Nguyễn Mạnh Quang CHƯƠNG 3 CON SỐ TÍN ĐỒ DA TÔ NGƯỜI VIỆT VÀ ĐỘNG LỰC KHIẾN CHO HỌ THEO ĐẠO Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng, kế sách đánh
phá Việt Qua phần trình bày trong chương trước, Giáo Hội La
Mã có chủ trương sử dụng miếng mồi vật chất và chức vụ trong chính
quyền để dụ khị và câu nhử những phường tiểu nhân hám lợi, háo
danh và thèm khát quyền lực lao vào “theo đạo lấy gạo để mà ăn” và
“mượn đạo tạo danh đời”. Đây
là thực trạng đã xẩy ra trong suốt chiều dài lịch sử Việt CON SỐ NGƯỜI VIỆT THEO ĐẠO DA-TÔ TÍNH THEO TỪNG KỲ Theo sách sử, số người Việt 1.- Năm 1533: giáo
sĩ Inigo (Inikhu - Bồ Đào Nha) là người đầu tiên đến Việt 2.- Năm 1664: ở Đàng Trong
có vào khoảng...................100.000 người [1]
3.- Năm 1737: ở Đàng Ngoài
có vào khỏang.................. 250.000 người [2]
4.- Năm 1800: Cả nước có vào khoảng............................
320,000 người [3]
5.- Đầu thập niên 1840:
....................................................420,000 người [4]
6.- Đầu thập niên 1850: ...............…..........từ..500.000
đến 600,000 người [5]
7.- Năm 1892................(theo Bùi Đức
Sinh).................... .683,000 người [6] 8.- Năm 1945
(theo
Trần Tam Tỉnh)................1,700,000 người [7]
. Năm 1954: Khoảng trên dưới
500,000 giáo dân Gia Tô trong số 860,000 từ
Bắc di cư vào miền Nam, Sử gia Bernard B. Fall
ghi trong cuốn The Two Vietnams như sau: "Trong số 860 ngàn
người trốn vào miền Cần phải đặt vấn đề về con số giáo dân
Gia-tô di cư vào miền Thứ nhất,
tại các trại định cư, các ông linh mục trưởng trại các trại định
cư vừa làm sổ gia đình giáo dân ma
vừa khai thêm nhân khẩu của mỗi hộ
(gia đình) để lĩnh gian tiền trợ cấp di cư. Việc làm gian manh này có lẽ
bắt đầu từ cuối tháng 7/1954 hay đầu tháng 8/1954 và xuôi lọt cho đến
đầu tháng 3/1955 thì người Mỹ biết
rõ và cho điều tra. Không biết có phải
vì việc điều tra này mà ngay sau đó mấy ngày, ông Giám Đốc Phủ Tổng
Ủy Di Cư (một tín đồ Da-tô ngoan đạo) bị thay thế bằng một nhân vât
khác (cũng là một tín đồ Da-tô ngoan
đạo), rồi bỗng nhiên Phủ Tổng Ủy Di Cư ở Đường Trần Hưng Đạo bị
hỏa họan phát xuất từ văn phòng và gần như toàn bộ hồ sơ danh sách các gia đình người di cư lĩnh trợ
cấp bị thiêu rụi. Chuyện này bẵng đi cho đến năm 2002, một giáo dân
Da-tô, tuổi khoảng hơn 60 tuổi, gốc Bắc Ninh, di cư vào Nam năm 1954 và đến
định cư ở Hoa Kỳ từ năm 1975, hiện còn làm việc tại Tacoma Public
Schools. Nhân vụ lọan dâm bùng nổ ở Hoa Kỳ, ông này mới tâm sự với một
người đồng đạo cùng làm việc ở Tacoma Public Schools đại khái như sau: "Năm 1954, tôi
còn là một thiếu niên nhỏ tuổi, ngay khi vừa mới di cư vào Nam, nhờ sự
giúp đỡ của một vị linh mục, bố
mẹ tôi gửi tôi đến tu ở Dòng Đồng Công được khỏang gần 6 tháng.
Sau đó, bố tôi thấy vị linh mục này làm sổ gia đình ma và khai thêm người
vào sổ gia đình của giáo dân trong trại để lĩnh gian tiền trợ cấp di
cư. Bố tôi bất bình về việc làm
gian manh như vậy và tỏ ra khinh rẻ vị
linh mục này. Bị bố tôi khinh thường, vị linh mục này tức giận, quay
ra trả thù gia đình tôi bằng cách tìm cách xúi giục vị Linh-mục trông
coi Dòng Đồng Công kiếm cớ đuổi tôi ra khỏi nhà Dòng. Vì thế mà tôi
mới xuất tu." Thứ hai,
theo Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi trong sách Thập Giá Và Lưỡi Gươm thì: Tổng số giáo dân Gia-tô ở miền Bắc vĩ tuyến 17
trước ngày di cư là 1.390.000 Tổng số giáo dân Gia-tô còn lại ở miền Bắc sau
ngày di cư là……….. 846.500 Như vậy, số giáo dân di cư vào CON SỐ TÍN ĐỒ DA TÔ TĂNG THEO TỈ LỆ THUẬN VỚI QUYỀN LỰC CỦA GIÁO HỘI Muốn biết động lực hay yếu tố nào khiến cho những
đồng bào thân thương ruột thịt của chúng ta vốn là những người hiền
lương chất phác sống theo nguyến tắc đạo lý của nền tam giáo cổ truyền
lại đành tâm nhắm mắt đi theo cái đạo mà văn hào Voltaire đã gọi là “cái tôn giáo ác ôn” để rồi trở
thành những phường vong bản phản quê hương, phản giống nòi, cúi mặt
tiếp tay cho kẻ thù dân tộc đánh chiếm và thống trị tổ quốc Việt
Nam, chúng ta cần phải biết con số những người theo đạo trong những thời
kỳ đặc biệt của từng giai đọan lịch sử và cần phải phân loại họ
theo động lực khiến cho họ tình nguyện theo đạo hay hoàn cảnh nào khiến
cho họ bị cưỡng bách hay bị đẩy vào thế phảio theo đạo để tự tồn.
Có như thế, chúng tai mới có thể xác định những yếu tố nào đã khiến
cho người Việt theo đạo Da-tô nhiều nhất. Theo nguyên tắc này, người viết phân chia con số người Việt theo đạo
Da-tô trong mỗi thời kỳ và khởi đầu từ năm 1533 là năm giắo sĩ Da-tô
đầu tiên là giáo-sĩ Ini Khu (người Bồ Đào Nha) đến Việt Nam đặt chân
lên đất Ninh Cường (Bắc Việt) để truyền đạo. Các thời kỳ này được
phân chia theo những thời điểm được coi như quan trọng vì có liên hệ
đến vấn đề truyền đạo dựa vào quyền lực của Giáo Hội La Mã tại
Việt 1.- Thời kỳ 1533-1800 dài 267 năm, số tín đồ mới chỉ có 320, 000 người. 2.- Thời kỳ 1800-1840 dài 40 năm, số tín đồ
tăng từ 320 ngàn lên 420 ngàn, tăng 100 ngàn. 3.- Thời kỳ 1840-1855 dài 15 năm, số tín đồ
tăng từ 420 ngàn lên 600 ngàn, tăng 180 ngàn. 4.- Thời kỳ 1855-1892 dài 47 năm, số tín đồ
tăng từ 600 ngàn lến 683 ngàn, tăng 83 ngàn. 5.- Thời kỳ 1892-1945 dài 53 năm, số tín đồ tăng từ 683 ngàn lên 1,700,000, tăng
1.017.000 người. 6.- Thời kỳ 1955-1975 dài 20 năm, số tín đồ từ
1.7000.000 lên đến khỏang từ 4.000.000
tới 5.000.000. tăng hơn hai triệu.
Như vậy là trong thời Vua Gia Long mới chỉ có 320
ngàn, và trong thời Vua Thiệu Trị cũng chỉ có hơn 400 ngàn. Qua bảng phân tách trên đây, chúng ta nhận thấy thời
kỳ 1892-1945, chỉ có 53 năm con số người Việt theo đạo Da-tô tăng
vọt gấp hơn 2 lần so với các thời kỳ trước đó, và thời kỳ
1955-1975 ở miền Nam Việt Nam, chỉ cỏ vỏn vẹn có 20 năm mà con số
người Việt theo đạo Da-tô tăng vọt gấp gần 3 lần so với thời kỳ 1892-1945. Sự kiện này chứng tỏ
rằng “con số người theo đạo Da-tô tăng
theo tỉ lệ quyền lực của Giáo Hội La Mã tại Việt XẾP LOẠI NHỮNG NGƯỜI THEO ĐẠO DA TÔ Căn cứ vào bản thống kê ở trên và theo sự tìm
hiểu của người viết, ngọai trừ một vài trường hợp ngoại lệ, hầu hết tín đồ Da-tô là ở thời nào cũng
chỉ là một trong 10 loại người
dưới đây: 1.- Loại người “Đi đạo lấy gạo mà ăn”: Đây
là loại người vốn đã sống trong cảnh nghèo khổ từ nhiều năm và bị
chính quyền đạo phiệt tay sai của Giáo Hội dùng miếng mồi vật chất để câu như họ vào đạo. Sự kiện này
cũng được ông Hà Giang nói rõ trong bài viết "Cứu Trợ Nhân Đạo" đăng trên www.giaodiem.com tháng 7/2003, với nguyên văn như sau: "Tình trạng xáo
trộn chính trị và nạn đói vào đầu thế kỷ 20 ở Việt Nam, nhất là
ở các tỉnh như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, v.v... được giới truyền giáo
Tây Phương xem như là một cơ hội lý tưởng để bành trướng đạo Kitô. Nhiều văn thư trao
đổi giữa các giáo sĩ và các quan chức Pháp thời đó cho thấy rõ ràng
chiến lược lợi dụng sự nghèo khổ của người Việt Nam để truyền đạo.
Chẳng hạn như một lá thư của Đức Cha Marcou, giám mục một địa phận
miền biển Đàng Ngoài gửi cho "Bề Trên" (đề ngày 14/ 9/1902)
[trích đoạn]: "Hiện tại phương pháp họat động tông đồ tốt nhất
có lẽ là tăng gấp bội hoạt động từ thiện và giúp đỡ về vật chất
càng nhiều càng tốt." Một thư khác đề ngày 8/ 4/ 1889 của một nhóm
17 người xin phép bỏ đạo Công Giáo để trở lại với Phật Giáo viết
[trích đoạn]: "Chúng tôi trước đây là tín đồ Phật Giáo. Vào đạo
năm 1886, người ta nói chúng tôi được tự do làm người Phật Giáo hoặc
Công Giáo. Hơn nữa, vị cha xứ địa phương bảo chúng tôi rằng nếu
chúng tôi đón nhận Công Giáo, chúng tôi sẽ được miễn sưu thuế mà người
Phật Giáo phải đóng. Đó là lý do chúng tôi rửa tội theo Công Giáo."[10] Sách lược truyền đạo này còn được thực thi
trong thời chế độ Đệ Nhất và Đệ
Nhị Cộng Hòa ở (miền Nam) Việt Nam, đặc biệt là ở những vùng mà
nhân dân quá nghèo như ở Liên Khu V. Sự thật này được Linh-mục Trần
Tam Tỉnh nói rõ nơi các trang 128-130 trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi Gươm với
nguyên văn như sau: “Có người cho rằng
việc theo đạo hàng loạt đó chỉ là lập lại theo ngạn ngôn có từ thời
Pháp, “đi đạo lấy gạo mà ăn” thôi. Quả thế, viện trợ Công
Giáo từ ngoài vào đều do các linh mục tự tiện thao túng và thường chỉ
dành để phân phát cho người Công Giáo. Dân chúng miền Trung này, chẳng
qua đã tìm nơi theo đạo Công Giáo như là một phương thế kiếm ăn.”
[11]
Cũng vào những năm này, trong các làng quê, giới
truyền đạo thường đi từng nhà phân phát bánh mì (thời đó bánh mì là
thực phẩm xa xỉ đối với người dân ở trong nông thôn hay làng quê) và
nhân dịp kêu gọi bà con đi nhà thờ sinh họat hay xa hơn chút nữa là
"rửa tội". Do đó, người dân trong làng quê thời đó có câu nói
"Theo đạo có gạo mà ăn". Câu
nói này hầu như người Việt 2.- Loại người “Mượn đạo tạo danh đời”: Loại
người này có chủ tâm theo đạo để dựa vào đạo hầu leo lên bước
thang danh lợi như bọn Lam Văn Phát, Lâm Lễ Trinh, Tôn Th. Th., Huỳnh Hữu
Nghĩa, Đặng Văn Quang, Nguyễn Văn Thiệu, v…v.
Trong cuốn Sáu Tháng Pháp Nạn, Giáo-sư Vũ Văn Mãu đã nêu đích
danh một số người nhờ đã theo đạo mà được chế độ đạo phiệt
Da-tô Ngô Đình Diệm trao cho nắm giữ một chức vụ trong chính quyền.
Chuyện này đã được trình bày Chương 2. Chủ đích của những người này là “theo đạo để tạo danh đời” (háo danh hay
thèm khát quyền lực). Khi theo đạo rồi thì sẽ dựa hơi nhà thờ, tức
là nhờ vả vị linh mục rửa tội hay gia
đình của nhân vật đỡ đầu (Godfather) giúp đỡ cho được
thăng quan tiến chức, hoặc là để được dễ dàng chạy
"affaires" hay làm ăn trong cộng đồng Da-tô được dễ dàng. Sự kiện
này được ông Phạm Văn Liễu ghi nhận trong cuốn Trả ta Sông Núi (tập
2) nhu sau: "Thực ra, đa số
các sĩ quan hay công chức của nền Đệ Nhất Cộng Hòa đã theo Cần Lao hay "rửa tội" chỉ
vì muốn được an thân, nhất là tiến thân. Cái thói phù thịnh là
lẽ thường tình của người đời. Với những cá nhân tham vọng, bất cứ
phương tiện nào cũng tốt, miễn hồ giúp họ đạt được mục đích. Hai
tiếng "trung thành" hay "nhân nghĩa" là những tiếng cười
dài mỉa mai." [12] Con số người theo đạo thuộc lọai này có thể
lên đến hàng chục ngàn hay hàng trăm ngàn người trở lên. 3.- Loại người
theo đạo để “khỏi bị chụp mũ là Cộng
Sản hay Cộng Sản nằm vùng”: Trong những năm 1954-1963, tại miền
Nam Việt Nam, đặc biệt là ở các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng
Ngãi, Qui Nhơn và Khánh Hòa, có tới khỏang 300 ngàn người bị chế độ
đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm thủ tiêu hay sát hại theo tinh thần Sắc
Luật 47 được ban hành vào ngày 21/8/1956 và Luật Số 10 được ban hành
vào ngày 6/5/1959. Tình trạng này gây nên một tâm lý kinh hoàng trong nhân
dân và đã khiến cho một số nhiều người khiếp sợ và tìm cách theo đạo
để được an thân, nếu không, thì sẽ bị chụp mũ là “Cộng Sản”
hay “Cộng Sản nằm vùng” và sẽ bị thủ tiêu hay sát hại giống như số
phận của 300 ngàn nạn nhân như đã nói trên.
Sự kiện này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghị lại như sau: “Có những người
cũng cho rằng họ vào đạo để khỏi bị sách nhiễu về chính trị.
Quần chúng ở đây, vi đã từng sống lâu năm dưới chế độ Việt Minh,
nên bị tình nghi có liên hệ với “kẻ địch”, bây giờ vào đạo là gặp
được con đường để tỏ lòng trung thành với chế độ hoặc ít ra cũng
tránh được những quấy nhiễu của cảnh sát… Điều chắc chắn là
phong trào trở lại đạo đó chấm dứt với năm 1963, ngay khi tổng thống
Công Giáo Diệm bị lật đổ." [13] Con số những người theo đạo thuộc loại này cũng
nhiều lắm, không biết lên đến bao nhiêu ngàn người. Tính chung, con số
những người tân tòng (thuật ngữ của Giáo Hội La Mã gọi là “những người mới trở lại đạo”)
trong thời kỳ này phải lên đến hàng triệu. Vì thế mà vào năm 1975, con
số tín đồ Da-tô người Việt ở miền
Nam Việt 4.- Bị chèn ép hay
bị dồn vào thế kẹt hay bước đường cùng cho nên phải theo đạo với
hy vọng nhờ thế đạo để giải thoát. Thí dụ như một nạn nhân ở
trong chính quyền bị một tín đồ cuồng tín có thế lực hay một linh mục
chiếu cố và muốn lôi cuốn vào đạo mà nạn nhân tỏ ra không thiết
tha, thì nạn nhân này sẽ bị họ tìm cách thuyên chuyển đi đến một
nơi “khỉ ho cò gáy”, xa gia đình, xa
vợ con; nếu là quân nhân, thì sẽ bị họ tìm cách thuyên chuyển đến vùng
hỏa tuyến nguy hiểm nhất, phải thường trực đương đầu với cái chết.
Đồng thời, họ cũng hé cho chính nạn nhân hay thân nhân của nạn nhân biết
là “nếu theo đạo thì sẽ đuợc “Chúa
đền ơn”…, bằng không thì sẽ còn phải lận đận, còn phải lao đao vô
phương thoát khỏi.” Trước năm 1954, khi thành hôn với một nữ tín đồ
Da-tô, Thiếu Uý Nguyễn Văn Thiệu cũng đã từng được thuyết phục phải
theo đạo, nhưng ông không theo. Vì lúc đó, quyền lực trong quân đội viễn
chinh còn nằm trong tay người Pháp, ông Thiệu không theo đạo cũng chẳng
sao. Nhưng từ năm 1954 về sau, tại miền Nam Việt Nam, quyền lực chính trị
của Giáo Hội đã được củng cố thành chế độ đạo phiệt, ông Thiệu
đã có đủ thông minh nhìn ra sự thật NẾU không theo đạo, THÌ ông sẽ bị
loại ra khỏi các chức vụ chỉ huy và sẽ bị ngay lớp sĩ quan đàn em có
đạo chỉ huy và điều khiển và cuộc đời còn có thể láo đao khốn khổ.
Bởi vì thế, ông ta mới tìm đến nhờ Linh-mục Bửu Dưỡng, một lãnh tụ
trong đảng Cần Lao, đỡ đầu cho ông theo đạo. Nhờ vậy mà ông được
thăng lên cấp Đại Tá và được giao cho nắm giứ chức Tư Lệnh Sư Đoàn
5 Bộ Binh. Cựu Thiếu Tướng Lâm Văn Phát cũng ở vào trường hợp này. 5.- Loại người bị
chèn ép vì muốn thành hôn với người yêu là tín đồ Gia-tô: Đây là
những người “Lạy Chúa Ba Ngôi, tôi lấy
được vợ, tôi thôi đi nhà thờ”. 6.- Lọai người
theo đạo hoặc vi “mê tín hoặc vì thiếu thông minh”: Đây là những
người theo đạo vì theo học trường
đạo từ tuổi còn nhỏ rồi bị
mê hoặc và vui với bạn học cùng lớp là tín đồ Da-tô rồi theo đạo.
Sau năm 1975, có một số thuyền nhân cũng bị mê hoặc
mà theo đạo gần giống như trường hợp trên đây. Khi còn đang lênh đênh
trên mặt biển, mọi người đều lo sợ những rủi ro có
thể xẩy đến bất cứ lúc nào. Giữa lúc đó, có người đến hiến kế,
nói rằng, "Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp
linh thiêng lắm, nếu cầu xin Mẹ, thì Mẹ sẽ giúp cho đến bờ đến bến.
Nhưng phải nhớ một điều quan trọng, sau đó phải tạ ơn Mẹ bằng cách
theo đạo thì Mẹ mới tiếp tục cứu giúp." Thế rồi, trong suốt
hải trình, may mắn là không có gì xẩy ra và họ đã đến được trại tỵ nạn, rồi sau
đó lại được vào định cư ở Hoa Kỳ. Người bạn đi cùng tầu vượt biển đã từng đưa ra
lời đề nghi cầu xin Đức Mẹ Hăng Cứu Giúp (để được cứu giúp) vẫn
bám sát, liên lạc thường xuyên với họ và luôn luôn nhắc nhở họ phải
(nên) theo đạo để tỏ lòng tạ ơn Đức Me. Dĩ nhiên là chỉ những người
ngu dốt hay không có lý trí mới tin như
vậy và làm như vậy. Nghe đâu ông bác sĩ ở Federal Way (Washington) có chủ
tâm "theo đạo để làm ăn được dễ dàng với khách hàng là tín đồ
Da-tô" đã viện cái "cớ" này khi theo đạo Da-tô để cho nó
có vẻ "danh chính ngôn thuận"
và cũng là để tỏ ra là người biết giữ "chữ tín". Đúng ra,
ông bác-sĩ này phải được xếp vào loại số 2 (theo đạo để tạo danh đời) vì rằng chủ tâm của ông ta theo đạo Da-tô
để câu nhử hay lôi cuốn tín đồ Da-tô người Việt đến phòng mạch của
ông ta. Cũng nhờ đã theo đạo Da-tô, mà sau đó ông ta trở thành chủ tịch
cái Hội Đòan Chụp Mũ Cộng Sản tại thành phố lớn đứng hàng thứ
nhì ở miền Tây tiểu bang Washington vào những năm 1999-2001 và là một
trong mấy người chủ động việc chụp cho bà Minh Anh Hodge cái “mũ Cộng
Sản” để lấy lòng tín đồ Da-tô người Việt ở vùng Seattle - Tacama – Olympia (Washington). 7.- Những tín đồ
vốn là những đứa trẻ mồ côi, không cha, không mẹ được các nhà
truyền giáo lượm đem về nuôi ở trong các viện mồ côi rồi bị đem ra
nhà thờ rửa tội để theo đạo. 8.- Những tín đồ
vốn là con em các gia đình nghèo khổ, được các nhà truyền giáo mua đem về nuôi ở
trong các viện mồ côi, rồi bị đem đi nhà thờ rửa tội. Sự kiện này
được Tiến-sĩ Vũ Ngự Chiêu ghi lại trong cuốn Ngàn Năm Soi Mặt viết: "Vào giữa thế
kỷ XIX, "bán con" là một hủ tục quen thuộc tại Đại Trong khi đó, vì
chính sách bài đạo của nhà Nguyễn, các giáo sĩ Kitô tìm đủ mọi cách
để gia tăng số tín đồ. Trong kế họach gia tăng giáo dân trên có việc
dùng tài lợi mua chuộc, nuôi dưỡng trẻ mồ côi, và mua con nít của những
gia đình Lương nghèo khổ (như ăn mày) để huấn luyện làm thày kẻ giảng,
và nếu đứa trẻ thông minh, có thể huấn luyện làm giáo mục bản xứ.
Tại Cao Miên, số tiền các giáo sĩ bỏ ra để rửa tội cho mỗi người
ngoại đạo lên tới 100 quan vào năm 1858..... Số
trẻ em mồ côi hoặc con nhà nghèo bán cho các nhà tu hàng năm
cũng khá quan trọng. Đa số "các chú" trong các "nhà Chúa Blời"
đều là cô nhi hay con nhà nghèo được giáo sĩ bỏ tiền ra mua về."
[14] Chuyện bỏ tiền ra mua người theo đạo không phải
chỉ xẩy ra vào thế kỷ 19 trở về trước và cũng không phải chỉ
xẩy ra ở các quốc gia nghèo đói như ở Việt Nam trước đây, nó cũng xẩy ra ở trong một nước giầu có
như Hoa Kỳ và xẩy ra vào giữa năm 2003. Sự thật này được ký giả Doug Simpson của Liên Hiệp Thông Tấn Xã ghi lại trong một bài báo có tựa đề là
"Black bishop who wants "rainbow"
in church will pay whites to attend" đăng trong tờ The News Tribune
[Tacoma, Washington], phát hành ngày Thứ Bẩy 2 tháng 8 năm 2003, nơi trang A 11
với nguyên văn như sau: " 9.- Loại người
theo đạo với hy vọng sẽ được bảo lãnh sang Hoa Kỳ định cư: Sau năm 1975, khí biết rõ đời sống khá
giả của người Việt hải ngoại ở Mỹ, người ta áp dụng sách lược
phao tin rằng nếu theo đạo Kitô rồi, thì sẽ dễ dàng được Giáo Hội
Kitô Hoa Kỳ bảo đảm và giúp đỡ lo cho di cư sang Hoa Kỳ mưu sinh. Vì lý
do này, trong nước có nhiều người theo đạo để nuôi hy vọng. Người viết
có một cặp vợ chồng người bạn ở Cần Thơ đã theo đạo vì lý do
này. Con số những người Thượng ở vùng cao Nguyên Trung Việt mới theo đạo
Tin Lành từ 1985 trở về sau cũng là những hạng người theo đạo thuộc lọai
này. 10.- Con cháu của 9
loại người trên đây. Nhìn vào 10 loại người theo đạo Ki-tô trên đây,
chúng ta thấy toàn là những người vị kỷ, tham lam hay vì hoàn cảnh bắt
buộc phải theo đạo, không có một người
nào tự nguyện theo đạo Kitô vì tìm thấy lý tưởng cao đẹp hay có
những lời vị tha trong đạo Kitô như trong các đạo Phật, đạo Khổng,
đạo Lão ở Đông Phương với chủ trương uốn nắn và rèn luyện con người
sao cho có tâm hồn cao thượng, phóng khoáng, vị tha, có đức tích chí
công vô tư, đầy lòng nhân ái Tứ hải gia huynh đệ), biết hành xử “sao cho vừa mắt ta ra mắt người” (kỷ sở bất dục, vất thi ư nhân”, yêu
chuộng hòa bình (dĩ hòa vi quý)
vì nước (Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách), vì
dân “Dân (hi sở ố, ố chi; dân chí sở
hiếu, hiếu chi; sở vị dân chi phụ mẫu), vì nghĩa (Duyên phải duyên kim cải, nghĩa phải nghĩa
giao hòa). Phân tách mười loại người Việt Những người thuộc lọai 1, 2 và 9 là những hạng
người tình nguyện theo đạo Ki-tô để được hưởng những đặc quyền
đặc lợi hay còn gọi là những người tham lợi, háo danh và thèm khát quyền
lực. Đây là những hạng người chỉ biết chạy theo quyền lực, lợi lộc
và danh vọng. Người nào hay thế lực nào có thể ban phát cho họ lợi lộc,
danh vọng hay quyền lực thì họ đi theo và tôn phò. Sự kiện này cho thấy
rõ họ là những người xu thời hay thời cơ chủ nghĩa. Đặc tính của những
người xu thời là “cuốn theo chiều gió” và có biệt tài đánh hơi sớm
nhận biết đuợc khi nào gió sắp đồi chiều thì họ sẽ trở cờ phất
theo chiều gió mới. Nói cho rõ hơn, những hạng người này là những phường
tiểu nhân với bản chất phản trắc bẩm sinh. Cũng vì thế mà, nếu
cần, họ sẵn sàng làm những chuyện “lừa
thày phản bạn”. Họ là hạng người “thắng thì hăng hái theo phò, bại thi vội
vã co giò chạy mau.” Những người thuộc lọai 6 có thể gọi là những
người vừa ngu dốt vừa tham lam mà theo đạo. Mục đích theo đạo của họ
cũng gần như những người thuộc loại 1, 2 và 9. Họ theo đạo để trở
thành “dân Chúa” sẽ được Chúa
(Giáo Hội) thương và ban cho họ những phép lạ, những “hồng ân
Thiên Chúa” để cho cuộc đời của họ lên hương. Loại người thứ 4 là loại người sẵn sàng bỏ rơi
cái tôn gíao ác ôn này ngay khi sau đã làm lễ thành hôn. Chính vì thực trạng
này thi văn Việt Lạy Chúa Ba Ngôi Tôi lấy được vợ, thô thôi đi nhà thờ. Loại người thứ 10 mang những đặc tính theo quy
luật di truyền đúng như thành ngữ’ “cha nào con ấy” của mỗi lọai người
trong 9 lọai ngưởi ở trên. Nói chung, tất cả những người Việt Dĩ nhiên, là vẫn có một số tín đồ Da-tô phủ
nhận sự thật trên đây, nhưng họ không thể đưa ra được luận cứ nào có cơ sở hay có khả năng thuyết phục
được người đọc. THÌ CÀNG CHO NHIỀU NGƯỜI THEO ĐẠO DA TÔ Chúng ta biết rằng mãi
đến năm 1533 mới có giáo sĩ Da-tô đến Việt A.- Thời kỳ 1533-1785. B.- 1785-1862 C.- 1862-1954 D.- 1954-1975 A.- Thời kỳ
1533-1785: Đây là các nhà truyền giáo Da tô không có quyền lực gì ở
Việt 1.- Những mánh mung mua chuộc đám dân nghèo cùng khổ bằng cách giúp đở chút ít vật chất hay
tiền bạc hoặc là một vài viên thuốc Tây vào khi những người bị chiếu
cố bị lâm bệnh. 2.- Bỏ tiền ra
mua những con em của các gia đình cùng khổ đem về nuôi dưỡng rồi rửa
tội cho các em bé nạn nhân này. 3.- Lượm các trẻ em mồ côi không cha không mẹ
đem về nuôi dưỡng rồi rửa tội cho các em bé bất hạnh này. Vì chỉ có thể sử dụng những mánh mung trên đây
để câu nhử hay dụ khị người theo đạo, cho nên con số tín đồ Da-tô
trong thời kỳ này tăng rất chậm. Cả một thời gian dài trên 250 năm mà
chỉ thâu nhận được có khoảng trên
dưới 300 ngàn tín đồ. B.- Thời kỳ
1785-1862: Nhờ có Giám-mục Bá Đa Lộc
đã kết thân với Nguyễn Ánh cho nên có một số tín đồ Da-tô người Việt
được thâu nhận hay len lỏi vào trong bộ máy cai trị và quân đội của
Nguyễn Ánh. Vì vậy, ngoài việc sử dụng ba mánh mung ở trong thời kỳ A,
các ông truyền giáo còn có thể: 1.- Dựa vào cái thế thân chính quyền để lòe đám
dân chạy theo Nguyễn Ánh nhằm dụ khị họ theo đạo. Mánh mung này tuy có
ăn khách nhưng không hữu hiệu bằng thời kỳ 1862-1954 và thời kỳ
1954-1975. 2.- Dụ khị những phường hạ lưu “du thủ du thực” và “sinh vô gia cư, tử vô địa táng” trong xã hội bằng một tương lai tốt đẹp.
Đây là trường hợp của Ngô Đình Khả, Trương Vĩnh Ký, Tạ Văn Phụng,
v.v…) 3.- Móc nối với “thành phần bất mãn với nhà nước
đương quyền” bằng những hứa
hẹn sẽ bảo vệ họ chống lại chính quyền đương thời và nâng đỡ họ
trở thành những nhân vật quan trọng nếu tình hình thay đổi thuận theo
chiều của Giáo Hội. Đây là trường hợp Lê Văn Khôi, Hồng Bảo, v.v…) Vì có dựa thế thân chính quyền của Nguyễn Ánh
và công khai dụ khị bọn người bất lương du thủy du thực và bọn bất
mãn với chính quyền đương thời, nghĩa là có thêm những thủ đoạn bất
chính câu nhử công khai những thành phân tội ác sống ngoài vòng pháp luật,
cho nên trong thời kỳ này con số tín đồ đã tăng thêm mau hơn thời kỳ
trước (1533-1785). Tuy nhiên, trong thời kỳ này, Giáo Hội chỉ dựa hơi
đước chính quyền của Nguyễn Ánh có một thời gian ngắn từ năm 1785
cho đến 1820, rồi sau đó lại ở vào thế chống đối triều đình Huế (không có quyền lực chính trị, phương
tiện câu nhử tín đồ bị giới hạn), cho nên con số tin đồ trong thời
kỳ có tăng nhanh hơn thời kỳ trước (A), nhưng tăng rất chậm nếu so với
hai thời kỳ C và D sau đó. C.- Thời kỳ C 1862-1954: Thời kỳ này Giáo Hội đã trở
thành một thành viên trong chính quyền Liên Minh Pháp – Vatican tại Đồng
Dương. Nhờ vậy mà Giáo Hội có thể dùng miếng mồi danh lợi để câu
nhử những phương háo danh tham lợi “theo đạo để tạo danh đời”. Tuy
nhiên, trong thời kỳ người Pháp cầm trịch trong chính quyền, chỉ dành
cho Giáo Hội một số quyền lợi về kinh tế và
ưu tiên trong việc cung cấp nhân viên làm việc cho chính quyền,
đặc biệt nhất là trong ngành tính báo, mật vụ và công an. Cũng vì thế
mà sự hữu hiệu của những mánh mung này cũng bị giới hạn. Nhưng nếu
so với thời kỳ B (1785-1862), quyền lực của Giáo Hội tăng lên rất nhiều,
tất nhiên là mánh mung sử dụng miếng mồi quyền lực và danh lợi trong
chính quyền cũng trở thành hữu hiệu nhiều hơn. Cũng vì thế mà trong thời
kỳ này Giáo Hội đã thâu nhận được rất nhiều phần tử lưu manh “theo đạo để tạo danh đời”, nếu so với thời kỳ trước. D.- Thời Kỳ
1954-1975: Trong thời kỳ này, quyền lực của Giáo Hội bị thu gọn lại
trong lãnh thổ miền Nam Việt Nam, nhưng cường độ quyền lực của Giáo Hội
gần như lên đến tuyệt đỉnh. Dù là Giáo Hội chỉ là một thành viên
trong Liên Minh Mỹ - Vatican thống trị miền Nam Việt Nam trong thời kỳ
này, nhưng khác với Pháp trước kia, Hoa Kỳ chỉ lo về mặt chiến lược
quân sự muốn biến miền Nam thành một tiền đồn ngăn chặn làn sóng Cộng Sản từ phương
Bắc và để mặc cho Giáo Hội thao túng việc nội trị ở miền Nam miễn
là đừng quá trớn. Nhờ vậy mà Giáo Hội đã thiết lập được chế độ
đạo phiệt Da-tô ở miền 1.- Dùng bạo lực với phưong châm “theo đạo thì sống, bằng không thì
không chết cũng khốn nạn.” Sách
lược này được thi hành ở các trại định cư, các trung tâm dinh điền,
các ấp chiến lược và các tỉnh trong Liên Khu V. 2.- Dùng những chức vụ và quyền lợi trong chính
quyền cũng như trong các lãnh vực họat động ở ngòai xã hội để lôi
cuốn những phường háo danh tham lợi “theo
đạo để tạo danh đời”. 3.- Nắm độc quyền thâu nhận tiền ngọai viện
trong các chương trình cứu tế hay từ
thiện và chỉ phân phối cho tín Da-tô nhằm mục đích dồn những người lương nghèo khổ vào bước đường cùng
“Phải đạo lấy gạo mà ăn”.
Sự kiện này đã được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi lại nơi các trang
128-130 trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi Guơm (Paris: Sudestasie, 1978) và đã được
trich dẫn ở trên. Chính vì vậy
mà trong thời kỳ này có rất nhiều người cùng khổ “theo đạo lấy gạo để mà ăn”, có rất nhiều bọn xu thời và quân lưu
manh “theo đạo để tạo danh đời”.
Cũng vì thế mà con số tín đồ Da-tô
trong thời kỳ này tăng vọt lên gấp 3 lần so với thời kỳ 1862-1954. Độc
giả có thể nhìn lại bảng kê khai con số tín đồ Da-tô người Việt ở
trên để kiểm chứng vấn đề này. KẾT LUẬN A.- Nhìn vào xã
hội hay cộng đồng Da-tô người Việt, chúng ta thấy: Với chính sách dùng miếng mồi vật chất, danh vọng
và quyền lực để cầu nhử hay dụ khị những phường hám lợi, háo danh và thèm khát quyền lực chạy theo mà
vào đạo hay lao vào học nghề làm
linh mục, Giáo Hội La Mã đã tạo nên xã hội Da-tô gồm toàn những phường
đầy lòng tham lam vị kỷ, xu thời chỉ biết chạy theo danh lợi và quyền
lực mà không cần biết đến lẽ phải và
lương tâm của con người. Tất nhiên là những hạng người này không bao
giờ hay không cần biết đến đạo lý,
công bằng và nhân ái là gì nữa. Không cần phải phân tách tỉ mỉ, ai cũng
nhận thấy một xã hội như vậy tất nhiên là bị chìm ngập bởi lòng
kèn cựa, ganh ghét, đố kị, tị hiểm: 1.- Đối với người có thế lực hay giầu sang thì
xun xoe nịnh bợ, 2.- Đối với những kể lép vế thế cô thì tỏ ra
ngang tàng, hống hách, phách lối, thị oai, bắt nạt và chèn ép đủ điều,
3.- Đối với những kẻ ngang hàng thì ganh ghét, mưu
đồ ám hại lẫn nhau để giành chiếm phần hơn hay địa vị ưu thắng, 4.- Đối với những người xa lạ thì huêng hoang,
khoác lác, khoe khoang tước hiệu, chức vụ, bằng cấp, công trạng, kiến
thức loạn xạ cả lên để lòe đời. Có một điều hết sức khôi hài
là rất nhiều những thứ khoe khoang đó lại là những thứ mạo hóa. (Điển
hình cho những thư mạo hoá này là sự kiện ông Cao Thế Dung tự xưng là
Tiến sĩ và ông cự u luật sư Nguyễn
Văn Chức sử dụng cụm từ “Việt Nam Chính Sử” để đặt tên cho một
cuốn sách mà nội dung chỉ là một mớ lý luận cãi cối cãi chày với mục
đích chạy tội cho Giáo Hội La Mã và chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình
Diệm để rồi tự phơi bày cái bản chất huênh hoang khoác lác và tình trạng
dốt nát về lịch sử thế giới và lịch
sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại.). Có ở trong chăn mới biết chăn có rận. Thực trạng
trên đây trong cộng đồng hay xã hội của những người Da-tô Việt “Điểm lại tình
hình của Giáo Hội Việt Nam, có những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Thực vậy, chuyện giáo dân bị coi như cỏ rác là chuyện thường ngày ở
huyện. Chuyện đau lòng hơn cả là chuyện các chủ chăn chơi nhau thay vì
chơii với nhau ngày càng phơi trần ra. Sự sa đoạ trong Giáo Hội càng
ngày càng tăng thêm. Trong Giáo Hội, người
giáo dân ở địa vị thấp nhất, nữ giáo dân luôn luôn nằm dưới. Thật
là nghịch lý trong khi Đức Mẹ lại được các cha, nhất là các cha dòng
Cứu Thế “ga lăng” hết cỡ! Người giáo dân
chỉ có quyền vâng lời, đóng góp và hầu hạ các Đấng, các bậc trong Hội
Thánh. Ai vâng lời dưới 100% có thể bị coi là rối đạo và bị loại trừ
dưới mọi hình thức, nhất là không vâng lời về chuyện chính trị và
tiền bạc thì xem như lúa đời, phạm tội cực trọng, đáng sa hỏa ngục
đời đời chẳng cùng Amen. Thật ra, chính
trị và tiền bạc đã và đang là nguyên nhân chính gây nên sự mất
bình an, sa đọa và làm hoen ố hình ảnh tươi đẹp của Giáo Hội Việt Những sự kiện dưới
đây minh họa não trạng nêu trên của Giáo Hội Việt Nam chúng ta, người
giáo dân Việt 1.- Thượng Bất
Chính, Hạ Tắc Loạn: Ai có dịp gần gũi các Giám Mục Việt Nam đều
có nhận xét rằng về mặt cá nhân, các Ngài có vẻ đạo mạo, cởi mở,
dễ mến, trừ một ít vị tỏ ra cao ngạo, khép kín, quan liêu. Nhưng trong
lề lối làm việc của các Giám Mục thường rất độc tài, độc đoán.
Trong đối xử thường tỏ ra kỳ thị, ban phát ân huệ, coi thường bề
dưới, ganh tị và kèn cựa với đồng liêu để lập công với Tòa Thánh.
Những điểm nổi bật là tiền hậu bất nhất, việc làm không đi đôi với
lời rao giảng, trọng ngoại khinh nội, tham phú phụ bần, vô cùng sợ
hãi Tòa Thánh, đến nỗi có những linh mục nói rằng “Tòa Thánh đánh
rắm cũng khen thơm”, và tuân giữ “tín điều chống Cộng
đến cùng” vì Cộng Sản Việt Nam nó không chịu làm “cánh tay đời”
cho các Ngài để trị giáo dân và mở mang nước Chúa. Quan cách như thế của
Giám Mục Việt Nam là điều dễ hiểu, cần phải thông cảm với các
Ngài. Các Ngài được đào tạo để làm quan đạo, làm vua đạo, và chưa
bao giờ được đào tạo để phục vụ
anh em đồng đạo, đồng bào, mà chỉ được đào tạo để cai trị và để
được hầu hạ, được ăn trên ngồi trước… Việc đào tạo này
phát xuất từ một yêu cầu của một tầng lớp xã hội và để phục vụ
tầng lớp xã hội ấy…” [16] Cũng nhận xét về cộng đồng tín hữu Da-tô của
họ, Linh-mục Trần Tam Tỉnh cho chúng ta một cái nhìn rõ ràng về chủ trương và phương cách giáo dục hay
rèn luyên giáo dân như sau: “Ngoại trừ các cụm
nhà thành thị dân chúng sống lẫn lộn, người công giáo thường được
tập trung lại thành làng xóm riêng, tách rời khỏi người lương, sống
chen chúc quanh tháp nhà thờ xây theo kiểu Tây, chọc lên trời, cao vượt
khỏi lũy tre. Bị đóng khung và được đoàn ngũ hóa bởi hành giáo sĩ, họ
trở thành một lực lượng quần chúng đáng ghê sợ khi cha xứ kêu gọi họ
đứng lên bảo vệ đức tin, bảo vệ nhà thờ. Hệ thống ốc đảo
đó tách biệt và cô lập phần lớn giáo dân khỏi liên hệ với đồng bào,
thúc đẩy họ từ khước, tẩy chay bất cứ điều gì không được Giáo Hội
chính thức phê chuẩn, chẳng hạn sách Truyện Kiều, hoặc các tài liệu
cách mạng đều bị cho là ngược với đạo. Các sách của Voltaire,
Montesquieu, khỏi nói tới Các Mác, vừa bị nhà nước thuộc địa cấm, vừa
bị giáo luật khai trừ, nhưng ngay cuốn sách
đã dịch ra tiếng bản xứ mà cũng chẳng ai được biết đến
(có một bản sách thánh in bằng hai thứ tiếng La-tinh và Việt ngữa, khổ
lớn, nằm trong thư viện các chủng viện và vài cha xứ, còn giáo dân thì
không thể sờ tới.” [17] “Chạy trốn để cứu
lấy mạng sống và cứu lấy đức tin”, “Chúa Kitô đã đi vào Với phong cách hành xử của các vị chức sắc
trong hàng giáo phẩm trong Giáo Hội như Giáo-sư Nguyễn Văn Trung ghi nhận,
với phương cách giáo dục và rèn luyện tín đồ như Lịnh-mục Trần Tam
Tỉnh trình bày như trên, thì tất nhiên Giáo Hội chỉ có thể sản xuất
ra những hạng người đối hành xử như Linh-mục Nguyễn Hữu Lễ và đối
xử với nhau như giữa ông linh mục này và con chiên Bùi Đình Thi mà thôi. “Vì là
kẻ “chí mỏng”, nên Lm. đã không nhìn thấy cái nghĩa lớn trong đấu
tranh, cái trách nhiệm nặng nề trong vai trò là một Lm. Tự biến thành kẻ
xấu: - Vu khống
tội giết người cho Bùi đình Thi … - Gian
dối đặt hình Ðặng văn Tiếp trên một bàn thờ ở chỗ nào đó, chụp
lấy hình, rồi nộp cho tòa án làm bằng chứng là: Thi đang thờ Tiếp tại
nhà. (Quan tòa hỏi vợ Thi, thì được trả lời: Vợ Thi không biết hình
người ấy là ai, cùng trong nhà cũng không hề biết có bàn thờ và hình
người như vậy.) - Kết
nghĩa anh em với tướng cướp Bình Thanh khét tiếng, cầu xin Chúa và Ðức
Mẹ “phù hộ” cho Bình Thanh trốn tù được thoát, để ra ngoài đời tiếp
tục con đường trộm cướp gây nguy hại cho người hiền lương . . . - Tán
gái đã có chồng . . . - Tà
thuyết: “Tha thứ nhưng không có nghĩa là che dấu sự thật.” Làm bình
phong che đậy cho sự trả thù, để Lm đương ngây ngất cơn say men chiến
thắng, hưởng sung sướng ngồi trên đống máu “khô” đang dỉ ra từ thân
xác Bùi đình Thi nơi nhà giam Sở Di Trú. . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . Thiết tưởng,
cuốn MỘT SỰ THẬT CỦA DÃ TÂM TRONG VỤ ÁN TRẠI TÙ THANH CẨM, đã lột
tả đầy đủ chân tướng của Lm rồi. Nên không cần phải viết nhiều
thêm ở đây làm gì!” [19] Tất cả những gì được trình bày trên đây cho chúng ta thấy rõ con người đích thực
trong xã hội Da-tô từ những vị chức sắc cao cấp lãnh đạo cho đến những
tín đồ thuộc loại bạch đinh cũng có thể trở thành những hạng người
loạn luân dâm loàn như các Giáo Hoàng John XII (955-963), Leo VIII (963-964),
Benedict IX (1033-1044), John XXIII (1410-1415), Pius II (1458-1464) Sixtus IV
(1471-1484), Innocent VIII (1484-1492), Alexander VI (1492-1503), Cléo X (1513-1521),
Paul III (1534-1549), hoặc là sờ mó và gian dâm với nữ tín đồ như các
linh mục Cao Đăng Minh (Portland, Oregon), Đào Quang Chính, Nguyễn Hữu Dụ
(Houston, Texas), Trịnh Thế Hùng (Chicago, Illinois), Trần Công Nghị (Orange
County, California) [20]
, hoặc là trở thành hạng người lưu manh “tán gái có chồng” như Linh-mục
Nguyễn Hữu Lễ và “những tên sát
nhân cuồng nhiệt” đúng như lời Linh-mục Trần Tam Tỉnh đã nhận
xét. Cái xã hội ghê tởm này đã khiến cho nhà báo Long Ân phải than trời
bằng mấy dòng chữ dưới đây: “Tôn giáo đã đến
với con người từ xa tít mịt mù của qua khứ. Con người đã đến với
tôn giáo từ sự sợ hãi của kẻ tối tăm, cho đến sự đòi hỏi tìm hiểu
về chính mình, về vũ trụ của con người tư duy mà ông Rodin đã khắc
thành tượng đá. Tôn giáo đã mở cánh cửa để con người đến với con
người trong nhân ái, trong từ bi, trong bác ái. Nhưng chính con người đã
đào những hào chông, rào bằng những kẽm gai để con người chia cắt
nhau. Con người đã nhân danh tôn giáo để làm những chuyện điên cuồng
nhất, đã nhân danh tôn giáo để biện minh cho quyền lực phi nhân áp đặt
lên đầu kẻ khác. Con người đã phản lại tôn giáo, đã chặt đứt cây
cầu đưa đến cuộc tìm kiếm chính mình, đã cúi đầu đi trên bốn chân
để từ con người trở về với nguồn gốc của con người súc sinh.”
[21] B.- Về biện
pháp đối phó với Giáo Hôi La Mã tại Việt Căn cứ vào sự phân loại trên đây, chúng ta có thể
khẳng định rằng: 1.- Không có người nào theo đạo Kitô vì thấy rằng
đạo này có những tín lý cao cả, vị
tha, tốt đẹp giống như những nguyên tắc đạo lý cổ truyền của Đông
Phương. 2.- Ngoai trừ những người bị cưỡng ép hay bị
chèn ép vì một lý do nào đó (hôn nhân, được an tòan về chính trị),
ngoại trừ các con em nhà nghèo bị đem bán cho các nhà truyền giáo và ngoại
trừ các em bé mồ côi được Giáo Hội đem về nuôi dưỡng, tất cả là
những hạng người tiểu tâm, hèn hạ, đê tiện, tham lợi “theo đạo lấy gạo mà ăn”, háo danh hay
thèm khát quyền lợi “theo đạo để tạo
danh đời”. Ta có thể gọi những hạng người này là lũ người ngu dốt và lưu manh. Họ là những
người theo đạo để được hưởng những lợi lộc, địa vị, danh vọng
và quyền lực. Vậy thì KHI
mà đạo Kitô không còn là một
thế lực có thể mang lại cho họ những
thứ lợi lộc, địa vị, danh vọng và quyền lực, hoặc là không còn khả
năng hay không còn ở thế mạnh có thể chèn ép người dân trong việc mưu
sinh, không còn khả năng phá họai
hạnh phúc lứa đôi hay hạnh phúc gia đình của những người muốn thành
hôn với người yêu là tín đồ Gia-tô, và KHI người dân không còn ở trong tình trạng ngu dốt
nữa (bằng cách thi chính sách giáo dục tự do và khai phóng), THÌ lúc đó sẽ không còn một người
nào muốn hay bị cưỡng bách phải theo đạo Kitô nữa, và khi đó Giáo Hội La Mã sẽ bị phá
sản. Sự kiện này đã được bà Joane H. Meehl ghi lại trong tác phẩm "The Recovering
Catholic" (Promethus Books, 1995) với nguyên văn như sau: “Đạo Công Giáo chỉ
thịnh hành và phát triển ở những nơi người nghèo và ngu dốt, nó chỉ
khắc phục được bằng giáo dục và kinh tế sung túc." (Catholicism
thrives and grows among the poor and ignorant. It is overcome by education and economic
well-being)". [22]
Do đó, chúng ta có thể suy ra, NẾU
chính quyền Việt Nam trong thế kỷ 19 sử dụng những biện pháp mạnh để
trừng trị thẳng tay bọn giáo sĩ truyền giáo người Âu Châu giống như
nhà cầm quyền ở nước Nhật đã làm trong thế kỷ 17, khiến cho bọn
giáo sĩ truyền giáo Âu Châu trốn lui trốn lủi, không còn ở thế mạnh
để trổ mòi dụ dỗ và phỉnh gạt dân ta được nữa, THÌ nhóm thiểu số tu sĩ và tín đồ
Da-tô người Việt với bản chất ích kỷ, tham sống sợ chết, ở vào
tình trạng tuyệt vọng, sẽ không dám nghe lời xúi giục của “bọn quạ
đen” người Âu Châu để rồi ho-he, nhẩy ra tiếp tay cho chúng thi hành
điệp vụ thu thập tin tức tình báo chiến lược chống lại đất nước,
và sau đó, không còn có người nào
dám cựa quậy thò đầu ra đưa đường dẫn lối làm thông ngôn và làm chỉ
điểm cho quân lính Liên Minh Pháp – Vatican khi tiến vào tấn chiếm tổ quốc
Việt Nam. Ôn cố tri tân. Ngày nay chúng ta phải nên lấy kinh
nghiệm lịch sử trên đây làm bài học để đối phó với Vatican hầu
tránh cho đất nước và dân tộc ta cái đại thảm hoạ Da-tô mà người
Âu Châu đã phải tranh đấu, giẫy giụa cả bao nhiêu thế kỷ mới thoát
ra được và đang phải cố gắng tránh xa như tránh hủi như học giả Phan
Đình Diệm đã ghi nhận: “Giáo Hội Công
Giáo Roma La-tinh trong thời cực thịnh kinh bang tế thế, đội vương miện
cho các hoàng đế, tung hoành dọc ngang, làm mưa gió, thâu tóm cả thiên hạ
trong tay, tiền rừng bạc biển, đã không biết tự chế, không học bài học
khiêm hạ rửa chân, tự cao, tự đại, coi bàn dân thiên hạ như cỏ rác,
hôm nay hối bất cập, lịch sử còn nằm trơ ra đó. Người Âu Châu khiếp
sợ Giáo Hội và tránh xa như tránh hủi! Người Á Châu có thành kiến ghép Giáo Hội vào
ông Tây thực dân và chống thực dân! Người Châu Mỹ La-tinh đồng hóa
Giáo Hội vào đại họa diệt chủng! Và người Trung Đông làm sao quên
được 250 thánh chiến tàn bạo hãi hùng!” [23] CHƯƠNG 4 NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA TÍN ĐỒ GIA TÔ NGƯỜI
VIỆT Tìm hiểu lịch sử thế giới, chúng ta thấy rằng các dân tộc Âu Châu đã bị Đế Quốc La
Mã và Giáo Hội La Mã cưỡng bách phải theo đạo Da-tô từ thế kỷ thứ
4, các dân tộc Châu Mỹ La-tinh và Phi Luật Tân bị đế quốc Tây Ban Nha
và Giáo Hội La Mã cưỡng bách phải theo đạo Da-tô từ đầu thế kỷ 16.
Vì bị áp chế và cưỡng bách trong một thời gian quá dài như vậy, cho nên
tại các quốc gia Âu Mỹ, Châu Mỹ La-tinh và Phi Luật Tân, tín đồ Da-tô
chiếm tới hơn 90% dân số và đều là con cháu của những người đã bị
Giáo Hội La Mã cưỡng bách phải theo đạo. Dó đó, ta có thể kết luận
rằng, ngọai trừ một vài trường hợp đặc biệt, trong thời cận và hiện
đại, tín đồ Da-tô người Âu Mỹ và Phi Luật Tân không có hạng người “theo đạo lấy gạo đẻ mà ăn” và
cũng không có hạng người lưu
manh “theo
đạo để tạo danh đời” như
một số khá đông tín đồ Da-tô người Việt hiện nay. Vì không có những hạng người “theo đạo lấy gạo để mà ăn” và
không có hạng người “theo đạo tạo danh đời” cho nên,
ngoại trừ một nhóm thiểu số thuộc loại siêu cuồng tín, hầu hết tín
đồ Da-tô Âu Mỹ và Phi Luật Tân không có những hạng người vong bản,
phản dân tộc, phản quốc, nham nhở, trở tráo và lươn lẹo như bọn người
“Thà mất nước, chứ không thà Chúa” hay “Nhất
Chúa, nhì cha, thư ba Ngô Tổng Thống” như ở Việt Nam. Trên đấy là nói một cách tổng quát mà thôi. Để
có cái nhìn chính xác hơn về vấn đề này, thiết tưởng cần phải trình
bày đầy đủ với những chi tiết về chính
sách ngu dân và nhồi sọ của Giáo Hội La Mã suốt trong thời “trăm năm nô lệ giặc Tây” và khoảng
20 năm ở miền Nam Việt Nam đã ảnh hưởng sâu nặng vào tâm tư và hành
động của tín đồ người Việt và những người dù không phải là tín
đồ Da-tô nhưng vị ảnh hưởng sâu nặng hay bị điều kiện hóa bời
chính sách ngu dân của Vatican trong những thời kỳ này. Phần trình bày đưới đây sẽ làm sáng tỏ
vấn đề này.
Người Việt Nam thường nói "ở bầu thì tròn, ở ống thì dài."
và "con người là sản phẩm của nền
văn hóa mà họ đã hấp thụ". Hầu hết những tín lý, giáo điều, giáo luật
trong Thánh Kinh Kitô Giáo và những lời dạy của Giáo Hội là những điều
phí lý, gian dối lừa bịp, lọan luân, dâm lòan, trả thù theo kiểu "ăn miếng trả miếng" (‘tooth
for tooth’), võ đoán, chuyên chế, nặng tính cách cưỡng bách và bóc lột.
Nền vào hóa của xã hội Da-tô là như vậy. Các nhà lãnh đạo của Giáo
Hội từ những người nắm giữ chức vụ cao nhất như các giáo hoàng cho
đến những người ở cấp bậc thấp nhất là các linh mục đều là những
ác nhân mặc áo thày tu làm chính trị với những ác tính quay quắt, lắt
léo, lươn lẹo, không nói thành có, có nói thành không và trở mặt như bàn
tay. Những tên Da-tô Việt gian, Da-tô Hán gian và những tên tội đồ lưu
manh phiêu lưu quốc tế chống lại dân tộc và đất nước Việt Nam dân tộc,
chống lại dân tộc và đất nước Trung Hoa thì được phong thánh, tức
là nêu gương xấu xa nàycho mọi người trong xã hội Da-tô noi theo mà hành
xử. Tín đồ Da-tô được rèn luyện và hun đúc theo khuôn mẫu như vậy từ
thuở mới chào đời. Thử hỏi với thực trạng này thì làm sao họ không
giống như những người chủ chăn của họ mà chúng tôi đã nêu đích danh
ở trong Chương 3 trên đây? Chúng ta hãy theo dõi phần trình bày tiếp theo dưới đây để nhìn
ra sự thật đau buồn này: Mẫu người lý tưởng trong xã hội Da-tô vừa được
tạo nên theo hình ảnh của Thiên Chúa
Jehovah, theo (bị ảnh hưởng bời) những tín lý
trong Thánh Kinh vừa được đào
luyện theo những lời dạy và cung cách hành xử của Giáo Hội La Mã
, của các ông thánh và những người
mang chức thánh trong Giáo Hội. 1.- Con người tín
đồ Gia-tô theo hình ảnh của Thiên
Chúa Jehovah. Ông Thượng Đế Jehovah còn được Giáo Hội La Mã gọi là Đức
Chúa Cha hay Đức Chúa Trời. Sách Sáng Thê Ký (1:27) viết: "Đức Chúa Trời
dựng nên lòai người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như
hình Đức Chúa Trời." Nói đến hình ảnh
Đức Chúa Trời tức là hình ảnh Chúa Cha Jehovah. Thế nhưng ông Chúa
Jehovah này được sách Leviticus mô tả rõ ràng
trong Chương 26 từ điều 1 đến điều 18 là một hung thần với
những ác tính ganh ghét, đố kị, tị hiềm, cực kỳ tàn ngược và hết
sức dã man. Sách Sáng Thế Ký nơi
Chương 3 từ điều 14 đến điều 19 cũng ghi rõ hành động tàn ngược và
dã man của ông Chúa Cha này được thể
hiện ra trong những bản án trừng phạt con rắn, trừng phạt vợ chồng
Adam - Eve, trừng phạt con cháu đời đời của cặp vợ chồng đất sét
này phải mang cái "Tội Tổ Tông". Căn cứ vào những dữ kiện
này, ta có thể nói ông Thượng Đế Jehovah của đạo Do Thái và cũng là của Giáo Hội La Mã quả thật
là một siêu bạo Chúa. Đạo Da-tô dạy rằng con người (xin hiểu con người
ở đây là tín đò Da-tô) được tạo nên theo hình ảnh Chúa. Ông Chúa
Jehovah độc ác ghê tởm như vậy thì hiển nhiên là tín đồ Da-tô cũng
ác độc và ghê tởm như ông Chúa này, nghĩa là cũng có những bản chất
bạo ngược, hẹp hòi, ganh ghét, đố kị, tị hiềm, hung dữ, ưa thích trả
thù và cực kỳ tàn bạo như ông Chúa Cha Jehovah. 2.- Con người tín đồ Gia-tô bị ảnh hưởng hay được rèn luyện theo những
tấm gương trong Thánh Kinh, theo những tín
lý thần học, giáo luật, việc làm, và cung cách hành sử của Giáo Hội
La Mã..- Nói đến Thánh Kinh là nói đến những khu rừng những
chuyện hoang đường, những chuyện láo khóet và những chuyện lọan luân
dâm loàn. Sự kiện này được Giáo-sư Trần Chung Ngọc ghi nhận như sau: "Cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo (Christian Bible) là một cuốn sách không thích hợp để cho bất cứ hạng tuổi nào đọc. Các nhà truyền giáo, các linh mục, mục sư thường chỉ lấy một số điều trong đó một cách ngoài toàn bộ vấn đề để giảng và mê hoặc tín đồ, thường không quá 10%. Hơn 80% những chuyện trong Thánh Kinh là những chuyện bạo hành giết người (Violence & Murder), giết người hàng loạt (Mass Killing), loạn luân (Incest), ăn thịt người (Human Cannibalism), độc ác đối với trẻ con (Child cruelty), tục tĩu quá mức (Scatology), trần truồng (Nakedness), đĩ điếm (Harlotry), hiếp dâm (Rape), thù hận tôn giáo và chủng tộc (Religious & Ethnic Hatred), tự tử (Suicide), nô lệ (Slavery), say rượu (Drunkeness) ngoài những chuyện hoang đường không thể kiểm chứng được và những sự kiện sai lầm về thần học cũng như khoa học. Gene Kasmar là một trong những tác giả đầu tiên đã liệt kê tất cả những chuyện thuộc những loại trên từ trong Thánh Kinh của Ki Tô Giáo trong một cuốn sách dày 488 trang với nhan đề “Tất Cả Những Chuyện Tục Tĩu Trong Thánh Kinh” (All The Obscenities In The Bible), xuất bản năm 1995 [Unlocking the keys to the holy scriptures, Gene Kasmar is among the first to catalog ALL the obscenities found in the authorized version Bible, the King James Version], những chuyện không bao giờ được đọc ở trong các buổi lễ trong nhà thờ [The unexpurgated passages that are never read during worship services]. Năm 1898, Robert G. Ingersoll, một tư tưởng gia vĩ đại của Mỹ đã đưa ra một thách đố: “Ông ta sẽ trả $100 (năm 1898) cho bất cứ ông linh mục hay mục sư nào dám mang những đoạn mà Ingersoll trích dẫn từ Thánh Kinh ra giảng cho tín đồ trong các buổi lễ trong nhà thờ” và không một ai dám nhận sự thách đố này. Một cuốn sách mà nội dung như vậy, dù nó mang tên là Thánh Kinh, dù nó thích hợp với nền văn hóa Do Thái – Ki Tô hiếu sát, hiếu chiến, trịch thượng v..v.. không nên được bán tự do, cũng như những loại sách thuộc loại khiêu dâm, trong thế giới Âu Mỹ thì k |