1005-gd.gif (6609 bytes)
posted: 10.10.2005
TTKhbài 4.

IV. Có nên trả T.T.Kh về với Thâm Tâm hay không?

         1. Vài suy nghĩ về bản quyền :

       Tác giả thường giữ bản quyền và bản quyền ( copyright laws ) được luật pháp công nhận ( ngoại trừ các tác giả quá cố bị những nhà xuất bản đánh cắp bản quyền in ấn phát hành tự do - Các nhà sản xuất "lậu" đó lan tràn nhiều nhất trong lĩnh vực sao chép băng, đĩa nhạc copy tài tình ) Nhưng cũng có thể tác giả đó trao bản quyền cho một vài người đáng tin cậy. Ở hải ngoại, từ di chúc (will) luôn luôn được làm trước và được giao cho một luật sư mà người đó tin cậy và có sự bảo vệ của luật pháp.

      Trong thơ văn Việt Nam, có tác giả đã bán bản quyền nên tác giả đó không còn quyền hạn gì với tác phẩm đó nữa. Trường hợp của Hữu Loan với bài thơ "Màu tím hoa sim" được ông Lê văn Chính giám đốc công ty VTB, mua 100 triệu đồng tác quyền . Có tác giả giao người khác bản quyền như Hàn mặc Tử mà Quách Tấn toàn quyền sử dụng. Cũng có trường hợp bản quyền đang phải tranh chấp như trường hợp nhà thơ Nguyễn tất Nhiên với tập thơ : "Minh Khúc" đang giành nhau giữa vợ nhà thơ là Minh Thủy và bố nhà thơ là Nguyễn Ngọc . Còn những bài thơ của T.T.Kh thì người giữ bản quyền thực sự có đầy đủ thẩm quyền phải là Thâm Tâm, sau đó là giao cho Văn học. Chuyện tình là chuyện tình của Thâm Tâm, và Kh. TT hay Kh viết thì cũng đã xoay quanh một trục tam giác tình yêu. Kh không ra nhận còn TT có đủ lý do để T.T.Kh trở về với nhà thơ. Tiếc rằng, sự nhìn nhận này muộn màng khiến cho nhiều nhà văn , nhà thơ vĩnh viễn không bao giờ thấy được những đứa con lưu lạc trở về. Thiết nghĩ, ta cần tìm hiểu để trả lại những tác phẩm của TT ký dưới bút hiệu T.T.Kh trở về với thi nhân có cuộc tình huyền thoại độc đáo này. Một điều cần làm nữa là viết lại tiểu sử nhà thơ trên cái sườn cũ tổng hợp lại và bổ sung để người đọc có cái nhìn đầy đủ hơn về nhà thơ  có những thi phẩm bất hủ này mặc dù TT không có trong danh sách mười nhà thơ lớn nhất thế kỷ nhưng có bài thơ là một trong mười bài thơ hay nhất thế kỷ.

              2. Ðôi nét về tiểu sử Thâm Tâm :

Dựa vào HT-HC ( Thi nhân Việt Nam ), Nguyễn hữu Ðảng (Giai thoại văn học), Tôn thảo Miên ( Từ điển tác giả, tác phẩm Vh VN), Trần hữu Tá ( Từ điển văn học bộ mới ), Hà bình Trị (Thâm Tâm -Văn học ll tập II -Nxb GD 2004) người viết xin được phép tổng hợp, loại bỏ và bổ sung vắn tắt như sau :

        Thâm Tâm sinh ngày 12/5/1917 ở Hải Dương trong một gia đình tiểu tư sản ( có bố là nhà nho dạy học nghèo ) nên học xong tiểu học, cậu bé Trình phải bỏ học đi làm đủ nghề để sống. Trong thời gian này, mối tình giữa chàng trai tiểu tư sản nghèo và cô nữ sinh vườn Thanh nẩy nở đến lúc "ngào ngạt hương hoa" thì cô bé Kh nghe lời mẹ đi lấy chồng. Một bước sang ngang của người yêu đã để lại nổi đau một đời cho chàng nghệ sĩ và đẩy chàng sang một ngã rẽ khác.

       Năm 1938, ôm nổi buồn "dang dở", chàng nghệ sĩ lên Hà Nội cùng gia đình sống bằng nghề vẽ tranh và bắt đầu làm thơ. (Tôn Thảo Miên cho rằng năm 1940, TT mới lên HN là không đúng với thời gian vì sau khi Kh đi lấy chồng ở Hà Nội thì các bài thơ ký T.T.Kh ra đời từ 1937-1939 . Như vậy Thâm Tâm làm thơ ít ra cũng từ năm 1937 sau cuộc tình tan vỡ) . Thời gian này, Thâm Tâm có đi tìm Kh ở Hà Nội nhưng không bao giờ được gặp người con gái vườn Thanh ngày xưa nữa.

      ( Tôn Thảo Miên ghi TT học tiểu học ở Hà Nội cũng chưa đúng vì đã học ở Hà Nội thì tại sao còn "lên Hà Nội" ? Tại sao sinh ở Hải Dương mà học ở tiểu học Hà Nội ?. Nếu đã học ở Hà Nội thì TT đi đâu sau đó 1938 mới lên Hà Nội lại ?)

Thâm Tâm viết cho "Tiểu thuyết thứ bảy" của Vũ đình Long và tờ "Truyền bá" ( Không rõ của ai ). ( Ðiều này cũng hiểu thêm vì sao ba bài thơ ''Hai sắc hoa Ti-gôn'', ''Bài thơ thứ nhất'', ''Bài thơ cuối cùng'' được in tại Tiểu thuyết thứ bảy mà bài "Ðan áo cho chồng" hoặc những bài khác không phải TT viết lại in nơi ''Phụ nữ Tân Văn'' , ''Thời Ðàm'' ...) Thâm Tâm bén duyên với những bài thơ làm theo dạng "Hành"  - một lối thơ cổ lai của nhà Trung Quốc gồm : ''Can trường hành'', ''Vọng nhân hành'', và nổi bật là "Tống biệt hành" . Ngoài ra có ''Tráng ca'' và một số thể loại dịch thuật, truyện ngắn ... Thâm Tâm có "động đũa" nhưng chưa có bài nào nổi bật.

 Thời kỳ 37-39 là thời kỳ đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa và đến 1945 toàn bộ báo chí phải trở thành vũ khí đấu tranh cách mạng. Một thời đại trong thi ca mất sân chơi. Từ giã "Tiểu thuyết thứ bảy" và ''Truyền bá'' ( đóng cửa ), cũng như bạn bè kẻ vô Nam, người ra Bắc, Thâm Tâm tham gia văn nghệ trong ''Hội cứu quốc'' và tham gia ban kịch cùng người bạn thân là Trần huyền Trân . TT biên tập cho báo Tiền Phong ( cách mạng ) với công việc làm bích báo, vẽ áphích, viết kịch như : ''19.8'', '' Lối sống'',  ''Ðầu quân vào Nam'' ( 1945 ), ''Người thợ'', ''Lá cờ máu'' ( 1946 ) .

Năm 1947, chàng nghệ sĩ 30 tuổi này đã quyết định ra đi bỏ lại quá khứ có một cuộc tình huyền thoại bi thương để gia nhập bộ đội theo chỉ thị thông tư của Bộ quốc phòng vào tháng 2/1947. Thâm Tâm là người lính cầm bút trong Tòa soạn báo Vệ quốc dân với tư cách một thư ký cho cơ quan ngôn luận của quân  đội nhân dân Việt Nam ( MB hồi đó). Thời kỳ này, TT viết truyện ''Ðại đội Kim Sơn'' (1948), ''Văn thơ bộ đội'' (Tiểu luận 1948). Bài thơ mà các nhà nghiên cứu cho là nổi bật vê tinh thần những người bộ đội là "Chiều mưa đường số 5'' (1946). Năm 1950, chiến dịch biên giới ở căn cứ Việt Bắc với phương áng đánh Pháp ở Cao Bằng do Võ nguyên Giáp làm chỉ huy trưởng được đổi sang Ðông Khê. Trên đường hành quân này, Thâm Tâm bệnh nặng rồi mất ( có tác giả ghi mất vì sốt rét, mất vì đau tim đột ngột) vào mùa thu tháng tám ngày 18 cùng năm. Mùa thu này nhắc lại ''một mùa thu trước'' mà mối tình chang nghệ sĩ TT với cô nữ sinh trường Sinh Từ, Kh tan vỡ ''trong một ngày vui pháo nhuộm đường'' 14 năm về trước; đồng thời mùa thu này cũng khép lại một đời thi nhân và mở ra một huyền thoại...

                   Thơ TT mang phảng phất hơi thơ cổ phong tự do với chí khí muốn bức phá của người trai thời loạn và những dây dứt về con người trong cuộc sống đầy khó khăn vì chiến tranh ''ngày giặc giã quê hương mình mỏi mệt''. Thơ TT đi lên từ hiện thực và bay bỗng theo hình tượng nên có giá trị vĩnh cửu. Thơ TT còn là những tình khúc buồn man mác, bâng khuâng, nuối tiếc cho một cuộc tình đầy kỷ niệm thơ ngây ngọt ngào mà tan vỡ theo từng lá thu heo hút rụng bên đời! Ba bài thơ ''Hai sắc hoa Ti-gôn'', ''Bài thơ thứ nhất'', ''Bài thơ cuối cùng'' ký T.T.Kh của TT đã mang nội dung trên bổ sung vào nội dung, nghệ thuật thơ thêm một giá trị bất hủ . Tình yêu, anh có Kh. Tình bạn, anh có Trần huyền Trân, Nguyễn Bính và Trúc Khê Ngô văn Triện. Còn quê hương ? Anh đã gởi lại trên mảnh đất này nửa cuộc đời với những khát vọng tuổi trẻ và tài năng . Nói như Vũ quần Phương : ''Người đọc không thấy được hết sự phong phú của ông trong chặng đường mới. Ở giai đoạn trước, ông nhập cuộc muộn, ở giai đoạn sau, ông lại ra đi quá sớm''. Muộn hay sớm gì cũng cũng chỉ một lần ra đi vỏn vẹn cho một đời người . "Trâu chết để da, người ta chết để tiếng ''. Với TT, đó là tiếng tiếc thương vô bờ của người còn ở lại dành cho anh : ''Nửa đời trai nào tiếc cái danh hời. Ðem tuyệt bút Tống biệt hành gởi lại''.

Thi phẩm ''Tống biệt hành'' đến với độc giả cũng nhiều nỗi gian truân, không trọn vẹn là một trong mười thi phẩm hay nhất thế kỷ.

---> đọc tiếp bài 5

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com