1005-gd.gif (6609 bytes)
posted: 10.10.2005
TTKh
Ngọc Thiên Hoa

Bài 3.

      III. T.T.Kh là Thâm Tâm :
              1. Thâm Tâm khẳng định T.T.Kh chính là bút hiệu của mình :
                    a. Qua sách báo :

Bài viết của Nguyễn Thạch Kiên trong cuốn "Văn học thời nay" của nhà xuất bản tuyển tập văn học thời nay năm 2005 có tựa đề : "Huyền thoại về nàng thơ T.T.Kh"  trích trong tập thơ ''Những kỷ niệm về quê hương'' đã ghi lại lời kể của ông H.Th - một người bạn của Thâm Tâm- như sau :

"Vào những ngày đầu của cuộc chiến chống thực dân Pháp năm 1947, tình cờ tôi được điều về đơn vị có nhà thơ Thâm Tâm hiện diện ... Do đấy tôi đã ở chung với Thâm Tâm trong một thời gian và gạn hỏi chính Thâm Tâm về huyền thoại nàng T.T.Kh với bài thơ 'Hai sắc hoa Ti-gôn'   kia..."  ( Nguyễn thạch Kiên -ttvhtn quyển 3 trang 19). Trang 20 , Nguyễn Thạch Kiên ghi lại lời kể của H.Th mà ông nghe được do chính Thâm Tâm tâm sự : "Người tôi yêu tên là Kh. Khi viết , tôi định ký rõ dưới bài là Thanh Tâm , giản dị vậy thôi , như những bài thơ tôi vẫn thường ký khi đăng báo. Tuy nhiên , một tối , tôi lại làm bài 'Hai sắc hoa Ti-gôn' cực tả mối tình của ai kia và ... liều chọn một bí danh ký dưới bài thơ bằng ba chữ viết tắt T.T.Kh. Ba chữ viết tắt ấy chỉ có nàng và tôi hiểu''.  TT cắt nghĩa vì sao Kh không ra nhìn nhận  : "Nàng yêu thơ, thích thơ nhưng đâu có biết làm thơ. Nàng không dám nhận , không dám ra mặt là lý do ấy" . Sự cắt nghĩa của TT qua lời ghi của N.T.K đã bước đầu có thể mở cái gút thắc mắc của Hoài Thanh , Hoài Chân , của người ái mộ là tại sao sau bốn bài thơ , T.T.Kh biến mất. Với hiện tượng về "Hai sắc hoa Ti-gôn" khiến ai cũng tưởng chính mình là ... người tình của nàng thơ T.T.Kh. Riêng chỉ có tôi là cười thầm . Nàng, chắc cũng vậy". Nếu thật đúng như trên ta thử nghĩ Kh có "cười" nổi không ? nếu có thì cười có lâu không vì bỗng nhiên có khối người đưa tên mình lên báo? Thâm Tâm lý giải rằng : "Thấy T.T.Kh là đề tài bán được báo , nhiều nhà thơ cũng nhảy vào vòng chiến. Có người mạo cả tôi để ký tên dưới bài thơ J. Leiba và Nguyễn Bính thì đàng hoàng thấy rõ . Các anh ấy chỉ cảm xúc xót thương thôi chứ không hề có ác ý hoặc bôi bác."

Tội nghiệp cho những người bạn ''kết nghĩa đào viên'' của Thâm Tâm (TT-Nguyễn Bính-Trần huyền Trân ,Bích Khê) nhất là Nguyễn Bính cả đời mang tiếng mê ''cô hàng xóm'' không đủ mới tranh thủ luôn Trần thị Khánh của Thâm Tâm. Té ra ,Nguyễn Bính chỉ ''cảm xúc ,xót thương thôi'' chớ đâu yêu iếc gì Kh qua ''Dòng dư lệ'' mà cũng không có ý ''bôi bác'' . Nguyễn Bính không có ý đó thì người khác có. Vậy những người đó là ai? Cuộc tình TT và Kh tan vỡ từ năm 1937. TT đã đính chính: ''Chỉ có ba bài thơ chính thức của T.T.Kh do chính tôi sáng tác mà thôi:

     1. Hai sắc hoa Ti-gôn.

     2. Bài thơ thứ nhất.

     3. Bài thơ cuối cùng.

...Ngoài ra những bài thơ như ''Đan áo cho chồng'' ký T.T.Kh ,bài ''Các anh hãy uống cho say'' ký Thâm Tâm...đều do các bạn tôi tự soạn ra cả. Nếu kể hết thì nhiều lắm...''

Trời ,nếu quả thật vậy thì năm 2005 là sự ''bùng nổ'' những thông tin văn học khá ly kỳ : Đó là hình tượng ''Cậu bé đuốc sống Lê văn Tám'' mà Giáo sư Trần huy Liệu đã mang vào lịch sử theo Giáo sư Phan huy Lê trong một cuộc họp báo của hãng phim truyền hình VN tại Hà Nội cuối tháng hai /2005 là... không có thật. Chỉ có cậu bé đóng vai Lê văn Tám năm 1980 của đạo diễn Lê mộng Hoàng là có thật mà hiện nay cậu học sinh trường Phan đăng Lưu-Bình Thạnh đó đang định ở Caliofornia. Cũng tại thủ đô HN ,cô học sinh Nguyễn phi Thanh trong kỳ thi HSGV ngày 18/03/05 bất bình với một đề thi nên đã dám viết vào bài làm là không thích tác phẩm ''Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc''!! Còn bây giờ ,các nhà nghiên cứu ,phê bình văn học... phải mở lại những trang viết về Thâm Tâm và T.T.Kh. Những bạn của TT : ''Nguyễn Bính ,Trần huyền Trân ,Tân Hiến ,Lê văn Trương ,Đặng đình Hồng ,Vũ hoàng Chương ,Đinh Bằng ,Vũ trọng Phụng..." ai đã góp phần diễn màng ''trộm lân tráo phụng'' này dưới những bài thơ ký tên Thâm Tâm? Những bài thơ đó theo Thâm Tâm: ''Trở lại với T.T.Kh ,những bài thơ mà các bạn tôi làm ,duyệt xét một lượt ,tôi đã phải lắc đầu. Nó có nhiều mâu thuẩn . Không đúng. Không đồng nhất mạch lạc như ba bài thơ chính.'' Có lẽ vậy mà những bài thơ thật của TT hay T.T.Kh hơi thơ đắng lòng đi một nơi trong khi có những bài ký thay ,lời thơ mai mỉa đi một nẻo. Với Kh ,Thâm Tâm đã dành cho cô bé một chữ ''Yêu'' thêm hai từ ''say mê'' dù bỗng nhiên ,nàng biến mất giữa  ''mối tình nở hoa hương ngào ngạt...Tôi hoàn toàn thất vọng ,kiếm tìm nàng giữa Hà Nội băm sáu phố phường...Nàng lẩn tránh tôi vì nghe lời bà mẹ...Tôi đã đến trường xưa tôi theo học mong được gặp lại nàng nhưng chỉ gặp ông thầy dạy học cũ: Thầy Vũ văn Nhượng...''  (Nguyễn thạch Kiên -Sách đã dẫn)

Chao ôi! Tưởng rằng trên đời này chỉ có những người con gái yêu mới lụy ,mới khổ ,nào ngờ ''bèo dạt mây trôi'' cũng có khối đàn ông ôm thuyền vỡ mộng! Một đêm tuyệt vọng bằng một đời đắng cay. ''Trương Chi -Mỵ Nương'' đáng thương cho người thổi sáo ! "Mỵ Châu-Trọng Thuỷ'' oan nghiệt thay mối nhân duyên bị cắt bởi chữ ''lừa'' vì tình yêu đã bị chiến tranh hoá . Chuyện tình ''nàng trinh nữ tên Thi'' đã buồn ,chuyện ''đồi thông hai mộ'' cũng khá gì hơn ! ''Lan và Điệp'' kẻ cắt đứt dây chuông ,người chôn cành lan ,xác bướm! ''Lương sơn Bá ,Chúc anh Đài'' ngập máu hồng tiễn bước vu quy ! Huyền thoại T.T.Kh cũng ra đi trong nước mắt. Mưa buồn lặng . Nắng khóc thầm. Bốn mùa qua trong thương nhớ . Sau một giấc dài ,người trong cuộc sực tỉnh: ''Thú thật ,chính cá nhân tôi rất xấu hổ. Vô tình tôi đã tạo ra ''xìcăngđan'' ấy. Trong tình yêu ,người ta thường trẻ con thế đấy. Sau khi đóng trọn vở tuồng ''một mình mình biết ,một mình mình hay'' tôi ngỡ ngàng khi ''soi gương ngắm lại mình''. Tôi nhận ra chính tôi đã lừa dối mình ,phỉnh gạt độc giả quần chúng.'' Thật ra,Thâm Tâm có ''gạt'' ai đâu? Trong cuộc đời có những nấm mồ vô chủ thì trong văn học sao lại không có tác phẩm không tác giả ? Một người có thể có nhiều bút hiệu và có thể ra đi trong lặng lẽ như T.T.Kh. Chẳng qua ,vì người đời ''thóc mách'' ,người đời ''bôi bác'' nó. Chính TT cũng công nhận: ''Méo mó nghề nghiệp vẫn là sỡ trường của một thiểu số người''. Người ta dựng lên ''nàng thơ T.T.Kh'' chớ ai thấy mặt mũi T.T.Kh ra sao mà biết là ...con gái! Tuy nhiên ,TT hiền khô ,chỉ biết ''lắc đầu'' trước những bài viết bóp méo sự thật. Anh đã ''đồng tình'' im lặng suốt chục năm qua cho đến khi có người khuấy động mới dè dặt : ''Khi thấy cần phải lên tiếng ,anh hãy nói ,hãy viết ra. Còn không thì chỉ nên im lặng dùm tôi như các bạn khác bấy lâu vẫn hằng im lặng vậy''. Có lẽ ''im lặng là vàng'' nên khối người đã chọn phương áng này ,trung thành với nó đến độ không cần thiết và nhiều khi ''tàn ác'' nữa.

Lời kết thúc tâm sự của Thâm Tâm có lẽ là sự khởi đầu quay lại các sáng tác của TT bởi chúng bắt đầu bằng nỗi đau khổ vì tình yêu. Sự thành công của các tác giả cũng chính là đề tài tình yêu. ''Không có tình yêu ,thế giới này vô hồn''. TT thú nhận : ''Yêu một cô bé ,đau khổ vì chuyện tình là không nên. Do đấy... cái lãng mạn ,cái tưởng tượng của người nghệ sĩ đều dồn vào thơ văn. Và tôi đã ,trẻ con như thế ,đã làm nổi một vở kịch.''. Sau đó có một ''hình tượng ly khách'' trong ''Tống biệt hành'' thoát ''kiếp ve sầu'' muốn làm ''con chim báo bão'' bay trong ''tiếng đời xô động'' bỏ lại sau lưng buồn đau ,huyền thoại với nỗi lòng rưng rưng,ngậm ngùi ...ra đi như ''tống biệt'' một quá khứ ! Tin hay không tin ?

        2. Tìm hiểu sự thật về những lời kể trên:

Người ta thường cho rằng : ''Nhà văn nói láo ,nhà báo nói thêm''. Cái nào cũng cần xét lại vì giá trị ''tương đối'' của nó. Nhiều khi những nhà xuất bản có tiếng tăm ,những cây bút có ''máu mặt'' chưa hẳn đáng tin cậy cho lắm. Công lý nằm trong tay kẻ xấu ,nỗi ''oan Thị Màu'' khó gỡ. Cây thanh long đao của Quan Công lợi hại nhưng miệng lưỡi Tào Tháo ghê gớm hơn. Cái trí dũng của Chu Du đốt 80 vạn quân Tào tiêu tan nhưng cây bút trong tay Khổng Minh mới thần sầu qủy khóc lấy mạng Chu Du tích tắc giây. Nhưng cây bút là vật vô tri . Cái chất xám kia mới là vô địch ,là nguyên nhân của mọi thứ trên đời ! Con người bập bênh lên xuống cũng vì nó đấy. Đúng sai cũng từ nó mà ra. Người ta được lợi lọc gì ?

Nguyễn thạch Kiên là ai ? Ông viết bài ''Huyền thoại về nàng thơ T.T.Kh'' như một màng kết thúc vở bi kịch TT-Kh từ 60 năm qua thật hay ''bịa'' để dệt ra ''Huyền thoại sau huyền thoại'' ? Ích lợi gì cho ông đây ?

               a. Nguyễn thạch Kiên : (1926-nay) : Mức độ tin cậy ?:

Theo Huy Phương trong ''Ký sự nhân vật : Nguyễn thạch Kiên ,nhà văn tiền chiến ,tám mươi chưa muốn buông bút'' (w.w.wperso.wanadoo.fr/charite/009vannghe.) , người viết xin tóm tắt  lại như sau:

        Nguyễn thạch Kiên sinh năm 1926 tại  Hà Nội. Quê cha Ninh Bình. Quê mẹ Hưng Yên. Năm1949 đạt giải nhất văn chương do nxb Tân Việt-Sài gòn tổ chức với tập truyện ''Hương lan''. 1959 đạt giải nhất của Tinh Việt văn đoàn do Phạm đình Tân và Phạm đình Khiêm tổ chức với tiểu thuyết ''Mùa hoa phượng''. Ông học cải tạo 11 năm vì là đảng viên Quốc dân đảng. Định cư tại Cali theo diện HO 18. Ông viết nhiều thể loại có tập thơ ''Nắng hương cau'' là những bài thơ tình mấy chục năm qua ở quê hương. Tập hồi ức ''Búp xuân đầu'' sắp xuất bản là công trình của ông ở cái tuổi 80. Nguyễn thạch Kiên được coi là nhà văn lão thành kỳ cựu và người hoạt động chính trị tại Hà Nội của thập niên 40 cùng thời với ''Tự lực văn đoàn'' và rất được lòng thương của giới văn nghệ sĩ.

        Hiện tại ,Vũ hoài Mỹ (chủ trương Văn học thời nay) là người lui tới giúp đỡ ông. Một con người sống già dặn qua hai thế hệ ,tám mươi tuổi chưa buông bút là một tấm gương cho chúng ta nhìn vào tự hỏi mình ? Theo Ðặng văn Nhâm trong ''Trận giặc văn bút'' nxbtvvh ,Nguyễn thạch Kiên từng là chủ tịch Văn bút Nam Cali.

        Riêng bài ''Huyền thoại về nàng thơ T.T.Kh'' nhà xb ghi rõ là trích trong cuốn ''Về những kỷ niệm quê hương'' cuả Nguyễn thạch Kiên . Ta có thể tin cậy được về con người có một quá trình say mê văn chương và hơn nữa ,nếu T.T.Kh thực sự là Thâm Tâm thì người ''được'' là TT chứ không phải NTK ''gần đất xa trời'' này. Việc làm của ông là vô tư . Viết để trả lại giá trị tác phẩm cho tác giả chớ không phải viết để đi bắt bẻ từng câu chữ rồi ném công trình người ta xuống vũng bùn như một số người : ''Mang chất xám rãi lên từng câu chữ. Mượn hồn văn để thử óc hẹp hòi !'' Trong những kỳ đại hội văn học trong và ngoài nước ,chuyện ''giặc văn bút'' không còn là bí mật khi người ta tranh nhau từng chức vị và ''hạ'' độc thủ nhau trên chiến trận văn bút nên hiện tượng một Nguyễn thạch Kiên làm cái việc mang T.T.Kh về với TT là một đóng góp văn học đáng cám ơn.

        Vấn đề thật hay không thật ,sách đã dẫn . Nhà văn ,nhà thơ bậc ''tiền bối'' đã viết vẫn còn sống. Bản thân tác phẩm cũng ''tự bạch'' phần nào. Tin hay không tin là tùy theo cách nhìn nhận của mỗi nguời. Còn người viết bài này chỉ làm một công việc mang lại cho người đọc quen thuộc những ý kiến , những tin tức mới mẻ cho dù là cảm tính hay chủ quan.

        b. Tìm hiểu chất giọng thơ của Thâm Tâm và T.T.Kh:

          Trước hết: Ông H Th trong bài viết NTK có nêu rõ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp 1947 ông có gặp TT trong đơn vị là đúng. TT gia nhập bộ đội theo các nhà nghiên cứu là năm 1947. Thời gian đó quân đội Pháp gây hấn nổ súng ở phố hàng Bún ngày 15-16 /12/1946 theo sách sử (đã nêu trên ) và  tháng 2/1947 có chỉ thị về việc gia nhập quân đội nên lời ông H Th không sai. Chuyện tham gia kháng chiến của TT là có thật. Chuyện tình TT-Kh cũng có thật . Chuyện TT là T.T.Kh có thật hay không còn dựa vào những sáng tác nhất là những sáng tác trước 1947 của Thâm Tâm.

        Thâm Tâm đến với ''Thơ mới'' muộn màng với làn hơi cổ điển đậm nét phong khoáng giang hồ nhưng thoát thai ra khỏi bi phẩn để đến với cách mạng mang hơi thở của người chiến sĩ ''trên từng cây số'' lại ngắn ngủi hơn chỉ vỏn vẹn ba năm . Như vậy ,gần mười năm sống đời nghệ sĩ tự tại (1938-1947) với mối tình như hoa như hương dù đã chia cách có cố quên gì thì cố ,dư âm một cuộc tình vẫn chi phối hầu hết trong những sáng tác để đời của nhà thơ tài năng mạng yểu này. TT chỉ có tất cả khoảng hai mươi bài . Nếu làm phương pháp loại trừ hay cộng lại những bài thêm vào và loại ra thì cũng chỉ ngần ấy. Người hay không phải nói nhiều. Thơ hay không ở dài ngắn nhưng đánh giá một tác giả ,một tác phẩm đang có nhiều nghi vấn trong lịch sử văn học quả thật có chút đắn đo... Chép lại những gì người ta đã viết hoặc viết lại những gì người ta đã nói có khác nào ''nhai lại'' ! TT mang âm hưởng thơ cổ nhưng có giá trị sáng tạo  nhất định trong thi ca. TT đã không là người ''copy'' văn học thì người nghiên cứu tìm vào thế giới thơ ca của TT càng không thể chỉ mỗi công việc ''sao y bản chánh''.

         Về những bài thơ của T.T.Kh ,muốn chắc ,ta đi theo hơi thơ của TT qua những bài làm theo thể thất ngôn tự do. Những bài thơ tiêu biểu trước khi nhập ngũ 1946 trở về trước của TT : Theo Tôn thảo Miên ,Trần hữu Tá ,Nguyễn hữu Đảng ( sách đã dẫn trên ) ,Thâm Tâm có những bài thơ như : Can trường hành ,Vọng nhân hành ,Tống biệt hành ,Tráng ca... ( Trong bài ''Chọn 10 nhà thơ lớn và 10 bài thơ hay nhất thế kỷ trong văn học Việt Nam'' ,Phan thư Soan có đưa ý kiến của nhà thơ Trinh Ðường và tổ bình chọn đã đưa bài ''Trường biệt hành'' của Thâm Tâm bên cạnh ''Nhớ rừng'' của Thế Lữ, ''Thề non nước'' của Tản Ðà ,''Nguyệt Cầm'' của Xuân Diệu ,“Tràng giang”  của Huy Cận ,''Tây tiến'' của Quang Dũng... không biết sách có in lộn ''Tống biệt hành'' thành ''Trường biệt hành'' hay không ?)

Theo VNthuquan.net : Thâm Tâm có thêm Dang dở ,Trả lời người yêu , Màu máu Ti-gôn , Các anh hãy uống cho say. Theo Thâm Tâm ( qua Nguyễn Thạch Kiên ) thêm : Hai sắc hoa Ti-gôn, Bài thơ thứ nhất và Bài thơ cuối cùng.

Những bài : Dang dở, Trả lời người yêu ( Các anh hãy uống cho say -Gởi T.T.Kh ), Đan áo cho chồng ... còn nằm trong nghi vấn nên ta cần tìm cách nào đó tạm thời làm sáng tỏ đó là những bài ký TT hay T.T.Kh nhưng không phải họ làm ( qua nội dung, hình thức.)

                       * Xem xét về nội dung:

Xét cái "Ta" mà giới nghiên cứu , phê bình gọi văn hoa là "chủ thể" . Khi đã nói đến cái "ta" thường rơi vào ba trường hợp :

·          Trường hợp một : Ta là Tôi - Ta tức là "thất vọng tình đời" sinh cái "Tôi" dễ ghét vì thời cuộc, số phận ( ngóc đầu không nổi , buồn , chán thương tâm , muốn bỏ hết...) . Dạng này ''Thơ mới '' chiếm đa số . "Đau vì nỗi đời vất vả. Đau vì kiếp làm dân một nước nô lệ. Đau vì tủi nhục, nghèo hèn cứ gắn hoài với thân phận"  ( HT-HC -TNVN ) . Còn một nỗi đau nữa chính là sự bạc đãi của quê hương mà Vũ Hoàng Chương trong "Phương xa" chua chát :

                                    Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa
                                    Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh.
                                ... Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ
                                    Một đôi người u uất nỗi trơ vơ.
                                    Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị
                                    Thuyền ơi thuyền ! Xin ghế bến hoang sơ.

Bến hoang sơ đứng đợi đó đã đưa con thuyền họ rẽ vào hoang vắng khác.

·          Trường hợp hai : Ta là Ta

Cái tôi và ta nhập lại thành cái "Ta" ngạo nghễ đời. Tức là "Thất vọng danh trường" mà ra ( con người rơi vào bất đắc chí của văn chương, đèn sách, khoa bảng... không hài lòng với thực tại , chán ghét chế độ...)

Dạng này của Nguyễn Trãi , Chu văn An , Nguyễn Du , Nguyễn Khuyến , Tú Xương , Nguyễn công Trứ , Cao bá Quát , Hồ xuân Hương, Duyên Anh...) với : ''Sách vở ích gì thời buổi ấy. Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già.'' (Nguyễn Khuyến) Nó còn là thất vọng của một lớp trai thời loạn chưa tìm ra một phương hướng đi cho mình mà Nguyễn Bính đã từng bỏ mặc : "Ðời có còn gì tươi đẹp nữa. Buồn thì đến khóc ,chết thì chôn.''

·          Trường hợp ba: Ta - danh vọng - và em.

Chủ thể này bị chi phối bởi chủ thể khác. Tức là "Thất vọng tình trường" . Dạng này chi phối hầu hết quá trình sáng tác của con người là cái "nền " cho dòng thơ buồn man mác xuyên suốt từng thời đại, băng qua ngàn thế kỷ. Nó ngang tàng và đầy khí phách:

                         Thay mặc kệ thiên đường hay địa ngục
                         Không hề mặc cả, họ yêu nhau .
                     ... Say thơ xa lạ, mê tình bạn
                         Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen.
                                         ( Tình trai -Xuân Diệu )

Ba dạng thất vọng này cùng chảy qua thời đại. Thâm Tâm nằm ở loại nào ?  Có thể xếp cho thơ TT nằm ở cả ba dạng :

+ Thất vọng tình đời của Thâm Tâm : ( Nằm chung với một kiếp người cùng khổ )

Thời buổi loạn ly, chiến tranh khốc liệt , di tản liên miên dẫn đến cuộc sống không ổn định trái với các lẽ "An cư lập nghiệp" . Thâm Tâm phải làm đủ thứ nghề trái với điều "Nhất nghệ tinh , nhất thân vinh" nên than thở :

                     Hôm qua không có, hôm nay mất
                     Ai rú trong đời tám hướng sương 

+ Thất vọng danh trường của Thâm Tâm : ( Nằm chung với một lớp người cùng hèn )

Ảnh hưởng thời đại (tình đời ) làm cho Thâm Tâm không học hành đến nơi đến chốn. Thêm vào đó, Thâm Tâm xuất thân thành phần tiểu tư sản trí thức nghèo ( cha là nhà nho dạy học ) mà thời "sĩ nông công thương" đã đến hồi tàn mạt. Tiểu tư sản trí thức nghèo rớt mồng tơi này lại nằm trong chủ trương : "đào tận gốc , trốc tận rễ" . Ôi thương đau cho "Giấc mơ anh lái đò'' của Nguyễn Bính năm nao: ''Tưng bừng vua mở khoa thi. Tôi đổ quan trạng vinh quy về làng'' bay tuốt luốt theo những chế độ thi cử bị thực dân Pháp bỏ ( 1864, 1915, 1918 ) . Thâm Tâm có gì hơn đâu mà không ngao ngán trong những bài ''Can trường hành'', ''Vọng nhân hành'' :

                     Vuốt cọp chân voi còn lận đận
                     Thằng thí cho nhàm sức võ sinh
                     Thằng bó văn chương đôi gối hận
                     Thằng thư trói buộc ,thằng giã quê
                     Thằng phấn son nhơ... chửa một về.

Tài năng không đất dụng võ thì cũng như... ''ngựa chạy cùng đường" mới "rú trong trời tám hướng sương" mới ngoa một chút:

                      Múa lưỡi đánh tan ba kẻ sĩ
                      Mềm môi nốc cạn một ly men.

Sự say mèm với thất vọng có một Vũ Hoàng Chương ngã nghiêng, ngã ngữa: "Còn chưa say hồn khát vẫn thèm em" . Thâm Tâm thì sao ?

+ Thất vọng tình trường của Thâm Tâm: ( Nằm chung với lớp người cùng yêu mà đau )

Dòng ''Thơ mới'' đã ''Yêu như trăm năm chưa biết đến bao giờ. Nhớ như tự nghìn năm chưa biết nhớ''. Lớp người cùng yêu mà đau đó đã mang về cho thi ca không biết bao nhiêu thi phẩm về một mơ ước cũ mèm của tình yêu : ''Cho anh gom hết ngàn thương nhớ . Chôn cả lòng yêu nát rượu mềm.'' (Quách xuân Sơn -Lời cô phụ-). Nỗi buồn ''vắng anh'' chỉ một nhưng đau khổ ''vắng em'' chiếm mười trong thi ca. Bởi lẽ : Không có em ''Chiều đơn côi hoang vắng tâm hồn. Không có em khóc thầm bịn rịn. Ngồi một mình sầu với hoàng hôn. Không có em đường dài vấp ngã. Không có em cây lá đổi màu. Không có em biển thôi xào xạc. Sóng ơ thờ gió cũng thôi bay." (Thùy Lam -Không có em-)

Tình yêu là đỉnh điểm của loài người. Tình yêu không ngại chiến tranh. Tình yêu không cầu danh lợi mà hỡi ơi! Con người bèo bọt, ly tan cũng vì hai chữ này. Xuân Diệu yêu cuồng. Thâm Tâm mới nức mắt đã yêu khi còn đi học. Tình yêu là nguồn cảm xúc của thi ca nhưng lạ quá, thơ Thâm Tâm chẳng có bài thơ tình yêu nào ra hồn! Vậy cái hồn này thật ra ở đâu?  Tình yêu là nguồn cảm xúc bất tận của thi ca . Biết bao người thơ đã thành thi nhân nhờ nguồn cảm xúc này . TT đã từng yêu ,được yêu và đau khổ sao không có lấy một bài thơ tình yêu nào ? Không lẽ trong anh ,chất cảm xúc thiêng liêng này đã mang hội chứng ''lãnh cảm'' . Chỉ còn những bài ký tên T.T.Kh. Vậy ta chỉ cần tìm cho ra chỗ: Không phải Kh làm thì ba trong bốn bài thơ đó là  của Thâm Tâm. Từ nội dung ba bài thơ ( Hai sắc hoa Ti-gôn, Bài thơ thứ nhất, Bài thơ cuối cùng) lần tìm ra tình yêu Thâm Tâm với : "hồn thơ" ở đâu ?

Những bài thơ không phải Kh làm: Lý do :

Một: Theo Thâm Tâm : Kh yêu thơ thích thơ nhưng không biết làm thơ . Nghĩa là "rung cảm" nhưng không khả năng.

Hai: Nội dung từng bài chứng tỏ Kh không thể tự mình dám ghi rõ ràng tình yêu của mình lên giấy khi đã lấy chồng. Nghĩa là dù có khả năng nhưng hoàn cảnh không cho phép. Xét lại những câu thơ bộc lộ rõ tâm sự để đối chiếu với hoàn cảnh thực tại của Kh có thể thấy Kh không thể tự làm :

                 * Bài hai sắc hoa Tigôn: Những câu sau :

                          Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ...
                          Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.

Theo TT ,Kh tự bỏ TT nên có thư từ, gọi điện gì cho TT đâu mà chồng Kh biết. Không lẽ, chồng Kh cũng đoán mò như Xuân Diệu: "Cùng giường khác mộng sao em" ? Theo tâm lý, thằng chồng biết được, nó không "hững hờ" đâu! "Nó..."dần" cho nát cái xương . Nó ''thương'' cho tới ...kiếm đường ...đầu thai!'' . Chết chắc . Chẳng q ua TT vì nhớ thương Kh nên không kìm chế được cảm xúc, mới buông ra :

                      Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
                      Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
                      Mà từng thu chết, từng thu chết
                      Vẫn giấu trong tim một bóng người.

Đây là bản nhận tội không ai cứu nổi. Bản thân Kh có học, biết lễ nghĩa gia giáo. Nghe mẹ, bỏ Thâm Tâm, nàng được coi là hiếu nữ. Lấy chồng, nàng sẽ giữ chữ "xuất giá tòng phu" . Có than ,nàng cũng than trong lòng̣. Có nhớ, nàng cũng chỉ được phép nhớ trong mơ. Kh can đảm cỡ nào mà đem chuyện "phòng the" lên báo ? Ta chắc bây giờ cũng không ai "gan" mà đọc những câu thơ như thế ngay trong gia đình riêng của mình? Câu thơ hay nằm trong ngữ cảnh trái sẽ thành: bạc bẽo, bẽ bàng cho hai phía. TT chưa có "bà xã" lúc này nên chưa biết thế nào là cái "ghen" của người  ''giơ cao ,đánh...thật'' mới đi xa thêm :

                       Nếu biết rằng tôi đã có chồng
                       Trời ơi! Người ấy có buồn không?
                       Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ
                       Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?

Nghe tê tái lắm nhưng người vì hiếu nghĩa mà "lấy chồng cho đáng tấm chồng, bỏ công bác mẹ sinh thành ra em" tức là tự mình quyết định ''lìa" cội rễ tình yêu. Có chồng là bao nhiêu vướng víu, bận rộn, lu bu 24/ 24 khiến cho quay mòng mòng đầu bù, tóc rối hơi sức nào mà nói đến thơ mà "thơ" câu nào cũng "đốt lòng", đốt luôn nhà người ta nữa. Không thương người ta mà lấy người ta, than thở như vậy hỏi người làm chồng có ê mặt hay không ? "Người ấy có buồn không?" té ra chính là kẻ đứng đưa tiễn chim sáo ngày xưa sang sông . Kẻ đó nếu không chính là Thâm Tâm chẳng lẽ là Nguyễn Bính là Huyền Trân ? Nỗi lòng đau khổ đó đã được lập đi ,lập lại nếu không là TT thì Kh chẳng thể nào dám viết một tiếng lòng rên xiết như thế cả.

            * Bài thơ thứ nhất:  Có những câu sau đây:

                           Biết đâu...tôi: một tâm hồn héo,
                           Bên cạnh chồng nghiêm, luống tuổi rồi !

Chẳng khác gì chê chồng già quắc ,già quéo mới "hững hờ" , mới ''lạnh nhạt''. Tâm lý người đàn ông trong chuyện gối chăn mà bị chê thì coi như... tàn phế! . Vả lại, giả như có ai đó lấy trúng loại chồng "nghiêm" như thế suốt ngày lăm lăm cái ...roi cá đuối, cô vợ trẻ kia có mà ngồi yên viết với lách ,có trốn trong hốc nào thì nó cũng ...moi ra...hành cho cái tội chê chồng cho biết cái  thân!. Có lẽ vì nói về người chồng của Kh hơi quá nên mười năm sau ,vỡ lẽ ra ,TT mới tự kiểm điểm : "Chồng Kh là một thương gia mới 38 tuổi có luống tuổi gì đâu." Thật ra, làm một phép tính nhẩm : chồng Kh ít nhiều cũng hơn Kh một con giáp rưỡi. Lấy chồng tuổi ấy gọi cha là vừa! Xót người nên nghĩ tới người, viết cho ''người'' không TT thì cũng chẳng có ai "thương dùm phận gái thuyền quyên như nàng" bằng TT. Có đau thương gì thì người trong cuộc cũng phải tìm cách đi vào đoạn kết.

                * Bài thơ cuối cùng: Bài thơ có những câu như sau thật ''nguy hiểm'':

                   - Và người vỡ lỡ duyên thầm kín,

                      Lại chính là anh? Anh của em!

 

                    -Tôi biết làm sao được hỡi trời?

                     Giận anh, không nỡ! Nhớ không thôi!

 

Nghĩa là người trong cuộc vẫn còn thương nhớ mối duyên "thầm kín" đó nhưng từ ''Anh anh, em em'' ngọt sớt kiểu này gặp thằng chồng hung dữ vì ghen... nó cắt lưỡi. Chẳng qua ,tiếng lòng tự trách của TT mà thôi. Xuân Diệu từng tự trách : ''Em ác quá lòng anh như tự xé'' theo cách yêu của Xuân Diệu. Mạc phương Ðình trong bài ''Ðành'' có cách trách của riêng mình : ''Mắt ta bé mà tình em lớn quá. Ta ngu ngơ nhìn ngó nhận không ra. Vòng tay hẹp không đủ ôm biển cả. Lòng đu đưa trong cõi ta bà.... Chắc tiền kiếp ta mang đời kẻ chợ. Ðem tình yêu thả gió lang thang. Em qua đó vô tình mắc nợ. Ðể cùng ta rơi xuống chốn địa đàng.''.  TT và Kh ai đã mắc nợ ai mà ''Mưa buồn ,mưa hắt ,trong lòng ướt... Sợ quá đi ,anh ...''có một người''...Cái người này là ai mà đã qua hết nửa thập niên nay sao còn quay trở lại thi ca bằng những lời kêu thương buốt lòng ? Tiếc thay ,sự yêu thương đó sang bài thơ dưới đây có những lời thở than ngằn ngặc mệt mỏi lạ lùng .

                    * Bài "Đan áo cho chồng" : Bài thơ này có những câu ''thêm dầu vào lửa'':

 

                         - Đáng thương những kẻ có chồng như em,

                       ... Vẫn còn thấy lạnh trong tim,

                            Đan đi đan lại áo len cho chồng.

                         - Tháng ngày miễn cưỡng em đan,

                            Kéo dài một chiếc áo len cho chồng.

                            Như con chim hót trong lồng,

                            Tháng ngày mong đợi ánh hồng năm nao!

 

Lấy chồng chẳng những không hưởng được vòng tay ấm áp mà chỉ thấy cảm giác lạnh lùng . Nét tâm lý này có thể âm thầm chịu đựng thì thật là một sự hy sinh cao cả. Thật ra ,nét đẹp của người phụ nữ ''phu xướng ,phụ tòng'' thờ cha ,kính mẹ bên chồng còn thể hiện theo từng đường kim mũi chỉ . Không yêu nhưng sống trong một mái nhà buồn vui ấm lạnh đủ cả ,chẳng lẽ người trong cuộc nào mà không có chút tình dù chỉ là tình người ? Ví dù người chồng kia có ''hững hờ'' gì đi nữa nhưng mặc cái áo mà vợ chăm chút đan cho có lý nào chẳng chút động lòng ! Nhưng bây giờ thì ''lửa bỏng hỏng xôi'' hết trơn. Đan cho chồng cái aó mà than ngắn thở dài ,lòng tưởng nhớ ai thì thằng chồng mặc vào còn hơn gai chích hơn kim châm ? ''Nàng than nàng lạnh nhưng ta có chiếc áo nàng đan cho ,mặc rồi ,ta còn cảm giác lạnh lẽo hơn nàng !'' Kh có dám nhùng nhằn như thế đâu nếu nói không nỡ lòng.

Nhưng nghĩ cũng ...vui đấy : Bỏ thì không dám, vương thì phải cam. Một chiếc áo đan hết mùa đông cũng chưa xong. Gặp bà già chồng khó chịu sẽ mắng con dâu "thêu thùa vá may" dở ẹt ! Bà ta nóng ruột sẽ giật phắt cuộn len mà tự mình đan giùm cho con trai là nàng ... khỏe re. Còn thằng chồng chờ mãi chờ hoài không có áo, lạnh quá chịu hết xiết ... ra tiệm mua quách. Sướng! Nàng giam mình đan mỗi cái áo lâu lơ, lâu lắc như cố ý kéo dài thời gian khỏi ...đi chợ ? Thật ra, con chim hót trong lồng mới an toàn, ra ngoài đứng hót không bị mèo chụp cũng vướng ná bắn chim, kêu than cái gì nữa ?!!!. Rên la ầm ĩ, thằng chồng vớ được tờ báo đọc hay có kẻ nào thóc mách khẽ ...rỉ tai. Thế là chàng nếu mà không xửng cồ, thì ... cha chả cũng bừng gan trào lửa hận cho con vợ: ''Lấy chồng vẫn tưởng trai tơ'' ,nó...vặt cho con chim hót trong lồng kia không còn... một cọng lông để mà trông mà ngóng ?!!!.

Như đã nói trên, Kh là cô gái có học, biết lễ nghĩa, hiếu đạo, không có thì giờ ngu ngốc "mổ bụng" phơi ruột gan cho thiên hạ xem. Cái tinh thần võ sĩ đạo này hãy để cho đàn ông Nhật làm đi. Cái tinh thần này ,Kh có nằm mơ cũng không dám thấy. Giả sử Kh làm thơ, đăng báo. Đăng để làm gì? Cho TT biết được tin tức về nàng chăng? Càng vô nghĩa vì khi người ta đã lẫn trốn tức là xác định cho mình một con đường đi nghĩa là những mối dây liên hệ quá khứ sẽ bị thời gian và bổn phận cắt đứt! Kh không thể viết một bài thơ tự treo cổ con chim trong lồng.

            Nhưng nếu TT viết dùm tâm sự cho Kh có được không ? Bây giờ ,ta xem từng nội dung mỗi bài có ứng với con người TT hay không? Cứ coi như TT viết hết bốn bài trên. Không ai hiểu lòng Kh bằng TT. Sự ra đi không báo trước của Kh làm TT hụt hẫng về tinh thần. Chới với trong tình huống bất ngờ chẳng được báo trước, người ta  phản ứng  ...chụp cây viết, viết cho thỏa, cho xong một tấm lòng như khi người đàn ông nổi cục tự ái bự mà không biết tác giả nào đã cho ra đời những câu thơ vui vui nhưng chua chát như sau : ''Nếu biết rằng em đã có chồng. Anh về cưới vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm. Nhưng đẹp hơn em ở tấm lòng''. Đàn ông "cả thèm chóng chán" . Đàn bà lặng lẽ ngược ngang. Nhưng TT lại là loại đàn ông lặng lẽ như Trần Quốc Sỹ "Khóc tình" : ''Ta thắp nến khóc tình yêu vừa chết . Hấp hối sau cơn sốt bỗng vật vờ. Tình yêu nào, ai biết đâu đoạn cuối. Cứ ngỡ rằng tình vẫn mãi là thơ.''. Và cũng vậy TT dệt nên một vở kịch, tạo nên một huyền thoại mà TT tự cho là "trẻ con". Trong thi ca đâu mỗi chỉ mình TT mang tình mình vào huyền thoại mà còn có một Tâm Thư với ''Trẩy hội đan tay'' : Cũng đành đem dấu vết xưa.  Vào trang cổ tích cho vừa nhánh thương. Cũng đành chia nửa con đường. Cho trăm năm vỡ cho hờn đánh rơi. ''Kh đã không thể viết những dòng cổ tích để dệt quanh mình một huyền thoại vô tư. TT viết cho nàng nhưng cái chính là viết cho mình. Mai mốt, cô vợ "đẹp" ở "tấm lòng kia" có đọc lại dòng thơ của chồng viết cho ai đó thì cũng chỉ nghĩ là : Tâm trạng của một nhân vật cô gái mà chồng đã dựng lên mà thôi ,nàng ...thở dài cho qua.

 

               Dòng trữ tình thường mang đôi cánh lãng mạn. Tâm trạng bao giờ cũng được che chắn bởi hàng hàng lớp lớp từ ngữ ,hình tượng từ hiện thực đến tưởng tượng. Ði sâu quá vào ngữ cảnh thật của thi ca là chẳng đúng với cách phân tích giá trị nội dung ,nghệ thuật cuả tác phẩm . Nếu với mỗi một thi phẩm ta cứ tìm cho bằng được : Họ là ai ? Ai yêu ai ? Nam là ai? Nữ là ai?...thì dung tục quá ,bởi có những thi phẩm chỉ là ''tưởng tượng'' như Lưu trọng Lư đã tưởng tượng một con nai vàng ngơ ngác thì làm sao mà kiếm cho được con nai kia ,làm sao mà... moi cho ra được cái người mình muốn tìm? Nhưng với những bài thơ của TT ,T.T.Kh thì đây cần hiểu là một trường hợp đặc biệt. Nếu người ta đừng cho T.T.Kh là Kh -cô bé Khánh của TT- thì ta không cần mất công tìm ''người ấy'' trong bài thơ làm gì . Nếu T.T.Kh là Kh thì cũng đâu có mắc mớ gì cần đi chứng minh có phải Kh viết hay không ? . Có một điều khiến ta cảm thấy như là một sự không bình thường như đã nêu ở trên là TT không có một bài thơ tình yêu nào ngoài thi phẩm ''Tống biệt hành'' chưa ngã ngũ giữa đôi bờ đưa tiễn người bạn hay tiễn đưa lòng ? Còn nữa ,những bài thơ ký TT cũng không có một nhà nghiên cứu nào dám đưa vào phần ''sự nghiệp'' trong tiểu sử TT. TT đã thành hai TT : Một TT nặng chữ ''tình'' . Một TT cười cợt chữ ''nghiã''. Bởi vậy ,TT có viết : ''Ðau tình không xót bằng đau nghiã''. Trả lại giá trị thật cho TT vẹn toàn hai chữ ''tình nghĩa'' này thiết nghĩ người yêu văn học không thể nhắm mắt làm ngơ ,không thể chờ phép nhiệm màu nào ban tới .

 Không phải bài nào ký TT hay T.T.Kh cũng là thật. Loại trừ như thế nào? Ta lại tìm vào nội dung xem có trùng hợp với nhau ?. Nếu khác, tức là người viết giùm chưa hiểu hết lòng của người ta vì không ở trong một kỷ niệm nào sâu sắc dẫn tới ng̣òi bút hững hờ, lời văn nhạt tình ,ý phát sinh lạt lẽo.

 

·          Những bài thơ không phải TT làm: Với những lý do sau đây:

Một: TT khẳng định chỉ làm có ba bài ( Hai sắc hoa Ti-gôn, Bài thơ thứ nhất, Bài thơ cuối cùng ). Còn những bài khác đều do bạn bè làm. (Theo Nguyễn thạch Kiên ).

Hai: Xét nội dung những bài ký TT hoặc T.T.Kh nhưng không phải TT làm, đều trái đạo lý, lệch lạc ý nghĩa khác biệt cả cách hành văn và nghệ thuật.

                 * Bài "Trả lời người yêu  Gởi T.T.Kh" :

Bài này được ai đó làm sau khi bài "Đan áo cho chồng" ký T.T.Kh ra đời có những câu ...thật chẳng là đàn ông tốt :

 

                    -Vâng ,tôi biết có một người

                     Một đêm tưởng nhớ rằng tôi là chồng.

                     Để hôm sau khóc trong lòng̣

                     Vâng tôi vẫn biết cánh đồng thời gian.

                    -Miệng chồng khánh gắn lên môi

                     Hình anh mắt Khánh sáng ngời còn mơ.

                    -Đàn xưa từ chia đường tơ

                     Sao tôi không biết hững hờ nàng đan.

                    -Khánh ơi! còn hỏi gì anh

                     Ái tình đã vỡ, ái tình còn nguyên

 

Bởi chính vì bài thơ này đã nêu đúng cái tên ''Khánh'' nên đây chẳng phải là bài thơ ''tưởng tượng'' nên không ''đụng hàng'' với một cuộc tình nào nhưng khi đã cho T.T.Kh là Khánh thì ta vần xem xét ngôn ngữ , ý tứ mà người ký TT này dùng cho ''người yêu'' có ''mặn mòi'' như T.T.Kh đã viết cho ''người ấy'' TT ? Ráp bài này lại với những bài T.T.Kh ký, thằng chồng nào ngu mà không biết họ đang nói về mình là một kẻ thừa bên lề yêu đương. Trong lịch sử văn học ngoại trừ những tác phẩm văn xuôi, dòng thơ trữ tình chưa có câu thơ nào đầy "lục dục thất tình" như câu ''miệng chồng Khánh gắn lên môi... còn mơ". Người đọc nào có một chút tự trọng mà không thấy ghê ghê.

 

Thơ lãng mạn, ''thơ mới'' thời ấy mang bi kịch cả thực và mộng đều lẫn lộn mênh mông, miêu tả ngoại cảnh là chính để bày tỏ nỗi lòng . Kẻ này đi miêu tả cái thực "lột da". Xem ra cũng là sự "đột phá" của kẻ "phá giới" . Chỉ tội nghiệp cho hai kẻ trong cuộc, dẫu biết tỏng tòng tong thiên thiên hạ "chơi xỏ" mình nhưng đành ngậm bồn hòn làm thinh. Phản ứng có mà chết chùm! Kẻ ngoài cuộc mỉa mai hả hê. Người thơ ở trong giang hồ nửa đường đã thấy bất bình nên tức giận dùm như Xuân Tâm Phan Hạp: ''Ôi khốn nạn ! Ôi điên rồ ! Giận tức . Đuổi mau đi xác thịt, đuổi đi.''  Vậy mà người ta chấp nhận được cái tả "da thịt " của Chế lan Viên, Hàn mặc Tử, Vũ hoàng Chương... bởi họ đâu có ám chỉ đích danh người nào dù cho nhân vật của họ có ''trần văn nhộng'' đi chăng nữa thì cũng là cái tưởng tượng của văn chương lãng mạn. Cái thú vui ấy chẳng qua, họ muốn trốn hiện thực mà thôi, không làm trầy da tróc vảy ai cả. Và mái ''nhà tranh'' lãng mạn ấy đã che chắn cho bao thi nhân tránh nắng tránh mưa qua hết bốn mùa !

 

       Trở lại bài thơ "Trả lời người yêu" như thế trên đời dễ đã có mấy "cao thủ" ? Kẻ ấy chụp được con cá trắng lôi ra khỏi nước, đem con cá đang giãy đành đạch đòi quyền sống kia phơi trên đường quốc lộ giữa nắng bốc khói. Kẻ ấy chống nạnh coi con cá quằn quại chết ngáp rồi bung dù ra... che. Cây dù che nắng hắn còn không đủ. Con cá trắng hời ( Nếu là loại cá rô , nó... đâm một phát chạy nọc ) : Thù oán gì anh . Sao đành phơi cá còn xanh giữa đàng? Cá ra khỏi nước sống hờ làm sao ! Nó có chết không ? Sân cỏ này để dành cho bạn đọc ngẫm nghĩ... trước khi vào đá trái banh T.T.Kh! TT làm gì mà tệ đến cực ác vậy khi đã viết những câu phơi con cá trên còn hạ thủ thêm những câu phanh thây con cá ra nữa:

 

                            Bao nhiêu hạt lệ còn thừa

                            Dành ngày sau khóc những giờ vị vong.

                            Bao nhiêu những cánh hoa lòng

                            Hãy dâng cho trọn nghĩa chồng hồn cha.

                         - Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh

                            Sá chi những chuyện tâm tình ...

                                            ( xem lại phân tích phần B đầu ) .

 

"Trả lời người yêu" là tảng nước đá đập vào trái tim ấm áp yêu thương của ai kia, là cái quay gót 180 độ với người yêu cũ, là bản án tử hình cho hạnh phúc người yêu của mình . Thử hỏi con người như Thâm Tâm sống trên đường đời mới qua có một nửa chưa đủ ''thâm niên'' để dùng thủ đoạn hại người. TT đã từng lăn lộn giữa cuộc đời cùng khổ kiếm miếng cơm manh áo đã cực ,được một chút tình thì càng ôm ấp ,nâng niu với từng kỷ niệm sao có thể là một kẻ hai mặt, hai lòng?

     Theo Nguyn Thch Kiên ( sách đã dẫn ) ghi lời TT tâm sự đã : “yêu … bé Kh…, sùng kính, nâng cao như mối tình thần thánh” . TT không nói dóc vì trong ba bài thơ ký T.T.Kh, TT đã thương nhớ từng kỷ niệm . Thương nhớ người yêu và hiểu lòng người ấy là hai  mặt của một tình yêu tri kỷ. Tình yêu chỉ mới là tình. Tri kỷ mới thật là nghĩa. TT từng là con người không muốn mất hai chữ này : ''Đau tình không xót bằng đau nghĩa.''. Người ngoài cuộc làm sao hiểu nổi !

Những bài thơ thật của TT với từng kỷ niệm đã đi vào máu thịt so với những bài thơ ký TT, T.T.Kh với những kỷ niệm không ăn nhập vào đâu ! Xét để phân biệt đâu là tiếng lòng của TT và kẻ bên ngoài tiếng lòng đó là phải bắt đầu bằng những kỷ niệm của TT và Kh.

        Kỷ niệm là những gì đã thuộc về quá khứ. Kỷ niệm luôn luôn là những buồn thương của cuộc đời là tiếng đàn trầm bỗng của cuộc đời với những yêu đương. Kỷ niệm  vui buồn thường gắn với năm, tháng, tuổi thơ, gắn với sự vật, hiện tượng ,từng mùa…

Những cái tạo thành kỷ niệm chính là chất liệu của thơ văn được biểu hiện bằng ngôn ngữ theo mức độ cảm xúc, rung động khác nhau của người cầm bút.

        Ta đọc ''Nguyệt Cầm'' của Xuân Diệu qua cái câu : '' Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người '' là ta có thể liên tưởng đến Bạch cư Dị khi bị thất chức ngang qua Tầm Dương giang ( Trung Quốc ) cảm nàng ca kỹ Trường An đánh đàn mà viết ''Tỳ Bà Hành'' để tặng. Trăng, nhạc, bến Tầm Dương là kỷ niệm của nhà thơ họ Bạch.

Với Thâm Tâm và Kh, kỷ niệm của họ là ''một mùa thu'' . Cả hai, ai nói, ai viết thì cũng chỉ một mà thôi.

        Có mười từ ''thu'' mang gió heo mây và lá vàng rơi rụng trong ''Hai sắc hoa Ti-gôn'' :

                            - Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn
                               Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn .
 
                            - Từ đấy, thu rồi, thu lại thu,
                               Lòng tôi còn giá đến bao giờ ?
                               Mà từng thu chết, từng thu chết
                               Vẫn giấu trong tim một bóng người .
  
                            - Tôi nhớ người đã bảo với tôi
                               Một mùa thu trước rất xa xôi...
  
                            - Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,
                               Chiều thu hoa đỏ rụng. Chiều thu

Mùa thu đó kèm theo hoàng hôn, bóng nắng mờ đầy hoa đỏ rụng là mùa thu bắt đầu yêu thương và tan vỡ. Người trong cuộc làm sao mà có thể  quên được.

        Có hai từ ''thu'' xưa đầy lá khô chết. Một cho ''Bài thơ thứ nhất'' :

                              - Tôi run sợ viết, lặng im nghe
                                Tiếng lá thu khô siết mặt hè

Một cho ''Bài thơ cuối cùng'' :

                            -  Anh hỡi tháng ngày xa quá nhỉ?
                                Một mùa thu cũ, một lòng đau …

Người nhắc đầy tiếc nhớ, thương yêu. Mùa thu trong họ là mùa thu tình yêu và cũng là mùa chia xa đầy ấp kỷ niệm. Mùa thu cũng là nguồn cảm hứng sáng tác mạnh mẽ của thi nhân. Điển hình, nhà thơ bác sĩ Thái Can trong ''Chiều thu'' đã nâng niu:

                              Ta về nhặt lấy hoa thu rụng
                               Đặng giữ bên lòng nỗi nhớ mong

Hồ Dzếnh cũng đã thắm thiết với ''Mùa thu năm ngoái'' :

                               Dưới chân mỗi lối thu vàng
                               Tình xa xa lắm, tôi càng muốn yêu.

Với Kiều, Thúc Sinh, Nguyễn Du đã để cho họ chia tay trong mùa thu :

                               Người lên ngựa kẻ chia bào
                               Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.

Nhưng thu của Vũ Hoàng Chương là kỷ niệm một mùa thu cay đắng hơn :

                               Có lẽ đau tâm linh còn trọn lối
                               Để đi về cay đắng những thu xưa.

Không ai yêu trong mùa thu mà đi nhớ mùa đông? Có một mùa thu không nhớ được thì đi nhớ cái gì ? Mùa thu với TT và Kh đầy kỷ niệm nên dù cuộc tình đã lỡ, đã vỡ, vết thương sâu thì kỷ niệm càng đau, càng nhớ. Thâm Tâm sau đó như cố ý để một từ ''thu'' duy nhất xuống bài ''Ngô Sơn vọng nguyệt'' viết chung với Trúc Khê, Nguyễn Bính, Trần huyền Trân:

                                Mai này mãi mãi dù đi
                                Gió thu còn giục hồn về Ngô Sơn.

Và trong ''Tráng khí ca'' ,TT cũng không quên:

                                Cuối thu mưa nát lòng dâu bể
                                Ngày muộn chuông đau chuyện đá vàng .

Trong ''Tống biệt hành'', TT đã nhắc lại kỷ niệm đó trong nổi khóc thầm:

                                Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay;
                                 Giời chưa mùa thu tươi lắm thay.

Cuối đoạn phục hồi của thi phẩm, TT đã có thêm một từ ''thu'' buồn lạnh lẽo nữa:

                                 Hơi thu đầu núi giá lên trăng.
                                 Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.