bài
4.IV.
Có nên trả T.T.Kh về với Thâm Tâm hay không? 1. Vài
suy nghĩ về bản quyền : Tác giả thường giữ bản
quyền và bản quyền ( copyright laws ) được luật pháp công nhận ( ngoại
trừ các tác giả quá cố bị những nhà xuất bản đánh cắp bản quyền
in ấn phát hành tự do - Các nhà sản xuất "lậu" đó lan tràn nhiều
nhất trong lĩnh vực sao chép băng, đĩa nhạc copy tài tình ) Nhưng cũng có
thể tác giả đó trao bản quyền cho một vài người đáng tin cậy. Ở hải
ngoại, từ di chúc (will) luôn luôn được làm trước và được giao cho một
luật sư mà người đó tin cậy và có sự bảo vệ của luật pháp. Trong thơ văn Việt
2. Ðôi nét về tiểu sử Thâm Tâm : Dựa vào
HT-HC ( Thi nhân Việt Nam ), Nguyễn hữu Ðảng (Giai thoại văn học), Tôn thảo
Miên ( Từ điển tác giả, tác phẩm Vh VN), Trần hữu Tá ( Từ điển văn
học bộ mới ), Hà bình Trị (Thâm Tâm -Văn học ll tập II -Nxb GD 2004) người
viết xin được phép tổng hợp, loại
bỏ và bổ sung vắn tắt như sau : Thâm Tâm sinh
ngày 12/5/1917 ở Hải Dương trong một gia đình tiểu tư sản ( có bố là
nhà nho dạy học nghèo ) nên học xong tiểu học, cậu bé Trình phải bỏ học
đi làm đủ nghề để sống. Trong thời gian này, mối tình giữa chàng trai
tiểu tư sản nghèo và cô nữ sinh vườn Thanh nẩy nở đến lúc "ngào
ngạt hương hoa" thì cô bé Kh nghe lời mẹ đi lấy chồng. Một bước
sang ngang của người yêu đã để lại nổi đau một đời cho chàng nghệ
sĩ và đẩy chàng sang một ngã rẽ khác. Năm 1938, ôm nổi
buồn "dang dở", chàng nghệ sĩ lên Hà Nội cùng gia đình sống bằng
nghề vẽ tranh và bắt đầu làm thơ. (Tôn Thảo Miên cho rằng năm 1940, TT
mới lên HN là không đúng với thời gian vì sau khi Kh đi lấy chồng ở Hà
Nội thì các bài thơ ký T.T.Kh ra đời từ 1937-1939 . Như vậy Thâm Tâm làm
thơ ít ra cũng từ năm 1937 sau cuộc tình tan vỡ) . Thời gian này, Thâm Tâm
có đi tìm Kh ở Hà Nội nhưng không bao giờ được gặp người con gái vườn
Thanh ngày xưa nữa. ( Tôn Thảo Miên ghi TT
học tiểu học ở Hà Nội cũng chưa đúng vì đã học ở Hà Nội thì tại
sao còn "lên Hà Nội" ? Tại sao sinh ở Hải Dương mà học ở tiểu
học Hà Nội ?. Nếu đã học ở Hà Nội thì TT đi đâu sau đó 1938 mới
lên Hà Nội lại ?) Thâm Tâm
viết cho "Tiểu thuyết thứ bảy" của Vũ đình Long và tờ
"Truyền bá" ( Không rõ của ai ). ( Ðiều này cũng hiểu thêm vì
sao ba bài thơ ''Hai sắc hoa Ti-gôn'', ''Bài thơ thứ nhất'', ''Bài thơ cuối
cùng'' được in tại Tiểu thuyết thứ bảy mà bài "Ðan áo cho chồng" hoặc những bài khác không phải TT viết lại
in nơi ''Phụ nữ Tân Văn'' , ''Thời Ðàm'' ...) Thâm Tâm bén duyên với những
bài thơ làm theo dạng "Hành" -
một lối thơ cổ lai của nhà Trung Quốc
gồm : ''Can trường hành'', ''Vọng nhân hành'', và nổi bật là "Tống
biệt hành" . Ngoài ra có ''Tráng ca'' và một số thể loại dịch thuật,
truyện ngắn ... Thâm Tâm có "động đũa" nhưng chưa có bài nào nổi
bật. Thời kỳ 37-39 là thời kỳ đấu tranh trên
lĩnh vực tư tưởng văn hóa và đến 1945 toàn bộ báo chí phải trở
thành vũ khí đấu tranh cách mạng. Một thời đại trong thi ca mất sân chơi.
Từ giã "Tiểu thuyết thứ bảy" và ''Truyền bá'' ( đóng cửa ), cũng
như bạn bè kẻ vô Nam, người ra Bắc, Thâm Tâm tham gia văn nghệ trong ''Hội cứu quốc'' và tham gia ban kịch
cùng người bạn thân là Trần huyền Trân . TT biên tập cho báo Tiền Phong
( cách mạng ) với công việc làm bích báo, vẽ áphích, viết kịch như :
''19.8'', '' Lối sống'', ''Ðầu quân
vào Nam'' ( 1945 ), ''Người thợ'', ''Lá cờ máu'' ( 1946 ) . Năm 1947,
chàng nghệ sĩ 30 tuổi này đã quyết định ra đi bỏ lại quá khứ có một
cuộc tình huyền thoại bi thương để gia nhập bộ đội theo chỉ thị thông
tư của Bộ quốc phòng vào tháng
2/1947. Thâm Tâm là người lính cầm bút trong Tòa soạn báo Vệ quốc dân với
tư cách một thư ký cho cơ quan ngôn luận của quân đội nhân dân Việt Nam ( MB hồi đó). Thời
kỳ này, TT viết truyện ''Ðại đội Kim Sơn'' (1948), ''Văn thơ bộ đội''
(Tiểu luận 1948). Bài thơ mà các nhà nghiên cứu cho là nổi bật vê tinh
thần những người bộ đội là "Chiều mưa đường số 5'' (1946). Năm
1950, chiến dịch biên giới ở căn cứ Việt Bắc với phương áng đánh
Pháp ở Cao Bằng do Võ nguyên Giáp làm chỉ huy trưởng được đổi sang
Ðông Khê. Trên đường hành quân này, Thâm Tâm bệnh nặng rồi mất ( có
tác giả ghi mất vì sốt rét, mất vì đau tim đột ngột) vào mùa thu
tháng tám ngày 18 cùng năm. Mùa thu này nhắc lại ''một mùa thu trước'' mà
mối tình chang nghệ sĩ TT với cô nữ sinh trường Sinh Từ, Kh tan vỡ
''trong một ngày vui pháo nhuộm đường'' 14 năm về trước; đồng thời mùa
thu này cũng khép lại một đời thi nhân và mở ra một huyền thoại...
Thơ
TT mang phảng phất hơi thơ cổ phong tự do với chí khí muốn bức phá của
người trai thời loạn và những dây dứt về con người trong cuộc sống
đầy khó khăn vì chiến tranh ''ngày giặc giã quê hương mình mỏi mệt''.
Thơ TT đi lên từ hiện thực và bay bỗng theo hình tượng nên có giá trị
vĩnh cửu. Thơ TT còn là những tình khúc buồn man mác, bâng khuâng, nuối
tiếc cho một cuộc tình đầy kỷ niệm thơ ngây ngọt ngào mà tan vỡ theo
từng lá thu heo hút rụng bên đời! Ba bài thơ ''Hai sắc hoa Ti-gôn'', ''Bài
thơ thứ nhất'', ''Bài thơ cuối cùng'' ký T.T.Kh của TT đã mang nội dung
trên bổ sung vào nội dung, nghệ thuật thơ thêm một giá trị bất hủ .
Tình yêu, anh có Kh. Tình bạn, anh có Trần huyền Trân, Nguyễn Bính và
Trúc Khê Ngô văn Triện. Còn quê hương ? Anh đã gởi lại trên mảnh đất này nửa cuộc đời với
những khát vọng tuổi trẻ và tài năng . Nói như Vũ quần Phương : ''Người
đọc không thấy được hết sự phong phú của ông trong chặng đường mới.
Ở giai đoạn trước, ông nhập cuộc muộn, ở giai đoạn sau, ông lại ra
đi quá sớm''. Muộn hay sớm gì cũng cũng chỉ một lần ra đi vỏn vẹn
cho một đời người . "Trâu chết để da, người ta chết để tiếng
''. Với TT, đó là tiếng tiếc thương vô bờ của người còn ở lại
dành cho anh : ''Nửa đời trai nào tiếc cái danh hời. Ðem tuyệt bút Tống
biệt hành gởi lại''. Thi phẩm
''Tống biệt hành'' đến với độc giả cũng nhiều nỗi gian truân, không
trọn vẹn là một trong mười thi phẩm hay nhất thế kỷ. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com