![]()
Bài 3.
Bài viết
của Nguyễn Thạch Kiên trong cuốn "Văn học thời nay" của nhà xuất
bản tuyển tập văn học thời nay năm 2005 có tựa đề : "Huyền thoại
về nàng thơ T.T.Kh" trích trong tập
thơ ''Những kỷ niệm về quê hương'' đã ghi lại lời kể của ông H.Th -
một người bạn của Thâm Tâm- như sau : "Vào
những ngày đầu của cuộc chiến chống thực dân Pháp năm 1947, tình cờ
tôi được điều về đơn vị có nhà thơ Thâm Tâm hiện diện ... Do đấy
tôi đã ở chung với Thâm Tâm trong một thời gian và gạn hỏi chính Thâm
Tâm về huyền thoại nàng T.T.Kh với bài thơ 'Hai sắc hoa Ti-gôn'
kia..." ( Nguyễn thạch Kiên -ttvhtn
quyển 3 trang 19). Trang 20 , Nguyễn Thạch Kiên ghi lại lời kể của H.Th mà
ông nghe được do chính Thâm Tâm tâm sự : "Người tôi yêu tên là Kh.
Khi viết , tôi định ký rõ dưới bài là Thanh Tâm , giản dị vậy thôi ,
như những bài thơ tôi vẫn thường ký khi đăng báo. Tuy nhiên , một tối
, tôi lại làm bài 'Hai sắc hoa Ti-gôn' cực tả mối tình của ai kia và ...
liều chọn một bí danh ký dưới bài thơ bằng ba chữ viết tắt T.T.Kh. Ba
chữ viết tắt ấy chỉ có nàng và tôi hiểu''. TT
cắt nghĩa vì sao Kh không ra nhìn nhận :
"Nàng yêu thơ, thích thơ nhưng đâu có biết làm thơ. Nàng không dám nhận
, không dám ra mặt là lý do ấy" . Sự cắt nghĩa của TT qua lời ghi của
N.T.K đã bước đầu có thể mở cái gút thắc mắc của Hoài Thanh , Hoài
Chân , của người ái mộ là tại sao sau bốn bài thơ , T.T.Kh biến mất. Với
hiện tượng về "Hai sắc hoa Ti-gôn" khiến ai cũng tưởng chính
mình là ... người tình của nàng thơ T.T.Kh. Riêng chỉ có tôi là cười thầm
. Nàng, chắc cũng vậy". Nếu thật đúng như trên ta thử nghĩ Kh có
"cười" nổi không ? nếu có thì cười có lâu không vì bỗng nhiên có khối người đưa tên
mình lên báo? Thâm Tâm lý giải rằng : "Thấy T.T.Kh là đề tài bán
được báo , nhiều nhà thơ cũng nhảy vào vòng chiến. Có người mạo cả
tôi để ký tên dưới bài thơ J. Leiba và Nguyễn Bính thì đàng hoàng thấy
rõ . Các anh ấy chỉ cảm xúc xót thương thôi chứ không hề có ác ý hoặc
bôi bác." Tội nghiệp
cho những người bạn ''kết nghĩa đào
viên'' của Thâm Tâm (TT-Nguyễn Bính-Trần huyền Trân ,Bích Khê) nhất là Nguyễn Bính cả đời mang tiếng mê
''cô hàng xóm'' không đủ mới tranh thủ luôn Trần thị Khánh của Thâm
Tâm. Té ra ,Nguyễn Bính chỉ ''cảm xúc ,xót thương thôi'' chớ đâu yêu iếc
gì Kh qua ''Dòng dư lệ'' mà cũng không có ý ''bôi bác'' . Nguyễn Bính
không có ý đó thì người khác có. Vậy những người đó là ai? Cuộc
tình TT và Kh tan vỡ từ năm 1937. TT đã đính chính: ''Chỉ có ba bài thơ
chính thức của T.T.Kh do chính tôi sáng tác mà thôi: 1. Hai sắc hoa Ti-gôn. 2. Bài thơ thứ nhất. 3. Bài thơ cuối cùng. ...Ngoài
ra những bài thơ như ''Đan áo cho chồng'' ký T.T.Kh ,bài ''Các anh hãy uống
cho say'' ký Thâm Tâm...đều do các bạn tôi tự soạn ra cả. Nếu kể hết
thì nhiều lắm...'' Trời ,nếu
quả thật vậy thì năm 2005 là sự ''bùng nổ'' những thông tin văn học khá
ly kỳ : Đó là hình tượng ''Cậu bé đuốc sống Lê văn Tám'' mà Giáo sư
Trần huy Liệu đã mang vào lịch sử theo Giáo sư Phan huy Lê trong một cuộc
họp báo của hãng phim truyền hình VN tại Hà Nội cuối tháng hai /2005
là... không có thật. Chỉ có cậu bé đóng vai Lê văn Tám năm 1980 của đạo
diễn Lê mộng Hoàng là có thật mà hiện nay cậu học sinh trường Phan
đăng Lưu-Bình Thạnh đó đang định ở Caliofornia. Cũng tại thủ đô HN
,cô học sinh Nguyễn phi Thanh trong kỳ thi HSGV ngày 18/03/05 bất bình với một
đề thi nên đã dám viết vào bài làm là không thích tác phẩm ''Văn tế
nghĩa sĩ Cần Giuộc''!! Còn bây giờ ,các nhà nghiên cứu ,phê bình văn học...
phải mở lại những trang viết về Thâm Tâm và T.T.Kh. Những bạn của TT
: ''Nguyễn Bính ,Trần huyền Trân ,Tân Hiến ,Lê văn Trương ,Đặng đình Hồng
,Vũ hoàng Chương ,Đinh Bằng ,Vũ trọng Phụng..." ai đã góp phần diễn
màng ''trộm lân tráo phụng'' này dưới những bài thơ ký tên Thâm Tâm? Những
bài thơ đó theo Thâm Tâm: ''Trở lại với T.T.Kh ,những bài thơ mà các bạn
tôi làm ,duyệt xét một lượt ,tôi đã phải lắc đầu. Nó có nhiều mâu
thuẩn . Không đúng. Không đồng nhất mạch lạc như ba bài thơ chính.''
Có lẽ vậy mà những bài thơ thật của TT hay T.T.Kh hơi thơ đắng lòng
đi một nơi trong khi có những bài ký thay ,lời thơ mai mỉa đi một nẻo.
Với Kh ,Thâm Tâm đã dành cho cô bé một chữ ''Yêu'' thêm hai từ ''say
mê'' dù bỗng nhiên ,nàng biến mất giữa ''mối tình nở hoa hương ngào
ngạt...Tôi hoàn toàn thất vọng ,kiếm tìm nàng giữa Hà Nội băm sáu phố
phường...Nàng lẩn tránh tôi vì nghe lời bà mẹ...Tôi đã đến trường
xưa tôi theo học mong được gặp lại nàng nhưng chỉ gặp ông thầy dạy
học cũ: Thầy Vũ văn Nhượng...'' (Nguyễn thạch Kiên -Sách đã dẫn)
Chao ôi!
Tưởng rằng trên đời này chỉ có những người con gái yêu mới lụy ,mới
khổ ,nào ngờ ''bèo dạt mây trôi'' cũng có khối đàn ông ôm thuyền vỡ
mộng! Một đêm tuyệt vọng bằng một đời đắng cay. ''Trương Chi -Mỵ
Nương'' đáng thương cho người thổi sáo ! "Mỵ Châu-Trọng Thuỷ'' oan
nghiệt thay mối nhân duyên bị cắt bởi chữ ''lừa'' vì tình yêu đã bị
chiến tranh hoá . Chuyện tình ''nàng trinh nữ tên Thi'' đã buồn ,chuyện ''đồi
thông hai mộ'' cũng khá gì hơn ! ''Lan và Điệp'' kẻ cắt đứt dây chuông
,người chôn cành lan ,xác bướm! ''Lương sơn Bá ,Chúc anh Đài'' ngập máu
hồng tiễn bước vu quy ! Huyền thoại T.T.Kh cũng ra đi trong nước mắt.
Mưa buồn lặng . Nắng khóc thầm. Bốn mùa qua trong thương nhớ . Sau một
giấc dài ,người trong cuộc sực tỉnh: ''Thú thật ,chính cá nhân tôi rất
xấu hổ. Vô tình tôi đã tạo ra ''xìcăngđan'' ấy. Trong tình yêu ,người
ta thường trẻ con thế đấy. Sau khi đóng trọn vở tuồng ''một mình
mình biết ,một mình mình hay'' tôi ngỡ ngàng khi ''soi gương ngắm lại mình''.
Tôi nhận ra chính tôi đã lừa dối mình ,phỉnh gạt độc giả quần chúng.''
Thật ra,Thâm Tâm có ''gạt'' ai đâu? Trong cuộc đời có những nấm mồ
vô chủ thì trong văn học sao lại không có tác phẩm không tác giả ? Một
người có thể có nhiều bút hiệu và có thể ra đi trong lặng lẽ như
T.T.Kh. Chẳng qua ,vì người đời ''thóc mách'' ,người đời ''bôi bác''
nó. Chính TT cũng công nhận: ''Méo mó nghề nghiệp vẫn là sỡ trường của
một thiểu số người''. Người ta dựng lên ''nàng thơ T.T.Kh'' chớ ai thấy
mặt mũi T.T.Kh ra sao mà biết là ...con gái! Tuy nhiên ,TT hiền khô ,chỉ biết
''lắc đầu'' trước những bài viết bóp méo sự thật. Anh đã ''đồng tình''
im lặng suốt chục năm qua cho đến khi có người khuấy động mới dè dặt
: ''Khi thấy cần phải lên tiếng ,anh hãy nói ,hãy viết ra. Còn không thì
chỉ nên im lặng dùm tôi như các bạn khác bấy lâu vẫn hằng im lặng vậy''.
Có lẽ ''im lặng là vàng'' nên khối người đã chọn phương áng này
,trung thành với nó đến độ không cần thiết và nhiều khi ''tàn ác'' nữa.
Lời kết
thúc tâm sự của Thâm Tâm có lẽ là sự khởi đầu quay lại các sáng
tác của TT bởi chúng bắt đầu bằng nỗi đau khổ vì tình yêu. Sự
thành công của các tác giả cũng chính là đề tài tình yêu. ''Không có
tình yêu ,thế giới này vô hồn''. TT thú nhận : ''Yêu một cô bé ,đau khổ
vì chuyện tình là không nên. Do đấy... cái lãng mạn ,cái tưởng tượng
của người nghệ sĩ đều dồn vào thơ văn. Và tôi đã ,trẻ con như thế
,đã làm nổi một vở kịch.''. Sau đó có một ''hình tượng ly khách''
trong ''Tống biệt hành'' thoát ''kiếp ve sầu'' muốn làm ''con chim báo
bão'' bay trong ''tiếng đời xô động'' bỏ lại sau lưng buồn đau ,huyền
thoại với nỗi lòng rưng rưng,ngậm ngùi ...ra đi như ''tống biệt'' một
quá khứ ! Tin hay không tin ? 2. Tìm hiểu
sự thật về những lời kể trên: Người
ta thường cho rằng : ''Nhà văn nói láo ,nhà báo nói thêm''. Cái nào cũng cần
xét lại vì giá trị ''tương đối'' của nó. Nhiều khi những nhà xuất bản
có tiếng tăm ,những cây bút có ''máu mặt'' chưa hẳn đáng tin cậy cho lắm.
Công lý nằm trong tay kẻ xấu ,nỗi ''oan Thị Màu'' khó gỡ. Cây thanh long
đao của Quan Công lợi hại nhưng miệng lưỡi Tào Tháo ghê gớm hơn. Cái
trí dũng của Chu Du đốt 80 vạn quân Tào tiêu tan nhưng cây bút trong tay Khổng
Minh mới thần sầu qủy khóc lấy mạng Chu Du tích tắc giây. Nhưng cây
bút là vật vô tri . Cái chất xám kia mới là vô địch ,là nguyên nhân của
mọi thứ trên đời ! Con người bập bênh lên xuống cũng vì nó đấy. Đúng
sai cũng từ nó mà ra. Người ta được lợi lọc gì ? Nguyễn
thạch Kiên là ai ? Ông viết bài ''Huyền thoại về nàng thơ T.T.Kh'' như một
màng kết thúc vở bi kịch TT-Kh từ 60 năm qua thật hay ''bịa'' để dệt
ra ''Huyền thoại sau huyền thoại'' ? Ích lợi gì cho ông đây ?
a. Nguyễn thạch Kiên : (1926-nay) : Mức độ tin cậy ?: Theo Huy
Phương trong ''Ký sự nhân vật : Nguyễn thạch Kiên ,nhà văn tiền chiến
,tám mươi chưa muốn buông bút'' (w.w.wperso.wanadoo.fr/charite/009vannghe.) , người
viết xin tóm tắt lại như sau: Nguyễn thạch
Kiên sinh năm 1926 tại Hà Nội. Quê cha
Ninh Bình. Quê mẹ Hưng Yên. Năm1949 đạt giải nhất văn chương do nxb Tân
Việt-Sài gòn tổ chức với tập truyện ''Hương lan''. 1959 đạt giải nhất
của Tinh Việt văn đoàn do Phạm đình Tân và Phạm đình Khiêm tổ chức với
tiểu thuyết ''Mùa hoa phượng''. Ông học cải tạo 11 năm vì là đảng viên
Quốc dân đảng. Định cư tại
Hiện tại ,Vũ hoài Mỹ (chủ trương Văn học thời nay) là người lui tới
giúp đỡ ông. Một con người sống già dặn qua hai thế hệ ,tám mươi tuổi
chưa buông bút là một tấm gương cho chúng ta nhìn vào tự hỏi mình ? Theo
Ðặng văn Nhâm trong ''Trận giặc văn bút'' nxbtvvh ,Nguyễn thạch Kiên từng
là chủ tịch Văn bút Nam Cali.
Riêng bài ''Huyền thoại về nàng thơ T.T.Kh'' nhà xb ghi rõ là trích trong cuốn ''Về những kỷ niệm
quê hương'' cuả Nguyễn thạch Kiên . Ta có thể tin cậy được về con
người có một quá trình say mê văn chương và hơn nữa ,nếu T.T.Kh thực sự
là Thâm Tâm thì người ''được'' là TT chứ không phải NTK ''gần đất xa
trời'' này. Việc làm của ông là vô tư . Viết để trả lại giá trị
tác phẩm cho tác giả chớ không phải viết để đi bắt bẻ từng câu chữ
rồi ném công trình người ta xuống vũng bùn như một số người : ''Mang
chất xám rãi lên từng câu chữ. Mượn hồn văn để thử óc hẹp hòi !''
Trong những kỳ đại hội văn học trong và ngoài nước ,chuyện ''giặc
văn bút'' không còn là bí mật khi người ta tranh nhau từng chức vị và
''hạ'' độc thủ nhau trên chiến trận văn bút nên hiện tượng một Nguyễn
thạch Kiên làm cái việc mang T.T.Kh về với TT là một đóng góp văn học
đáng cám ơn.
Vấn đề thật hay không thật ,sách đã dẫn . Nhà văn ,nhà thơ bậc ''tiền
bối'' đã viết vẫn còn sống. Bản thân tác phẩm cũng ''tự bạch'' phần
nào. Tin hay không tin là tùy theo cách nhìn nhận của mỗi nguời. Còn người
viết bài này chỉ làm một công việc mang lại cho người đọc quen thuộc
những ý kiến , những tin tức mới mẻ cho dù là cảm tính hay chủ quan. b. Tìm
hiểu chất giọng thơ của Thâm Tâm và T.T.Kh:
Trước hết: Ông H Th trong bài viết NTK có nêu rõ những ngày đầu kháng
chiến chống Pháp 1947 ông có gặp TT trong đơn vị là đúng. TT gia nhập bộ
đội theo các nhà nghiên cứu là năm 1947. Thời gian đó quân đội Pháp
gây hấn nổ súng ở phố hàng Bún ngày 15-16 /12/1946 theo sách sử (đã nêu
trên ) và tháng 2/1947 có chỉ thị về
việc gia nhập quân đội nên lời ông H Th không sai. Chuyện tham gia kháng
chiến của TT là có thật. Chuyện tình TT-Kh cũng có thật . Chuyện TT là
T.T.Kh có thật hay không còn dựa vào những sáng tác nhất là những sáng
tác trước 1947 của Thâm Tâm.
Thâm Tâm đến với ''Thơ mới'' muộn màng với làn hơi cổ điển đậm nét
phong khoáng giang hồ nhưng thoát thai ra khỏi bi phẩn để đến với cách mạng mang hơi thở của người chiến sĩ ''trên từng
cây số'' lại ngắn ngủi hơn chỉ vỏn vẹn ba năm . Như vậy ,gần mười
năm sống đời nghệ sĩ tự tại (1938-1947) với mối tình như hoa như
hương dù đã chia cách có cố quên gì
thì cố ,dư âm một cuộc tình vẫn chi phối hầu hết trong những sáng
tác để đời của nhà thơ tài năng mạng yểu này. TT chỉ có tất cả
khoảng hai mươi bài . Nếu làm phương pháp loại trừ hay cộng lại những
bài thêm vào và loại ra thì cũng chỉ ngần ấy. Người hay không phải
nói nhiều. Thơ hay không ở dài ngắn nhưng đánh giá một tác giả ,một
tác phẩm đang có nhiều nghi vấn trong lịch sử văn học quả thật có
chút đắn đo... Chép lại những gì người ta đã viết hoặc viết lại những
gì người ta đã nói có khác nào ''nhai lại'' ! TT mang âm hưởng thơ cổ
nhưng có giá trị sáng tạo nhất định
trong thi ca. TT đã không là người ''copy'' văn học thì người nghiên cứu tìm vào thế giới thơ ca của
TT càng không thể chỉ mỗi công việc ''sao y bản chánh''. Về những
bài thơ của T.T.Kh ,muốn chắc ,ta đi theo hơi thơ của TT qua những bài
làm theo thể thất ngôn tự do. Những bài thơ tiêu biểu trước khi nhập
ngũ 1946 trở về trước của TT : Theo Tôn thảo Miên ,Trần hữu Tá ,Nguyễn
hữu Đảng ( sách đã dẫn trên ) ,Thâm Tâm có những bài thơ như : Can trường
hành ,Vọng nhân hành ,Tống biệt hành ,Tráng ca... ( Trong bài ''Chọn 10 nhà
thơ lớn và 10 bài thơ hay nhất thế kỷ trong văn học Việt Nam'' ,Phan thư
Soan có đưa ý kiến của nhà thơ Trinh Ðường và tổ bình chọn đã đưa
bài ''Trường biệt hành'' của Thâm Tâm bên cạnh ''Nhớ rừng'' của Thế
Lữ, ''Thề non nước'' của Tản Ðà ,''Nguyệt Cầm'' của Xuân Diệu ,“Tràng
giang” của Huy Cận ,''Tây tiến'' của Quang Dũng... không biết sách
có in lộn ''Tống biệt hành'' thành ''Trường biệt hành'' hay không ?) Theo
VNthuquan.net : Thâm Tâm có thêm Dang dở ,Trả lời người yêu , Màu máu
Ti-gôn , Các anh hãy uống cho say. Theo Thâm Tâm ( qua Nguyễn Thạch Kiên )
thêm : Hai sắc hoa Ti-gôn, Bài thơ thứ nhất và Bài thơ cuối cùng. Những
bài : Dang dở, Trả lời người yêu ( Các anh hãy uống cho say -Gởi T.T.Kh
), Đan áo cho chồng ... còn nằm trong nghi vấn nên ta cần tìm cách nào đó tạm thời làm sáng tỏ
đó là những bài ký TT hay T.T.Kh nhưng không phải họ làm ( qua nội dung,
hình thức.)
* Xem xét về nội dung: Xét cái
"Ta" mà giới nghiên cứu , phê bình gọi văn hoa là "chủ thể"
. Khi đã nói đến cái "ta" thường rơi vào ba trường hợp : ·
Trường hợp một : Ta là Tôi - Ta tức
là "thất vọng tình đời" sinh cái "Tôi" dễ ghét vì thời
cuộc, số phận ( ngóc đầu không nổi , buồn , chán thương tâm , muốn bỏ
hết...) . Dạng này ''Thơ mới '' chiếm đa số . "Đau vì nỗi đời vất
vả. Đau vì kiếp làm dân một nước nô lệ. Đau vì tủi nhục, nghèo hèn
cứ gắn hoài với thân phận" ( HT-HC -TNVN ) . Còn một nỗi đau nữa
chính là sự bạc đãi của quê hương mà Vũ Hoàng Chương trong
"Phương xa" chua chát :
Bến
hoang sơ đứng đợi đó đã đưa con thuyền họ rẽ vào hoang vắng khác. ·
Trường hợp hai : Ta là Ta Cái tôi
và ta nhập lại thành cái "Ta" ngạo nghễ đời. Tức là "Thất
vọng danh trường" mà ra ( con người rơi vào bất đắc chí của văn
chương, đèn sách, khoa bảng... không hài lòng với thực tại , chán ghét
chế độ...) Dạng này
của Nguyễn Trãi , Chu văn An , Nguyễn Du , Nguyễn Khuyến , Tú Xương , Nguyễn
công Trứ , Cao bá Quát , Hồ xuân Hương, Duyên Anh...) với : ''Sách vở ích
gì thời buổi ấy. Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già.'' (Nguyễn Khuyến) Nó
còn là thất vọng của một lớp trai thời loạn chưa tìm ra một phương
hướng đi cho mình mà Nguyễn Bính đã từng bỏ mặc : "Ðời có còn
gì tươi đẹp nữa. Buồn thì đến khóc ,chết thì chôn.'' ·
Trường hợp ba: Ta - danh vọng - và em. Chủ thể
này bị chi phối bởi chủ thể khác. Tức là "Thất vọng tình trường"
. Dạng này chi phối hầu hết quá trình sáng tác của con người là cái
"nền " cho dòng thơ buồn man mác xuyên suốt từng thời đại,
băng qua ngàn thế kỷ. Nó ngang tàng và đầy khí phách:
Ba dạng
thất vọng này cùng chảy qua thời đại. Thâm Tâm nằm ở loại nào ? Có thể xếp cho thơ TT nằm ở cả ba dạng
: + Thất
vọng tình đời của Thâm Tâm : ( Nằm chung với một kiếp người cùng
khổ ) Thời buổi
loạn ly, chiến tranh khốc liệt , di tản liên miên dẫn đến cuộc sống
không ổn định trái với các lẽ "An cư lập nghiệp" . Thâm Tâm
phải làm đủ thứ nghề trái với điều "Nhất nghệ tinh , nhất thân
vinh" nên than thở :
+ Thất
vọng danh trường của Thâm Tâm : ( Nằm chung với một lớp người cùng
hèn ) Ảnh hưởng
thời đại (tình đời ) làm cho Thâm Tâm không học hành đến nơi đến chốn.
Thêm vào đó, Thâm Tâm xuất thân thành phần tiểu tư sản trí thức nghèo
( cha là nhà nho dạy học ) mà thời "sĩ nông công thương" đã đến
hồi tàn mạt. Tiểu tư sản trí thức nghèo rớt mồng tơi này lại nằm
trong chủ trương : "đào tận gốc , trốc tận rễ" . Ôi thương
đau cho "Giấc mơ anh lái đò'' của Nguyễn Bính năm nao: ''Tưng bừng
vua mở khoa thi. Tôi đổ quan trạng vinh quy về làng'' bay tuốt luốt theo những
chế độ thi cử bị thực dân Pháp bỏ ( 1864, 1915, 1918 ) . Thâm Tâm có gì
hơn đâu mà không ngao ngán trong những bài ''Can trường hành'', ''Vọng
nhân hành'' :
Tài năng
không đất dụng võ thì cũng như... ''ngựa chạy cùng đường" mới
"rú trong trời tám hướng sương" mới ngoa một chút:
Sự say
mèm với thất vọng có một Vũ Hoàng Chương ngã nghiêng, ngã ngữa:
"Còn chưa say hồn khát vẫn thèm em" . Thâm Tâm thì sao ? + Thất
vọng tình trường của Thâm Tâm: ( Nằm chung với lớp người cùng yêu
mà đau ) Dòng ''Thơ
mới'' đã ''Yêu như trăm năm chưa biết đến bao giờ. Nhớ như tự nghìn
năm chưa biết nhớ''. Lớp người cùng yêu mà đau đó đã mang về cho thi
ca không biết bao nhiêu thi phẩm về một mơ ước cũ mèm của tình yêu :
''Cho anh gom hết ngàn thương nhớ . Chôn cả lòng yêu nát rượu mềm.'' (Quách
xuân Sơn -Lời cô phụ-). Nỗi buồn ''vắng anh'' chỉ một nhưng đau khổ
''vắng em'' chiếm mười trong thi ca. Bởi lẽ : Không có em ''Chiều đơn côi
hoang vắng tâm hồn. Không có em khóc thầm bịn rịn. Ngồi một mình sầu
với hoàng hôn. Không có em đường dài vấp ngã. Không có em cây lá đổi
màu. Không có em biển thôi xào xạc. Sóng ơ thờ gió cũng thôi bay."
(Thùy Lam -Không có em-) Tình yêu
là đỉnh điểm của loài người. Tình yêu không ngại chiến tranh. Tình
yêu không cầu danh lợi mà hỡi ơi! Con người bèo bọt, ly tan cũng vì hai
chữ này. Xuân Diệu yêu cuồng. Thâm Tâm mới nức mắt đã yêu khi còn đi
học. Tình yêu là nguồn cảm xúc của thi ca nhưng lạ quá, thơ Thâm Tâm chẳng
có bài thơ tình yêu nào ra hồn! Vậy cái hồn này thật ra ở đâu? Tình yêu là nguồn cảm xúc bất tận của
thi ca . Biết bao người thơ đã thành thi nhân nhờ nguồn cảm xúc này . TT
đã từng yêu ,được yêu và đau khổ sao không có lấy một bài thơ tình
yêu nào ? Không lẽ trong anh ,chất cảm xúc thiêng liêng này đã mang hội
chứng ''lãnh cảm'' . Chỉ còn những bài ký tên T.T.Kh. Vậy ta chỉ cần
tìm cho ra chỗ: Không phải Kh làm thì ba trong bốn bài thơ đó là của Thâm Tâm. Từ nội dung ba bài thơ (
Hai sắc hoa Ti-gôn, Bài thơ thứ nhất, Bài thơ cuối cùng) lần tìm ra tình
yêu Thâm Tâm với : "hồn thơ" ở đâu ? Những
bài thơ không phải Kh làm: Lý do : Một:
Theo Thâm Tâm : Kh yêu thơ thích thơ nhưng không biết làm thơ . Nghĩa là
"rung cảm" nhưng không khả năng. Hai:
Nội dung từng bài chứng tỏ Kh không thể tự mình dám ghi rõ ràng tình
yêu của mình lên giấy khi đã lấy chồng. Nghĩa là dù có khả năng nhưng
hoàn cảnh không cho phép. Xét lại những câu thơ bộc lộ rõ tâm sự để
đối chiếu với hoàn cảnh thực tại của Kh có thể thấy Kh không thể tự
làm :
* Bài hai sắc hoa Tigôn: Những câu sau :
Theo TT
,Kh tự bỏ TT nên có thư từ, gọi điện
gì cho TT đâu mà chồng Kh biết. Không lẽ, chồng Kh cũng đoán mò như Xuân
Diệu: "Cùng giường khác mộng sao em" ? Theo tâm lý, thằng chồng
biết được, nó không "hững hờ" đâu! "Nó..."dần"
cho nát cái xương . Nó ''thương'' cho tới ...kiếm đường ...đầu thai!'' .
Chết chắc . Chẳng q ua TT vì nhớ thương Kh nên không kìm chế được cảm
xúc, mới buông ra :
Đây là
bản nhận tội không ai cứu nổi. Bản thân Kh có học, biết lễ nghĩa gia
giáo. Nghe mẹ, bỏ Thâm Tâm, nàng được coi là hiếu nữ. Lấy chồng,
nàng sẽ giữ chữ "xuất giá tòng phu" . Có than ,nàng cũng than
trong lòng̣. Có nhớ, nàng cũng chỉ được phép nhớ trong mơ. Kh can đảm
cỡ nào mà đem chuyện "phòng the" lên báo ?
Ta chắc bây giờ cũng không ai "gan" mà đọc những câu thơ như thế
ngay trong gia đình riêng của mình? Câu thơ hay nằm trong ngữ cảnh trái sẽ
thành: bạc bẽo, bẽ bàng cho hai phía. TT chưa có "bà xã" lúc này
nên chưa biết thế nào là cái "ghen" của người ''giơ cao ,đánh...thật'' mới đi xa thêm :
Nghe tê
tái lắm nhưng người vì hiếu nghĩa mà "lấy chồng cho đáng tấm chồng,
bỏ công bác mẹ sinh thành ra em" tức là tự mình quyết định ''lìa" cội rễ tình yêu.
Có chồng là bao nhiêu vướng víu, bận rộn, lu bu 24/ 24 khiến cho quay mòng
mòng đầu bù, tóc rối hơi sức nào mà nói đến thơ mà "thơ" câu
nào cũng "đốt lòng", đốt luôn nhà người ta nữa. Không thương
người ta mà lấy người ta, than thở như vậy hỏi người làm chồng có
ê mặt hay không ? "Người ấy có buồn không?" té ra chính là kẻ đứng đưa tiễn chim sáo ngày xưa sang sông . Kẻ đó nếu
không chính là Thâm Tâm chẳng lẽ là Nguyễn Bính là Huyền Trân ? Nỗi
lòng đau khổ đó đã được lập đi ,lập lại nếu không là TT thì Kh chẳng
thể nào dám viết một tiếng lòng rên xiết như thế cả.
* Bài thơ thứ nhất: Có những
câu sau đây:
Chẳng
khác gì chê chồng già quắc ,già quéo mới "hững hờ" , mới ''lạnh
nhạt''. Tâm lý người đàn ông trong chuyện gối chăn mà bị chê thì coi
như... tàn phế! . Vả lại, giả như có ai đó lấy trúng loại chồng
"nghiêm" như thế suốt ngày lăm lăm cái ...roi cá đuối, cô vợ trẻ
kia có mà ngồi yên viết với lách ,có trốn trong hốc nào thì nó cũng
...moi ra...hành cho cái tội chê chồng cho biết cái thân!. Có lẽ vì nói về người chồng của
Kh hơi quá nên mười năm sau ,vỡ lẽ ra ,TT mới tự kiểm điểm : "Chồng
Kh là một thương gia mới 38 tuổi có luống tuổi gì đâu." Thật ra,
làm một phép tính nhẩm : chồng Kh ít nhiều cũng hơn Kh một con giáp rưỡi.
Lấy chồng tuổi ấy gọi cha là vừa! Xót người nên nghĩ tới người, viết
cho ''người'' không TT thì cũng chẳng có ai "thương dùm phận gái thuyền
quyên như nàng" bằng TT. Có đau thương gì thì người trong cuộc cũng
phải tìm cách đi vào đoạn kết.
* Bài thơ cuối cùng: Bài thơ có những câu như sau thật ''nguy
hiểm'':
- Và người vỡ lỡ duyên
thầm kín,
Lại chính là anh? Anh của em!
-Tôi biết làm sao được hỡi trời?
Giận anh, không nỡ! Nhớ không thôi!
Nghĩa là
người trong cuộc vẫn còn thương nhớ mối duyên "thầm kín" đó
nhưng từ ''Anh anh, em em'' ngọt sớt kiểu này gặp thằng chồng hung dữ
vì ghen... nó cắt lưỡi. Chẳng qua ,tiếng lòng tự trách của TT mà thôi.
Xuân Diệu từng tự trách : ''Em ác quá lòng anh như tự xé'' theo cách yêu của Xuân Diệu. Mạc phương
Ðình trong bài ''Ðành'' có cách trách của riêng mình : ''Mắt ta bé mà
tình em lớn quá. Ta ngu ngơ nhìn ngó nhận không ra. Vòng tay hẹp không đủ
ôm biển cả. Lòng đu đưa trong cõi ta bà.... Chắc
tiền kiếp ta mang đời kẻ chợ. Ðem tình yêu thả gió lang thang. Em qua đó
vô tình mắc nợ. Ðể cùng ta rơi xuống chốn địa đàng.''. TT và Kh
ai đã mắc nợ ai mà ''Mưa buồn ,mưa hắt ,trong lòng ướt... Sợ quá đi
,anh ...''có một người''...Cái người này là ai mà đã qua hết nửa thập
niên nay sao còn quay trở lại thi ca bằng những lời kêu thương buốt lòng
? Tiếc thay ,sự yêu thương đó sang bài thơ dưới đây có những lời thở
than ngằn ngặc mệt mỏi lạ lùng .
* Bài "Đan áo cho chồng" : Bài thơ này có những câu
''thêm dầu vào lửa'':
- Đáng thương những kẻ có chồng
như em,
... Vẫn còn thấy lạnh trong tim,
Đan đi đan lại áo len cho chồng.
- Tháng ngày miễn cưỡng em đan,
Kéo dài một chiếc áo len cho chồng.
Như con chim hót trong lồng,
Tháng ngày mong đợi ánh hồng năm nao!
Lấy chồng
chẳng những không hưởng được vòng tay ấm áp mà chỉ thấy cảm giác lạnh
lùng . Nét tâm lý này có thể âm thầm chịu đựng thì thật là một sự
hy sinh cao cả. Thật ra ,nét đẹp của người phụ nữ ''phu xướng ,phụ tòng''
thờ cha ,kính mẹ bên chồng còn thể hiện theo từng đường kim mũi chỉ
. Không yêu nhưng sống trong một mái nhà buồn vui ấm lạnh đủ cả ,chẳng
lẽ người trong cuộc nào mà không có chút tình dù chỉ là tình người ?
Ví dù người chồng kia có ''hững hờ'' gì đi nữa nhưng mặc cái áo mà vợ
chăm chút đan cho có lý nào chẳng chút động lòng ! Nhưng bây giờ thì ''lửa
bỏng hỏng xôi'' hết trơn. Đan cho chồng cái aó mà than ngắn thở dài
,lòng tưởng nhớ ai thì thằng chồng mặc vào còn hơn gai chích hơn kim châm
? ''Nàng than nàng lạnh nhưng ta có chiếc áo nàng đan cho ,mặc rồi ,ta còn
cảm giác lạnh lẽo hơn nàng !'' Kh có dám nhùng nhằn như thế đâu nếu
nói không nỡ lòng. Nhưng
nghĩ cũng ...vui đấy : Bỏ thì không dám, vương thì phải cam. Một chiếc
áo đan hết mùa đông cũng chưa xong. Gặp bà già chồng khó chịu sẽ mắng
con dâu "thêu thùa vá may" dở ẹt ! Bà ta nóng ruột sẽ giật phắt
cuộn len mà tự mình đan giùm cho con trai là nàng ... khỏe re. Còn thằng chồng
chờ mãi chờ hoài không có áo, lạnh quá chịu hết xiết ... ra tiệm mua
quách. Sướng! Nàng giam mình đan mỗi cái áo lâu lơ, lâu lắc như cố ý
kéo dài thời gian khỏi ...đi chợ ? Thật
ra, con chim hót trong lồng mới an toàn, ra ngoài đứng hót không bị mèo chụp
cũng vướng ná bắn chim, kêu than cái gì nữa ?!!!. Rên la ầm ĩ, thằng chồng
vớ được tờ báo đọc hay có kẻ nào thóc mách khẽ ...rỉ tai. Thế là
chàng nếu mà không xửng cồ, thì ... cha chả cũng bừng gan trào lửa hận
cho con vợ: ''Lấy chồng vẫn tưởng trai tơ'' ,nó...vặt cho con chim hót
trong lồng kia không còn... một cọng lông để mà trông mà ngóng ?!!!. Như đã
nói trên, Kh là cô gái có học, biết lễ nghĩa, hiếu đạo, không có thì
giờ ngu ngốc "mổ bụng" phơi ruột gan cho thiên hạ xem. Cái tinh
thần võ sĩ đạo này hãy để cho đàn ông Nhật làm đi. Cái tinh thần
này ,Kh có nằm mơ cũng không dám thấy. Giả sử Kh làm thơ, đăng báo.
Đăng để làm gì? Cho TT biết được tin tức về nàng chăng? Càng vô nghĩa
vì khi người ta đã lẫn trốn tức là xác định cho mình một con đường
đi nghĩa là những mối dây liên hệ quá khứ sẽ bị thời gian và bổn phận
cắt đứt! Kh không thể viết một bài thơ tự treo cổ con chim trong lồng.
Nhưng nếu TT viết dùm tâm sự cho Kh có được không ? Bây giờ ,ta
xem từng nội dung mỗi bài có ứng với con người TT hay không? Cứ coi như
TT viết hết bốn bài trên. Không ai hiểu lòng Kh bằng TT. Sự ra đi không
báo trước của Kh làm TT hụt hẫng về tinh thần. Chới với trong tình huống
bất ngờ chẳng được báo trước, người ta
phản ứng ...chụp cây viết, viết
cho thỏa, cho xong một tấm lòng như khi người đàn ông nổi cục tự ái bự
mà không biết tác giả nào đã cho ra đời những câu thơ vui vui nhưng chua chát như sau : ''Nếu biết rằng em đã
có chồng. Anh về cưới vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm.
Nhưng đẹp hơn em ở tấm lòng''. Đàn ông "cả thèm chóng chán" .
Đàn bà lặng lẽ ngược ngang. Nhưng TT lại là loại đàn ông lặng lẽ như
Trần Quốc Sỹ "Khóc tình" : ''Ta thắp nến khóc tình yêu vừa chết
. Hấp hối sau cơn sốt bỗng vật vờ. Tình yêu nào, ai biết đâu đoạn
cuối. Cứ ngỡ rằng tình vẫn mãi là thơ.''. Và cũng vậy TT dệt nên một
vở kịch, tạo nên một huyền thoại mà TT tự cho là "trẻ con".
Trong thi ca đâu mỗi chỉ mình TT mang tình mình vào huyền thoại mà còn có
một Tâm Thư với ''Trẩy hội đan tay'' : Cũng đành đem dấu vết xưa. Vào trang cổ tích cho vừa nhánh thương.
Cũng đành chia nửa con đường. Cho trăm năm vỡ cho hờn đánh rơi. ''Kh đã
không thể viết những dòng cổ tích để dệt quanh mình một huyền thoại
vô tư. TT viết cho nàng nhưng cái chính là viết cho mình. Mai mốt, cô vợ
"đẹp" ở "tấm lòng kia" có đọc lại dòng thơ của chồng
viết cho ai đó thì cũng chỉ nghĩ là : Tâm trạng của một nhân vật cô
gái mà chồng đã dựng lên mà thôi ,nàng ...thở dài cho qua.
Dòng trữ tình thường mang đôi cánh lãng mạn. Tâm trạng bao giờ cũng
được che chắn bởi hàng hàng lớp lớp từ ngữ ,hình tượng từ hiện
thực đến tưởng tượng. Ði sâu quá vào ngữ cảnh thật của thi ca là
chẳng đúng với cách phân tích giá trị nội dung ,nghệ thuật cuả tác phẩm
. Nếu với mỗi một thi phẩm ta cứ tìm cho bằng được : Họ là ai ? Ai
yêu ai ? Không phải bài nào ký TT hay T.T.Kh cũng là
thật. Loại trừ như thế nào? Ta lại tìm vào nội dung xem có trùng hợp với
nhau ?. Nếu khác, tức là người viết giùm chưa hiểu hết lòng của người
ta vì không ở trong một kỷ niệm nào sâu sắc dẫn tới ng̣òi bút hững
hờ, lời văn nhạt tình ,ý phát sinh lạt lẽo.
·
Những bài thơ không phải
TT làm: Với
những lý do sau đây: Một:
TT khẳng định chỉ làm có ba bài ( Hai sắc hoa Ti-gôn, Bài thơ thứ nhất,
Bài thơ cuối cùng ). Còn những bài khác đều do bạn bè làm. (Theo Nguyễn
thạch Kiên ). Hai:
Xét nội dung những bài ký TT hoặc T.T.Kh nhưng không phải TT làm, đều trái
đạo lý, lệch lạc ý nghĩa khác biệt cả cách hành văn và nghệ thuật.
* Bài "Trả lời người yêu Gởi
T.T.Kh" : Bài này
được ai đó làm sau khi bài "Đan áo cho chồng" ký T.T.Kh ra đời có
những câu ...thật chẳng là đàn ông tốt :
-Vâng ,tôi biết có một người
Một đêm tưởng nhớ rằng tôi là chồng.
Để hôm sau khóc trong lòng̣
Vâng tôi vẫn biết cánh đồng thời gian.
-Miệng chồng khánh gắn lên môi
Hình anh mắt Khánh sáng ngời còn mơ.
-Đàn xưa từ chia đường tơ
Sao tôi không biết hững hờ nàng đan.
-Khánh ơi! còn hỏi gì anh
Ái tình đã vỡ, ái tình còn nguyên
Bởi
chính vì bài thơ này đã nêu đúng cái tên ''Khánh'' nên đây chẳng phải
là bài thơ ''tưởng tượng'' nên không ''đụng hàng'' với một cuộc tình
nào nhưng khi đã cho T.T.Kh là Khánh thì
ta vần xem xét ngôn ngữ , ý tứ mà người ký TT này dùng cho ''người yêu''
có ''mặn mòi'' như T.T.Kh đã viết cho ''người ấy'' TT ? Ráp bài này lại
với những bài T.T.Kh ký, thằng chồng nào ngu mà không biết họ đang nói
về mình là một kẻ thừa bên lề yêu đương. Trong lịch sử văn học ngoại
trừ những tác phẩm văn xuôi, dòng thơ trữ tình chưa có câu thơ nào đầy
"lục dục thất tình" như câu ''miệng chồng Khánh gắn lên môi...
còn mơ". Người đọc nào có một chút tự trọng mà không thấy ghê
ghê.
Thơ lãng
mạn, ''thơ mới'' thời ấy mang bi kịch cả thực và mộng đều lẫn lộn
mênh mông, miêu tả ngoại cảnh là chính để bày tỏ nỗi lòng . Kẻ này
đi miêu tả cái thực "lột da". Xem ra cũng là sự "đột phá"
của kẻ "phá giới" . Chỉ tội nghiệp cho hai kẻ trong cuộc, dẫu
biết tỏng tòng tong thiên thiên hạ "chơi xỏ" mình nhưng đành ngậm
bồn hòn làm thinh. Phản ứng có mà chết chùm! Kẻ ngoài cuộc mỉa mai hả
hê. Người thơ ở trong giang hồ nửa đường đã thấy bất bình nên tức
giận dùm như Xuân Tâm Phan Hạp: ''Ôi khốn nạn ! Ôi điên rồ ! Giận tức
. Đuổi mau đi xác thịt, đuổi đi.'' Vậy
mà người ta chấp nhận được cái tả "da thịt " của Chế lan
Viên, Hàn mặc Tử, Vũ hoàng Chương... bởi họ đâu có ám chỉ đích danh
người nào dù cho nhân vật của họ có ''trần văn nhộng'' đi chăng nữa
thì cũng là cái tưởng tượng của văn chương lãng mạn. Cái thú vui ấy
chẳng qua, họ muốn trốn hiện thực mà thôi, không làm trầy da tróc vảy
ai cả. Và mái ''nhà tranh'' lãng mạn
ấy đã che chắn cho bao thi nhân tránh nắng tránh mưa qua hết bốn mùa !
Trở lại bài thơ
"Trả lời người yêu" như thế trên đời dễ đã có mấy
"cao thủ" ? Kẻ ấy chụp được con cá trắng lôi ra khỏi nước,
đem con cá đang giãy đành đạch đòi quyền sống kia phơi trên đường quốc
lộ giữa nắng bốc khói. Kẻ ấy chống nạnh coi con cá quằn quại chết
ngáp rồi bung dù ra... che. Cây dù che nắng hắn còn không đủ. Con cá trắng
hời ( Nếu là loại cá rô , nó... đâm một phát chạy nọc ) : Thù oán gì
anh . Sao đành phơi cá còn xanh giữa đàng? Cá ra khỏi nước sống hờ làm
sao ! Nó có chết không ? Sân cỏ này để dành cho bạn đọc ngẫm nghĩ...
trước khi vào đá trái banh T.T.Kh! TT làm gì mà tệ đến cực ác vậy khi
đã viết những câu phơi con cá trên còn hạ thủ thêm những câu phanh
thây con cá ra nữa:
Bao nhiêu hạt lệ còn thừa
Dành ngày sau khóc những giờ vị vong.
Bao nhiêu những cánh hoa lòng
Hãy dâng cho trọn nghĩa chồng hồn cha.
- Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh
Sá chi những chuyện tâm tình ...
( xem lại phân tích phần B đầu ) .
"Trả
lời người yêu" là tảng nước đá đập vào trái tim ấm áp yêu thương
của ai kia, là cái quay gót 180 độ với người yêu cũ, là bản án tử
hình cho hạnh phúc người yêu của mình . Thử hỏi con người như Thâm
Tâm sống trên đường đời mới qua có một nửa chưa đủ ''thâm niên''
để dùng thủ đoạn hại người. TT đã từng lăn lộn giữa cuộc đời cùng
khổ kiếm miếng cơm manh áo đã cực ,được một chút tình thì càng ôm
ấp ,nâng niu với từng kỷ niệm sao có thể là một kẻ hai mặt, hai
lòng? Theo Nguyễn
Thạch
Kiên ( sách đã
dẫn ) ghi lời TT tâm sự đã : “yêu … bé Kh…, sùng kính, nâng cao như mối
tình thần thánh” . TT không nói dóc vì trong ba bài thơ ký T.T.Kh, TT đã thương
nhớ từng kỷ niệm . Thương nhớ người yêu và hiểu lòng người ấy là
hai mặt của một tình yêu tri kỷ.
Tình yêu chỉ mới là tình. Tri kỷ mới thật là nghĩa. TT từng là con người
không muốn mất hai chữ này : ''Đau tình không xót bằng đau nghĩa.''. Người
ngoài cuộc làm sao hiểu nổi ! Những
bài thơ thật của TT với từng kỷ niệm đã đi vào máu thịt so với những
bài thơ ký TT, T.T.Kh với những kỷ niệm không ăn nhập vào đâu ! Xét để
phân biệt đâu là tiếng lòng của TT và kẻ bên ngoài tiếng lòng đó là
phải bắt đầu bằng những kỷ niệm của TT và Kh. Kỷ niệm là
những gì đã thuộc về quá khứ. Kỷ niệm luôn luôn là những buồn thương
của cuộc đời là tiếng đàn trầm bỗng của cuộc
đời với những yêu đương. Kỷ niệm vui
buồn thường gắn với năm, tháng, tuổi thơ, gắn với sự vật, hiện tượng
,từng mùa… Những
cái tạo thành kỷ niệm chính là chất liệu của thơ văn được biểu hiện
bằng ngôn ngữ theo mức độ cảm xúc, rung động khác nhau của người cầm
bút. Ta đọc
''Nguyệt Cầm'' của Xuân Diệu qua cái câu : '' Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc
nhớ người '' là ta có thể liên tưởng đến Bạch cư Dị khi bị thất
chức ngang qua Tầm Dương giang ( Trung Quốc ) cảm nàng ca kỹ Trường An đánh
đàn mà viết ''Tỳ Bà Hành'' để tặng.
Trăng, nhạc, bến Tầm Dương là kỷ niệm của nhà thơ họ Bạch. Với Thâm
Tâm và Kh, kỷ niệm của họ là ''một mùa thu'' . Cả hai, ai nói, ai
viết thì cũng chỉ một mà thôi. Có mười từ
''thu'' mang gió heo mây và lá vàng rơi rụng trong ''Hai sắc hoa Ti-gôn'' :
Mùa thu
đó kèm theo hoàng hôn, bóng nắng mờ đầy hoa đỏ rụng là mùa thu bắt
đầu yêu thương và tan vỡ. Người trong cuộc làm sao mà có thể quên được. Có hai từ
''thu'' xưa đầy lá khô chết. Một cho ''Bài thơ thứ nhất'' :
Một cho
''Bài thơ cuối cùng'' :
Người
nhắc đầy tiếc nhớ, thương yêu. Mùa thu trong họ là mùa thu tình yêu và
cũng là mùa chia xa đầy ấp kỷ niệm. Mùa thu cũng là nguồn cảm hứng
sáng tác mạnh mẽ của thi nhân. Điển hình, nhà thơ bác sĩ Thái Can trong
''Chiều thu'' đã nâng niu:
Hồ Dzếnh
cũng đã thắm thiết với ''Mùa thu năm ngoái'' :
Với Kiều,
Thúc Sinh, Nguyễn Du đã để cho họ chia tay trong mùa thu :
Nhưng thu
của Vũ Hoàng Chương là kỷ niệm một mùa thu cay đắng hơn :
Không ai
yêu trong mùa thu mà đi nhớ mùa đông? Có một mùa thu không nhớ được thì
đi nhớ cái gì ? Mùa thu với TT và Kh đầy kỷ niệm nên dù cuộc tình đã
lỡ, đã vỡ, vết thương sâu thì kỷ niệm càng đau, càng nhớ. Thâm Tâm sau đó như cố ý để một từ ''thu'' duy nhất xuống bài ''Ngô Sơn vọng
nguyệt'' viết chung với Trúc Khê, Nguyễn Bính, Trần huyền Trân:
Và trong
''Tráng khí ca'' ,TT cũng không quên:
Trong ''Tống
biệt hành'', TT đã nhắc lại kỷ niệm đó trong nổi khóc thầm:
Cuối đoạn
phục hồi của thi phẩm, TT đã có thêm một từ ''thu'' buồn lạnh lẽo nữa:
|