1005-gd.gif (6609 bytes)
posted: 10.10.2005
TTKh Bài 5.

C. PHẦN PHỤ BẢN:

                   I . ''Tống biệt hành '' với những văn bản chưa thống nhất:  

                          1. Bản của HT-HC trong ''Thi nhân Việt Nam'':

Ðây là văn bản được coi là cũ nhất mà HT-HC đã đưa vào ''TNVN'' dựa trên bài thơ đã được đăng trên ''Tiểu thuyết thứ bảy'' nơi TT từng cộng tác . Khi đưa vào sách ,HT-HC đã cắt bỏ bốn câu cuối nhưng không thấy nêu lý do. Nguyên bản chấm phẩy như sau:

                                             TỐNG BIỆT HÀNH
 
                                 Ðưa người, ta không đưa qua sông,
                                 Sao có tiếng sóng ở trong lòng ?
                                 Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
                                 Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?
                                 Ðưa người, ta chỉ đưa người ấy
                                 Một giã gia đình, một dửng dưng...
 
                               - Ly khách ! Ly khách ! Con đường nhỏ,
                                 Chí nhớn chưa về bàn tay không,
                                 Thì không bao giờ nói trở lại !
                                 Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.
 
                                                            *
 
                                 Ta biết ngươi buồn chiều hôm trước.
                                 Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
                                 Một chị, hai chị cùng như sen
                                 Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.
                                 Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay;
                                 Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay,
                                 Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
                                 Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay...
                                 Người đi ? Ừ nhỉ,người đi thực !
                                 Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
                                 Chị thà coi như là hạt bụi
                                 Em thà coi như hơi rượu say.
                                                                   (Thơ Thâm Tâm )

Nghĩ cũng lạ . Thường thì ''dị bản''chỉ có trong văn học dân gian bởi chúng không có tác giả và lưu truyền từ đời này sang đời khác bằng miệng nên ''tam sao thất bổn'' như  ''Thánh Gióng'' trong thần thoại; ''An dương Vương'' trong truyền thuyết; ''Tấm Cám'', ''Cô bé lọ lem'' trong cổ tích; ''Thỏ và Rùa'' trong ngụ ngôn và nhất là trong ''Tục ngữ, ca dao, dân ca'' toàn dị bản. Ví dụ:

                                   Con người có tổ có tông
                                   Như cây có cội như sông có nguồn.
 
hay:                             Con người có bố có ông
                                   Như nhà có nóc như sông có nguồn.
 
hoặc:                            Người ta có bố có ông
                                   Tui đây không có tổ tông họ hàng.

Ðằng này, thi phẩm có tác giả hẳn hoi lại không hiểu vì lý do gì mà bị sửa đổi tùm lum. Thành ra, văn bản coi như mất gốc. Không có tác giả nào muốn đứa con tinh thần của mình mang nhiều ''quốc tịch'' như vậy. Tiếc rằng khoa học hiện đại phát hiện DNA để giúp cha nhận con nhưng  khi con là một thi phẩm thì ...ông nội khoa học cũng ...bó chân mà thôi ! Ðiều này đã ảnh hưởng đến giá trị hiện thực của tác phẩm bởi vì từng câu chữ, từng dấu phẩy...sẽ là những sắc thái tu từ mà không một nhà phân tích, bình luận, nghiên cứu nào cho qua .Học sinh làm bài thiếu phần này tức thiếu giá trị nghệ thuật sẽ xơi ...vài con ngỗng ngon ơ hoặc vác ...cây gậy tập tễnh cho vui mình, cha mẹ ...khóc !.

Bây giờ với ''Tống biệt hành'', ta xem xét các ''dị bản'' của nó coi thử phần nào thay đổi đáng kể, phần nào do lỗi in ấn theo nội dung chính mà tác giả gởi gấm, sau đó, ta có thể chọn ra một văn bản thích hợp để mà theo.

                      2. Bản của Mã giang Lân : Không giữ lại dấu phẩy. Trước từ ''ly khách'' không có dấu ngang. Từ ''chí nhớn'' thay bằng ''chí lớn''. ''Ngươi buồn'' thành ''Người buồn''. ''Cùng như sen'' thay bằng ''cũng như sen''. ''Giời chưa mùa thu '' thay bằng ''trời chưa mùa thu'' bỏ luôn dấu phẩy giữa câu. ''Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc'' thành ''Em nhỏ ngây thơ, đôi mắt biếc'' với dấu tách câu ở giữa.

                      3. Bản của Trần đình Sử : Giữ được vài dấu phẩy nhưng thêm dấu phẩy sau câu ''chị thà coi như là hạt bụi'' mà văn bản cũ không có . Cũng ''người buồn'' nhưng thêm dấu hai chấm (:) văn bản cũ không có. Thay đổi đáng kể là ''bóng chiều không thắm, không vàng vọt,'' thay bằng ''Nắng chiều không thắm..." Ðây là bản duy nhất đổi từ ''bóng'' thành ''nắng'' khiến nghĩa cũng đổi theo.

                      4. Bản của Lê tiến Dũng và Chu văn Sơn : Giống TÐS thêm dấu phẩy sau từ ''hạt bụi'' và khác MGL không thêm dấu tách câu ở giữa nhưng vẫn đổi ''chí lớn'', “người buồn”.

                      5. Bản của Trần đăng Xuyền : Lấy theo nguyên bản của HT-HC nhưng giống các tác giả trên đổi từ ''ngươi'' thành ''người''.

                      6. Bản của Hà bình Trị (ngữ văn 11-tập 2): Bỏ mất dấu chấm than ở từ ''ly khách'' mà thêm dấu phẩy vào sau ''ly khách'' và ''hạt bụi'' (Ly khách, ly khách, con đường nhỏ ...là hạt bụi,)

                      7. Bản của Nguyễn hưng Quốc: Bản duy nhất giữ nguyên từ ''Ngươi'' trong ''ngươi buồn''. ''Giời chưa mùa thu'' thay bằng ''Trời chưa là thu''.

                      8. Các văn bản khác: Không có dấu phẩy ở sau các câu. Không dấu phẩy ở ngắt câu chỉ có một dấu phẩy ''một chị,''. Không gạch đầu hàng ly khách (-Ly khách ). ''Giời chưa mùa thu'' thay bằng ''Trời chưa vào thu''. Thêm dấu than ở ''Mẹ! Chị! Em !'' mà văn bản cũ không có. ''Chí lớn chưa về bàn tay không'' thành ''Chí lớn không về, bàn tay không''. Thay đổi này sẽ ảnh hưởng đến ý nghĩa của câu. ''Em nhỏ ngây thơ đôi mắt bìếc'' thành ''Em nhỏ ngây thơ đôi mắt ướt'' ( Bản duy nhất đổi từ ''biếc'' thành ''ướt'' nên ý nghĩa sẽ khác ). ''hơi rượu say'' thành ''hơi rượu cay''.

         Tổng kết lại, ''Tống biệt hành'' hiện đang có ''dị bản'' đáng kể như sau :

- ''Bóng chiều'' thành ''Nắng chiều''.

- ''Ngươi buồn'' thành ''Người buồn''.

- ''Giời chưa mùa thu'' thành ''Trời chưa vào thu '', ''Trời chưa là thu''.

- ''Mắt biếc'' thành ''Mắt ướt''.

-''Rượu say'' thành ''Rượu cay''

- ''Mẹ. Chị. Em.'' thành ''Mẹ! Chị! Em! '' .

- ''Em thà'' thành ''Em ừ !

. Ngoài ra những dấu ngang, dấu phẩy, từ địa phương ''chí nhớn, chí lớn'', dấu tách câu ...rối rắm, nhức đầu không biết người viết tự đưa vào hay lỗi in ấn ?

                   TỐNG BIỆT HÀNH ( Nguyên bản chưa bị cắt )

                   1. Bản của Nguyễn hưng Quốc: Bốn câu cuối :

                               Mây thu đầu núi, gió lên trăng
                               Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.
                               Ly khách ven trời nghe muốn khóc
                               Tiếng Ðời xô động, tiếng hờn câm.

( Không biết vì sao từ "Ðời'' có hoa ?)

                   2. Bản của những trang ''Web'':

                                Mây thu đầu núi gió lên chăng
hay                           Hơi sương đầu núi giá lên trăng
                                Cơn lạnh chiều nao đổ bóng hằng .
                                Ly khách bên trời nghe muốn khóc
                                Tiếng đời ru động ,tiếng hờn căm.

                   3. Bản của Chu văn Sơn :

                                 Hơi thu đầu núi giá lên trăng
                                 Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm
                                 Buồn ở lưng trời nghe đã lại
                                 Tiếng đời xô động tiếng hờn câm.

Ðể nguyên hay phục hồi nguyên bản thi phẩm ''Tống biệt hành''? Chọn bản nào và vì sao ? Ta cần theo nội dung toàn bài và cách gieo vần   của một bài thơ thuộc thể ''Hành''.

( Phần phục hồi nguyên bản xin đọc phần cuối bài này).  

   II. Thể “Hành” qua những bài thơ Việt Nam và Trung Quốc:

       1.   Thể “Hành”: Nguồn gốc:

         a. Trong tiếng Việt :

Hành là một danh từ chỉ  một loại rau cọng nhỏ, màu xanh, thẳng đứng. Củ và lá hành có tác dụng khử mùi dầu mỡ. Hành có mùi hăng, thơm khó ngửi tùy khứu giác con người. Hành đi với ngò là hai loại gia vị không thể thiếu được trong các món ăn Việt Nam. Không biết Nam Cao đã lấy hành ở đâu cho Thị Nở nấu cháo đãi Chí Phèo ? “Bát cháo hành Thị Nở “ từ đấy mà ra. Tên Chí Phèo cũng đã ''lưu hành'' trong văn học Việt Nam.  

Trong thi ca, ca dao không hiểu tại sao người ta nỡ lòng:

                                  Thò tay mà bứt ( ngắt ) ngọn ngò
                                  Thương em ( anh ) đứt ruột giả đò làm lơ.

Còn thằng bạn ''hành'' chẳng mấy ai chú ý nên không bị ... mẻ đầu sứt trán gì.

Hành đi vào ''chuyện xưa tích cũ'' là loại mọc lên từ “bánh bao nhưn thịt chó” của bà Thanh Đề… “đãi” mấy sư sãi  bởi họ khinh dễ thành tâm của bà. Vì món “giã cầy” này mà bà bị xử “oan” ngồi bàn chông dưới địa ngục!!! Chưa gì mà “hành” đã “hạ” người ta như thế khi nó trở thành động từ “hành” cho bỏ ghét, “hành hạ cho đến chết”. Khi nó dẫn người ta về cội nguồn, lễ hội theo tôn giáo thì nó trở lại danh từ trong “hành hương” .

“Hành”… mọc tràn trên những tác phẩm thể loại tự sự văn xuôi nhưng trong mảnh đất thi ca, hành ít được… trồng có lẽ vì  “động từ” của nó.

Đi sâu vào vuờn Hành -thế giới từ của các nhà ngôn ngữ-chôm chĩa cọng “hành” rồi nhanh chân chạy ra, nếu không… chết trong trận “thiên la địa võng” của sân cỏ ngôn ngữ này !.

Tiếng Việt, nghĩa “hành” là như thế. Tiếng Việt chịu ảnh hưởng nghìn năm đô hộ của Trung Quốc nên từ “hành” trong tiếng Hán Nôm cũng tương tự.

b.  Trong ngôn ngữ Hán Nôm: Hành gồm : Danh, động từ:

- Hành là động từ trong: “Đại đạo chi hành dã, thiên hạ vi công” nghĩa là “Đạo trời đất được lưu hành thì cả thiên hạ chung” (Trích Đại đồng học thuyết - Học thuyết đại đồng – Chu Thiên với giáo trình Hán văn – nxbTPHCM) .(Hành với nghĩa “lưu hành” sang Tiếng Việt là “lưu hành nội bộ, lưu hành trong dân gian, cao hơn chút là “Giấy thông hành” Hộ Chiếu -Passport-)

Hành cần danh từ làm bổ ngữ trong câu: “Hành thiện chi nhân, như xuân viên chi thảo” nghĩa là “Người làm việc thiện như cỏ mùa xuân” (Trích Thiện dữ ác-Thiện và ác. Chu Thiên -sách đã dẫn.)

- Hành là danh từ trong "Cảnh hành lục vân: Tri túc thường lạc, đa tham tắc ưu” nghĩa là “Sách Cảnh hành lục nói: Biết (cho là) đủ thường vui, tham quá ắt lo nhiều” (Trích Tri túc - Biết đủ, Chu Thiên)

Sách có sách “Cảnh hành” của Trung Quốc. Thơ cũng có “hành” là “hành” danh từ nhưng “hành” người ta theo nghĩa động từ đó là “Hành” của một thể văn cổ xưa.

     2.   Thể “Hành” trong thi ca:

      Cuốn “Đường thi tuyển dịch” của Trương đình Tín ghi rõ: Thơ Đường chỉ có hai thể chính là: Thơ cổ thể hay còn gọi là thể cổ phong: ''Đây là một thể thơ không có một luật lệ nhất định từ cách gieo vần cấu tứ đến thanh điệu, câu chữ và bố cục… sắp xếp câu dài ngắn không hạn chế.” Nó có nguồn gốc vẫn còn bàn cãi nhưng tạm cho từ thời Hán Vũ Đế.

     Thơ cận thể hay còn gọi là kim thể hay cách luật mà “người làm thơ phải tuân thủ những luật lệ nghiêm ngặt về câu, về thanh, về vần về bố cục…” (Trương đình Tín -Sách đã dẫn)

     Như vậy thể “Hành” nằm trong thể thơ cổ thể (cổ phong) nhưng vì sao gọi là “hành” thì Trương đình Tín không nói, Chu Thiên cũng chẳng nhắc, người viết cũng nào có biết đường mà lần nên đành mượn tạm những bài “hành” của các nhà thơ ta, thơ tàu coi có gì để gọi là “hành” ?.

     a. Những bài thơ theo dạng “Hành” của 8 nhà thơ Đường và 5 nhà thơ Việt Nam:

Thơ Đường chia làm bốn  chủ đề: Điền viên, lãng mạn, biên tái và hiện thực. Nhưng sự phân chia trên chưa thật rõ ràng vì giữa bốn chủ đề không có biên giới rõ rệt. Một bài thơ  có thể mang nhiều nội dung khi ẩn khi hiện. “Trường can hành” của Lý Bạch được xếp vào lớp “lãng mạn” vì miêu tả hồi ức của người vợ trẻ tuổi rất ướt át nhưng thực sự, nó cũng mang giá trị hiện thực: Nỗi lòng vợ trẻ có chồng đi xa .”Binh xa hành”, “Cổ bá hành” ,''Lệ nhân hành'' của Ðỗ Phủ được xếp vào lớp “hiện thực” vì nó tố cáo nỗi thống khổ, xã hội bất công, nhân tài bị bạc đãi ,sắc đẹp là niềm đau nhưng nó vẫn mang nội dung biên tái vì diễn tả cảnh bắt lính vào trận mạc. “Đào nguyên hành” của Vương Duy được xếp vào lớp điền viên vì thấm màu sắc phật lão quên hẳn sự đời nhưng thơ điền viên lại có “ phong, hoa, tuyết, nguyệt” nên nó nhập lại dòng “ lãng mạn” .

     Ở Việt Nam, ''thơ mới ''1932 với đỉnh cao Xuân Diệu, Lưu trọng Lư, Huy Cận…nằm trong trường phái lãng mạn mà chúng đã có từ… ngàn năm trước! Sự tiếp cận văn học thế giới của ta chậm quá. Ngay cả Nguyễn Du cũng phải đi lấy đề tài từ “ Kim Vân Kiều” truyện của TTT Nhân tận Trung Quốc!.

Khoa học, kỹ thuật, quân sự quốc phòng ta bò chậm không nói gì mà ngay cả văn học ta cũng chậm cả Tàu, hoặc xa cả Tây trong khi ta thì nhân tài đâu phải như “lá mùa thu” . Lỗi này thuộc thời đại, con người hay đổ thừa lịch sử? Sự cản đường cho văn học phát triển là cái gì nếu không nói là “ bàn tay chính trị”. Tiếc quá ! Nhìn vào khối lượng thơ  Ðường ( chỉ một thời đại ) với 48 ngàn bài thơ và 2100 nhà thơ nổi tiếng bất hủ và vô giá so với mấy trăm bài thơ Việt Nam thì  thơViệt Nam có bao nhiêu bài chuyển tải được nội dung sống muôn đời như họ ? Bởi những bài thơ chỉ phục vụ cho nội dung chính trị nhất thời, ca ngợi thái quá một triều đại, một chế độ, một con người nào đó ( không phải là quốc tổ, thánh tổ ) thì thử xem những bài thơ đó đã  sống được qua “mấy mùa lá rụng trong vườn” ?

    Là con đẻ của thơ Đường cổ phong và cận thể , thể ''hành ''nằm gọn trong cách chia theo bốn nội dung trên và hình như tưởng rằng chẳng có một sắc thái nào khác biệt.

           *   Thể Hành qua 8 tác giả Trung Quốc :

                1. Trường can hành ( Lý Bạch ): Thể ngũ ngôn : Nói về tâm trạng người thiếu phụ trẻ 14 tuổi lấy chồng, 16 tuổi phải tiễn chồng đi xa…

                2. Trường can hành ( Thôi Hiệu ) :  Thể thất ngôn : Lời đối đáp giữa hai người đàn ông và đàn bà hỏi về nơi chốn, quê quán ( như Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ đối đáp với nhau trong bài ''Bán Chiếu '')

                3. Cổ bá hành (Đổ Phủ ) : Thể thất ngôn : Niềm hoài cổ, tỏ bày nỗi lòng thông qua cây bá cổ trước miếu Lưu Bị, Khổng Minh để xót xa cho người tài hoa bị bỏ rơi.

                4. Binh xa hành (Đổ Phủ ) : Thể tự do : Cảnh bắt lính ,dân tình khốn khổ vì sưu thuế.

                5. Lệ nhân hành (Ðổ Phủ) : Thể ngũ ngôn : Phê phán sắc đẹp chị em Ðường quý Phi là nguyên nhân gây ra chiến tranh.

                6. Tỳ bà hành ( Bạch cư Dị ) : Thể thất ngôn: Sự đồng cảm với người ca kỹ qua tiếng đàn với tâm trạng thương xót hoàn cảnh của nàng, có chồng không được thương tưởng, em trai đi lính, dì chết.

                7. Yên ca hành ( Cao Thích) : Thể thất ngôn: Cảm thông những người binh sĩ ở biên giới và ca ngợi công lao của Lý tướng quân Lý Quảng.

                8. Đào nguyên hành ( Vương Duy ) : Thể thất ngôn : Tâm trạng của người khách lạc vào miền đất lạvới những người dân chạy trốn chiến tranh mà ao ước được sống lại cảnh thần tiên đó.

                9. Lũng tây hành ( Trần Đào ) : Thể thất ngôn: Ca ngợi 5000 binh sĩ đánh Hung Nô bỏ mạng mà vẫn là người lý tưởng, thần tượng của những người thiếu phụ chốn khuê phòng.

Trong đó bài dài nhất là ''Tỳ bà hành'' của Bạch cư Dị, ngắn nhất là ''Trường can hành'' của Thôi Hiệu.

         Những bài “Hành” trên đề tài chính vẫn là nỗi lòng, tiếng nói, sự cảm thương số phận con người ( là kỹ nữ, là tài ba là người  trông chồng là người lính thú… )

         *  Thể hành qua 5 tác giả Việt Nam :

                1.  Sở kiến hành ( Nguyễn Du): Thể ngũ ngôn: Ghi lại cảnh đói khổ của ba mẹ con lê la trên đường kiếm ăn.

              2.  Dương phụ hành ( Cao Bá Quát ): Thể thất ngôn : Ca ngợi những cái đẹp của người đàn bà phương Tây.

             3. Hành phương Nam ( Nguyễn Bính ): Thể thất ngôn: Nói lên cảm nghĩ của người nam nhi lưu lạc vào Nam.

              4. Trường sa hành ( không rõ ) : Thể thất ngôn: Tâm trạng chua xót, buồn bã trong cao ngạo của những người lính ở đảo.

              5.   Can trường hành ( Thâm Tâm ): Thể thất ngôn: Tâm trạng con người muốn phá bỏ hiện thực.

              6.   Vọng nhân hành ( Thâm Tâm ) :Thể thất ngôn : Tâm trạng buồn đời không như ý, phẩn chí.

              7.  Tống biệt hành ( Thâm Tâm ): Thể thất ngôn: Nỗi lòng của người  nam nhi trong ngày tiễn biệt( xem phần phân tích TBH ở phần cuối bài ).

              8.  Tương tư hành  ( Hoàng Cầm): Thể tự do : Tình yêu đầy ảo mộng đau buồn. Bài dài nhất là ''Trường sa hành'' chưa rõ tác giả, ngắn nhất là ''Dương phụ hành'' của Cao bá Quát.

Trong 16 bài “Hành” tiêu biểu trên, “Tống biệt hành” của Thâm Tâm , theo người viết, vẫn được xếp ở đầu bảng về cả hai mặt nội dung ( giá trị câu chữ ) và nghệ thuật ( giá trị hình tượng ). Độc giả có thể thử đọc phần dịch Nôm từ văn bản Hán Việt của những tác giả trên để chọn những tác phẩm nào mình thích. ( phần bản gốc chữ Hán và chữ Hán Việt, người viết …điếc! )

    b. Khái niệm “ Hành” trong văn học :

    Xét 16 bài “Hành” trên, ta mới thấy đứng về nội dung, “Hành”  chưa nói lên được cái gì khác biệt vì ''Hành'' giống như một khúc nhạc (ly ca) chia xa. Về gốc độ loại thể ngũ ngôn, thất ngôn (tự do ở cách gieo vần ), tự do thì những bài “Hành” đều giống y chang những bài khác.

Nếu “Hành”  hiểu theo nghĩa: “Đi thấy rồi viết”  như “Sở kiến hành”  của Nguyễn Du, “Hành phương Nam” của Nguyễn Bính, “Lũng tây hành”  của Trần Đào… thì cũng đâu có gì khác hơn những bài không có chữ  “Hành”  mà cũng đi cũng viết như “Há chung Nam Sơn quá Hộc Tư sơn nhân túc, trí tửu” của Lý Bạch hay “ Thanh khê” của Vương xương Linh…

   Ngay cả khi dạng đối đáp nam nữ thôi như “Trường can” của Thôi Hiệu cũng mang từ “Hành”  theo sau thì “Dương phụ” của Cao bá Quát ca ngợi sắc đẹp tự nhiên của người đàn bà Tây phương  nối chữ “Hành”  cũng đâu có gì lạ?

  Bài “Trường sa hành” của chưa rõ tác giả của Việt Nam dài 64 câu, thể thất ngôn so với bài “Trường sa quá giả Nghị Trạch” của Lưu trường Thanh 8 câu thể thất ngôn cũng nói về số phận con người sống trên đảo buồn bã không khác gì. Chỉ khác, Lưu trường Thanh làm ngắn hơn và  không bỏ chữ “Hành”  theo sao đầu đề mà thôi vì đầu đề dài quá.

Từ đây, ta suy luận ra, nếu đề bài dài, tác giả hầu như ít  thêm chữ Hành . “Hành” chỉ đi sau những đề tựa ngắn gọn, đặc biệt chỉ có hai từ. Nhưng cũng chưa chắc vì nếu hễ ta thấy những bài  thơ nào chỉ có hai  từ, ta thêm từ ''Hành'' vào là… lãng nhách. Không thể cho ''Tiễn đưa'' của Phan văn Dật thành ''Tiễn đưa hành'' nhưng có thể cho “Tống biệt” của Vương Duy , ''Tống biệt'' của Nguyễn đình Thư thành “Tống biệt hành” như Thâm Tâm thì không sai. Tại sao được? Tại sao không?.  "Hành'' chỉ là một thể nhỏ của loại thơ cổ thể (cổ phong). “Hành” chỉ được làm hầu hết  theo thể ngũ  ngôn và thất ngôn mà thôi nhưng tự do ở cách gieo vần (khác thể cận kim có luật bằng, trắc chặt chẽ của Trung Quốc. Khi sang Việt Nam, loại này làm mưa làm gió một thời trên văn đàn và thi cử. Đến thế kỷ 19, nó bị công kích dữ dội và thay bằng “thơ mới” nhưng thật ra cũng chỉ là một loại thơ cổ phong ngàn năm trước .)

“Hành” theo nghĩa danh từ phần lớn đứng sau đề tựa mà tác giả đặt (để ngầm phân biệt với thể song thất lục bát,lục bát,tứ ngôn, thơ không hạn số chữ.) Đầu đề bài thơ dạng ''Hành'' được qui định như sau:

    - Phải là một danh từ chỉ địa điểm (Lũng Tây, Trường Can, Trường Sa, Đào Nguyên…)

    - Phải là từ Hán-Việt (Tỳ Bà, Binh Xa, Cổ Bá, Yên Ca, Sở Kiếm, Dương Phụ, Tống Biệt, Can Trường, Vọng Nhân…”

Đầu đề thể Hành chỉ được gói gọn trong hai từ chính (đầu đề) + một từ phụ là từ ''Hành'' mà thôi, có tác dụng làm cho đầu đề bài thơ trang trọng hẳn lên.

Như vậy, “Hành” chỉ có nhiệm vụ “động niên, đội mũ mão, trang bị kiếm cung “cho viên tướng ra trận. Còn chuyện đánh đấm thắng bại là do coi tướng đó có tài cán gì (khả năng cầm bút, khả năng rung động) hay không ?.

Tới đây, ai cũng có thể làm được một bài thơ theo thể “Hành” rồi đó.

''Hành'' là con đẻ giữa ''cha'' thể cổ phong (không luật bằng trắc, gieo vần tự do và không hạn chế câu ) với  ''mẹ'' cận kim ( có đối câu, có qui định luật như sau : Thể loại phải là ngũ ngôn , thất ngôn, ít theo thể tự do nhưng không phải buộc là “Nhất, tam, ngũ bất luật” , “Nhị tứ lục phân minh” ).

      Cha phóng túng, mẹ nghiêm khắc sinh ra đứa con với kiếp lãng tử “hành”  thiên hạ. “Tống biệt hành” của Thâm Tâm là một điển hình với nội dung tiễn biêt.

---> đọc tiếp bài 6

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com