1005-gd.gif (6609 bytes)
posted: 05.10.2005

Nguyễn Mạnh Quang

CHƯƠNG 3

CON SỐ TÍN ĐỒ DA TÔ NGƯỜI VIỆT

VÀ ĐỘNG LỰC KHIẾN CHO HỌ THEO ĐẠO

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng, kế sách đánh phá Việt Nam của Vatican cũng tùy thuộc vào con số tín đồ Da-tô người Việt. Vì vậy, chúng ta  cũng nên biết  những  con số  tín đồ Da-tô người Việt trong từng thời kỳ hay những thời điểm quan trọng trong lịch sử để chúng ta có thể suy ra kế sách của Vatican sử dụng  để đánh phá tổ quốc Việt Nam.

Qua phần trình bày trong chương trước, Giáo Hội La Mã có chủ trương sử dụng miếng mồi vật chất và chức vụ trong chính quyền để dụ khị và câu nhử những phường tiểu nhân hám lợi, háo danh và thèm khát quyền lực lao vào “theo đạo lấy gạo để mà ăn” và “mượn đạo tạo danh đời”.  Đây là thực trạng đã xẩy ra trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam từ năm 1533 cho đến ngày nay. Thực trạng này cũng cho chúng ta thấy “số người Việt theo đạo Da-tô tăng theo tỉ lệ thuận với quyền lực của Vatican”. Phần trình bày dưới đây sẽ cho chúng ta thấy rõ sự kiện này.

CON SỐ NGƯỜI VIỆT THEO ĐẠO DA-TÔ

TÍNH THEO TỪNG KỲ

Theo sách sử, số người Việt Nam theo đạo Gia-tô vào những năm có biến cố quan trọng trong lịch sử  nước nhà trong thời cận và hiện đại được ghi nhận như sau:

1.- Năm 1533:  giáo sĩ Inigo (Inikhu - Bồ Đào Nha) là người đầu tiên đến Việt Nam truyền giáo.

2.- Năm 1664: ở Đàng Trong   có vào khoảng...................100.000 người [1]

3.- Năm 1737: ở Đàng Ngoài   có vào khỏang.................. 250.000 người [2]

4.- Năm 1800: Cả nước có vào khoảng............................ 320,000 người [3]

5.- Đầu thập niên 1840: ....................................................420,000 người [4]

6.- Đầu thập niên 1850: ...............…..........từ..500.000 đến 600,000 người [5]

7.- Năm 1892................(theo Bùi Đức Sinh).................... .683,000 người [6]

8.- Năm 1945                (theo Trần Tam Tỉnh)................1,700,000 người [7] .

Năm 1954: Khoảng trên dưới 500,000 giáo dân Gia Tô trong số 860,000  từ Bắc di cư vào miền Nam, Sử gia Bernard B. Fall   ghi trong cuốn The Two Vietnams như sau:

"Trong số 860 ngàn người trốn vào miền Nam thì có tới 600 ngàn người là tín đồ Gia-tô." ("Of the 860,000 who fled South at this time, 600,000 were Catholics."  [8].

Cần phải đặt vấn đề về con số giáo dân Gia-tô di cư vào miền Nam trong thời gian 7/1954-5/1955. Sau đây là những sự kiện mà người viết được biết:

Thứ nhất, tại các trại định cư, các ông linh mục trưởng trại các trại định cư vừa làm sổ gia đình giáo dân ma vừa khai thêm nhân khẩu của mỗi hộ (gia đình) để lĩnh gian tiền trợ cấp di cư. Việc làm gian manh này có lẽ bắt đầu từ cuối tháng 7/1954 hay đầu tháng 8/1954 và xuôi lọt cho đến đầu tháng 3/1955 thì người Mỹ biết rõ và cho điều tra. Không biết  có phải vì việc điều tra này mà ngay sau đó mấy ngày, ông Giám Đốc Phủ Tổng Ủy Di Cư (một tín đồ Da-tô ngoan đạo) bị thay thế bằng một nhân vât khác  (cũng là một tín đồ Da-tô ngoan đạo), rồi bỗng nhiên Phủ Tổng Ủy Di Cư ở Đường Trần Hưng Đạo bị hỏa họan phát xuất từ văn phòng và gần như toàn bộ hồ sơ  danh sách các gia đình người di cư lĩnh trợ cấp bị thiêu rụi. Chuyện này bẵng đi cho đến năm 2002, một giáo dân Da-tô, tuổi khoảng hơn 60 tuổi, gốc Bắc Ninh, di cư vào Nam năm 1954 và đến định cư ở Hoa Kỳ từ năm 1975, hiện còn làm việc tại Tacoma Public Schools. Nhân vụ lọan dâm bùng nổ ở Hoa Kỳ, ông này mới tâm sự với một người đồng đạo cùng làm việc ở Tacoma Public Schools đại khái như sau:

"Năm 1954, tôi còn là một thiếu niên nhỏ tuổi, ngay khi vừa mới di cư vào Nam, nhờ sự giúp đỡ của một vị linh mục,  bố mẹ tôi gửi tôi đến tu ở Dòng Đồng Công được khỏang gần 6 tháng. Sau đó, bố tôi thấy vị linh mục này làm sổ gia đình ma và khai thêm người vào sổ gia đình của giáo dân trong trại để lĩnh gian tiền trợ cấp di cư. Bố tôi  bất bình về việc làm gian manh như vậy và  tỏ ra khinh rẻ vị linh mục này. Bị bố tôi khinh thường, vị linh mục này tức giận, quay ra trả thù gia đình tôi bằng cách tìm cách xúi giục vị Linh-mục trông coi Dòng Đồng Công kiếm cớ đuổi tôi ra khỏi nhà Dòng. Vì thế mà tôi mới xuất tu."

Thứ hai, theo Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi trong sách Thập Giá Và Lưỡi Gươm thì:

Tổng số giáo dân Gia-tô ở miền Bắc vĩ tuyến 17 trước ngày di cư là 1.390.000

Tổng số giáo dân Gia-tô còn lại ở miền Bắc sau ngày di cư là………..     846.500

Như vậy, số giáo dân di cư vào Nam là:...........  1.390.000 - 846.500 : 543.500 [9]

CON SỐ TÍN ĐỒ DA TÔ TĂNG THEO

TỈ LỆ THUẬN VỚI QUYỀN LỰC CỦA GIÁO HỘI

Muốn biết động lực hay yếu tố nào khiến cho những đồng bào thân thương ruột thịt của chúng ta vốn là những người hiền lương chất phác sống theo nguyến tắc đạo lý của nền tam giáo cổ truyền lại đành tâm nhắm mắt đi theo cái đạo mà văn hào Voltaire đã gọi là “cái tôn giáo ác ôn” để rồi trở thành những phường vong bản phản quê hương, phản giống nòi, cúi mặt tiếp tay cho kẻ thù dân tộc đánh chiếm và thống trị tổ quốc Việt Nam, chúng ta cần phải biết con số những người theo đạo trong những thời kỳ đặc biệt của từng giai đọan lịch sử và cần phải phân loại họ theo động lực khiến cho họ tình nguyện theo đạo hay hoàn cảnh nào khiến cho họ bị cưỡng bách hay bị đẩy vào thế phảio theo đạo để tự tồn. Có như thế, chúng tai mới có thể xác định những yếu tố nào đã khiến cho người Việt theo đạo Da-tô nhiều nhất.

Theo nguyên tắc này, người viết  phân chia con số người Việt theo đạo Da-tô trong mỗi thời kỳ và khởi đầu từ năm 1533 là năm giắo sĩ Da-tô đầu tiên là giáo-sĩ Ini Khu (người Bồ Đào Nha) đến Việt Nam đặt chân lên đất Ninh Cường (Bắc Việt) để truyền đạo. Các thời kỳ này được phân chia theo những thời điểm được coi như quan trọng vì có liên hệ đến vấn đề truyền đạo dựa vào quyền lực của Giáo Hội La Mã tại Việt Nam. Có như vậy, chúng ta mới dễ dàng nhìn ra sự liên hệ giữa con số người theo đạo Da-tô và quyền lực của Giáo Hội La Mã tại Việt Nam. Nói cho rõ hơn, con số người Việt Nam theo đạo  Da-tô tăng theo tỷ  thuận với  quyền lực chính trị của Giáo Hội tại Việt Nam. Những con số người theo đạo Da-tô dưới đây cho chúng ta thấy rõ sự kiện này:

1.- Thời kỳ 1533-1800 dài 267 năm, số tín  đồ mới chỉ có 320, 000 người.

2.- Thời kỳ 1800-1840 dài 40 năm, số tín đồ tăng từ 320 ngàn lên 420 ngàn, tăng 100 ngàn.

3.- Thời kỳ 1840-1855 dài 15 năm, số tín đồ tăng từ 420 ngàn lên 600 ngàn, tăng 180 ngàn.

4.- Thời kỳ 1855-1892 dài 47 năm, số tín đồ tăng từ 600 ngàn lến 683 ngàn, tăng 83 ngàn.

5.- Thời kỳ 1892-1945 dài 53 năm, số tín đồ  tăng từ 683 ngàn lên 1,700,000, tăng 1.017.000 người.

6.- Thời kỳ 1955-1975 dài 20 năm, số tín đồ từ 1.7000.000 lên  đến khỏang từ 4.000.000 tới 5.000.000. tăng hơn hai triệu.

Như vậy là trong thời Vua Gia Long mới chỉ có 320 ngàn, và trong thời Vua Thiệu Trị cũng chỉ có hơn 400 ngàn.

Qua bảng phân tách trên đây, chúng ta nhận thấy thời kỳ 1892-1945, chỉ có 53 năm con số người Việt theo đạo Da-tô tăng vọt gấp hơn 2 lần so với các thời kỳ trước đó, và thời kỳ 1955-1975 ở miền Nam Việt Nam, chỉ cỏ vỏn vẹn có 20 năm mà con số người Việt theo đạo Da-tô tăng vọt gấp gần 3 lần so với  thời kỳ 1892-1945. Sự kiện này chứng tỏ rằng “con số người theo đạo Da-tô tăng theo tỉ lệ quyền lực của Giáo Hội La Mã tại Việt Nam.  Sự kiện này cũng đã xẩy ra gần đúng như chính sách Kitô hóa miền Nam Việt Nam như ông Ngô Đình Nhu đã tuyên bố như đã trích dẫn ở Chương 2, chú thích 27.

XẾP LOẠI NHỮNG NGƯỜI THEO ĐẠO DA TÔ

Căn cứ vào bản thống kê ở trên và theo sự tìm hiểu của người viết, ngọai trừ một vài trường hợp ngoại lệ,  hầu hết tín đồ Da-tô là ở thời nào cũng chỉ là  một trong 10 loại người dưới đây:

1.- Loại người “Đi đạo lấy gạo mà ăn”:  Đây là loại người vốn đã sống trong cảnh nghèo khổ từ nhiều năm và bị chính quyền đạo phiệt tay sai của Giáo Hội dùng miếng mồi vật chất  để câu như họ vào đạo. Sự kiện này cũng được ông Hà Giang nói rõ trong bài viết "Cứu Trợ Nhân Đạo" đăng trên www.giaodiem.com tháng 7/2003,  với nguyên văn như sau:

"Tình trạng xáo trộn chính trị và nạn đói vào đầu thế kỷ 20 ở Việt Nam, nhất là ở các tỉnh như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, v.v... được giới truyền giáo Tây Phương xem như là một cơ hội lý tưởng để bành trướng đạo Kitô.

Nhiều văn thư trao đổi giữa các giáo sĩ và các quan chức Pháp thời đó cho thấy rõ ràng chiến lược lợi dụng sự nghèo khổ của người Việt Nam để truyền đạo. Chẳng hạn như một lá thư của Đức Cha Marcou, giám mục một địa phận miền biển Đàng Ngoài gửi cho "Bề Trên" (đề ngày 14/ 9/1902) [trích đoạn]: "Hiện tại phương pháp họat động tông đồ tốt nhất có lẽ là tăng gấp bội hoạt động từ thiện và giúp đỡ về vật chất càng nhiều càng tốt." Một thư khác đề ngày 8/ 4/ 1889 của một nhóm 17 người xin phép bỏ đạo Công Giáo để trở lại với Phật Giáo viết [trích đoạn]: "Chúng tôi trước đây là tín đồ Phật Giáo. Vào đạo năm 1886, người ta nói chúng tôi được tự do làm người Phật Giáo hoặc Công Giáo. Hơn nữa, vị cha xứ địa phương bảo chúng tôi rằng nếu chúng tôi đón nhận Công Giáo, chúng tôi sẽ được miễn sưu thuế mà người Phật Giáo phải đóng. Đó là lý do chúng tôi rửa tội theo Công Giáo."[10]

Sách lược truyền đạo này còn được thực thi trong  thời chế độ Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa ở (miền Nam) Việt Nam, đặc biệt là ở những vùng mà nhân dân quá nghèo như ở Liên Khu V. Sự thật này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh nói rõ nơi các trang 128-130 trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi Gươm với nguyên văn như sau:

“Có người cho rằng việc theo đạo hàng loạt đó chỉ là lập lại theo ngạn ngôn có từ thời Pháp, “đi đạo lấy gạo mà ăn” thôi. Quả thế, viện trợ Công Giáo từ ngoài vào đều do các linh mục tự tiện thao túng và thường chỉ dành để phân phát cho người Công Giáo. Dân chúng miền Trung này, chẳng qua đã tìm nơi theo đạo Công Giáo như là một phương thế kiếm ăn.”  [11]

Cũng vào những năm này, trong các làng quê, giới truyền đạo thường đi từng nhà phân phát bánh mì (thời đó bánh mì là thực phẩm xa xỉ đối với người dân ở trong nông thôn hay làng quê) và nhân dịp kêu gọi bà con đi nhà thờ sinh họat hay xa hơn chút nữa là "rửa tội". Do đó, người dân trong làng quê thời đó có câu nói "Theo đạo có gạo mà ăn". Câu nói này hầu như người Việt Nam nào cũng nghe qua.

2.-  Loại người “Mượn đạo tạo danh đời”: Loại người này có chủ tâm theo đạo để dựa vào đạo hầu leo lên bước thang danh lợi như bọn Lam Văn Phát, Lâm Lễ Trinh, Tôn Th. Th., Huỳnh Hữu Nghĩa, Đặng Văn Quang, Nguyễn Văn Thiệu, v…v.   Trong cuốn Sáu Tháng Pháp Nạn, Giáo-sư Vũ Văn Mãu đã nêu đích danh một số người nhờ đã theo đạo mà được chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm trao cho nắm giữ một chức vụ trong chính quyền. Chuyện này đã được trình bày Chương 2. 

Chủ đích của những người này là “theo  đạo để tạo danh đời” (háo danh hay thèm khát quyền lực). Khi theo đạo rồi thì sẽ dựa hơi nhà thờ, tức là nhờ vả vị linh mục rửa tội hay  gia đình của  nhân vật  đỡ đầu (Godfather) giúp đỡ cho được thăng quan tiến chức, hoặc là để được dễ dàng chạy "affaires" hay làm ăn trong cộng đồng Da-tô được dễ dàng. Sự kiện này được ông Phạm Văn Liễu ghi nhận trong cuốn Trả ta Sông Núi (tập 2) nhu sau:

"Thực ra, đa số các sĩ quan hay công chức của nền Đệ Nhất Cộng Hòa  đã theo Cần Lao hay "rửa tội" chỉ vì muốn được an thân, nhất là tiến thân. Cái thói phù thịnh là lẽ thường tình của người đời. Với những cá nhân tham vọng, bất cứ phương tiện nào cũng tốt, miễn hồ giúp họ đạt được mục đích. Hai tiếng "trung thành" hay "nhân nghĩa" là những tiếng cười dài mỉa mai." [12] 

Con số người theo đạo thuộc lọai này có thể lên đến hàng chục ngàn hay hàng trăm ngàn người trở lên.

3.- Loại người theo đạo để “khỏi bị chụp mũ là Cộng Sản hay Cộng Sản nằm vùng”: Trong những năm 1954-1963, tại miền Nam Việt Nam, đặc biệt là ở các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn và Khánh Hòa, có tới khỏang 300 ngàn người bị chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm thủ tiêu hay sát hại theo tinh thần Sắc Luật 47 được ban hành vào ngày 21/8/1956 và Luật Số 10 được ban hành vào ngày 6/5/1959. Tình trạng này gây nên một tâm lý kinh hoàng trong nhân dân và đã khiến cho một số nhiều người khiếp sợ và tìm cách theo đạo để được an thân, nếu không, thì sẽ bị chụp mũ là “Cộng Sản” hay “Cộng Sản nằm vùng” và sẽ bị thủ tiêu hay sát hại giống như số phận của 300 ngàn nạn nhân như đã nói trên.   Sự kiện này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghị lại như sau:

Có những người cũng cho rằng họ vào đạo để khỏi bị sách nhiễu về chính trị. Quần chúng ở đây, vi đã từng sống lâu năm dưới chế độ Việt Minh, nên bị tình nghi có liên hệ với “kẻ địch”, bây giờ vào đạo là gặp được con đường để tỏ lòng trung thành với chế độ hoặc ít ra cũng tránh được những quấy nhiễu của cảnh sát… Điều chắc chắn là phong trào trở lại đạo đó chấm dứt với năm 1963, ngay khi tổng thống Công Giáo Diệm bị lật đổ." [13] 

Con số những người theo đạo thuộc loại này cũng nhiều lắm, không biết lên đến bao nhiêu ngàn người. Tính chung, con số những người tân tòng (thuật ngữ của Giáo Hội La Mã gọi là “những người mới trở lại đạo”) trong thời kỳ này phải lên đến hàng triệu. Vì thế mà vào năm 1975, con số tín đồ Da-tô  người Việt ở miền Nam Việt Nam lên đến hơn 5 triệu.

4.- Bị chèn ép hay bị dồn vào thế kẹt hay bước đường cùng cho nên phải theo đạo với hy vọng nhờ thế đạo để giải thoát. Thí dụ như một nạn nhân ở trong chính quyền bị một tín đồ cuồng tín có thế lực hay một linh mục chiếu cố và muốn lôi cuốn vào đạo mà nạn nhân tỏ ra không thiết tha, thì nạn nhân này sẽ bị họ tìm cách thuyên chuyển đi đến một nơi “khỉ ho cò gáy”, xa gia đình, xa vợ con; nếu là quân nhân, thì sẽ bị họ tìm cách thuyên chuyển đến vùng hỏa tuyến nguy hiểm nhất, phải thường trực đương đầu với cái chết. Đồng thời, họ cũng hé cho chính nạn nhân hay thân nhân của nạn nhân biết là “nếu theo đạo thì sẽ đuợc “Chúa đền ơn”…, bằng không thì sẽ còn phải lận đận, còn phải lao đao vô phương thoát khỏi.”

Trước năm 1954, khi thành hôn với một nữ tín đồ Da-tô, Thiếu Uý Nguyễn Văn Thiệu cũng đã từng được thuyết phục phải theo đạo, nhưng ông không theo. Vì lúc đó, quyền lực trong quân đội viễn chinh còn nằm trong tay người Pháp, ông Thiệu không theo đạo cũng chẳng sao. Nhưng từ năm 1954 về sau, tại miền Nam Việt Nam, quyền lực chính trị của Giáo Hội đã được củng cố thành chế độ đạo phiệt, ông Thiệu đã có đủ thông minh nhìn ra sự thật NẾU không theo đạo, THÌ ông sẽ bị loại ra khỏi các chức vụ chỉ huy và sẽ bị ngay lớp sĩ quan đàn em có đạo chỉ huy và điều khiển và cuộc đời còn có thể láo đao khốn khổ. Bởi vì thế, ông ta mới tìm đến nhờ Linh-mục Bửu Dưỡng, một lãnh tụ trong đảng Cần Lao, đỡ đầu cho ông theo đạo. Nhờ vậy mà ông được thăng lên cấp Đại Tá và được giao cho nắm giứ chức Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Cựu Thiếu Tướng Lâm Văn Phát cũng ở vào trường hợp này. 

5.- Loại người bị chèn ép vì muốn thành hôn với người yêu là tín đồ Gia-tô: Đây là những người “Lạy Chúa Ba Ngôi, tôi lấy được vợ, tôi thôi đi nhà thờ”.

6.- Lọai người theo đạo hoặc vi “mê tín hoặc vì  thiếu thông minh”: Đây là những người theo đạo vì  theo học trường đạo từ tuổi còn nhỏ  rồi bị mê hoặc và vui với bạn học cùng lớp là tín đồ Da-tô rồi theo đạo.

Sau năm 1975, có một số thuyền nhân cũng bị mê hoặc mà theo đạo gần giống như trường hợp trên đây. Khi còn đang lênh đênh trên mặt biển, mọi người đều lo sợ những rủi  ro  có thể xẩy đến bất cứ lúc nào. Giữa lúc đó, có người đến hiến kế, nói rằng, "Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp linh thiêng lắm, nếu cầu xin Mẹ,  thì  Mẹ sẽ giúp cho đến bờ đến bến. Nhưng phải nhớ một điều quan trọng, sau đó phải tạ ơn Mẹ bằng cách theo đạo thì Mẹ mới tiếp tục cứu giúp." Thế rồi, trong suốt hải trình, may mắn là không có gì xẩy ra và họ đã  đến được trại tỵ nạn,  rồi  sau đó lại được vào định cư ở Hoa Kỳ. Người bạn  đi cùng tầu vượt biển đã từng đưa ra lời đề nghi cầu xin Đức Mẹ Hăng Cứu Giúp (để được cứu giúp) vẫn bám sát, liên lạc thường xuyên với họ và luôn luôn nhắc nhở họ phải (nên) theo đạo để tỏ lòng tạ ơn Đức Me. Dĩ nhiên là chỉ những người ngu dốt hay  không có lý trí mới tin như vậy và làm như vậy. 

Nghe đâu ông bác sĩ ở Federal Way (Washington) có chủ tâm "theo đạo để làm ăn được dễ dàng với khách hàng là tín đồ Da-tô" đã viện cái "cớ" này khi theo đạo Da-tô để cho nó có vẻ "danh chính ngôn thuận" và cũng là để tỏ ra là người biết giữ "chữ tín". Đúng ra, ông bác-sĩ này phải được xếp vào loại số 2 (theo đạo để tạo danh đời) vì  rằng chủ tâm của ông ta theo đạo Da-tô để câu nhử hay lôi cuốn tín đồ Da-tô người Việt đến phòng mạch của ông ta. Cũng nhờ đã theo đạo Da-tô, mà sau đó ông ta trở thành chủ tịch cái Hội Đòan Chụp Mũ Cộng Sản tại thành phố lớn đứng hàng thứ nhì ở miền Tây tiểu bang Washington vào những năm 1999-2001 và là một trong mấy người chủ động việc chụp cho bà Minh Anh Hodge cái “mũ Cộng Sản” để lấy lòng tín đồ Da-tô người Việt ở vùng  Seattle - Tacama – Olympia (Washington).

7.- Những tín đồ vốn là những đứa trẻ mồ côi, không cha, không mẹ được các nhà truyền giáo lượm đem về nuôi ở trong các viện mồ côi rồi bị đem ra nhà thờ rửa tội để theo đạo.

8.- Những tín đồ vốn là con em các gia đình nghèo khổ, được các nhà truyền giáo mua đem về nuôi ở trong các viện mồ côi, rồi bị đem đi nhà thờ rửa tội. Sự kiện này được Tiến-sĩ Vũ Ngự Chiêu ghi lại trong cuốn Ngàn Năm Soi Mặt viết:

"Vào giữa thế kỷ XIX, "bán con" là một hủ tục quen thuộc tại Đại Nam (cũng như Trung Hoa). Cho đến thập niên 1940, tức khoảng 100 năm sau ngày Petrus Key làm con nuôi các cố đạo, vẫn còn tục lệ bán con nói trên.

Trong khi đó, vì chính sách bài đạo của nhà Nguyễn, các giáo sĩ Kitô tìm đủ mọi cách để gia tăng số tín đồ. Trong kế họach gia tăng giáo dân trên có việc dùng tài lợi mua chuộc, nuôi dưỡng trẻ mồ côi, và mua con nít của những gia đình Lương nghèo khổ (như ăn mày) để huấn luyện làm thày kẻ giảng, và nếu đứa trẻ thông minh, có thể huấn luyện làm giáo mục bản xứ. Tại Cao Miên, số tiền các giáo sĩ bỏ ra để rửa tội cho mỗi người ngoại đạo lên tới 100 quan vào năm 1858..... Số   trẻ em mồ côi hoặc con nhà nghèo bán cho các nhà tu hàng năm cũng khá quan trọng. Đa số "các chú" trong các "nhà Chúa Blời" đều là cô nhi hay con nhà nghèo được giáo sĩ bỏ tiền ra mua về."  [14]

Chuyện bỏ tiền ra mua người theo đạo không phải chỉ xẩy ra vào thế kỷ 19 trở về trước và cũng không phải chỉ xẩy ra ở các quốc gia nghèo đói như ở Việt Nam trước đây,  nó cũng xẩy ra ở trong một nước giầu có như Hoa Kỳ và xẩy ra vào giữa năm 2003. Sự thật này được ký giả  Doug Simpson của Liên Hiệp Thông Tấn Xã  ghi lại trong một bài báo có tựa đề là "Black bishop who wants "rainbow" in church will pay whites to attend" đăng trong tờ The News Tribune [Tacoma, Washington], phát hành ngày Thứ Bẩy 2 tháng 8 năm 2003, nơi trang A 11 với nguyên văn như sau: 

"Shreveport, La (Louisiana). Hết tuần lễ này đến tuần lễ khác, Giám mục Fred Caldwell càng trở nên chán nản  khi thấy rằng có quá ít người da trắng đến dự lễ trong nhà thờ  của ông trong đó hầu hết là người da đen. Vì thế mà bây giờ ông đề nghị trả tiền cho người da trắng  đến dự lễ ở nhà thờ của ông. Bắt đầu từ Chủ Nhật này, Giám-mục Caldwel sẽ trả  5 đô la một giờ  cho mỗi người da trắng đến dự lễ trong nhà thờ của ông vào ngày Chủ Nhật và 10 đô la một giờ vào chiều tối ngày Thứ Năm." ("Shreveport, La (Louisiana)- Week after week, Bishop Fred Caldwell grew tired of seeing of so few white faces in his predominantly black church. So now he offering to pay whites to attend. Starting Sunday, Caldwell will pay whites $5 an hour out of his own pocket  to attend Sunday services and $10 an hour for Thursday night services... ." [15]

9.- Loại người theo đạo với hy vọng sẽ được bảo lãnh sang Hoa Kỳ định cư:  Sau năm 1975, khí biết rõ đời sống khá giả của người Việt hải ngoại ở Mỹ, người ta áp dụng sách lược phao tin rằng nếu theo đạo Kitô rồi, thì sẽ dễ dàng được Giáo Hội Kitô Hoa Kỳ bảo đảm và giúp đỡ lo cho di cư sang Hoa Kỳ mưu sinh. Vì lý do này, trong nước có nhiều người theo đạo để nuôi hy vọng. Người viết có một cặp vợ chồng người bạn ở Cần Thơ đã theo đạo vì lý do này. Con số những người Thượng ở vùng cao Nguyên Trung Việt mới theo đạo Tin Lành từ 1985 trở về sau cũng là những hạng người theo đạo thuộc lọai này.

10.- Con cháu của 9 loại người trên đây.

Nhìn vào 10 loại người theo đạo Ki-tô trên đây, chúng ta thấy toàn là những người vị kỷ, tham lam hay vì hoàn cảnh bắt buộc phải theo đạo, không có một người nào tự nguyện theo đạo Kitô vì tìm thấy lý tưởng cao đẹp hay có những lời vị tha trong đạo Kitô như trong các đạo Phật, đạo Khổng, đạo Lão ở Đông Phương với chủ trương uốn nắn và rèn luyện con người sao cho có tâm hồn  cao thượng,  phóng khoáng, vị tha, có đức tích chí công vô tư, đầy lòng nhân ái Tứ hải gia huynh đệ), biết hành xử “sao cho vừa mắt ta ra mắt người” (kỷ sở bất dục, vất thi ư nhân”, yêu chuộng hòa bình (dĩ hòa vi quý) vì nước (Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách), vì dân “Dân (hi sở ố, ố chi; dân chí sở hiếu, hiếu chi; sở vị dân chi phụ mẫu), vì nghĩa (Duyên phải duyên kim cải, nghĩa phải nghĩa giao hòa).

Phân tách mười loại người Việt Nam trở thành tín đồ Da-tô trên đây, chúng  ta thấy:

Những người thuộc lọai 1, 2 và 9 là những hạng người tình nguyện theo đạo Ki-tô để được hưởng những đặc quyền đặc lợi hay còn gọi là những người tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực. Đây là những hạng người chỉ biết chạy theo quyền lực, lợi lộc và danh vọng. Người nào hay thế lực nào có thể ban phát cho họ lợi lộc, danh vọng hay quyền lực thì họ đi theo và tôn phò. Sự kiện này cho thấy rõ họ là những người xu thời hay thời cơ chủ nghĩa. Đặc tính của những người xu thời là “cuốn theo chiều gió” và có biệt tài đánh hơi sớm nhận biết đuợc khi nào gió sắp đồi chiều thì họ sẽ trở cờ phất theo chiều gió mới. Nói cho rõ hơn, những hạng người này là những phường tiểu nhân với bản chất phản trắc bẩm sinh.

Cũng vì thế mà,  nếu cần, họ sẵn sàng làm những chuyện “lừa thày phản bạn”. Họ là hạng người “thắng thì hăng hái theo phò, bại thi vội vã co giò chạy mau.”

Những người thuộc lọai 6 có thể gọi là những người vừa ngu dốt vừa tham lam mà theo đạo. Mục đích theo đạo của họ cũng gần như những người thuộc loại 1, 2 và 9. Họ theo đạo để trở thành “dân Chúa” sẽ được Chúa (Giáo Hội) thương và ban cho họ những phép lạ, những  hồng ân Thiên Chúa” để cho cuộc đời của họ lên hương.

Loại người thứ 4 là loại người sẵn sàng bỏ rơi cái tôn gíao ác ôn này ngay khi sau đã làm lễ thành hôn. Chính vì thực trạng này thi văn Việt Nam mới có hai câu thơ:

Lạy Chúa Ba Ngôi

Tôi lấy được vợ, thô thôi đi nhà thờ.

Loại người thứ 10 mang những đặc tính theo quy luật di truyền đúng như thành ngữ’ “cha nào con ấy” của mỗi lọai người trong 9 lọai ngưởi ở trên.

Nói chung, tất cả những người Việt Nam theo đạo đều là những người vì lòng thâm lam vị kỷ hay vì lòng háo danh thèm khát quyền lực hoặc là vào một hòan cảnh đặc biệt mà phải theo đạo, không có một người nào theo đạo vì lý tưởng cao đẹp của đạo Kitô cả. Lý do rất dễ hiểu là tìm đâu ra được lý tửong cao đẹp trong đạo Kitô?

Dĩ nhiên, là vẫn có một số tín đồ Da-tô phủ nhận sự thật trên đây, nhưng họ không thể đưa ra được luận cứ  nào có cơ sở hay có khả năng thuyết phục được người đọc.

VATICAN CÀNG CÓ NHIỀU QUYỀN LỰC

THÌ CÀNG CHO NHIỀU NGƯỜI THEO ĐẠO DA TÔ

Chúng ta biết rằng  mãi đến năm 1533 mới có giáo sĩ Da-tô đến Việt Nam truyền đạo. Xin chia khỏang thời gian từ năm 1533 cho đến năm 1975  thành bốn thời kỳ như sau:

A.- Thời kỳ 1533-1785.

B.- 1785-1862

C.- 1862-1954

D.- 1954-1975

A.- Thời kỳ 1533-1785: Đây là các nhà truyền giáo Da tô không có quyền lực gì ở Việt Nam. Việc thâu người vào đạo hầu như hoàn toàn chỉ dựa vào:

1.- Những mánh mung mua chuộc đám dân nghèo cùng khổ  bằng cách giúp đở chút ít vật chất hay tiền bạc hoặc là một vài viên thuốc Tây vào khi những người bị chiếu cố bị lâm bệnh.

2.-  Bỏ tiền ra mua những con em của các gia đình cùng khổ đem về nuôi dưỡng rồi rửa tội cho các em bé nạn nhân này.

3.- Lượm các trẻ em mồ côi không cha không mẹ đem về nuôi dưỡng rồi rửa tội cho các em bé bất hạnh này.

Vì chỉ có thể sử dụng những mánh mung trên đây để câu nhử hay dụ khị người theo đạo, cho nên con số tín đồ Da-tô trong thời kỳ này tăng rất chậm. Cả một thời gian dài trên 250 năm mà chỉ thâu nhận được có  khoảng trên dưới 300 ngàn tín đồ.

B.- Thời kỳ 1785-1862:  Nhờ có Giám-mục Bá Đa Lộc đã kết thân với Nguyễn Ánh cho nên có một số tín đồ Da-tô người Việt được thâu nhận hay len lỏi vào trong bộ máy cai trị và quân đội của Nguyễn Ánh. Vì vậy, ngoài việc sử dụng ba mánh mung ở trong thời kỳ A, các ông truyền giáo còn có thể:

1.- Dựa vào cái thế thân chính quyền để lòe đám dân chạy theo Nguyễn Ánh nhằm dụ khị họ theo đạo. Mánh mung này tuy có ăn khách nhưng không hữu hiệu bằng thời kỳ 1862-1954 và thời kỳ 1954-1975.

2.- Dụ khị những phường hạ lưu du thủ du thực” và “sinh vô gia cư, tử vô địa táng”  trong xã hội bằng một tương lai tốt đẹp. Đây là trường hợp của Ngô Đình Khả, Trương Vĩnh Ký, Tạ Văn Phụng, v.v…)

3.- Móc nối với “thành phần bất mãn với nhà nước đương quyền  bằng những hứa hẹn sẽ bảo vệ họ chống lại chính quyền đương thời và nâng đỡ họ trở thành những nhân vật quan trọng nếu tình hình thay đổi thuận theo chiều của Giáo Hội. Đây là trường hợp Lê Văn Khôi, Hồng Bảo,  v.v…)

Vì có dựa thế thân chính quyền của Nguyễn Ánh và công khai dụ khị bọn người bất lương du thủy du thực và bọn bất mãn với chính quyền đương thời, nghĩa là có thêm những thủ đoạn bất chính câu nhử công khai những thành phân tội ác sống ngoài vòng pháp luật, cho nên trong thời kỳ này con số tín đồ đã tăng thêm mau hơn thời kỳ trước (1533-1785). Tuy nhiên, trong thời kỳ này, Giáo Hội chỉ dựa hơi đước chính quyền của Nguyễn Ánh có một thời gian ngắn từ năm 1785 cho đến 1820, rồi sau đó lại ở vào thế chống đối triều đình  Huế (không có quyền lực chính trị, phương tiện câu nhử tín đồ bị giới hạn), cho nên con số tin đồ trong thời kỳ có tăng nhanh hơn thời kỳ trước (A), nhưng tăng rất chậm nếu so với hai thời kỳ C và D sau đó. 

C.- Thời kỳ C  1862-1954: Thời kỳ này Giáo Hội đã trở thành một thành viên trong chính quyền Liên Minh Pháp – Vatican tại Đồng Dương. Nhờ vậy mà Giáo Hội có thể dùng miếng mồi danh lợi để câu nhử những phương háo danh tham lợi  theo đạo để tạo danh đời”. Tuy nhiên, trong thời kỳ người Pháp cầm trịch trong chính quyền, chỉ dành cho Giáo Hội một số quyền lợi về kinh tế và   ưu tiên trong việc cung cấp nhân viên làm việc cho chính quyền, đặc biệt nhất là trong ngành tính báo, mật vụ và công an. Cũng vì thế mà sự hữu hiệu của những mánh mung này cũng bị giới hạn. Nhưng nếu so với thời kỳ B (1785-1862), quyền lực của Giáo Hội tăng lên rất nhiều, tất nhiên là mánh mung sử dụng miếng mồi quyền lực và danh lợi trong chính quyền cũng trở thành hữu hiệu nhiều hơn. Cũng vì thế mà trong thời kỳ này Giáo Hội đã thâu nhận được rất nhiều phần tử lưu manh “theo đạo để tạo danh đời”, nếu so  với thời kỳ trước.

D.- Thời Kỳ 1954-1975: Trong thời kỳ này, quyền lực của Giáo Hội bị thu gọn lại trong lãnh thổ miền Nam Việt Nam, nhưng cường độ quyền lực của Giáo Hội gần như lên đến tuyệt đỉnh. Dù là Giáo Hội chỉ là một thành viên trong Liên Minh Mỹ - Vatican thống trị miền Nam Việt Nam trong thời kỳ này, nhưng khác với Pháp trước kia, Hoa Kỳ chỉ lo về mặt chiến lược quân sự muốn biến miền Nam thành một tiền đồn  ngăn chặn làn sóng Cộng Sản từ phương Bắc và để mặc cho Giáo Hội thao túng việc nội trị ở miền Nam miễn là đừng quá trớn. Nhờ vậy mà Giáo Hội đã thiết lập được chế độ đạo phiệt Da-tô ở miền Nam và sử dụng tất cả những phương tiện của chính quyền để tiến hành kế họach Ki-tô hóa nhân dân miền Nam bằng cách:

1.- Dùng bạo lực với phưong châm “theo đạo thì sống, bằng không thì không chết cũng khốn nạn. Sách lược này được thi hành ở các trại định cư, các trung tâm dinh điền, các ấp chiến lược và các tỉnh trong Liên Khu V.

2.- Dùng những chức vụ và quyền lợi trong chính quyền cũng như trong các lãnh vực họat động ở ngòai xã hội để lôi cuốn những phường háo danh tham lợi “theo đạo để tạo danh đời”.

3.- Nắm độc quyền thâu nhận tiền ngọai viện trong các chương trình  cứu tế hay từ thiện và chỉ phân phối cho tín Da-tô nhằm mục đích dồn những người  lương nghèo khổ vào bước đường cùng “Phải đạo lấy gạo mà ăn”. Sự kiện này đã được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi lại nơi các trang 128-130 trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi Guơm (Paris: Sudestasie, 1978) và đã được trich dẫn ở trên.

Chính  vì vậy mà trong thời kỳ này có rất nhiều người cùng khổ “theo đạo lấy gạo để mà ăn”,  có rất nhiều bọn xu thời và quân lưu manh “theo đạo để tạo danh đời”. Cũng vì thế mà con  số tín đồ Da-tô trong thời kỳ này tăng vọt lên gấp 3 lần so với thời kỳ 1862-1954. Độc giả có thể nhìn lại bảng kê khai con số tín đồ Da-tô người Việt ở trên để kiểm chứng vấn đề này. 

KẾT LUẬN

A.- Nhìn vào  xã hội hay cộng đồng Da-tô người Việt, chúng ta thấy:

Với chính sách dùng miếng mồi vật chất, danh vọng và quyền lực để cầu nhử hay dụ khị những phường hám lợi, háo  danh và thèm khát quyền lực chạy theo mà vào đạo hay lao vào  học nghề làm linh mục, Giáo Hội La Mã đã tạo nên xã hội Da-tô gồm toàn những phường đầy lòng tham lam vị kỷ, xu thời chỉ biết chạy theo danh lợi và quyền lực mà không cần biết đến lẽ phải  và lương tâm của con người. Tất nhiên là những hạng người này không bao giờ  hay không cần biết đến đạo lý, công bằng và nhân ái là gì nữa. Không cần phải phân tách tỉ mỉ, ai cũng nhận thấy một xã hội như vậy tất nhiên là bị chìm ngập bởi lòng kèn cựa, ganh ghét, đố kị, tị hiểm:

1.- Đối với người có thế lực hay giầu sang thì xun xoe nịnh bợ,

2.- Đối với những kể lép vế thế cô thì tỏ ra ngang tàng, hống hách, phách lối, thị oai, bắt nạt và chèn ép đủ điều,

3.- Đối với những kẻ ngang hàng thì ganh ghét, mưu đồ ám hại lẫn nhau để giành chiếm phần hơn hay địa vị ưu thắng,

4.- Đối với những người xa lạ thì huêng hoang, khoác lác, khoe khoang tước hiệu, chức vụ, bằng cấp, công trạng, kiến thức loạn xạ cả lên để lòe đời. Có một điều hết sức khôi hài là rất nhiều những thứ khoe khoang đó lại là những thứ mạo hóa. (Điển hình cho những thư mạo hoá này là sự kiện ông Cao Thế Dung tự xưng là Tiến sĩ và ông  cự u luật sư Nguyễn Văn Chức sử dụng  cụm từ “Việt Nam Chính Sử” để đặt tên cho một cuốn sách mà nội dung chỉ là một mớ lý luận cãi cối cãi chày với mục đích chạy tội cho Giáo Hội La Mã và chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm để rồi tự phơi bày cái bản chất huênh hoang khoác lác và tình trạng dốt nát về lịch sử thế giới và  lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại.).

Có ở trong chăn mới biết chăn có rận. Thực trạng trên đây trong cộng đồng hay xã hội của những người Da-tô Việt Nam cũng do chính một nhà trí thức Da-tô là Giáo-sư Nguyễn Văn Trung ghi nhận trong bài viết “Một Số Tình Hình Đặc Biệt Của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam” với nguyên văn như sau:

Điểm lại tình hình của Giáo Hội Việt Nam, có những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Thực vậy, chuyện giáo dân bị coi như cỏ rác là chuyện thường ngày ở huyện. Chuyện đau lòng hơn cả là chuyện các chủ chăn chơi nhau thay vì chơii với nhau ngày càng phơi trần ra. Sự sa đoạ trong Giáo Hội càng ngày càng tăng thêm.

Trong Giáo Hội, người giáo dân ở địa vị thấp nhất, nữ giáo dân luôn luôn nằm dưới. Thật là nghịch lý trong khi Đức Mẹ lại được các cha, nhất là các cha dòng Cứu Thế “ga lăng” hết cỡ!

Người giáo dân chỉ có quyền vâng lời, đóng góp và hầu hạ các Đấng, các bậc trong Hội Thánh. Ai vâng lời dưới 100% có thể bị coi là rối đạo và bị loại trừ dưới mọi hình thức, nhất là không vâng lời về chuyện chính trị và tiền bạc thì xem như lúa đời, phạm tội cực trọng, đáng sa hỏa ngục đời đời chẳng cùng Amen.

Thật ra, chính trị và tiền bạc đã và đang là nguyên nhân chính gây nên sự mất bình an, sa đọa và làm hoen ố hình ảnh tươi đẹp của Giáo Hội Việt Nam. “Các Giám Mục Việt Nam sang Tòa Thánh đều tỏ ra chống Cộng hơn nhau một tí”. Đó là nhận xét của một vài Giám Mục Việt Nam

Những sự kiện dưới đây minh họa não trạng nêu trên của Giáo Hội Việt Nam chúng ta, người giáo dân Việt Nam có đầy đủ hồ sơ của từng vụ việc. Rất mong được vang lên như một tiếng chuông giúp các Đấng lãnh đạo cứu nguy Giáo Hội Việt Nam. Mong thay!

1.- Thượng Bất Chính, Hạ Tắc Loạn: Ai có dịp gần gũi các Giám Mục Việt Nam đều có nhận xét rằng về mặt cá nhân, các Ngài có vẻ đạo mạo, cởi mở, dễ mến, trừ một ít vị tỏ ra cao ngạo, khép kín, quan liêu. Nhưng trong lề lối làm việc của các Giám Mục thường rất độc tài, độc đoán. Trong đối xử thường tỏ ra kỳ thị, ban phát ân huệ, coi thường bề dưới, ganh tị và kèn cựa với đồng liêu để lập công với Tòa Thánh. Những điểm nổi bật là tiền hậu bất nhất, việc làm không đi đôi với lời rao giảng, trọng ngoại khinh nội, tham phú phụ bần, vô cùng sợ hãi Tòa Thánh, đến nỗi có những linh mục nói rằng “Tòa Thánh đánh rắm cũng khen thơm”, và tuân giữ “tín điều chống Cộng đến cùng” vì Cộng Sản Việt Nam nó không chịu làm “cánh tay đời” cho các Ngài để trị giáo dân và mở mang nước Chúa.

Quan cách như thế của Giám Mục Việt Nam là điều dễ hiểu, cần phải thông cảm với các Ngài. Các Ngài được đào tạo để làm quan đạo, làm vua đạo, và chưa bao giờ  được đào tạo để phục vụ anh em đồng đạo, đồng bào, mà chỉ được đào tạo để cai trị và để được hầu hạ, được ăn trên ngồi trước… Việc đào tạo này phát xuất từ một yêu cầu của một tầng lớp xã hội và để phục vụ tầng lớp xã hội ấy…” [16]

Cũng nhận xét về cộng đồng tín hữu Da-tô của họ, Linh-mục Trần Tam Tỉnh cho chúng ta một cái nhìn rõ ràng về  chủ trương và phương cách giáo dục hay rèn luyên giáo dân như sau:

Ngoại trừ các cụm nhà thành thị dân chúng sống lẫn lộn, người công giáo thường được tập trung lại thành làng xóm riêng, tách rời khỏi người lương, sống chen chúc quanh tháp nhà thờ xây theo kiểu Tây, chọc lên trời, cao vượt khỏi lũy tre. Bị đóng khung và được đoàn ngũ hóa bởi hành giáo sĩ, họ trở thành một lực lượng quần chúng đáng ghê sợ khi cha xứ kêu gọi họ đứng lên bảo vệ đức tin, bảo vệ nhà thờ. Hệ thống ốc đảo đó tách biệt và cô lập phần lớn giáo dân khỏi liên hệ với đồng bào, thúc đẩy họ từ khước, tẩy chay bất cứ điều gì không được Giáo Hội chính thức phê chuẩn, chẳng hạn sách Truyện Kiều, hoặc các tài liệu cách mạng đều bị cho là ngược với đạo. Các sách của Voltaire, Montesquieu, khỏi nói tới Các Mác, vừa bị nhà nước thuộc địa cấm, vừa bị giáo luật khai trừ, nhưng ngay cuốn sách   đã dịch ra tiếng bản xứ mà cũng chẳng ai được biết đến (có một bản sách thánh in bằng hai thứ tiếng La-tinh và Việt ngữa, khổ lớn, nằm trong thư viện các chủng viện và vài cha xứ, còn giáo dân thì không thể sờ tới.”  [17]

“Chạy trốn để cứu lấy mạng sống và cứu lấy đức tin”, “Chúa Kitô đã đi vào Nam” “Đức Mẹ đã rời bỏ Bắc Việt”. Những khẩu hiệu phi lý đó làm cho người Kitô hữu phương Tây phải phì cười, nhưng lại có tác dụng lớn nơi một cộng đồng Kitô hữu đã từng bị giam nhốt xưa nay trong sự ngu dốt và trong một kiểu tin đạo nói được là thời Trung Cổ. Trong cái xã hội khép kín đó của giáo dân, những gì gọi là “Bí mật của Đức Mẹ Fatima đều được coi như tín đỉều bắt buộc, đang khi nó chỉ dựa vào một mớ tài liệu tuyên truyền nhảm nhí. Nếu những năm 1949-1953, các linh mục đã thề biến giáo dân hiền lành vô tội thành những tên sát nhân cuồng nhiệt, nhờ khẩu hiệu “tiêu diệt Cộng Sản để làm vinh danh Chúa thì họ cũng chẳng khó khăn gì trong việc tạo ra cuộc “Xuất hành vĩ đại” vào những năm 1954-1955…”  [18]

Với phong cách hành xử của các vị chức sắc trong hàng giáo phẩm trong Giáo Hội như Giáo-sư Nguyễn Văn Trung ghi nhận, với phương cách giáo dục và rèn luyện tín đồ như Lịnh-mục Trần Tam Tỉnh trình bày như trên, thì tất nhiên Giáo Hội chỉ có thể sản xuất ra những hạng người đối hành xử như Linh-mục Nguyễn Hữu Lễ và đối xử với nhau như giữa ông linh mục này và con chiên Bùi Đình Thi mà thôi.

Vì là kẻ “chí mỏng”, nên Lm. đã không nhìn thấy cái nghĩa lớn trong đấu tranh, cái trách nhiệm nặng nề trong vai trò là một Lm. Tự biến thành kẻ xấu:

- Vu khống tội giết người cho Bùi đình Thi …

- Gian dối đặt hình Ðặng văn Tiếp trên một bàn thờ ở chỗ nào đó, chụp lấy hình, rồi nộp cho tòa án làm bằng chứng là: Thi đang thờ Tiếp tại nhà. (Quan tòa hỏi vợ Thi, thì được trả lời: Vợ Thi không biết hình người ấy là ai, cùng trong nhà cũng không hề biết có bàn thờ và hình người như vậy.)

- Kết nghĩa anh em với tướng cướp Bình Thanh khét tiếng, cầu xin Chúa và Ðức Mẹ “phù hộ” cho Bình Thanh trốn tù được thoát, để ra ngoài đời tiếp tục con đường trộm cướp gây nguy hại cho người hiền lương . . .

- Tán gái đã có chồng . . .

- Tà thuyết: “Tha thứ nhưng không có nghĩa là che dấu sự thật.” Làm bình phong che đậy cho sự trả thù, để Lm đương ngây ngất cơn say men chiến thắng, hưởng sung sướng ngồi trên đống máu “khô” đang dỉ ra từ thân xác Bùi đình Thi nơi nhà giam Sở Di Trú. . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Thiết tưởng, cuốn MỘT SỰ THẬT CỦA DÃ TÂM TRONG VỤ ÁN TRẠI TÙ THANH CẨM, đã lột tả đầy đủ chân tướng của Lm rồi. Nên không cần phải viết nhiều thêm ở đây làm gì!”  [19]

Tất cả những gì được trình bày trên đây  cho chúng ta thấy rõ con người đích thực trong xã hội Da-tô từ những vị chức sắc cao cấp lãnh đạo cho đến những tín đồ thuộc loại bạch đinh cũng có thể trở thành những hạng người loạn luân dâm loàn như các Giáo Hoàng John XII (955-963), Leo VIII (963-964), Benedict IX (1033-1044), John XXIII (1410-1415), Pius II (1458-1464) Sixtus IV (1471-1484), Innocent VIII (1484-1492), Alexander VI (1492-1503), Cléo X (1513-1521), Paul III (1534-1549), hoặc là sờ mó và gian dâm với nữ tín đồ như các linh mục Cao Đăng Minh (Portland, Oregon), Đào Quang Chính, Nguyễn Hữu Dụ (Houston, Texas), Trịnh Thế Hùng (Chicago, Illinois), Trần Công Nghị (Orange County, California) [20] , hoặc là trở thành hạng người lưu manh “tán gái có chồng” như Linh-mục Nguyễn Hữu Lễ và “những tên sát nhân cuồng nhiệt” đúng như lời Linh-mục Trần Tam Tỉnh đã nhận xét. Cái xã hội ghê tởm này đã khiến cho nhà báo Long Ân phải than trời bằng mấy dòng chữ dưới đây:

Tôn giáo đã đến với con người từ xa tít mịt mù của qua khứ. Con người đã đến với tôn giáo từ sự sợ hãi của kẻ tối tăm, cho đến sự đòi hỏi tìm hiểu về chính mình, về vũ trụ của con người tư duy mà ông Rodin đã khắc thành tượng đá. Tôn giáo đã mở cánh cửa để con người đến với con người trong nhân ái, trong từ bi, trong bác ái. Nhưng chính con người đã đào những hào chông, rào bằng những kẽm gai để con người chia cắt nhau. Con người đã nhân danh tôn giáo để làm những chuyện điên cuồng nhất, đã nhân danh tôn giáo để biện minh cho quyền lực phi nhân áp đặt lên đầu kẻ khác. Con người đã phản lại tôn giáo, đã chặt đứt cây cầu đưa đến cuộc tìm kiếm chính mình, đã cúi đầu đi trên bốn chân để từ con người trở về với nguồn gốc của con người súc sinh.” [21] 

B.-  Về biện pháp đối phó với Giáo Hôi La Mã tại Việt Nam:

Căn cứ vào sự phân loại trên đây, chúng ta có thể khẳng định rằng:

1.- Không có người nào theo đạo Kitô vì thấy rằng đạo này  có những tín lý cao cả, vị tha, tốt đẹp giống như những nguyên tắc đạo lý cổ truyền của Đông Phương.

2.- Ngoai trừ những người bị cưỡng ép hay bị chèn ép vì một lý do nào đó (hôn nhân, được an tòan về chính trị), ngoại trừ các con em nhà nghèo bị đem bán cho các nhà truyền giáo và ngoại trừ các em bé mồ côi được Giáo Hội đem về nuôi dưỡng, tất cả là những hạng người tiểu tâm, hèn hạ, đê tiện, tham lợi “theo đạo lấy gạo mà ăn”, háo danh hay thèm khát quyền lợi “theo đạo để tạo danh đời”. Ta có thể gọi những hạng người này là  lũ người ngu dốt và lưu manh. Họ là những người theo đạo để được hưởng những lợi lộc, địa vị, danh vọng và quyền lực.

Vậy thì KHI mà đạo Kitô không còn là một thế lực có thể mang  lại cho họ những thứ lợi lộc, địa vị, danh vọng và quyền lực, hoặc là không còn khả năng hay không còn ở thế mạnh có thể chèn ép người dân trong việc mưu sinh, không còn khả năng phá họai hạnh phúc lứa đôi hay hạnh phúc gia đình của những người muốn thành hôn với người yêu là tín đồ Gia-tô, và KHI người dân không còn ở trong tình trạng ngu dốt nữa (bằng cách thi chính sách giáo dục tự do và khai phóng), THÌ lúc đó sẽ không còn một người nào muốn hay bị cưỡng bách phải theo đạo Kitô nữa, và khi đó Giáo Hội La Mã sẽ bị phá sản. Sự kiện này đã được bà Joane H. Meehl ghi lại  trong tác phẩm "The Recovering Catholic" (Promethus Books, 1995) với nguyên văn như sau:

Đạo Công Giáo chỉ thịnh hành và phát triển ở những nơi người nghèo và ngu dốt, nó chỉ khắc phục được bằng giáo dục và kinh tế sung túc." (Catholicism thrives and grows among the poor and ignorant. It is overcome by education and economic well-being)". [22]

Do đó, chúng ta có thể suy ra,  NẾU chính quyền Việt Nam trong thế kỷ 19 sử dụng những biện pháp mạnh để trừng trị thẳng tay bọn giáo sĩ truyền giáo người Âu Châu giống như nhà cầm quyền ở nước Nhật đã làm trong thế kỷ 17, khiến cho bọn giáo sĩ truyền giáo Âu Châu trốn lui trốn lủi, không còn ở thế mạnh để trổ mòi dụ dỗ và phỉnh gạt dân ta được nữa, THÌ nhóm thiểu số tu sĩ và tín đồ Da-tô người Việt với bản chất ích kỷ, tham sống sợ chết, ở vào tình trạng tuyệt vọng, sẽ không dám nghe lời xúi giục của “bọn quạ đen” người Âu Châu để rồi ho-he, nhẩy ra tiếp tay cho chúng thi hành điệp vụ thu thập tin tức tình báo chiến lược chống lại đất nước, và  sau đó, không còn có người nào dám cựa quậy thò đầu ra đưa đường dẫn lối làm thông ngôn và làm chỉ điểm cho quân lính Liên Minh Pháp – Vatican khi tiến vào tấn chiếm tổ quốc Việt Nam.

Ôn cố tri tân. Ngày nay chúng ta phải nên lấy kinh nghiệm lịch sử trên đây làm bài học để đối phó với Vatican hầu tránh cho đất nước và dân tộc ta cái đại thảm hoạ Da-tô mà người Âu Châu đã phải tranh đấu, giẫy giụa cả bao nhiêu thế kỷ mới thoát ra được và đang phải cố gắng tránh xa như tránh hủi như học giả Phan Đình Diệm đã ghi nhận: 

Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh trong thời cực thịnh kinh bang tế thế, đội vương miện cho các hoàng đế, tung hoành dọc ngang, làm mưa gió, thâu tóm cả thiên hạ trong tay, tiền rừng bạc biển, đã không biết tự chế, không học bài học khiêm hạ rửa chân, tự cao, tự đại, coi bàn dân thiên hạ như cỏ rác, hôm nay hối bất cập, lịch sử còn nằm trơ ra đó. Người Âu Châu khiếp sợ Giáo Hội và tránh xa như tránh hủi! Người  Á Châu có thành kiến ghép Giáo Hội vào ông Tây thực dân và chống thực dân! Người Châu Mỹ La-tinh đồng hóa Giáo Hội vào đại họa diệt chủng! Và người Trung Đông làm sao quên được 250 thánh chiến tàn bạo hãi hùng![23]

CHƯƠNG 4

NHỮNG ĐẶC TÍNH

CỦA TÍN ĐỒ GIA TÔ NGƯỜI VIỆT

Tìm hiểu lịch sử thế giới, chúng ta thấy rằng  các dân tộc Âu Châu đã bị Đế Quốc La Mã và Giáo Hội La Mã cưỡng bách phải theo đạo Da-tô từ thế kỷ thứ 4, các dân tộc Châu Mỹ La-tinh và Phi Luật Tân bị đế quốc Tây Ban Nha và Giáo Hội La Mã cưỡng bách phải theo đạo Da-tô từ đầu thế kỷ 16. Vì bị áp chế và cưỡng bách trong một thời gian quá dài như vậy, cho nên tại các quốc gia Âu Mỹ, Châu Mỹ La-tinh và Phi Luật Tân, tín đồ Da-tô chiếm tới hơn 90% dân số và đều là con cháu của những người đã bị Giáo Hội La Mã cưỡng bách phải theo đạo. Dó đó, ta có thể kết luận rằng, ngọai trừ một vài trường hợp đặc biệt, trong thời cận và hiện đại, tín đồ Da-tô người Âu Mỹ và Phi Luật Tân không có hạng người “theo đạo lấy gạo đẻ mà ăn” và cũng không có hạng người lưu manh  theo đạo để tạo danh đời”  như một số khá đông tín đồ Da-tô người Việt hiện nay. Vì không có những hạng người “theo đạo lấy gạo để mà ăn” và không có hạng người “theo đạo tạo danh đời” cho nên, ngoại trừ một nhóm thiểu số thuộc loại siêu cuồng tín, hầu hết tín đồ Da-tô Âu Mỹ và Phi Luật Tân không có những hạng người vong bản, phản dân tộc, phản quốc, nham nhở, trở tráo và lươn lẹo như bọn người “Thà mất nước, chứ không thà Chúa  hay “Nhất Chúa, nhì cha, thư ba Ngô Tổng Thống” như ở Việt Nam. 

Trên đấy là nói một cách tổng quát mà thôi. Để có cái nhìn chính xác hơn về vấn đề này, thiết tưởng cần phải trình bày đầy đủ với những chi tiết về  chính sách ngu dân và nhồi sọ của Giáo Hội La Mã suốt trong thời “trăm năm nô lệ giặc Tây” và khoảng 20 năm ở miền Nam Việt Nam đã ảnh hưởng sâu nặng vào tâm tư và hành động của tín đồ người Việt và những người dù không phải là tín đồ Da-tô nhưng vị ảnh hưởng sâu nặng hay bị điều kiện hóa bời chính sách ngu dân của Vatican trong những thời kỳ này.  Phần trình bày đưới đây sẽ làm sáng tỏ vấn đề này.

*
*    *

Người Việt Nam thường nói "ở bầu thì tròn, ở ống thì dài." và "con người là sản phẩm của nền văn hóa mà họ đã hấp thụ". 

Hầu hết những tín lý, giáo điều, giáo luật trong Thánh Kinh Kitô Giáo và những lời dạy của Giáo Hội là những điều phí lý, gian dối lừa bịp, lọan luân, dâm lòan, trả thù theo kiểu "ăn miếng trả miếng" (‘tooth for tooth’), võ đoán, chuyên chế, nặng tính cách cưỡng bách và bóc lột. Nền vào hóa của xã hội Da-tô là như vậy. Các nhà lãnh đạo của Giáo Hội từ những người nắm giữ chức vụ cao nhất như các giáo hoàng cho đến những người ở cấp bậc thấp nhất là các linh mục đều là những ác nhân mặc áo thày tu làm chính trị với những ác tính quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, không nói thành có, có nói thành không và trở mặt như bàn tay. Những tên Da-tô Việt gian, Da-tô Hán gian và những tên tội đồ lưu manh phiêu lưu quốc tế chống lại dân tộc và đất nước Việt Nam dân tộc, chống lại dân tộc và đất nước Trung Hoa thì được phong thánh, tức là nêu gương xấu xa nàycho mọi người trong xã hội Da-tô noi theo mà hành xử. Tín đồ Da-tô được rèn luyện và hun đúc theo khuôn mẫu như vậy từ thuở mới chào đời. Thử hỏi với thực trạng này thì làm sao họ không giống như những người chủ chăn của họ mà chúng tôi đã nêu đích danh ở trong Chương 3 trên đây?

Chúng ta hãy theo dõi phần  trình bày tiếp theo dưới đây để nhìn ra sự thật đau buồn này:

Mẫu người lý tưởng trong xã hội Da-tô vừa được tạo nên theo hình ảnh của Thiên Chúa Jehovah, theo (bị ảnh hưởng bời) những tín lý trong Thánh Kinh  vừa được đào luyện theo những lời dạycung cách hành xử của Giáo Hội La Mã , của các ông thánh và những người mang chức thánh  trong Giáo Hội.

1.- Con người tín đồ Gia-tô theo hình ảnh của Thiên Chúa Jehovah. Ông Thượng Đế Jehovah còn được Giáo Hội La Mã  gọi là  Đức Chúa Cha hay Đức Chúa Trời. Sách Sáng Thê Ký (1:27) viết:

"Đức Chúa Trời dựng nên lòai người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời."

Nói đến hình  ảnh Đức Chúa Trời tức là hình ảnh Chúa Cha Jehovah. Thế nhưng ông Chúa Jehovah này được sách Leviticus mô tả rõ ràng   trong Chương 26 từ điều 1 đến điều 18 là một hung thần với những ác tính ganh ghét, đố kị, tị hiềm, cực kỳ tàn ngược và hết sức dã man.  Sách Sáng Thế Ký nơi Chương 3 từ điều 14 đến điều 19 cũng ghi rõ hành động tàn ngược và dã man  của ông Chúa Cha này được thể hiện ra trong những bản án trừng phạt con rắn, trừng phạt vợ chồng Adam - Eve, trừng phạt con cháu đời đời của cặp vợ chồng đất sét này phải mang cái "Tội Tổ Tông". Căn cứ vào những dữ kiện này, ta có thể nói  ông Thượng Đế  Jehovah của đạo Do Thái  và cũng là của Giáo Hội La Mã quả thật là một siêu bạo Chúa. 

Đạo Da-tô dạy rằng con người (xin hiểu con người ở đây là tín đò Da-tô) được tạo nên theo hình ảnh Chúa. Ông Chúa Jehovah độc ác ghê tởm như vậy thì hiển nhiên là tín đồ Da-tô cũng ác độc và ghê tởm như ông Chúa này, nghĩa là cũng có những bản chất bạo ngược, hẹp hòi, ganh ghét, đố kị, tị hiềm, hung dữ, ưa thích trả thù và cực kỳ tàn bạo như ông Chúa Cha Jehovah.

2.- Con người  tín đồ Gia-tô bị  ảnh hưởng hay được rèn luyện theo những tấm gương trong Thánh Kinh, theo những  tín lý thần học, giáo luật, việc làm, và cung cách hành sử của Giáo Hội La Mã..-  Nói đến  Thánh Kinh là nói đến những khu rừng những chuyện hoang đường, những chuyện láo khóet và những chuyện lọan luân dâm loàn. Sự kiện này  được  Giáo-sư Trần Chung  Ngọc ghi nhận như sau:

"Cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo (Christian Bible) là một cuốn sách không thích hợp để cho bất cứ hạng tuổi nào đọc. Các nhà truyền giáo, các linh mục, mục sư thường chỉ lấy một số điều trong đó một cách ngoài toàn bộ vấn đề để giảng và mê hoặc tín đồ, thường không quá 10%. Hơn 80% những chuyện trong Thánh Kinh là những chuyện bạo hành giết người (Violence & Murder), giết người hàng loạt (Mass Killing), loạn luân (Incest), ăn thịt người (Human Cannibalism), độc ác đối với trẻ con (Child cruelty), tục tĩu quá mức (Scatology), trần truồng (Nakedness), đĩ điếm (Harlotry), hiếp dâm (Rape), thù hận tôn giáo và chủng tộc (Religious & Ethnic Hatred), tự tử (Suicide), nô lệ (Slavery), say rượu (Drunkeness) ngoài những chuyện hoang đường không thể kiểm chứng được và những sự kiện sai lầm về thần học cũng như khoa học. Gene Kasmar là một trong những tác giả đầu tiên đã liệt kê tất cả những chuyện thuộc những loại trên từ trong Thánh Kinh của Ki Tô Giáo trong một cuốn sách dày 488 trang với nhan đề “Tất Cả Những Chuyện Tục Tĩu Trong Thánh Kinh” (All The Obscenities In The Bible), xuất bản năm 1995 [Unlocking the keys to the holy scriptures, Gene Kasmar is among the first to catalog ALL the obscenities found in the authorized version Bible, the King James Version], những chuyện không bao giờ được đọc ở trong các buổi lễ trong nhà thờ [The unexpurgated passages that are never read during worship services]. Năm 1898, Robert G. Ingersoll, một tư tưởng gia vĩ đại của Mỹ đã đưa ra một thách đố: “Ông ta sẽ trả $100 (năm 1898) cho bất cứ ông linh mục hay mục sư nào dám mang những đoạn mà Ingersoll trích dẫn từ Thánh Kinh ra giảng cho tín đồ trong các buổi lễ trong nhà thờ” và không một ai dám nhận sự thách đố này. Một cuốn sách mà nội dung như vậy, dù nó mang tên là Thánh Kinh, dù nó thích hợp với nền văn hóa Do Thái – Ki Tô hiếu sát, hiếu chiến, trịch thượng v..v.. không nên được bán tự do, cũng như những loại sách thuộc loại khiêu dâm, trong thế giới Âu Mỹ thì k