1005-gd.gif (6609 bytes)
posted: 02.10.05 | revised:13.10.05
giaodiem's copyright
- Bài 1.                      

 Đời có những điều trắc trở. Tình yêu có những ngã rẽ bất ngờ. Như thế là có những tình ca cho cuộc tình ở lại, cuộc tình đã đi xa. Bản ''Tình xa'' của Trịnh công Sơn với ''Ngày tháng nào đã ra đi...cuộc tình nào đã ra khơi...'' đã là ngã rẽ bất ngờ đệm đàn cho một thi khúc ''Tống biệt hành'' mà ''Hai sắc hoa Ti-gôn'' đã trở thành huyền thoại trong văn học Việt Nam.

Cái tên T.T.Kh có liên quan đến Thâm Tâm. Đề cập Thâm Tâm là nói đến ''Tống biệt hành''. Cũng vậy khi ta nhắc đến ''Hai sắc hoa Ti-gôn'' là nghĩ đến T.T.Kh. Vậy, “Tống biệt hành” với ''Hai sắc hoa Ti-gôn''... có liên quan gì qua từ mang tính cách ám thị ''Người ấy'' trong những  thi phẩm đặc biệt này ?

THÂM TÂM NGUYỄN TUẤN TRÌNH (1917-1950)     

A. Thời đại, con người và thi phẩm:  

Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc, Pháp nằm trong danh sách nước thắng trận nhưng nợ Mỹ ngập đầu. Nợ sâu thì bấu nặng. Pháp phải dùng dự luật ''Khai thác thuộc địa'' năm 1921 vào ba nước Đông Dương. Cuộc khai thác này đã sản sinh ra tầng lớp tiểu tư sản, tư sản và làm phá sản giới thợ thủ công.   

Nguyễn tuấn Trình xuất thân từ gia đình tiểu tư sản mà bố là giáo viên. Cách mạng tháng Tám thành công, những chàng trai mới lớn không ''bỏ văn chương học võ biền'' như Tú Xương mà cùng Chính Hữu ''vác trăng vàng treo trên đầu súng''. Người vệ quốc quân ấy đã một lần ra đi không hẹn ngày trở lại vào năm 1950 tại Cao Bằng lúc chiến dịch biên giới thu đông bùng nổ...

''Tống biệt hành'' vượt qua mọi thời đại cùng tên tuổi của Thâm Tâm đi vào lòng người và dòng thi ca có thêm một thi phẩm bất hủ.

I. ''Tống biệt hành'' với cách nhìn của các giáo sư, tiến sĩ và giới nghiên cứu văn học:

1. ''Tống biệt hành'' (TBH) với Hoài Thanh-Hoài Chân (HT-HC) trong ''Thi nhân Việt Nam'' (TNVN):

Cuốn ''TNVN'' được coi là cái ''nền'' khi ai đó muốn tìm hiểu về những người thi nhân của thời xa xưa ấy. Vì ''xa xưa'' cho nên có những lời nhận xét cần được xem lại, những thi nhân cần được hiểu thêm để đánh giá, trả họ về đúng vị trí. Với những ''nhận xét, đánh giá'' cần coi lại đó thì giới nghiên cứu, phê bình, bình luận trong tay có ''cái roi ngựa'' của Ts. Lê tiến Dũng cũng không dám ''quất'' vào dù chỉ là ''quất cho có''!

Với 67 từ vỏn vẹn, HT-HC dùng để giới thiệu thi phẩm ''Tống biệt hành'', tạm thời chia hai loại :

- Loại một, HT-HC cho rằng TBH ''Vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại''. Nhận xét này có thể chấp nhận nhưng cần hiệu đính lại từ ''thời đại'' thay vào bằng ''thi phẩm''. Bởi lẽ, ''mây có cụm, gió có nguồn''. Thời đại lúc ấy đã qúa rõ ràng: Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Cuộc chiến với thời ly loạn có gì ''khó hiểu''!. Thời buổi giao mùa Tây-Tàu lẫn lộn nên ông Đồ  già của Vũ đình Liên cô đơn trong thế giới cực kỳ thê thảm ''Giấy đỏ buồn không thấm. Mực động trong nghiên sầu.'' thì tầng lớp tiểu tư sản có sự chọn lựa nào khác hơn? Không vào quân đội  như Thâm Tâm, Quang Dũng thì làm cánh chim lìa đàn như Nguyễn Bính, Vũ trọng Cang ...

Trở lại TBH, HT-HC viết : ''nhưng bài thơ ấy làm sống lại cái không khí riêng của nhiều bài  thơ cổ.''  Nhận xét này làm cho các nhà nghiên cứu phải mở lại những trang sách thời Đường của Trung Quốc với những bài  thơ cổ nổi tiếng theo thể ''Hành'' : Từ Hành của Đỗ Phủ, Bạch cư Dị đến Việt Nam với Nguyễn Du, Cao bá Quát, Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm ...Ðây là một ý hay.

- Loại hai cần xét lại khi HT-HC cho rằng: ''Tống biệt hành'' có ''Điệu thơ gấp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi. gân guốc. không mềm mại uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ.'' (Người viết giữ nguyên lỗi ngữ pháp trong lời nhận xét này). Các nhà nghiên cứu lại xem đó như ''kim chỉ nam'', là ''cẩm nang'' khi viết bài về ''Tống biệt hành''. Họ quên mất ''Tống biệt hành'' sở dĩ gia nhập làng ''thơ mới'' muộn màng nhưng lại có sức sống, tiếng vang là vì cái gì nếu không có giá trị hiện thực và hình tượng?. Người ta cũng quên đi loại thơ tình cảm lấy nước mắt, xé lòng đọc giả làm sao có cái giọng điệu ''rắn rỏi, gân guốc''! Nhận xét này của HT-HC dùng cho những bài văn, thơ tuyên truyền, cổ động như những bài ''Á tế á ca'' của Phan bội Châu...thì chính xác hơn!   Vì nhận xét như thế nên khi HT hạ bút : ''Thơ thất ngôn của ta bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong'' thì cũng nên xem lại. Thật ra, thơ Ðường  thất ngôn, ngũ ngôn, tự do không khác nhau gì mấy nếu nói về  nghệ thuật. Nó cũng chẳng khác bao nhiêu về nội dung với những tính ướt lệ, tượng trưng, điển tích ...nhưng có khác là khác ''chất Việt Nam'' hiện đại hơn một thời gian nghìn năm trước đó nên cùng đề tài nếu thơ cổ thể chuộng cái ''thực'' thì thơ Việt Nam thời ly loạn  thích cái ''mộng'' dẫn tới chẳng bài nào giống bài nào dù cùng một đề tài ''Tống biệt'' (Xem phần 16 nhà thơ Ðường và các nhà thơ Việt Nam với đề tài ''Tống biệt'' sau).

Tuy nhiên lời nhận xét của HT-HC về TBH ''khó hiểu'' là không sai. Thi phẩm này vẫn khó hiểu cho đến muôn đời và những ai từng nghiên cứu về ''một thời đại trong thi ca'' vô cùng ''cám ơn'' về lời nhận xét trên. "Kính lão đắc thọ'' chắc vậy nên các giáo sư, tiến sĩ, những nhà nghiên cứu không ngần ngại mang 67 từ nhận xét của HT-HC ''chặt khúc'' ra rồi tùy theo khả năng mà truyền lại cho giáo viên, học sinh và độc giả với mức độ thành công khác nhau.

Sau đây là những ý kiến của sáu tác giả viết về TBH.

2. ''Tống biệt hành'' với Lê tiến Dũng trong "Giờ văn ngoài lớp'' -Nhà xb trẻ:

Bài viết này, tác giả sau khi phân tích xong đã nhận định: ''Chỉ một Tống biệt hành cũng đủ để đóng dấu tên tuổi ông vào thi ca một thời.'' Nói như vậy, thời chúng ta, TBH có còn giá trị là một bài thơ hay nữa không ?. Tất nhiên, không phủ nhận Ts Lê tiến Dũng có những câu nhận xét đúng theo thi phẩm : ''Bài thơ tống biệt có kẻ ở người đi. Người ở mà lòng xao xuyến tái tê, kẻ đi cũng đau đớn trĩu lòng.''

Với lời người ra đi, Lê tiến Dũng viết : ''Nhưng dù sao người ra đi vẫn quyết chí lên đường để thực hiện chí lớn của mình chứ chất định không chịu ở trong cảnh ngột ngạt tù túng. Cái chí quyết tống biệt ấy làm cho bài thơ thật giàu chất lãng mạn.''  Cái ''giàu chất lãng mạn'' phải là cái ướt át của thơ ca có mây, có nắng, có gió, có bình minh, có chiều tà, có mùa gọi mùa qua từng lời bỡ ngỡ...thì làm sao mà ''gân guốc, rắn rỏi'' như HT-HC nói hay ''trầm hùng, bi tráng'' như Lê tiến Dũng bảo ?. Người đọc thật sự ngỡ ngàng khi phải xoáy sâu vào cái ''chí lớn'', cái ''ngột ngạt tù túng'' chưa có căn cứ, chưa thật rõ ràng để trả lời câu hỏi ''ngột ngạt, tù túng'' vì cái gì? Xã hội hay thời đại hoặc chế độ mang lại ?  Bởi vì, nhân vật ''ra đi'' trong ''Tống biệt hành'' của Thâm Tâm cũng như Dũng trong ''Đoạn tuyệt'' của Nhất Linh chẳng biết định hướng con tàu mình đi đâu, về đâu ?. Cái chí ''quyết tống biệt'' ấy mơ hồ có phải là ý thật của bài thơ có nhiều đối lập, nhiều sự dằn vặt chết người này? ''Tống biệt'' cái gì? Ðưa tiễn ai? Ai là người đi? Người nào là kẻ tiễn? Tống biệt là tiễn đưa. Quyết tống biệt là quyết tiễn đưa. Nếu nói ''bài thơ tống biệt có kẻ ở người đi'' thì chẳng lẽ người đi đủ quyền ngược đời "quyết tống biệt (tiễn đưa) người ở", ngược lại, người ở sao lại ''quyết tống biệt người đi?'' Vậy thì Lê tiến Dũng đã có chỉ ra ý chính ''quyết tống biệt'' của toàn bài rất xác đáng  nhưng lý giải người nào là chủ thể quyết định sự ''tống biệt'' và ''tống biệt cái gì ?'' thì chưa .

3. ''Tống biệt hành'' với Mã giang Lân trong ''Tuyển tập 450 đề và bài văn'' -Nhà xb Đà Nẵng :

Tác giả dẫn giải hai nhà thơ đời Đường : Thi tiên Lý Bạch, thi thánh Đỗ Phủ để nêu bật hai đối lập về trường phái lãng mạn và hiện thực nhưng cùng ''Tống biệt hành'' có cái xa xưa buồn với chiều tà, dòng sông, hình ảnh người đi, kẻ tiễn trong ''Tống biệt hành'' đều được hầu hết những tác giả có bài viết về nó liên tưởng đến một điển tích quen thuộc : Hình ảnh tráng sĩ Kinh Kha được thái tử Yên Đan đưa tiễn (đi thích khách tên bạo chúa Tần thủy Hoàng) bên bờ sông Dịch :

                    Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn,
                    Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn.

(Gió hiu hắt chừ, sông Dịch lạnh tê. Tráng sĩ một đi chừ chẳng trở về.). Cũng vì mắc vào lý giải cho được cái lý do ''ra đi'' của ''ly khách'' trong ''Tống biệt hành'' mà Mã giang Lân đã cho qua cái chất ''buốt lòng'' của người  ra đi, quên mất cái phần ''sắc màu lãng mạn'' cần phải có của thi ca mà Lê tiến Dũng có đề cập. Bởi cảm nhận chủ quan chưa chín nên sa vào sự ''áp đặt'' đáng tiếc. Tác giả viết : ''Đến lúc biết được đường lối cứu nước của Việt Minh thì Thâm Tâm đã bày tỏ lòng mình với người ra đi vì việc lớn''!!!. Người viết còn khẳng định đó là người chiến sĩ ra đi vì ''việc lớn'' qua từ ''ly khách''!!!. Thật ra, thi phẩm ''Tống biệt hành'' tính luôn cả đoạn cuối bị cắt bỏ có 26 câu thì đâu có từ nào có ''chiến sĩ'' có ''Việt Minh'' gì?.

Phân tích, bình thơ dĩ nhiên, tác giả có quyền liên tưởng, suy diễn. Sự suy diễn, suy đoán phải dựa trên sự cảm thụ sâu sắc, thông cảm, rung động thật sự để mạch cảm xúc đi vào lòng người đọc qua ngòi bút của  mình. Sự suy diễn này cũng không nhất thiết phải giống người khác. Có như vậy, chúng ta nhận được tác dụng tốt cả ba chiều: Tác giả viết, người sáng tác và độc giả  -nhưng ngược lại, nếu áp đặt, dù mang tính chất vô tư hay ''lấy lòng'' đều phản tác dụng nếu không bị coi là ''non tay nghề'' hoặc chưa đủ ''công lực''.

Tác giả TBH sẽ buồn lòng khi người bình, phân tích suy diễn hai người chị trong thi phẩm ''Một chị, hai chị cùng như sen'' thành ''những người chị xác xơ, tiều tụy như sen cuối hạ, đã khuyên em nhiều, đã khóc nhiều để đến lúc chia tay, các chị cũng chỉ còn vài giọt lệ sót của ly biệt'' như một sự áp đặt, diễn xuôi thê thảm các nhân vật mà tác giả hết lòng thương yêu như trong văn bản đã nêu nhưng người đời chưa kịp cảm nhận và chia xẻ .

Càng đi vào cuối bài văn ''làm dùm'' cho học sinh luyện thi tú tài, đại học này, độc giả càng mơ hồ vì không hiểu  nổi với những cái từ ''nguyên âm mở, phụ âm vang'' ...chống lại ''sự bào mòn của câu chữ quen tay'' mà người viết dùng. (Nên nhớ thi phẩm này có nhiều dị bản. Nếu bám chặt quá vào  ngữ pháp thì phải nên so sánh, đối chiếu và  nêu cho được tại sao mình chọn từ này mà không chọn từ khác?).

4. ''Tống biệt hành'' với Trần đình Sử trong ''Giảng văn chọn lọc VhVN'' - Nxb Đh.Qg. HN và trong ''Tuyển tập 450 đề và bài văn'' Nhà xb Đà Nẵng:

Mở đầu, tác giả dùng lại từ của HT-HC để nhận xét ''Tống biệt hành'' : ''Giọng thơ gân guốc, rắn rỏi''. Tuy nhiên,khi tác giả cho rằng "Bài thơ buồn nhưng không sụp xuống cũng như dứt khoát, dửng dưng mà không vô tình'' thì nội dung bài thơ ca ngợi ''một người giã nhà ra đi theo chí lớn mà vẫn nặng lòng lưu luyến, bịn rịn với gia đình'' là một ý sáng. Chỉ có điều, tác giả lý giải ''dửng dưng mà không vô tình'' đứng về mặt nghĩa từ là chưa chính xác . ''Dửng dưng'' : Tính từ : là quay lưng, là lạnh nhạt  như trong ''dửng dừng dưng'' ví dụ: ''Dửng dừng dưng chẳng đoái hoài người ta'' tức là ''vô tình, bạc nghĩa'' rồi còn gì !. Nó khác với sự dễ thương của từ ''vô tình'' tính từ chỉ tính cách làm như chả cố ý ví dụ : ''Vô tình để gió hôn lên mắt'' hay ''Em qua đó vô tình mắc nợ'' (Thơ Thùy Lam). Vậy thì từ ''vô tình'' theo nghĩa ''bạc, nhạt, lạt'' là mặt phải của từ ''có tình'' nên không thể với ''dửng dưng'' "ngồi cùng một chiếu, đắp cùng một chăn''. Hai tính từ chỉ cùng mức độ cùng một nghĩa có lý nào phủ định cho nhau bằng liên từ ''nhưng''. Ví dụ : Không thể nói : ''buồn nhưng không sầu'' hay ''hạnh phúc nhưng không vui vẻ''. Làm gì có kẻ ''dửng dưng'' mà ''có tình'' bao giờ? (Nếu dùng trong cách ''chơi chữ'' thì hay quá như ''Quạ mà không đen. Mỹ mà không đẹp. Bông hồng mà không hồng. Mù mà không đui. Tóc bạc mà không trắng ...!!!''). Từ chỗ đây, ta có thể suy ra ''có một con người đang buồn vì buột lòng phải dửng dưng với một cái gì đó mà mình không muốn.''  Cái ''dửng dưng'' đó là cái gì ? Tác giả chưa nghĩ ra nên lại phải mượn nguồn tư duy khác cũng từ suy nghĩ của thực tiễn mà khắc họa nên hình tượng người ra đi. (Lẽ ra dùng từ hình ảnh mới đúng. Hình tượng là cái gì lớn lao, mang vóc dáng một thời đại, mang ý nghĩa một chân lý, đại diện một tầng lớp người với những khát vọng tương lai. Ví dụ như hình tượng người chiến sĩ trong ''Dáng đứng Việt Nam'' của Lê anh Xuân ngã xuống đường băng Tân sơn Nhất đại diện cho lớp người dám hy sinh vì tổ quốc; hình tượng chị Dậu trong ''Tắt đèn'' của Ngô tất Tố đại diện một lớp người bị áp bức đánh lại kẻ áp bức trong đơn độc; hình tượng Thúy Kiều trong ''Truyện Kiều'' của Nguyễn Du là nạn nhân của một chế độ phong kiến đến hồi suy đồi... Không ai nói ''hình tượng ly khách'' ngay cả! Muốn trở thành ''hình tượng'' trước hết tác giả phải cho người đọc thấy được ''hình ảnh'' ly khách trong bài thơ rồi từ đó nâng cao thành ''hình tượng'' cho cả một thời đại.

Đi vào lĩnh vực nghiên cứu, phê bình ...ta lại đụng chạm phần lý luận văn học cần phải vững vàng. Phê bình cần lý luận văn học như người viết cần cây bút. Mất cây bút, mười ngón tay có giỏi cũng chỉ được cái ...nhúng mực vẽ...mười con ...giun đất như Trạng Quỳnh trong giai thoại mà thôi! Đúng như Giáo sư Lê ngọc Trà trong văn học 12 tập 2 -Nhà xbgd có viết : ''Như vậy giữa điều tác giả nói ra và người đọc tiếp nhận không phải lúc nào cũng trùng hợp.'' Cũng có thể hiểu rằng suy diễn áp đặt cho thi phẩm là vì mức cảm thụ văn học giữa người đọc về tác phẩm đã bị hạn chế trong ''cách cảm thụ văn học thứ hai'' của Lê ngọc Trà : ''dẫn đến chỗ hiểu sai lệch hoặc làm nghèo nội dung của tác phẩm'' dù cách đọc này ''đòi hỏi một trình độ cao hơn''.

Dựa trên lý lẽ đó, tác giả Trần đình Sử đã ứng dụng vào ''ly khách'' trong ''Tống biệt hành'' như thế nào? Tác giả cho đó là một ''người trượng phu'' giống như Kinh Kha, như ''chàng tuổi trẻ trong Chinh phụ ngâm''. Ngầm hiểu như thế là chưa đúng hẳn. Kinh Kha mang trong người một quyết tâm hành thích cho được Tần thủy Hoàng. Đó là một chí lớn. Chàng tuổi trẻ trong Chinh phụ ngâm ra sao? Hãy nghe Ðặng trần Côn giới thiệu:

              Lương nhân nhị thập Ngô môn hào
              Đầu bút nghiên hề, sự cung đao.
              Dục bả ''liên thành'' hiến Minh thánh
              Nguyện tương xích kiếm trảm thiên kiêu.

(Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt. Xếp bút nghiên theo việc đao cung. Thành liền mong kiến bệ rồng. Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời. -Đoàn thị Điểm dịch). Đó là một chí lớn. Còn ''ly khách'' của Thâm Tâm ? "Chí lớn'' nào ở đây? Tác giả đã không đề cập, chỉ nói ''chí nhớn chưa về bàn tay không'' mà thôi nên ta cũng chỉ dựa theo văn bản mà ngôn ngữ đã có rồi tự nghĩ ra, lý giải ý của mình sao cho phù hợp  dù biết rằng nhiều khi đi đúng ý tác giả cũng chưa chắc đã hay hơn hoặc dở hơn.

Cũng như các tác giả khác, Trần đình Sử đã cho hai chị của người ra đi là ''sen cuối mùa hạ'' trong khi Thâm Tâm chỉ tả: ''Bây giờ mùa hạ sen nở nốt'' mà thôi! Sự tiễn đưa giữa người đi, kẻ ở giữa ''bổn phận gia đình và lý tưởng'', tác giả bài viết có đưa ra được nhưng chưa thật sự lôi cuốn độc giả cho lắm nhưng ý này coi như là cái ''phao'' có thể nói là một cách nhìn thông cảm của người viết : ''Ly khách đã ra đi trong tình cảm luyến tiếc sâu sa''. Tuy nhiên, Trần đình Sử vác ''người trượng phu'' vời vợi vào đây làm cho ''ly khách'' bé nhỏ kia ''gân guốc, rắn rỏi'' lên một cách khiên cưỡng làm sao mà phù hợp với ''người ấy'' trong đôi mắt ''đầy hoàng hôn'' mà thi phẩm đã dựng lên? Ly khách chỉ là người đi xa mà thôi. Mức độ giữa những từ : Ðại trượng phu, anh hùng, tráng sĩ, chinh phu thì ly khách được xếp hạng ...em út bởi chưa làm nên tích sự gì cho đời cả. Cho nên, không thể so sánh ''chí nhớn'' với những bật ''cha chú'' để nói về hình ảnh ''ly khách''. Tác giả cũng chưa chỉ ra được ''vì sao người con trai kia cần phải chọn một trong hai" ''gia đình'' hay ''lý tưởng''?. Người cha ''trụ cột'' gia đình đã ở đâu ? Giả sử cách giải quyết ''tình nhà và lý tưởng'' vẹn toàn mà thi phẩm có ẩn ý thì ta hãy chọn để thi phẩm thêm được một giá trị cao hơn giá trị đã có mà không phải dằn vặt ai hy sinh cho ai cả. Trần đình Sử có đi qua nhưng không dừng lại.

Tất nhiên, tác giả cũng cố gắng lèo lái người đọc đi từ hình thức nghệ thuật sang nội dung như lối phân tích ''truyền thống'' (Thật ra, cách phân tích ấy cần xem lại vì chúng đi nghịch với cảm xúc) để ca ngợi ''Tống biệt hành'' đã ''gieo vào lòng người một ý vị bâng khuâng, xốn xang.''.  Và ta thấy rằng cái ''ý vị'' đó có chưa hẳn là vì luật bằng trắc như tác giả quan niệm mà vì nguồn cảm xúc tinh tế, dạt dào, tràn trề của Thâm Tâm mang vào ngọn bút. (Khả năng này không phải ai cũng giống nhau).

Hình ảnh Kinh Kha đã không cần thiết khi phân tích, bình luận thi phẩm này với một vài tác giả dưới đây :

5. ''Tống biệt hành'' với Trần đăng Xuyền trong ''Giảng văn Văn học Việt Nam'' –Nhà xbgd :

Tác giả cũng như những người khác đều sử dụng ''cẩm nang'' của HT-HC làm lời dẫn và cũng so sánh hơi thơ của ''Tống biệt hành'' với hơi thơ cổ : ''Nói nhiều cái không để tô đậm, làm nổi bật lên một cái có thật là tâm trạng buồn tê tái của con người.'' Cái ''buồn tê tái'' này trong TBH là buồn tê tái của ai? Người đi hay người ở? Chàng hay nàng? Romeo nhớ Juliet hay Kiều ở lầu Ngưng Bích với ''Những nỗi lòng tê tái''?.

Con đường mòn quả thiệt dễ đi ''Êm ái qúa ai đi mà nhớ ngó. Đến khi hay gai nhọn đã vào xương.'' như Xuân Diệu trong "Dại khờ'' đã nhắc nhở. Như các bài viết khác, Đặng trần Xuyên đã đi theo con đường mòn này khi sử dụng "gân guốc, rắn rỏi'', với chị ''tàn tạ như sen cuối hạ''. Phân tích thơ như vậy là tập cho học sinh thuộc lòng bản cửu chương hai mà chẳng ''động não'' tư duy để phát hiện điều gì mới mẻ. Có một điều ngạc nhiên là tác giả đã không đưa hình ảnh tráng sĩ Kinh Kha vào đây. Cố ý hay quên thật cũng là điều tốt vì đã nói mức độ lý tưởng của ''tráng sĩ'', chàng ''ly khách" kia còn xa mới với tới và sự ra đi không cần thiết phải vác hình ảnh Kinh Kha vào làm gì trong khi những tấm gương như thế ở Việt Nam có thiếu đâu?.

Tiếng nói thầm mở đầu của TBH qua tác giả là ''cực tả tâm trạng xao xuyến buồn tê tái của lòng người lúc chia tay.'' Dĩ nhiên học sinh (HS) sẽ nắm được các ý này để làm bài:

- So sánh TBH với thơ cổ để thấy sự nổi bật không lập lại khi TBH không dùng giòng sông chia ly như trong thơ cổ. (Ta có thể nói thêm : Dòng sông cũng còn có một nghĩa tượng trưng rất ngậm ngùi là sang ngang. Trong âm nhạc, điều này thể hiện rất rõ qua các ca khúc )

- HS cũng sẽ thấy được cái ''chí lớn'' của người ra đi, gạt bỏ hết mọi thứ với sự ''dửng dưng'' mà ''trong đôi mắt u ẩn vẫn chất chứa nỗi sầu ly biệt.

- HS cũng hiểu được hai tâm trạng người đi, kẻ ở với điệu thơ ''rắn rỏi, gân guốc''.

- HS thương dùm hai chị ''tàn tạ như sen cuối hạ''! (Quái lạ! Các ông ai cũng đồng lòng cho phụ nữ khi chia ly đều ''tàn tạ'' nhanh chóng, ai cũng cho sen cuối hạ là sen lụi tàn mà quên rằng ''trong đầm gì đẹp bằng sen!''  Ý đẹp tuyệt vời này trong thi phẩm mà không ai nhìn nhận!). Thật ra, vấn đề đặt ra trong ''Tống biệt hành'' : Ai đi? Ai ở? Ai đợi? Ai chờ? Đi đâu? Làm gì? Chí lớn? Chí nhỏ? Chị khuyên em trai cái gì? Ai thà? Ai coi ai? Đặng trần Xuyền cũng như các tác giả khác vẫn đặt nặng và chưa vén được bức màn bí mật. Thử nghĩ cần hay không cần cụ thể như thế  khi phải đi cặn kẽ tìm vào những sự vật, sự việc mà nhiều khi chỉ là sự hư cấu của tác giả ? Trần đình Sử thấy được ''nỗi buồn'' nhưng lại chưa nêu ra được vì sao ngoài sự buồn vì chia tay gia đình. Nếu chia tay với gia đình thì người tiễn phải là người trong gia đình  chớ sao lại có ''tác giả'' tiễn đưa người nam trong gia đình kia đi? Tác giả có phải là người trong gia đình không? Các tác giả trên vì đi theo cách bổ dọc từng đoạn nên tạo ra sự nhập nhằng giữa người tiễn và người đi sẽ còn mãi nếu ta cứ đi theo từng đoạn mà phân tích bởi ý đoạn này sẽ nối tiếp ý cho những đoạn, câu khác trong bài đôi khi trùng nhau về câu nhưng lại khác ý. Có khi đang xem xét ở đoạn này lại phải mượn câu đoạn khác minh họa.

Dưới đây là bài viết đi hướng chẻ đoạn :

6. ''Tống biệt hành'' với Nguyễn hưng Quốc trong "VN thư quán'' (Hải ngoại):

Toàn bộ bài bình thật ngắn gọn hình như chưa làm được cái việc ''bình'' mà chỉ là trích ngang, minh họa. Tuy nhiên, tác giả có vài chỗ nêu những ý sắc nét nhất là gần cuối bài. Tác giả cũng đồng ý như những người khác cho TBH ''Có lẽ là một trong những bài thơ hay nhất của thời 30-45'.'' Thật ra, TBH phải được xếp vào danh sách những bài thơ hay nhất cả mai sau. Thơ hay là thơ của muôn đời chớ không phải bị hạn hẹp bởi bốn bức tường của một giai đoạn. Những bài thơ hay chỉ có thể lớn theo cùng năm tháng, chạy song đôi với thời gian chớ không bị cô lập bởi phạm vi tư tưởng của thời đại. Muốn đưa TBH vào danh sách ''top'' chỉ còn chờ người chạy tiếp sức bước cuối cùng.

Nguyễn hưng Quốc đã cho rằng trong TBH có ''hai lời độc thoại của một người đi, một người tiễn'' nhưng cũng không biết họ là ai? Hiện nay, những bài viết về TBH mới chỉ ''lượn tròn, lượn khéo'' như bướm lượn vườn hoa chưa tìm ra cái ''nhụy''. Đấy mới là ''chút khó hiểu'' của thi phẩm chớ không phải ''chút khó hiểu của thời đại'' như HT-HC đã nhận định.

Cái ý mới của Nguyễn hưng Quốc là đưa ra thêm một ''người yêu'' đưa tiễn: ''Chị em và người yêu lưu luyến như thế ấy chẳng lẽ đành tâm ra đi?'' nhưng chưa chỉ ra được, dẫn giải đâu là hình ảnh ''người yêu''. Rõ ràng, những tác giả có dù có trình độ có sự cảm thụ văn học nhưng khả năng tìm cho ra cái ''lỏi'' của ''Tống biệt hành'' đến nay họ đều chưa có ''chìa khóa''. Điều này chưa hẳn là họ ''non tay'' mà chính vì tác giả TBH khéo lẫn núp dưới nhiều lớp ''ngụy trang'', dưới nhiều sắc áo qúa : Mẹ, chị em, bạn bè...để giấu đi hình bóng ''người ấy'' suốt sáu, bảy chục năm qua. Và có một điều chắc chắn là vì muốn cho thi phẩm được ''thương yêu'' này có thêm giá trị tống biệt nên bài viết nào cũng cố gắng đi tìm nghĩa mới lạ mỗi người mỗi vẻ nhưng ''tư tưởng lớn'' gặp nhau không ở con đường lạ mà lại ở con đường ...''trùng''.

Nguyễn hưng Quốc có chút mới khi đưa bốn câu cuối bài thơ đã bị cắt bỏ khi đăng trong ''Thi nhân Việt Nam'' mà Nguyễn tấn Long, Nguyễn hữu Trọng dựa theo nguyên bản đăng trên ''Tiểu thuyết thứ bảy'' phục hồi là một ý hay nhưng tác giả lại đồng ý sự cắt xén đó :

                     Mây thu đầu núi, gió lên trăng
                     Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.
                     Ly khách ven trời nghe muốn khóc
                     Tiếng Đời xô động, tiếng hờn câm.

Tác giả nêu lý do cắt bỏ bốn câu cuối vì : ''lạc điệu, lạc thi pháp, lạc giọng, lạc tứ..'' đã ''xóa tan hình ảnh nghênh ngang, hào sảng...Biết cường điệu mà vẫn thấy đẹp'', biến ''ly khách thành nhỏ nhoi, thảm thương'' : ''ven trời nghe muốn khóc''. Cho nên, tác giả đồng tình với Thâm Tâm hay Hoài Thanh : ''Cho dù do ai, sự cắt bỏ ấy cũng rất tài tình''. Tài tình hay không thì sự tự tiện cắt bỏ một văn bản cho theo ý mình là một sai phạm nên tránh. Nếu bốn mùa là của cuộc đời thì văn học không của riêng ai. Mình cho mình đúng nhưng người khác chẳng đồng ý như thi phẩm TBH bị cắt bỏ này. Thơ văn của đời thôi hãy để cho người đời đọc với nhiều ý kiến khác nhau càng hay chớ sao!.

Chính vì quan niệm ''cắt bỏ tài tình'' ấy đã đẻ ra nhiều văn bản bị tự tiện sửa đổi từ câu đến ý. Thành ra, nếu chúng ta cứ phân tích, bình luận theo nghệ thuật với những ''biện pháp tu từ'' thì cần thận trọng : Thi phẩm ''Tống biệt hành'' đã có nhiều từ bị đổi ngay cả dấu câu, ngôn từ địa phương... cũng chẳng biết đâu là nguyên bản. Chẳng trách gì người bình, phân tích lắm lúc đi lệch lạc, đôi khi sa vào phần ''phụ diễn'' áp đặt thái quá! Nếu người phụ diễn khá vững vàng : phong cách viết (khả năng cầm bút), giải quyết vấn đề tác phẩm (khả năng rung động) thì mang lại cho đọc giả những cơn mưa mùa hạ, bằng không chỉ mang lại nắng cạn của ngày đông.

Tác giả thứ hai đi theo cách bổ dọc :

7. ''Tống biệt hành'' với Chu văn Sơn trong ''Phân tích, Bình giảng tác phẩm Văn học 11.” –Nhà xbgd:

Chu văn Sơn (CVS) đã mang lại cho người đọc ''nắng cạn mùa đông'' hay ''cơn mưa mùa hạ'' khi phân tích thi phẩm TBH?.

Tác giả thực sự chú trọng vào trình độ học sinh nhưng không sa vào chủ nghĩa sơ sài : Viết cho xong. Viết cho có. Viết lấy lệ. Tác giả lướt qua con đường phân tích sáo mòn để cố gắng rút lại cho thi phẩm khá nhiều ''khó hiểu'' này ''điểm sáng chọn lọc”. Đó cũng chính là sự tôn trọng độc giả, hướng họ nhìn nhận, cảm thụ, hiểu tác phẩm với cách mới nhất mặc dù trong cách này vẫn còn đôi chỗ giữ nguyên ý cũ .

Bài thơ nào cũng có chỗ hay, chỗ chưa hay. TBH có bốn câu đầu hay nhất mà Chu văn Sơn đã chỉ ra được so với các bài khác khen chung.

Phân tích tác phẩm phải đưa tác phẩm về nguyên bản của nó. Chu văn Sơn và Nguyễn hưng Quốc đã đưa vào bốn câu cuối bị cắt bỏ nhưng cả hai đều không giống nhau ở câu thứ ba mà chưa biết bản nào đúng hơn? (Xem phần ''Tống biệt hành'' với nhiều bản sao khác nhau phần gần C cuối).

Đưa tác phẩm trở về nguyên vẹn của nó để tác phẩm biểu hiện được ''tầm khái quát, sự sâu sắc và tính chân thật'' của tác phẩm như Giáo sư Lê ngọc Trà nhận định. Chu văn Sơn tránh không lặp lại từ ''gân guốc, rắn rỏi'' mà các bài viết trên đều sử dụng. Phần vào đề rõ ràng, hấp dẫn khi nhắc đến Thôi Hiệu để dẫn đến Thâm Tâm. Có thể mượn lời nhận định của Giáo sư Lê ngọc Trà để nói cho ''Tống biệt hành'' như sau : ''Tác phẩm văn học luôn sống động nhờ sự tiếp sức của bạn đọc''.

Thật như thế, bài viết, bài sáng tác chỉ mới là khởi đầu của một cuộc chạy tiếp sức. Người bình, phân tích và bạn đọc chính là những người đưa tác phẩm đến của đường đua. Chu văn Sơn đang ở gần cuối con đường chạy đó. Cũng giống như những tác giả viết về TBH khác lấy câu cuối của HT-HC : TBH có ''chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại'' nhưng lại khác ở chỗ Chu văn sơn dùng để lý giải cái khó hiểu của bài thơ từ nhiều năm nay qua dẫn chứng : ''Báo giáo dục, thời đại và Báo văn nghệ 92,93'' tranh luận nhưng chưa đi đến đâu và thi phẩm vẫn ''Cứ gây khó hiểu cho thời đại này''. Ta thấy thật khó lòng trách họ khi bản thân Nguyễn tuấn Trình với cái bút hiệu Thâm Tâm liên quan đến bút hiệu T.T.Kh làm thiên hạ mù mờ không biết bài nào là thật của người nào?.  Nằm dưới đất rồi, Thâm Tâm có ''mở mắt'' nhìn ngược lên trần gian xem người đời viết về mình mà ...cười thầm không khi người ta cứ hỏi : Người ra đi là ai?

Đi vào trả lời câu thắc mắc trên, CVS bám vào từ ''ly khách'' nhưng không phải là người ''chiến sĩ'' như Mã giang Lân cũng chẳng nhất thiết là người chinh phu như Trần đình Sử so sánh... mà chủ yếu là giá trị ''nội dung thẩm mỹ của hình tượng ly khách''.

Phân tích tác phẩm là tìm ra cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Bình một tác phẩm là xem xét sự tìm tòi đó, phát hiện đó có đúng hay không? Cái hay, cái đẹp lại nằm trong những hình ảnh, hình tượng và lẫn trốn chung quanh từ ngữ, câu chữ với những mâu thuẩn, những nghịch cảnh ...đòi hỏi người phân tích phải có một bản lĩnh. Trong khi đó, cái đúng sai nằm trong văn bản đòi hỏi sự chính xác và người bình phải có một bộ óc phán đoán sáng suốt, tinh tế mới không bị hình tượng đánh lừa. CVS có bị sự kiện trong TBH đánh lừa không? Tác giả không phủ định ý kiến người khác vì cho rằng : ''Sự kiện đi vào hồn tác giả để trở thành hình tượng phải qua nhiều ‘bộ lọc’ lắm : nào cảm quan riêng, nào khuôn mẫu riêng, nào chất liệu riêng''. Cho nên khi Mã giang Lân khư khư khẳng định ''người ra đi'' là người ''chiến sĩ'' biết ''đường lối cứu nước của VM'' thì CVS đồng ý ''người ra đi '' là một nam nhi mang chí lớn với Lê tiến Dũng nên khó chấp nhận một ''chiến sĩ'' từ đâu lù lù chạy vô thi phẩm : ''Bởi trong bài thơ, không có bất cứ chi tiết nào đủ làm căn cứ khẳng định đây là chiến sĩ cách mạng.''  Chẳng biết có bao nhiêu ''chiến sĩ'' bị chụp mũ này lê la trên bài làm của học sinh hàng mấy chục năm nay ?

Trong bài viết, CVS cho ''người ra đi'' chỉ là một người bình thường đang có một mái nhà ấm êm thì phải ra đi với mục đích ''Đi đâu? Đi để làm gì?'' vẫn còn bỏ ngõ. Khả năng phân tích của tác giả giữa sự giằng co ''tình và chí'', giữa ''bổn phận và khát vọng'' giữa sự tương phản ''bề ngoài, bề trong thật sâu sắc mà các bài viết khác chỉ dừng lại bên ngoài cái vẻ ''dửng dưng'' nhưng không ''vô tình'' mà thôi. Sự dằn xéo giữa ''bổn phận và tình nhà'' được tác giả phân tích sâu sắc hơn Trần đình Sử .

Tác phẩm, bản thân nó là một công trình thì người hiểu được lại là một công trình vĩ đại hơn giống như một bản nhạc hay nhờ người hát hay, hát đúng với sự phối hợp đầy công sức của ban nhạc...Một kịch bản hay cũng nhờ đạo diễn, diễn viên...Riêng đối với thơ, người làm, người bình phải có sự rung động với trái tim yêu thương tha thiết và sự đồng cảm thật tình. Không đứng trên cái nền tảng ấy, bài thơ nhạt nhẽo, mất hương vị còn bài viết lệch lạc nội dung như con chim bay vô hướng!

Hướng đi của CVS là đưa người đọc nhất là các em học sinh hiểu thấu được : Người đi là người  con trai duy nhất trong nhà đang  phải dằn lòng để buổi tống biệt không ngập tràn nước mắt của mẹ của chị của em. Người hiểu lòng anh không ai xa lạ chính là tác giả. Hóa ra, người đi dứt áo, người trong lòng rưng rưng  cũng chính là...tác giả! "Tri kỷ là ở chỗ đó''. Chuyện đi ở lắm điều phải bàn. Nếu cuộc đời êm xuôi, ta không có ''Tấn trò đời'' của Bandăc (Honoré de Balzac)... Nếu đời no ấm, ta không có ''Những người khốn khổ'' cuả HuyGo (Victor Hugo)... Nếu tình yêu phẳng lặng, ta không có ''Romeo-Juliet'' của Sechpia (William Shakespeare) và chẳng bao giờ biết đến ''Truyện Kiều'' của Nguyễn Du... Cho nên ở ngoài đời không thể có cuộc chia ly mà không có người tiễn thì trong thơ không thể có người tiễn mà thiếu người đưa! Nếu sự chia ly chỉ là ''lòng tiễn đưa lòng'' trong ''Tống biệt hành'' thì đây là điểm mấu chốt để dò lần ra ''Người ấy'' trong TBH và ''Người ấy'' trong ''Hai sắc hoa Ti-gôn'' là một! Màn hé mở nhưng cũng đã khép lại trong hoàng hôn!  CVS đã nhập vào thi phẩm mới bật ra : ''Không nặng tình sao có thể buồn da diết đến vậy'' và CVS cho rằng : ''Người thiếu cảm  thông chỉ thấy bề ngoài, người tri kỷ thì cứ thấu từ gan ruột mà ra''. Bạn bè không thiếu, tri kỷ khó tìm là vậy. Người biết yêu ta thì chỉ mới là bạn ta mà người hiểu ta mới chính là tri kỷ của ta đó!

"Tống biệt'' người thân là sự chia ly đau đớn nhất nhưng ''Tống biệt'' một tình yêu mới là sự chia ly xé lòng của bão biển, cuả trời nghiêng, đất lở, nước tụ, sóng dồi mới có ''tiếng sóng trong lòng'', mới có ''hoàng hôn trong mắt''! Vậy sao Thâm Tâm dùng hình ảnh đó để tiễn một người đàn ông?  Có chắc đó là một người đàn ông không?. Tới đây, mọi phân tích, bình bài ''Tống biệt hành'' coi như bị đảo lộn. Nhưng dù cho nó bị đảo lộn thì cũng giống như dòng nhạc đảo phách bất ngờ. Chính cái bất ngờ đó, tác phẩm nói chung, ''Tống biệt hành'' nói riêng càng tạo ra sức hấp dẫn lôi cuốn người ta nhảy vào dòng sông ''tống biệt'' này để lặn, hụp và bơi trong dòng sông đắng cay da diết, buồn nhớ mênh mông này!

Trở lại sự tháo gỡ của CVS ''Người ra đi  là ai?'' coi như đã rõ ràng : ''Hai người đàn ông, hai người bạn tri kỷ''. Họ chia ly trong hoàn cảnh đã nêu đầu bài với những dằn xé ''đầy ngang trái và ẩn khúc... tiêu biểu cho thời đại ấy, vừa có tính cách muôn thuở''. Với ''ngang trái, ẩn khúc'', những bài viết khác  ngập ngừng với cách giải quyết ở đoạn cuối (thật ra là gần cuối thôi) : Thà coi...thà coi...thà coi...Ai mới là người có cái quyền quyết định đó? Nếu là mẹ thì lòng mẹ bao la không đời nào khi không từ bỏ con mình chỉ vì nó ương bướng ra đi! Là chị? Nước mắt khóc em với ''dòng lệ sót'' kia đâu phải là những giọt nước mắt từ bỏ em mình? Và cô em gái càng không thể bỏ anh mình trong ''ánh mắt ngây thơ''! Vậy chỉ còn người con, em, anh ra đi ...hy sinh tình nhà mà thôi.

CVS lý giải cho cái uẩn khúc trên : ''Hy sinh bổn phận tình nhà hay để tình nhà hy sinh mình? Cái nào cũng đau đớn dằn vặt cả.'' vì ''Những lời nói như đã vỡ ra cùng nước mắt''. Thật ra, chỉ có người đi mới hy sinh tình nhà chớ không mắc mớ gì tình nhà hy sinh người đi bởi cái chủ thể gây ra hình ảnh ly khách chớ không do người nhà. Người làm người chịu không nói gì đây lại không làm, không gây, không tạo mà phải chịu gánh chung mới ...đau ơi là đau !

Kết cục, CVS chốt lại : ''Mặc cảm lỗi đạo, bất hiếu là đỉnh điểm của tình cảm biệt ly ở đây'' mới tạo ra ''một vẻ đẹp đầy uẩn khúc của ly khách''.

Cuộc đời đầy mâu thuẩn, thơ ca đầy uẩn khúc. Cái bất hạnh vẫn bên cạnh cái mắn may nhỏ nhoi của hạnh phúc. Niềm vui chốc lát không át nổi buồn đau hằng ngày. Bài viết hay vẫn đó đây có những chỗ lỗi từ, lỗi ý, lỗi câu... CVS không ngoại lệ. 

Đoạn thơ đầu hay nhất của TBH qua ngòi bút phân tích của CVS đã trở thành đoạn phân tích khá nhất nếu so sánh với sáu cây bút trên. CVS nhìn thấy ở đó là sự tương xứng giữa hai cặp thơ với hai câu trên là nỗi lòng  người tiễn, hai câu dưới dành cho tâm trạng người đi như Lê tiến Dũng qua cách gieo vần bằng và hàng loạt từ ''ong...'' mang âm hưởng xáo động của ''tiếng sóng''. Sự kiện hay chi tiết nội dung cũng như nghệ thuật tìm ra được nhưng muốn chiếm cảm tình độc giả hoặc chinh phục độc giả, người viết với tay nghề khác nhau sẽ dẫn dắt độc giả đồng tình khác nhau. Khẩu khí "Ta-Người'' có đúng chỉ dành riêng cho ''hai người đàn ông'', “hai trang nam nhi'' như Chu văn Sơn, như Trần đình Sử, Lê tiến Dũng nói không? Cặp từ này đã từ lâu không còn ''độc quyền'' dành riêng cho giới mày râu nữa.

Thử đọc lại : ''Đưa người, ta không đưa qua sông'' nếu không sử dụng từ ''Ta'' vào đây thì cũng không làm sao bỏ từ Anh, Em ...vào được cả. Chỉ có khả năng từ ''Tôi'' có quyền thay thế nhưng nếu như thế thì từ ''Tôi'' kia ''giết'' mất cái ''ngang tàng'', cái ''khẩu khí'' miệng nói lớn mà nội tâm đau đớn của người ra đi!. Sự chọn lựa này của TT qua phân tích của CVS là một phát hiện. Từ ''người'' không viết hoa nhưng ta cũng hiểu rằng Thâm Tâm cố không làm ra đặc biệt nhưng chính vì thế mới giấu đi một người đặc biệt đó thôi! Ngôn ngữ văn học bao giờ cũng đưa ta đến với những bất ngờ không báo trước. Cặp tương phản trong bốn câu đầu giữa người với cảnh, giữa bề ngoài, bề trong theo lý giải của CVS : ''làm cho nỗi buồn chia phôi'' kia là từ ''trong ruột trong tim'' trào ra ngoài át hết sự tác động của thiên nhiên ''bởi lòng người quyết định tất cả''. Biết là hay như thế nhưng CVS để rơi từ ''chọi'' vào đây và cũng bất thình lình, đùng một cái...độc giả...ăn một cục đất (cục đá thì chết chắc!) trước cái đã rồi mới đến những quan niệm cổ nhân nào đó, cuộc đưa tiễn Kinh Kha nào đó trên bờ sông Dịch!!!. Sự phân tích này đã đưa CVS lại gần Trần đăng Xuyền.

Mặt khác, nếu đi sâu hơn một chút, để ý một chút về hai người chị mà TT đã nâng niu xây dựng trong thi phẩm, CVS sẽ không nỡ lòng cho rằng họ ''đã luống tuổi''! Cái ''luống tuổi'' này làm sao đồng nhất với từ ''sen'' của TT trong thi phẩm tuy rằng CVS đã ''khéo'' chọn từ đó đỡ hơn từ ''tàn tạ'' mà các tác giả khác đã ''thảy'' xuống cho hai người chị không thương tiếc! Ta cần hiểu : Sen thường nở vào mùa hạ. Người con gái đẹp nhất vào tuổi dậy thì nhưng quyến rũ nhất vẫn là ở tuổi cuối thời con gái. Sen vào ''mùa hạ sen nở nốt'' có nghĩa là lúc sen tung cánh nở rực rỡ giữa đầm thì cũng đâu khác hơn hình ảnh hai người chị đang ở vào giai đoạn rực rỡ của thời con gái làm sao mà ''luống tuổi'' như CVS, làm sao mà ''tàn tạ'' như Mã giang Lân, Trần đình Sử, Trần đăng Xuyền? Phân tích như thế là ''tàn nhẫn'' với những đóa Quỳnh mà cũng làm giảm đi sự nâng niu, trân trọng, tự hào, thương yêu tràn ngập của người em ra đi. Đó là điều thiết nghĩ đến TBH nằm trong giá trị nhân đạo.

Văn bản ngôn từ có hai chức năng cơ bản với lời văn tạo nên thế giới con người còn từ ngữ, hình tượng hiện dần qua trí tưởng tượng người đọc. Thế nhưng sự quan niệm, tưởng tượng của các nhà nghiên cứu TBH đã nghiêng về cánh đàn ông mày râu ra đi với oai phong lẫm liệt còn cánh phụ nữ ở lại thì chỉ ''tàn tạ như sen cuối hạ'' lập tức. Thật ra, sen cuối hạ cũng đâu có xấu?. Đã nói sự tiễn đưa ''không có sông'' mà có ''tiếng sóng'' thì sen cuối hạ sao không thể là sen đẹp? Trên phương diện tư tưởng này Lê tiến Dũng, Nguyễn hưng Quốc có phần dè dặt hơn nên cho qua.

Giá trị thực sự của một tác phẩm có khi nào nó được trở về nguyên bản của nó. Cuối chặng đường này, CVS đã cùng Nguyễn hưng Quốc đưa bốn câu cuối đã bị cắt vào. NHQ  đồng ý với sự cắt xén đó nhưng CVS cho rằng dừng ở đó được nhưng chưa lý giải rõ tại sao?. Cổ nhân có nói : ''Con người đứng giữa hai dòng nước, chọn một dòng hay để nước cuốn trôi?" Giải quyết vấn đề, người ta cần phải có một thái độ dứt khoát : Chọn cách này hay không chọn? Ðồng ý hay không đồng ý? Con nhện có quyền giăng tơ lơ lửng nhưng con thuyền không thể dừng ở giữa dòng. Trên thế giới chính trị, thái độ trung lập có ở nhiều nước nhưng trong văn học, người làm công việc nghiên cứu phải chọn cho mình một lập trường mà đúng sai cần thời gian kiểm chứng. Cũng như những tác giả khác, CVS khẳnh định người đi, người tiễn là hai người đàn ông vậy thì những người trong gia đình như mẹ, chị, em sao không đưa tiễn?. CVS đã chọn như thế nào khi đi vào phân tích đoạn : ''Mẹ thà coi như chiếc lá bay, Chị thà coi như là hạt bụi, Em thà coi như hơi rượu say.''? CVS cho quyền người đọc hiểu theo hai cách : ''người thân khẩn cầu người nhà'' và ''người đi hy sinh bổn phận''. Có nghĩa rằng tác giả vẫn còn lơ lửng nhưng cái ''gỡ gạc'' là CVS đã mở cho độc giả một hướng đi tự mình chọn lựa với cái câu rất hay : ''bài thơ chất chứa những uẩn khúc trái ngang này vẫn rất cần những tri âm.'' Điều này có nghĩa là : Những khám phá, những hiểu biết về TBH chưa có thể kết thúc.

Và đó là động lực lớn cho những ai muốn viết tiếp khúc nhạc tống biệt qúa đổi ngậm ngùi này.

---> đọc tiếp bài 2

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com