền thống “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” của dân tộc.

Trái lại, Vatican có truyền thống nắm độc quyền nhồi sọ tín đồ ngay từ lúc mới chào đời thanh thiếu ngay từ khi mới chào đời cho đến khi nhắm mắt đi vào cõi chết bằng chính sách ngu dân để vừa kìm hãm họ trong vòng ngu dốt như nguời dân Do Thái trong thời ông Moses và ông Jesus cách đây hơn hai ngàn năm vừa biến họ thành những người bị điều kiện hóa giống như con chó trong phòng thí nghiệm của nhà bác học Pavlov để dễ bề sai khiến họ theo đúng triết lý “dân ngu dễ trị, dân dốt dễ sai.”. Sử gia Loraine Boettner trình bày thực trạng này như sau:

“Giáo dân phải vâng lời và phải ủng hộ vị tu sĩ quản nhiệm họ đạo và Giáo Hội bằng dịch vụ và bằng tiền bạc. Họ được rèn luyện cho cứu cánh này ngay từ thuở còn thơ ấu. Quyền hành của  tu sĩ  quản nhiệm họ đạo bao trùm cả đến những việc riêng tư trong gia đình của giáo dân mà không ai có quyền thắc mắc. Mọi   sinh hoạt dân chủ đều bị ngăn cản. Các tổ chức họat động thế tục (ngoài đời) không những bị giới hạn và còn bị Giáo Hội gia cản trở. Trong khi đó  những tổ chức tương tự như vậy do tu sĩ bảo trợ thì vẫn họat động trong họ đạo.” (“The people in turn are expected to obey the priest, and to support him and the church through their services and money. They are trained and disciplined to that end from childhood. No one is to question the authority of the priest, even in domestic of family affairs. Democratic processes are discouraged. Lay organizations have only very limited scope, usually are not encouraged, and are excluded from authority in the church at large. Such lay organizations as do exist have clerical sponsors.”  [1]

Hơn nữa, trong chính sách ngu dân và nhồi sọ này, Giáo Hội còn có dã tâm khơi động và nuôi dưỡng lòng tham ích kỷ của người đời,  rồi nhào nặn (giáo dục) nam nữ thanh thiếu niên tín đồ theo khuôn mẫu đạo lý vị kỷ (chỉ biết có Giáo Hội La Mã mà thôi - để lợi dụng) bằng những ngôn ngữ khơi động lòng tham của người đời như “sẽ được Chúa ban cho ân sủng”, “sẽ được Chúa đền ơn”, “sẽ được Chúa lên thiên đường hưởng nhan Chúa”, v.v… với điều kiện:

1.- Phải tuyệt đối trung thành với Tòa Thánh Vatican,

2.- “Chỉ biết có Đức Giáo Hoàng ở La Mã mới là vị vua tối cao duy nhât của họ và chỉ tuân phục quyền lực của Tòa Thánh Vatican mà thôi.” [2]

3.- Phải triệt để vâng lời và tuân hành lệnh truyền của các đấng bề trên trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội.

Trong những lời dạy dỗ tín đồ của Giáo Hội, chúng ta thấy có những lời dạy nặng tính cách lừa gạt  khiến cho tín đồ lầm tưởng rằng phải thực tâm nhắm mắt tin tưởng và triệt để tuân hành lời dạy hay lệnh truyền của Toà Thánh Vatican thì mới hy vọng “được Chúa nhậm lời”. Dưới đây là những lời dạy dỗ đầy tính cách phỉnh gạt này của Giáo Hội:

1.- Niềm tín tôn giáo không thể dùng lý trí hay khoa học giải thích được.   

2.- Phúc cho ai không thấy mà tin!

3.- Chỉ cần niềm tin bằng hạt cải thì người ta có thể di truyền cả trái núi.

Để làm cho tín đồ mạnh mẽ tín tưởng vào những lời dạy bịp bợm trên đây, tại các nhà thờ họ thường rao giảng những chuyện hoang đường trong Tân Ước chứa đầy những tính cách bịp bợm.  Chuyện Chúa Jesus hóa phép làm cho 5 ổ bánh mì và 2 con cá thành một khối lương bánh mi và cá dư thừa cho khoảng 5 ngàn người ăn không hết (Matthiew: 14: 15-21) và chuyện Chúa hóa phép làm cho cây sung héo chết ngay tức thì chỉ vì nó không có trái vào khi Chúa đói lòng  ghé thăm nó (Matthiew: 21: 18-21). Hai chuyện bịp bợm này thường được sử dụng nhiều nhất.

Kể xong những chuyện siêu hoang đường như vậy, họ lại đọc một câu trong Tân Ước cho tín đồ nghe. Câu kinh này như sau: “Trong khi cầu nguyện, các người lấy đức tin thì xin việc gì cũng được cả.” ( Matthiew: 21:21)

Khi thấy rằng tín đồ đã nhắm mắt tin tưởng những lời dạy dỗ, cán bộ truyền giáo của Giáo Hội mới bắt đầu cấy vào đầu óc tín đồ những tư tưởng chống lại đất nước và dân tộc. Những lời dạy này đều được các sách sử ghi lại rõ ràng. Sách Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam ghi lại một trong những trường hợp điển hình như sau:

Các vị truyền giáo còn yêu cầu người Công Giáo Việt Nam đừng thừa nhận quyền lực nhà Vua và luật Pháp nước họ. Họ nói với con chiên (rằng): Đức Giáo Hoàng ở La Mã (Rome) mới là vị vua tối cao duy nhất của họ, (rằng) họ chỉ tuân phục quyền lực của Tòa Thánh Vatican  (mà thôi).” [3]

Học giả Nguyễn Chấn (Charlie Nguyễn) viết trong bức tâm thư đuợc sách Công Giáo Chính Sử ghi lại với nguyên văn như sau:

Trong Kinh Nhựt Khóa của Tổng Giáo Phận Sàigòn in năm 1971 do Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình duyệt y ngày 19/3/1971, nơi trang 784-791, Kinh cầu ông thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e có những câu mang tính chất kích động tiêu diệt đạo Phật và các tôn giáo khác như “Ông Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e phá tan Bụt thần.” và “Ông Thánh P.X là lịnh rao truyền tiếng Đức Chúa Thánh Thần cho những dân mọi rợ.” [4]

CHƯƠNG 2

THỦ ĐỌAN KHƠI ĐỘNG VÀ NUÔI DƯỠNG

LÒNG THAM LAM ÍCH KỶ TRONG LÒNG NGƯỜI

VÀ KẾ SÁCH ĐÁNH PHÁ QUỐC GIA BỊ CHIẾU CỐ

Qua phần trình bày Chương 1, chúng ta thấy Giáo Hội La Mã đã có hẳn một kế sách khơi động và nuôi dưỡng lòng tham lam ích kỷ trong lòng người biến những đối tượng thành những tham lợi rồi dùng những bánh vẽ như “sẽ được Chúa đên ơn”, “sẽ được Chúa ban phước lành”,  sẽ được Chúa cho lên Thiên Đường” v.v… như là những miếng mồi để câu nhử họ chạy theo khiến cho họ lọt vào “cái tròng Da-tô” (Catholic loop) để cho Giáo Hội tha hồ xiết cổ. Tình trạng theo đạo của những người này giống như đàn cá tra trong hồ nước ở bến phà Mỹ Thuận nhào tới vồ lấy những đồ phế thải  của khách vãng lai dừng chân tìm đến “phóng ra” để giải thoát.

Giáo Hội sử dụng kế sách khơi động lòng tham lam ích kỷ của con người rồi dùng miếng mồi vật chất, địa vị trong cộng đồng địa phương và chức vụ trong chính quyền để câu nhử và dụ khị những phuờng hám lợi, háo danh và thèm khát quyền lực nhào tới “theo đạo để lấy gạo mà ăn” hay “mượn đạo tạo danh đời”, mà còn sử dụng cả kế sách này để lôi cuốn tín đồ dấn thân theo học nghề làm linh mục nói lên rõ ràng trong cuốn "Cõi Phúc Và Giây Oan" với nguyên văn như sau:

"Những người  con trai thơ dại mong được đào tạo trở thành linh mục sau này.  Tôi mồn một nhớ  về tâm trạng thơ dại qua những ngô nghê tuổi khờ. Mẹ tôi dắt tôi, bàn tay người không rời, nắm chặt như một quả quyết toàn vẹn. Tôi biết, và ngay lúc đó tôi hiểu rằng bố mẹ tôi đã nắm một phần rất quan trọng trong lần chuyển đời này của tôi, vì với tôi , ý nghĩ đi tu chỉ   vấn vương qua những hình ảnh vật chất và uy quyền hàng ngày. Tôi đã so sánh và nhìn sự cả nể của các linh mục, sự tôn kính từ giáo dân, nhất là với tôi, các linh mục, tu sĩ  đã như những tuyệt đối nhất của bất kỳ phương diện nào. Giáo dân tùng phục, giáo dân khiếp sợ, giáo dân cầu lụy và muôn ngàn hình ảnh khác." [5] 

Sách Roman Catholicism cũng ghi nhận như sau:

Mục tiêu của họ (giới tu sĩ Da-tô) không phải chỉ nhắm vào những đặc quyền đặc lợi để được sống trong huy hoàng và buông thả với những thú vui nhục dục. Thực ra, trong giới người này, cũng có những người sống khắc khổ. Nhưng mỗi người trong họ đều mang căn bệnh khát vọng quyền lực và tự cho mình là thành phần trong thế lực thống trị toàn cầu. Vì đã mất đi khả năng của tình yêu, họ tìm đến thú vui trong sự  sợ hãi của những người đồng đạo (đồng bào) và người ta càng hèn hạ sợ hãi họ bao nhiêu thì họ càng thích thú say mê bấy nhiêu. Đã có người nào đặ ra vấn đề là phải chăng sự an toàn của giai cấp tu sĩ đòi hỏi phải có một cái hố ngăn cách không thể nào vượt qua được? Đó là sự cách biệt giữa một bên là những giáo dân đứng đắn đàng hoàng và một bên là những người có tâm địa của loài cho sói, những người không có Chúa mà chỉ có Lòng Tham Lam, không có tôn giáo mà chỉ biết đến Quyền Lực.” (Christian Heritage, May, 1959.)

(“Their objective is not merely a life of privilege, luxury, an carnal sel-indulgence. In fact, there are among them, men of rigid ascetic character. But each every man of them is driven by an insatiable lust for power. Each sees himself as a factor to be reckoned with in a globe dominating force. Having lost the capacity for love, they seek the fear fellow men – the more abjec, the headier. Is it any wonder that hierarchy’s own security demands an impassable gulf between decent well-meaning Catholic people and these men with the hearts and spiritual of wolves, these men with no God but Greed, no religion but Power?” (Christian Heritage, May, 1959.)” [6]

Nói về quyền lực của các ông linh mục làm cho giáo dân phải khiếp sợ và thèm khát có được những thứ quyền lực này, Giáo-sư Nguyễn Văn Trung ghi nhận giống như nhà văn Gia-tô J. Ngọc trên đây. Dưới đây là nguyên văn lời Giáo-sư Nguyễn Văn Trung viết:

"Các Ngài được đào tạo để làm quan đạo, làm vua đạo, và chưa bao giờ được đào tạo để phục vụ anh em đồng đạo, đồng bào, mà chỉ được đào tạo để cai trị và để được hầu hạ, ăn trên ngồi trước, kể từ khi bước chân vào chủng viện. Việc đào tạo này được xuất phát từ yêu cầu của một tầng lớp xã hội và để phục vụ tầng lớp xã hội ấy”. [7]

Và khi muốn lôi cuốn giáo dân  gia nhập các đạo quân thập tự đi tấn chiếm các vùng đất của các dân tộc thuộc các tôn giáo khác, Tòa Thánh Vatican cũng sử dụng những miếng mồi vật chất, danh vọng và quyền lực để câu nhử và dụ khị họ chạy theo làm những con thiêu thân trong các đạo quân xâm lăng này. Sự kiện này đều được sách sử ghi lại rõ ràng như sau:

 "Người ta gia nhập vào các Đoàn Quân Thập  Ác này vì nhiều lý do. Giáo Hoàng hứa hẹn sẽ ban thưởng cho họ vừa lên thiên đường vừa được hưởng những phần thưởng vật chất thiết thực ở nơi trần thế. Mọi tội lỗi của nguời lính Thập Ác đều được tha thứ. Tài sản và gia đình của họ được Giáo Hội bảo đảm, trông nom săn sóc trong thời gian họ xa nhà đi chiến đấu. Những ai còn mang nợ sẽ được xóa bỏ hết nợ nần và những tội đồ sẽ được xóa bỏ hết tội ác, miễn bị triừng phạt nếu họ gia nhập vào đoàn quân Thập Ác của Giáo Hội. Nhiều ông hiệp sĩ chóa mắt vì những miếng mồi quyến rũ về những đất đai và của cải mà họ hy vọng sẽ ăn cướp được ở vùng Cận Đông giầu có. Các thương gia thì  thấy đây là cơ hội bằng vàng cho họ kiếm được những món lời lớn trong việc kinh doanh. Các cuộc viễn chinh của Đoàn Quân Thập Ác này một phần mang tính cách tôn giáo, nhưng cũng là một cuộc chiến tranh khích động lòng yêu thích phiêu lưu của con người, lòng hám lợi và khát vọng trốn thoát khỏi cảnh nợ nần, tù tội và buồn chán." ("Men joined the Crusades for many different reasons. The pope promised both heavenly and earthly rewards. All the sins of a crusader were forgiven. His property and family were guaranteed protection by the Church during his absence. A debtor who took the cross had his debts canceled; a criminal was relieved of punishement. Knights were dazzled by the lure of lands and plunder in the rich Near East. Merchants saw a chance for commercial gain. The Crusades were partly religious expeditions, but they also appealed to men's love of adventure, hope of gain, and desire to escape debts, punishment, or boredom.") [8]

 Rõ ràng là Giáo Hội La Mã đã có dã tâm sử dụng kế sách quỷ quyệt thâm độc này hầu có thể  sử dụng cả lợi lẫn danh và quyền lực để dụ khị và dẫn dắt họ vào trong cái tròng Da-tô rồi sai khiến họ một cách dễ dàng.

Song song với kế sách  khơi động và nuôi dưỡng lòng tham lam ích kỷ trong lòng tín đồ và người dân dưới quyền,  các nhà sử hộc đều nhận thấy rằng, từ khi đạo Da-tô du nhập vào Việt Nam cho đến ngày 30/4/1975, Giáo Hội La Mã đã liên tục thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ theo kiểu trên đây. Hậu quả là, ngọai trừ một số ít người còn có lương tâm, hầu hết tín đồ Da-tô người Việt đều trở thành những người vị kỷ, gian tham, thiển cận, ngu dốt, không còn biết đến quyền lợi tối thượng của quốc gia và dân tộc Việt Nam. Họ chỉ biết nhắm mắt trung thành với Tòa Thánh Vatican và triệt để tuân hành lệnh truyền của Giáo Hội với hy vọng sẽ được Chúa (Giáo Hội) trả  đền ơn cho họ.

Thủ đọan khơi động và nuôi dưỡng lòng tham lam ích kỷ của con người để khai thác rồi dùng những miếng mồi vật chất để dụ khi câu nhử để họ lao vào bắt mồi rồi rút cục biến thành nô lệ làm đầy tớ cho Giáo Hội. Cũng vì thế mà từ ngày đạo Da-tô du nhập vào Việt Nam, đất nước chúng ta có rất nhiều người chỉ vì tham lam ham miếng mồi vật chất của Giáo Hội xí cho mà theo đạo. Trường hợp này rất nhiều, và điển hình là những người tân tòng  ở Liên Khu V trong thời 1954-1963 như Linh-mục Trần Tam Tỉnh nói rõ nơi các trang 128-130 trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris, Sudestasie, 1978). Cũng có rất nhiều người vì lòng háo danh và thèm khát quyền lực mà theo đạo để được Giáo Hội xí cho một chức vụ nào đó ở trong chính quyền. Đây là trường hợp những người như Lâm Lễ Trinh, Nguyễn Đình Thuần, Huỳnh Hữu Nghĩa, Lâm Văn Phát, Nguyễn Văn Thiệu, Đặng Văn Quang, Nguyễn Văn Y, v.v….Giáo Sư Vũ Văn Mẫu kể lại tình trạng này trong cuốn Sáu Tháng Pháp Nạn như sau:

"... số người a dua chạy theo chính quyền để trục lợi vẫn còn là đại đa số. Vào đầu năm 1963, tất cả tỉnh trưởng được bổ nhiệm tại miền Nam đều là đệ tử của Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục hay của cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu. Tại miền Trung, các tỉnh trưởng đều là các thủ túc của Ngô Đình Cẩn, em út của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tuy không giữ chức vụ gì chính thức, Ngô Đình Cẩn tự ban cho mình chức Cố Vấn chỉ đạo các đoàn thể chính trị tại Trung Việt, Cao Nguyên và Hải Ngọai.

"Ngoài ra, các dân biểu trong Quốc Hội cũng đều là tay sai trung thành của chế độ. Hơn nữa, các phong trào chính trị toàn quốc đều do họ Ngô thành lập để tạo hậu thuẫn trong dân chúng. Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia của Ngô Đình Diệm, Đảng Cần Lao và Phong Trào Thanh Niên Cộng Hòa của Ngô Đình Nhu, Phong Trào Liên Đới Phụ Nữ của vợ Nhu là Trần Lệ Xuân, và không kể biết bao nhiêu đòan thể chầu rìa khác chạy theo voi để hít bã mía!" (Trang 8)  [9]

"Trong Tiết 1, tôi đã nói đến trường hợp Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống là Nguyễn Đình Thuần đã quỳ trong Dinh Độc Lập để hôn nhẫn Hồng Y Giáo Chủ Agagianian. Người ta cho rằng nhờ rửa tội theo Thiên Chúa Giáo, Nguyễn Đình Thuần đã được bổ nhiệm (thăng) từ Đổng Lý Văn Phòng lên Chức Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống.

Đại Tá Nguyễn Văn Y cũng nhờ chịu rửa tội theo Thiên Chúa Giáo mà được bổ nhậm làm Tổng Giám Đốc Nha Cảnh Sát Công An, một chức vụ mà ai cũng rõ phải được sự tin cẩn tột bực của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Nguyễn Văn Thiệu cũng rửa tội theo đạo khi mới đóng cấp tá dưới nền Đệ Nhất Cộng Hòa. Ngòai ra, các chức vụ quan trọng đều giao phó cho người Thiên Chúa Giáo. Các người tân tòng bị chế là "đạo đứng" vì các người đạo gốc được rửa tội ngay khi mới sinh, còn ẵm ngửa.

Trả lời phái đòan Liên Hiệp Quốc sang điều tra vụ đàn áp Phật Giáo, nhân chứng số 43 đã đề cập đến trường hợp ông Trần Văn Lắm: " Ông Trần Văn Lắm trước kia là Đại Biểu Chính Phủ tại Nam Phần, bây giờ là Đại Sứ Việt Nam ở nước nào tôi cũng không rõ. Người ta muốn loại trừ ông vì ông là một Phật tử. Ông tỏ vẻ lo sợ, thật hèn nhát. Một lần tắm ở Vũng Tầu, ông la lớn: "Đức Mẹ đã cứu tôi sắp chết đuối." Sau đó, ông theo Công Giáo và được giữ lại chức Đại Biểu Chính Phủ Nam Phần." [10]

Sách Chân Dung Tướng Ngụy Sàigòn ghi nhận lời thú nhận của cựu Tướng Lê Văn Phát với nguyên văn như sau:

"Từ năm 1948- đến 1954, tôi vẫn loanh quanh dẫm chân với cái lon trung tá giả định vì cái "án" có cha và chị đi kháng chiến làm cán bộ Việt Minh. Sang thời Ngô Đình Diệm lại cái bảng đen ngầm "gia đình Việt Cộng", trong lúc đó thì bọn sĩ quan đàn em như Nguyễn Văn Thiệu, Đặng Văn Quang, Nguyễn Hữu Có... có thời cơ leo lên vùn vụt. Lúc này, tôi nẩy ra cách thóat thân để được lòng tin cậy của triều đình họ Ngô. Cuối năm 1957, tôi xin vô đạo Thiên Chúa, xin "cậu út" Ngô Đình Cẩn nhận làm bố đỡ đầu (parrain) mặc dầu Cẩn chỉ hơn tôi dăm bẩy tuổi..."  [11]

Trong cuốn Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, sử gia Vũ Ngự Chiêu ghi nhận ý đò theo đạo Da-tô của ông Hùynh Hữu Nghĩa y hệt như ý đồ của cựu Tướng Lâm Phát trên đây:

"Thư đề ngày 17/2/1962, Fishel gửi Hamah; FRUS, 1961-1963 II: 149. Theo Fishel, một bộ trưởng (Huỳnh Hữu Nghĩa) đã cải đạo; (Ibid, II: 46) và nhiều sĩ quan cũng cải đạo để mong được thăng cấp. (Ibid., II: 56, 45") [12]

Trong bài viết Sự Hèn Hạ Và Xảo Trá Của Ông Lâm Lễ Trinh, Cựu Bộ Trưởng Nội Vụ Đệ Nhất Cộng Hòa, đăng trên trang nhà www.chuyenluan.com tháng 5 năm 2004, tác giả Phạm Phú Bổn viết về chuyện ông Lâm Lễ Trinh theo đạo Gia-tô như sau:

"Trước hết là suy nghĩ về hai chi tiết rất sâu sắc của ông Trần Vĩnh Long về cấu trúc văn hóa và căn cước chính trị của ông Lâm Lễ Trinh. Ông theo đạo Công giáo La Mã vào năm 1958, thời điểm cực thịnh của hiện tượng “theo đạo có gạo mà ăn” dưới nền Đệ Nhất Cộng Hòa. Đó cũng là thời điểm khi chính quyền Ngô Đình Diệm bắt đầu tiến hành ý đồ Công giáo hóa miền Nam qua hai chính sách đàn áp trù dập Phật giáo, lực lượng văn hóa nền móng và đa số của xã hội Việt Nam, và phân phát đặc quyền đặc lợi cho những người đồng đạo Công giáo cả ở trong lẫn ngoài chính quyền. Các kế sách Dinh Điền, Khu Trù Mật, (và sau nầy là Ấp Chiến Lược); các tiêu chuẩn kỳ thị về tôn giáo trong chính sách nhân dụng của bộ máy hành chánh và quân đội, trong các lãnh vực kinh tế, giáo dục, xã hội, và quốc phòng, ... đã làm cho không thiếu người từ bỏ truyền thống tâm linh của dân tộc, đổi đạo để tìm bổng lộc và/ hoặc để bảo toàn mạng sống. Ông Lâm Lễ Trinh đổi đạo đúng vào thời gian đó! Và ông đã làm đến chức Bộ trưởng bộ Nội vu, một chức vụ cực kỳ quan trọng trong một chế độ độc tài với mạng lưới công an mật vụ dày đặc của miền Nam." [13]

Theo sự hiểu biết của chúng tôi, ngòai ra, còn có rất nhiều người trong giới tướng lãnh, sĩ quan cấp tá và cấp úy cũng như có rất nhiều viên chức trong chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu cũng "vô đạo" vì "động lực" giống y như "động lực theo đạo" của cựu Tướng Lâm Văn Phát, Đại Tá Nguyễn Văn Y cũng như các ông Nguyễn Đình Thuần, Trần Văn Lắm và Lâm Lễ Trinh. Trong cuốn Xóm Đạo, nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn kể lại một ông quận trưởng (có lẽ là trong tỉnh Hậu Nghĩa) theo đạo cũng chỉ vì muốn duy trì cái ghế quận trưởng và hy vọng có thể leo lên những chức vụ lớn hơn trong chính quyền. Tác giả viết:

Cũng giống như nhiều vị công chức cao cấp khác, ông quận trưởng tự cảm thấy rằng, thời này là thời của đạo Thiên Chúa, bởi vì gia đình Ngô Tổng Thống rất sùng đạo! Cái ghế của ông có vững hay không, tương lai của ông ta có leo lên được nữa hay không, đều tùy thuộc cách xử sự khéo léo của ông, chứ không phải nhờ tài năng hay đức độ. Nhà ông đời đời theo Phật giáo. Nhưng người khôn ngoan lúc này phải biết thức thời, bỏ đạo Phật để rửa tội theo Công Giáo thì mới được Ngô Tổng Thống tín nhiệm! Ông tin như thế, cho nên ông hay tìm đến làm thân với các vị linh mục, những người mà ông cho là cửa ngõ thênh thang nhất để giắt ông trên đường danh vọng. Một tiếng nói, một đề nghị của một linh mục, sẽ có sức mạnh lần ý kiến của quan trên! Tương tự như thế, một lời dèm pha của một linh mục, có thể làm ông bay chức trong nháy mắt! Cái thành kiến ấy nằm sâu trong đầu ông, cho nên ông đã từng trợ giúp vật liệu cho cha Xuân lúc xây nhà thờ, từng xuống dự lễ Noel, quì mỏi gối chung với giáo dân ở trại, và hai năm liên tiếp ngồi ghế quận trưởng, cứ mỗi độ xuân về, ông đều không quên sai lính chở xuống tặng nhà xứ một cành mai thật lớn!…”   [14]

BẢN CHẤT VONG BẢN, PHẢN DÂN TỘC

VÀ PHẢN QUỐC CỦA TÍN ĐỒ DA TÔ NGOAN ĐẠO

Phần trên đây là nói về động lực của những người hám lợi “theo đạo lấy gạo mà ăn” và những người háo danh, thèm khát quyền lực “theo đạo để tạo danh đời”. Phần dưới đây sẽ nói về những người này (tức là “theo đạo lấy gạo mà ăn” “theo đạo để tạo danh đời”) sẽ trở thành những phường vong bản, phản quốc, phản dân tộc và chỉ biết có Giáo Hội La Mã hay Tòa Thánh Vatican, chứ không còn biết tổ quốc và dân tộc Việt Nam là cái gì nữa!

Vấn đề đặt ra là TẠI SAO khi theo đạo Da-tô rồi thì họ lại trở thành “những phường vong bản, phản quốc, phản dân tộc và chỉ biết có Giáo Hội La Mã hay Tòa Thánh Vatican, chứ không còn biết tổ quốc và dân tộc Việt Nam là cái gì nữa?”

Dưới đây là lời giải thích của người viết:

Có ít nhất là hai nguyên nhân khiến cho họ trở thành như vây?

Thứ nhất.-  Bản chất những người “theo đạo lấy gạo mà ăn” và những người “theo đạo để tạo danh đời” đều là những hạng người “xu thời, phu thịnh hay cơ hội chủ nghĩa.” Chủ đích theo đạo của họ là để được   nhà thờ hay chính quyền ban cho những đặc quyền đặc lợi. Nói cho rõ hơn, họ là những người hám lợi, háo danh và thèm khát quyền lực. Bất kỳ thế lực nào có khả năng ban phát cho họ những đặc quyền đặc lợi mà họ mong muốn là họ chạy theo để tôn phò. Giáo Hội La Mã liên kết với Pháp và trở thành thế lực thống trị Việt Nam có khả năng ban phát những đặc quyền đặc lợi cho họ thì họ đi theo Giáo Hội và Pháp. KHI đại bại tại Điện Biên Phủ, Pháp phải cuốn gói ra đi, Giáo Hội quay ra liên kết với Mỹ và trở thành một thế lực mạnh thống trị ở miền Nam Việt Nam và có khả năng ban phát những đặc quyền đặc lợi cho họ, THÌ họ cũng bỏ Pháp đi theo Mỹ giống như Giáo Hội. Khi Mỹ cuốn gói ra đi khỏi Việt Nam vào ngày 30/4/1975, thì họ cũng cuốn gói chạy đi theo Mỹ sang Mỹ ở nhờ nhưng vẫn trông cậy vào Giáo Hội với hy vọng một ngày nào đó thời cuộc xoay vần Giáo Hội sẽ lại liên kết với Mỹ tái lập quyền lực ở Việt Nam và họ sẽ được  Giáo Hội đưa về Việt Nam sống lại cái thời vàng son ở miền Nam trong những 1954-1975.

Thứ hai.-Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.” Một khi đã trở thành tín đồ Da-tô, tức là họ gia nhập vào cộng đồng Da-tô, thì họ phải sinh hoạt và hành sử đúng theo cung cách của những tín đồ Da-tô ngoan đạo mà Giáo Hội đã dầy công đào tạo và uốn nắn. Chủ đích đào tạo và uốn nắn tín đồ của Giáo Hội La Mã vong bản, phản dân tộc, phản đất nước đúng như khẩu hiệu mà Linh-mục Hoàng Quỳnh đã lớn tiếng hô hào rằng “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa.  Sự kiện này đã được các nhà viết sử ghi lại rõ ràng với nguyên văn như sau:

Các vị truyền giáo còn yêu cầu người công giáo Việt Nam đừng thừa nhận quyền lực nhà vua và luật pháp nước họ. Họ nói với các con chiên rằng, “Đức Giáo Hoàng ở La Mã mới là vị vua tối cao duy nhất của họ, họ chỉ tuân phục quyền lực Toà Thánh Vatican.” [15]   

Để đạt được mục này, Giáo Hội đã thi hành chính sách ngu dân và nhồi sọ để biến họ thành những người bị điều kiện hóa, lúc nào cũng nghĩ đến Chúa, đến Cha xứ ở nhà thờ và cầu nguyện để hy vọng sẽ được Chúa (nhà thờ) ban cho những đặc ân mà họ hằng mong ước. Tình trạng này đã được nhà văn  Nguyễn Ngọc Ngạn ghi lại trong cuốn Xóm Đạo với nguyên văn như sau:

Từ thuở chưa có trí khôn, cũng giống như bao nhiêu người Công Giáo khác, anh (Thông) đã được nuôi dưỡng trong bầu không khí thượng tôn tín ngưỡng, bằng những giáo điều bất di bất dịch, theo thời gian ngấm dần vào trí óc anh, khiến anh làm cái gì cũng sợ tội, sợ Chúa trừng phạt.”  [16]

Toàn trại này, dường như ai cũng sùng đạo như nhau, và sự sùng đạo ấy được thể hiện qua việc cầu nguyện và đi lễ. Buổi sáng, năm giờ chuông đổ lần thứ nhất, họ đã lục tục đánh thức cả nhà cùng dậy. Việc đầu tiên khi chưa bước chân xuống đất, là phải làm dấu thánh giá và đọc vài kinh nhật tụng. Sau đó, đánh răng rửa mặt, thay quần áo đi lễ. Trên đường đến nhà thờ, họ không bỏ phí thì giờ, lấy tràng hạt ra vừa lần chuỗi vừa cầu xin. Vào nhà thờ đọc kinh chung cả tiếng đồng hồ rồi mới tham dự thánh lễ mà dường như vẫn chưa thấy đủ, họ còn quì nán lại đọc kinh thêm cho đến lúc tới giờ đi làm. Buổi trưa, đúng giờ ngọ, chuông nhà thờ lại cất lên, nhắc họ dù đang làm gì, dù đang ở đâu, cũng phải tạm ngưng tay để làm dấu thánh giá và cầu nguyện. Tối về, cơm  nước xong lại vội vã đến nhà thờ. Và khoảng 9 giờ tối, trước khi đi ngủ, mọi gia đình đều tụ tập trước bàn thờ để đọc thêm một loạt kinh nữa trước khi lên giường! Nói chung, một ngày không biết bao nhiêu lần nhớ đến Chúa. Ăn củ khoai cũng làm dấu thánh giá. Nửa đêm mất ngủ cũng ngồi lên lần tràng hạt! Vui cũng cám ơn Chúa, mà buồn cũng coi là thánh giá Chúa trao cho mình gánh vác! Niềm tin mãnh liệt như thế, cho nên chẳng lạ gì….” [17]

Với kế sách khơi động và nuôi dưỡng lòng tham lam ích kỷ con người rồi dùng miếng mồi vật chất, danh vọng và quyền lực để câu nhử lôi cuốn những phường tham lợi háo danh, thèm khát quyền lực theo đạo hay theo học nghề làm tu sĩ Da-tô và chính sách nhồi sọ như trên, tất nhiên là toàn bộ tu sĩ và tín đồ của Giáo Hội La Mã gồm toàn những phường tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực.

Tham lam và ích kỉ là cha đẻ những đặc tính tham lợi háo danh và thèm khát quyền lực. Lịch sử  cho thấy rằng những hạng người tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực là những hạng người xu thời, xun xoe với người trên, hống hách phách lối với người dưới và khi có cơ hội là trở cờ phản trắc. 

Lý do rất dễ hiểu là vì bản chất tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực, họ sẽ có thể làm tất cả những gì kể cả những việc làm vô liêm sỉ để đạt được dục vọng đê hèn của họ. Những kẻ tham lợi, háo danh, thèm khát quyền lực đều là những kẻ chỉ biết  có danh vọng và quyền lực. Hạng người này có thể làm những chuyện đại nghịch bất đạo như giết cha, giết mẹ, giết anh em, đối xử tàn tệ với vợ con, phản thày, phản bạn, phản quốc, phản lại giống nòi để chiếm đoạt cho bằng được những thứ lợi, danh và quyền lực mà họ đang theo đuổi. Đây là một sự thật đã từng xẩy ra rất nhiều lần trong lịch sử nhân loại và vẫn còn tiếp tục xẩy ra trong cuộc sống hàng ngày ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, đặc biệt là nó đang diễn ra trong các hội đoàn của người Việt hải ngọai tại Bắc Mỹ. Dưới đây là một vài cái gương lưu xú vạn niên này:

1.- Vì thèm khát quyền lực, Thương Thần giết cha là Sở Thành Vương để có thể nhẩy lên ngai vàng cai trị nước Sở với vương hiệu là Sở mục Vương. Chuyện này xẩy ra ở nước Sở trong thời Đông Châu Liệt Quốc. Chuyện rằng Sở Thành Vương có nhiều con trai và đã lập ngôi thái tử cho người con cả là Thương Thần. Nhưng vì tham quyền cố vị, dù là đã ở ngôi 46 năm rồi, Sở Thành Vương vẫn cứ ngồi lỳ bám chặt lấy quyền lực, không chịu nhường ngôi cho con như các vua nhà Trần của nước ta. Thương Thần chờ lâu quá, nóng lòng và sợ rằng biết đâu vào một lúc nào đó, Sở Thành Vương sẽ đổi ý truất ngôi Thái Tử của mình và lập một người con khác lên thay thế. Rồi chuyện xẩy ra đúng như Thương Thần đã lo sợ. Sau khi lập Thương Thần làm thái tử rồi, Sở Thành Vương lại thương yêu một người con thứ tên là Chức và có ý truất ngôi thái tử của Thương Thần để đưa Chức lên thay thế. Biết được tin này, Thương Thần liền âm mưu với Phan Sùng làm đảo chính. Nửa đêm, hai người này đem quân vào cung vây bắt Sở Thành Vương và buộc phải thắt cổ tự tử, rồi lên ngôi lấy vương hiệu là Mục Vương.

Rõ ràng là  lòng háo danh và thèm khát quyền lực đã khiến cho Thương Thần giết cả người cha ruột của mình để  đạt được mục đích. Độc ác thay. Đúng là loài súc sinh!

2.- Vì thèm khát  quyền lực cho nên Lữ Bát Vi đã muối mặt đem cả người vợ thân thương yêu quý của ông ta là Triệu Cơ dâng hiến cho công tôn Dị Nhân nước Tần (đang bị giữ làm con tin ở nước Triệu) để lót đường tiến vào cửa quyền. 

3.- Vì thèm khát quyền lực, Dương Quảng giết cả cha là Dương Kiên Tùy Văn Đế (581- 605), giết mẹ và giết cả anh ruột là Dương Dũng để nhẩy lên ngai vàng, lấy đế hiệu là Tùy Dạng Đế (605-618).

4.- Cũng chỉ vì lòng háo danh và thèm khát quyền lực mà Tổng Giám-mục Charles Muarice de Talleyrand (1754-1838) trở thành vua trở cờ với những thành tích phản lại Giáo Hội đi theo Cách Mạng Pháp 1789. Khi thấy rằng Liên Minh Thánh (Holy Alliance) của Giáo Hội mạnh, ông lại trở cờ, phản lại Cách Mạng Pháp đi theo Liên Minh Thánh, nhưng vì bị Liên Minh Thánh truy cứu tội phản lại Giáo Hội trong những ngày đầu của Cách Mạng Pháp 1789, nên ông ta phải trốn chạy sang Hoa Kỳ sống lưu vong và được chính quyền Hoa Kỳ bao che. Khi thấy Tướng Napoléon Bonarparte lên nắm chính quyền ở Pháp và đang ở thế mạnh, ông  tìm cách trở về Pháp xin phục vụ và được cho giữ chức vụ Bộ Trưởng Ngọai Giao trong suốt thời kỳ từ cuối thập niên 1790  cho đến đầu thập niên 1810. Cuối thập niên 1790, vì  còn đang ở thế yếu, lại đang phải đối phó với Anh quốc, Hoa Kỳ gửi một phái đoàn sang Thủ Đô Paris để cầu thân với Pháp. Lúc đó,  Charles Muarice de Talleyrand đang nắm giữ chức vụ Bộ Trưởng Ngọai Giao của chính quyền Pháp. Thấy rằng Hoa Kỳ đang ở thế yếu và muốn cầu cạnh làm thân với   Pháp, ông vua trở cờ này quay ra bắt chẹt Hoa Kỳ đòi phải nộp tiền hối lộ cho Pháp rồi mới bằng lòng nói chuyện. Vì phải giữ gìn quốc thể, phái đoàn Hoa Kỳ tức giận tuyên bố: “Thà mật bạc triệu để phòng thủ còn hơn mất một xu để hối lộ”, rồi bỏ ra về [18]. Sau này, vào đầu thập niên 1810, chính quyền của Hoàng Đế Napoléon suy yếu và Liên Minh Thánh đang trên đà thắng thế, ông lại phản lại Hoàng Đế Napoléon để đi với Liên Minh Thánh. 

5.- Cũng chỉ vì lòng thèm khát quyền lực, mà ông Da-tô tứ đại Việt gian Ngô Đình Diệm đã trở thành một nhân vật lưu xú vạn niên trong thời cận và hiện đại với những thành tích vừa là một tến Việt gian ác ôn (dùng phương cách tra tấn “đốt đèn cầy sấy hậu môn các tù nhân yêu nước” để lấy khẩu cung), vừa là ông vua phản phé còn siêu hơn cả ông vua trở cờ Talleyrand như đã nói trên. 

Cả hai nhân vật Da-tô lưu xú vạn niên lừng danh này đều đã được trình bày khá đầy đủ ở trong Chương 16, sách Thực Chất Của Giáo Hội La Mã (Tacoma, Washington, TXB: 1999).

6.- Tất cả những người Việt muối mặt nhẩy ra làm Việt gian bán nước cho Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp - Vatican trong suốt thời kỳ 1858-1954 và Liên Minh Mỹ - Vatican trong những năm 1954-1975 đều là những người tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực.

Phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy rằng những kẻ nào càng nặng lòng tham lam ích kỷ, càng háo danh và thèm khát quyền lực thì càng trở  thành mù quáng và càng dễ dàng bị sai khiến bằng danh lợi và quyền lực. Đây là một quy luật tâm lý mà Giáo Hội La Mã đã  khai thác triệt để bằng cách kế sách khơi động và nuôi dưỡng lòng tham lam ích kỷ trong lòng tín đồ để lợi dụng họ làm tay sai đắc lực cho Giáo Hội.

Nhờ đã triệt để áp dụng kế sách này, Giáo Hội La Mã đã đạt được những gì mà Giáo Hội mong muốn, tức là đạt được cái mục đích tối hậu của Giáo Hội. Mục đích tối hậu này là hủy dịêt nếp sống văn hóa bản địa ở trong lòng tín đồ để thay thế vào đó bằng nếp sống văn hóa Da-tô.

Quả thật là như vậy! Quan sát trong xã hội Da-tô, chúng ta thấy kế sách này đã gây ra một tác dụng  vố cùng khủng khiếp mà chúng ta có thể nhìn thấy rõ ràng trong cung cách hành xử hàng ngày của họ. Dưới đây là một vài trường hợp điển hình:

1.-  Vì lòng tham lam, ích kỷ và háo danh để được tiếng là con chiên ngoan đạo mà vợ  con ông Charlie Nguyễn đã muối mặt lôi ông ra đấu tố, làm cho luân thường đạo lý bị đảo ngược[19].

2.- Cũng vì lòng háo danh và muốn tỏ ra có quyền lực mà những bà hội viên trong Hội Con Đức Mẹ mới có những hành động ác độc tàn ngược trong vịệc đấu tố em bé Mai trong trại định cư Tân Hạ  (Xóm Đạo) như nhà văn Da-tô Nguyễn Ngọc Ngạn ghi nhận nơi các trang 42-44 trong tác phẩm Xóm Đạo (Đông Kinh, Nhật Bản,Tân Văn, 2003).

3.- Cũng chính vì lòng ích kỷ với tinh thần cầu an quá nặngcũng là   muốn tỏ ra  được phỉnh nịnh  là con chiên ngoan đạo mà khi chứng kiến thảm cảnh người gái nhỏ dại (bé Mai) của họ bị đấu tố (bị đánh bề đồng) tàn nhẫn ngay ở trước mặt  mà họ cũng vẫn không hề xông ra bênh vực chống đở và bảo vệ đứa con của khốn khổ của họ.

4.- Cũng chính vì lòng tham lam ích kỷ, háo danh và thèm khát quyền lực mà ông Linh-mục Trần Lục đã dẫn hơn 5 ngàn quân lính thập tự Phát Diệm đi tiếp viện cho Liên Quân Xâm Lược Pháp - Vatcian tiêu diệt lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta dưới quyền chỉ huy của nhà ái quốc Đinh Công Tráng tại căn cưa Ba Đình vào năm 1887.

5.- Cũng chính vì lòng tham lam ích kỷ, háo danh và thèm khát quyền lực mà những tín đồ Gia-tô người Việt như Trần Bá Lộc, Lê Hoan, Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài, Pétrus Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trường Tộ, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Bá Tòng, Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi, Hồ Ngọc Cẳn, Nguyễn Lạc Hóa, Đinh Xuân Hải, Mai Ngoc Khuê,    không biết bao nhiêu ngàn tín đồ Da-tô khác đã muối mặt phản lại đất nước, phản lại dân tộc, muối mặt  làm tay sai cho quân cướp ngọai thù là Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Pháp - Vatican trong suốt chiều dài lịch sử từ giữa thế kỷ 19 cho đến ngày nay.

 6.- Cũng chính vì lòng tham lam ích kỷ, tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực mà ngày 27/8/1964, ỏ giữa Thủ Đô Sàigòn, Linh-mục Hoàng Quỳnh đã ngang nhiên hô hào giáo dân rằng, “thà mất nước, chứ không thà mất  Chúa” .

Ngoài ra, chúng ta còn thấy, lòng tham lam ích kỷ  đã làm cho tín đồ Gia-tô mờ mắt và mất hết lý trí, cho nên họ thường tỏ ra rất  trân trọng những chức tước, những phẩm hàm trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội và các địa vị trong chính quyền. Đây cũng là động lực khiến cho tín đồ Da-tô, đặc biệt là tín đồ Da-tô người Việt,  rất hăng say lao đầu vào việc tranh giành hơn thua, chiếm cho được phần hơn về mình. Tình trạng này gây nên những ác tính khác theo quy luật giây chuyền với những căn bệnh đố kị, tị hiềm và ganh ghét trong con người của họ. Những ác tính này càng ngày càng trở nên trầm trọng.

Cũng vì thế mà họ trở thành những hạng người  thiển cận, lố bịch, trịch thượng (tư phong cho họ là "dân Chúa", gọi những tôn giáo khác  là "tà đạo" hay "tà giáo" là những thành phần thuộc các nền văn hóa khác là những quân "mọi rợ", những dân "man di").

Căn bệnh lố bịch trịch thượng này lại sinh ra chứng bệnh huênh hoang, khoác lác, hợm hĩnh một cách vô cùng lố bịch. Đây là căn bệnh đội trên đạp dưới rất thông thường trong xã hội Da-tô (xun xoe, ninh bợ những người có chức tước, địa vị, quyền hành và khinh rẻ những người ngoại giáo, những người lép vế thế cô và những người thấp hèn). Đây cũng là một nét đặc thù trong nếp sống văn hóa Da-tô và được nhà trí thức Da-tô Nguyễn Văn Trung ghi nhận như sau:

“Ai có dịp gần gũi các giám mục Việt Nam đều có chung nhận xét rằng về mặt cá nhân, các Ngài có vẻ đạo mạo, cởi mở, dễ mến, trừ một ít vị tỏ ra cao ngạo, khép kín, quan liêu. Những trong lề lối làm việc, các giám-mục thường rất độc tài, độc đoán. Trong đối xử thường tỏ ra kỳ thị, ban phát ân huệ, coi thường bề dưới, ganh tị và kèn cựa với đồng liêu để lập công với Tòa Thánh. Những điểm nổi bật là tiền hậu bất nhất, việc làm không đi đôi với lời rao giảng, trọng ngoại khinh nội, tham phú phụ bần, vô cùng sợ hãi Tòa Thánh, đến nỗi có những linh mục nói rằng, “Tòa Thánh đánh rắm cũng khen thơm”,…..” [20]

Đặc tính huêng hoang, khoác lác, khoe khoang này không những thể hiện ra trong cung cách hành xử hàng ngày của họ với những thái độ và ngôn từ như trên, mà còn thể hiện ra qua những lời văn trong những ấn phẩm của họ. Đọc lá thư 1/11/1995 của ông cựu luật sư Da-tô Nguyễn Văn Chức gửi ông cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNama , chúng ta thấy rằng, ngoài những lời lẽ chủ quan thiển cận của một hạng người “ếch ngồi đáy giếng”,  ở cuối lá thư bên cạnh cái tên Nguyễn Văn Chức, tác giả lá thư này còn kê ra tới 5 cái chức vụ và nghề nghiệp trong cuộc đời của ông ta.

Đặc tính huênh hoang, khóac lác khoe khoang này lại đẻ ra một  cái tật quái đản khác là nói láo hay làm những chuyện giả dối để tô vẽ cho cá nhân mình. Thí dụ như chuyện ông Da-tô Cao Thế Dung tự xưng là tiến sĩ đã trở thành trò hề cho thiên hạ. Tại tiểu bang Washington, có một vài người bỏ tiển ra  mua bằng tiến sĩ  rồi viết văn hay viết thư giao dịch với bạn bè đều ghi hai chữ “Tiến–sĩ  trước cái tên của mình. Người viết tin rằng, ở các tiểu bang khác cũng có những hiện tượng hợm hĩnh này. Lại có một vài người mỗi khi gặp một người nào ở đâu đó, họ đều chìa tay ra bắt tay với người mới quen này và tự giới thiệu, “Tôi Giao-sư Nguyễn Quốc Tr……”, “Tôi, nhà văn Phạm Quang Tr…”, “Tôi, thi-sĩ ….” . Thiết tưởng rằng chỉ có những kẻ chịu ảnh hưởng nặng nề của nền văn hóa Da-tô mới có những hành động lợm giọng như vậy!

NHÓM VIỆTGIAN

DO GIÁO HỘI LA MÃ ĐÀO TẠO

Với chính sách ngu dân và nhồi sọ như trên, Giáo Hội La Mã đã biến tín đồ Da-tô người Việt thành những hạng người vong bản, phản dân tộc và phản quốc đúng như ý muốn của Giáo Hội. Dưới đây là một số trong những bằng chứng cụ thể nói lên sự kiện này:

1.- Từ khi Giám-mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) trực tiếp can thiệp vào nội tình Việt Nam vào gữa thập niên 1780 qua việc vận động ngoại viện cho Nguyễn Ánh để đánh bại nhà Tây Sơn, thì cũng từ đó, tu sĩ và tín đồ Da-tô người Việt luôn luôn triệt để vâng lời và tuân hành lệnh truyền của Toà Thánh Vatican chống lại tổ quốc Việt Nam:

a.- Khi Giám-mục Pigneau de Béhaine triệt để ủng hộ và tích cực chiến đấu cho phe Nguyễn Ánh, thì tu sĩ và tín đồ Da-tô người Việt cũng triệt để ủng hộ và tích cực chiến đấu cho phe Nguyễn Ánh.

b.- Khi các nhà truyền giáo Da-tô chống lại việc Vua Gia Long lập Hoàng Tử Đảm làm Đông Cung Thái Tử vào năm 1816 để chuẩn bị nối ngôi nhà vua, thì tu sĩ và tín đồ Da-tô cũng hùa theo các nhà truyền giáo để chống lại nhà vua, rồi vu oan giá họa cho Vua Minh Mạng  đủ điều xấu xa. Sự kiện này được thể hiện ra qua những bản văn ghi nơi các trang 276-297 trong cuốn Việt Nam Giáo Sử Quyển I của tác giả Phan Phát Huồn (Saigòn, Cứu Thế Tùng Thư, 1964).

c.- Khi Linh-mục Joseph Marchand xúi giục  và cấu kết với Lê Văn Khôi nổi loạn chiếm Gia Định Thành  chống lại triều đình Huế vào năm 1833, thì tu sĩ và tín đồ Da-tô ở miền Nam nhất tề nghe theo vị linh-mục này triệt để ủng hộ và tích các tham gia cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi.

d.- Khi liên quân Pháp Vatican đem quân tấn chiếm Việt Nam vào năm 1858 rồi cưỡng chiếm và thống trị Việt Nam cho đến năm 1945, thì tu sĩ và tín đồ Da-tô triệt để ủng hộ và tích cực đứng về phia Liên Quân Pháp – Vatican chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam. Trong thời gian này, hầu hết những tên Việt gian khét tiếng đắc lực cho cả Pháp lẫn Vatican đều là tu sĩ và tín đồ Da-tô. Thiết tưởng những ai đã học qua bậc tiểu học đều biết những tên Việt gian như Trần Bá Lộc, Lê Hoan, Huỳnh Tịnh Của, Đỗ Hữu Phương (Đõ Hữu Vị), Lê Phát Đạt (Huyện Sĩ), Pétrus Trương Vĩnh Ký, Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài, Trần Lục, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục,  Nguyễn Bá Tòng, Nguyễn Trường Tộ, Ngô Đình Diệm, Hồ Ngọc Cẩn, Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi, v.v….

e.- Khi Linh-mục Trần Lục hô hào giáo dân Phát Diệm gia nhập đạo quân tiếp viện cho Liên Quân Pháp – Vatican trong chiến dịch tấn công và tiêu diệt lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta tại Chiến Lũy Ba Đình trong những năm 1885-1887, thì gần như toàn thể nam giáo dân trong họ đạo Phát Diệm hồ hởi đáp lời kêu gọi của tên linh mục Việt gian này. Vì vậy mà liên quân giặc có thêm sức mạnh và chiến lũy Ba Đình của lực lượng nghĩa quân kháng chiến dưới quyền lãnh đạo của cụ Đinh Công Tráng bị phá vỡ [21].

f.- Khi Toà Thánh và chính quyền Pháp bổ nhậm cựu Linh-mục Thierry d’ Argenlieu nắm giữ chức Cao Uỷ Đông Dương vào ngày 17/8/1945 với nhiệm vụ nắm quyền chỉ huy đoàn quân viễn chính tái chiếm Đông Dương và phục hồi quyền lực của Liên Minh Pháp – Vatican tại phần đất này, thì tu sĩ và tín đồ Da-tô hồ hởi nổi lên tiếp ứng Liên Quân Pháp – Vatican để chống lại cuộc kháng chiến của nhân dân ta do Mặt Trận Việt Minh lãnh đạo.  

 2.-  Cũng vì đã bị biến thành một người vong bản, phản dân tộc và phản quốc, chỉ biết tuyệt đối trung thành với Tòa Thánh Vatican, ông Ngô Đình Diệm đã không biết ngượng mồm khi tuyên bố với các nhân viên cao cấp trong bộ Ngọai Giao Hoa và các nhân vật có thế lực Hoa Kỳ trong bữa cơm chiều tại Khách Sạn Mayflower ở Washington D.C. vào tháng 10 năm 1950 rằng ông, “tin tưởng vào quyền lực Vatican và ông chống cộng cực lực.” [22]

3.- Cũng vì đã bị biến thành một người vong bản, phản dân tộc và phản quốc, chỉ biết tuyệt đối trung thành với Tòa Thánh Vatican, khi được Hoa Kỳ và Vatican đưa về miền Nam Việt Nam cầm quyền, ông Diệm mới cho tổ chức một buổi đại lễ vô cùng long trọng vào tháng 2 năm 1959 để dâng cả nước Việt Nam cho Giáo Hội La Mã được ngụy trang bằng danh xưng “Đức Mẹ Vô Nhiễm.[23] 

4.- Cũng vì đã bị biến thành một người vong bản, phản dân tộc và phản quốc, chỉ biết tuyệt đối trung thành với Tòa Thánh Vatican, ông Ngô Đình Nhu mới công khai tuyến bố thẳng thừng rằng:

Tôi có cả một chương trình, đã bàn tính kỹ với Đức Giám-mục (Ngô Đình Thục) sẽ lần hồi tiến tới chỗ mà Hội Truyền Giáo hoạt động một thế kỷ mới đạt tới, còn chúng ta chỉ cầm quyền mười năm thôi là cả miền Nam theo Công Giáo hết.”  [24]

Để có thể đạt được hiệu quả của chương trình Kitô hoá miền Nam đúng như ông Ngô Đình Nhu đã tuyên bố như trên, chính quyền  Ngô Đình Diệm liền cho:

a.-  Thiết lập lập bộ máy công an mật vụ với 13 tổ chức khác nhau[25] để làm phương tiện cho biện pháp sử dụng bạo lực trong việc tiến hành kế koạch Kitô hóa nhân dân miền Nam Việt Nam mà ông Ngô Đình Nhu đã tuyên bố như trên.

b.-  Ban hành Sắc Lệnh số 6 ngày 11/1/1956 “bắt giữ bất cứ ai có hành động làm hại đến an ninh công cộng.” [26]

c.- Ban hành Dụ 47 vào  ngày 21/8/1956 “lên án tử hình những hành vi phá rối trị an có liên hệ với Cộng Sản.[27]

d.- Ban hành Luật 10/59 vào  ngày 6 tháng 5 năm 1959 “thiết lập các tòa án quân sự đặc biệt …, kết án tử hình những người có liên hệ với Cộng Sản”  [28].

Tất các bộ máy công an mật vụ cũng như những sắc lệnh số 6, Dụ 47 và Luật 10/59 trên đây là những phương tiện tàn sat nhân dân ta trong những chiến dịch “làm sáng danh Chúa” cho cái chương trình mà ông Ngô Đình Nhu tuyên bố trên đây.

Thành tích của các chiến dịch “làm sáng danh Chúa” được các sách sử ghi nhận là “độ 300 ngàn người dân miền Nam bị sát hại,[29] hoặc là bắt giam và xử tử đúng theo tinh thần Sắc Lệnh số 6, Dụ 47 và Luật số 10/59 trên đây,  hoặc là tóm cổ rồi thủ tiêu như các ông Tạ Chí Diệp, Nguyễn Bảo Toàn, Phạm Xuân Vũ Tam Anh, Hồ Hán Sơn,  v.v..., hoặc ám sát như trường hợp Thiếu Tướng Trình Minh Thế, hoặc là tàn sát theo độc kế được thi hành trong trại giam Phú Lợi (Bình Dương) vào ngày 1/12/1958 khiến cho “hơn một ngàn người thiệt mạng.” [30]

5.- Linh-mục Hoàng Quỳnh dùng khẩu hiệu “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” để hô hào kêu gọi giáo dân   nổi lọan chống lại chính quyền phi Kit-tô Giáo vào năm 1964.[31] 

6.- Tín đồ Da-tô ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1963 được nhồi nhét vào đầu óc cái tư tưởng Da-tô quái đản  Nhất Chúa, nhì Cha, thứ ba Ngô Tổng Thống.[32] 

7.- Tín đồ Da-tô Nguyễn Gia Kiểng  cho rằng:

"Việc bách hại người Công Giáo đã là một vết nhơ khó tẩy xóa được trong lịch sử Việt Nam. Đó là sự kiện chính nhà nước Việt Nam, chứ không phải một đòan quân xâm lược nào, đã tàn sát một số lớn người Việt Nam hoàn toàn vô tội. Thảm kịch còn lớn hơn nữa vì nhà nước đó biết họ vô tội nhưng vẫn giết họ. "Điều ngạc nhiên là cho tới nay chưa có một chính quyền Việt Nam nào, nhân danh sự liên tục quốc gia, tổ chức một ngày để xin lỗi những người Công Giáo về sự sai làm kinh khủng đó." [33]

8.- Giám-mục Nguyễn Văn Thuận lớn tiếng tuyên bố với tín đồ Gia-tô người Việt ở Giáo Phận Orange County vào ngày 15/3/2001 rằng “Vatican không nói, mà làm. Làm ra sao thì cứ nhớ lại biến cố Đông Âu thì rõ.” [34]

Từ những sự kiện trên đây, chúng ta có thể suy ra để kết luận rằng, NẾU chính quyền Việt Nam thiết lập bang giao với Tòa Thánh Vatican, THÌ  Giáo Hội La Mã sẽ lại dùng miếng mồi vật chất dụ khị những người dân nghèo  khổ lao vào “theo đạo lấy gạo để ăn” và miếng mồi chức vụ dù chỉ là hứa hẹn hay tưởng tượng của Giáo Hội để  lôi cuốn bọn háo danh thèm khát quyền lực nhào tới “theo đạo để tạo danh đời”. NẾU thật sự xẩy ra như vậy, THÌ thời gian không bao lâu, những hạng người tiểu nhân đê tiện hám lợi, háo danh và thèm khát quyền lực này sẽ trở thành những con thiêu thân trong các đạo quân thập tự nằm hờ chờ lệnh khai hỏa của Vatican là chúng sẽ nhất tề ào ào nổi lên chống lại dân tộc và tổ quốc Việt Nam. Tình trạng này đã từng xẩy ra trong thời Liến Quân Pháp – Vatican đem quân tấn công, cưỡng chiếm và thống trị nước ta từ năm 1858  cho đến năm 1945 cũng như trong thời kỳ kháng chiến 1945-1954 và trong những năm 1954-1975 ở miền Nam Việt Nam.

NHỮNG KẾ SÁCH LẤN CHIẾM TIẾM ĐOẠT

CHÍNH QUYỀN TẠI CÁC VÙNG MỤC TIÊU

Tìm hiểu về thành tích lấn chiếm tiếm đoạt chính quyền tại các vùng mục tiêu của Giáo Hội La Mã, các nhà nghiên cứu sử nhận thấy Giáo Hội thường sử dụng những kế sách như sau:

NẾU nhà cầm quyền  có thái độ và hành động bất thuận lợi hay bất thân thiện với Giáo Hội, Vatican dùng phương cách hạ bệ hay mưu sát nhà cầm quyền đó rồi đưa người thân tín hay tay sai của Giáo Hội lên nắm chính quyền. Giáo Hội đã từng làm như vậy ở Pháp vào thế kỷ 17. Sự kiện này sẽ được trình bày đầy đủ ở phần sau.

NẾU quốc gia bị chiếu cố có  tranh chấp nội bộ hay nội chiến, Giáo Hội nhẩy vào tích cực ủng hộ phe phái có thiện cảm với Giáo Hội để hy vọng thành công thì sẽ được ăn có. Việc Giám-mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) vận động ngọai viện giúp Nguyễn Ánh và làm quân sư cho Nguyễn Ánh trong cuộc chiến đánh bại nhà Tây Sơn vào những năm 1784-1799 là bằng chứng rõ ràng nhất nói lên sự kiện này.

NẾU chính quyền của quốc gia bị chiếu cố có chính sách chống lại những hành động bất chính của Giáo Hội, và Nếu tín đồ Da-tô ở trong quốc gia này đủ mạnh để gây xáo trộn, Vatican cho người móc nối những thế lực hay thành phần bất mãn với nhà nước đương quyền để xúi giục thế lực này nổi loạn  rồi ra lệnh cho giáo dân tích cực tham gia cuộc nổi loạn này. Việc Linh-muc Joseph Marchand (Có Du) xúi giục Lê Văn Khôi nổi loạn chống lại triều đình Huế trong nhữn