Bài 5.C. PHẦN PHỤ BẢN:
I . ''Tống biệt hành '' với những văn bản chưa thống nhất: 1.
Bản của HT-HC trong ''Thi nhân Việt Ðây là văn bản
được coi là cũ nhất mà HT-HC đã đưa vào ''TNVN'' dựa trên bài thơ đã
được đăng trên ''Tiểu thuyết thứ bảy'' nơi TT từng cộng tác . Khi
đưa vào sách ,HT-HC đã cắt bỏ bốn câu cuối nhưng không thấy nêu lý
do. Nguyên bản chấm phẩy như sau:
Nghĩ cũng lạ . Thường
thì ''dị bản''chỉ có trong văn học dân gian bởi chúng không có tác giả
và lưu truyền từ đời này sang đời khác bằng miệng nên ''tam sao thất
bổn'' như ''Thánh Gióng'' trong thần
thoại; ''An dương Vương'' trong truyền thuyết; ''Tấm Cám'', ''Cô bé lọ
lem'' trong cổ tích; ''Thỏ và Rùa'' trong ngụ ngôn và nhất là trong ''Tục
ngữ, ca dao, dân ca'' toàn dị bản. Ví dụ:
Ðằng này, thi phẩm
có tác giả hẳn hoi lại không hiểu vì lý do gì mà bị sửa đổi tùm
lum. Thành ra, văn bản coi như mất gốc. Không có tác giả nào muốn đứa
con tinh thần của mình mang nhiều ''quốc tịch'' như vậy. Tiếc rằng khoa
học hiện đại phát hiện DNA để giúp cha nhận con nhưng khi con là một thi phẩm thì ...ông nội
khoa học cũng ...bó chân mà thôi ! Ðiều này đã ảnh hưởng đến giá trị
hiện thực của tác phẩm bởi vì từng câu chữ, từng dấu phẩy...sẽ
là những sắc thái tu từ mà không một nhà phân tích, bình luận, nghiên cứu
nào cho qua .Học sinh làm bài thiếu phần này tức thiếu giá trị nghệ thuật
sẽ xơi ...vài con ngỗng ngon ơ hoặc vác ...cây gậy tập tễnh cho vui
mình, cha mẹ ...khóc !. Bây giờ với ''Tống
biệt hành'', ta xem xét các ''dị bản'' của nó coi thử phần nào thay đổi
đáng kể, phần nào do lỗi in ấn theo nội dung chính mà tác giả gởi gấm,
sau đó, ta có thể chọn ra một văn bản thích hợp để mà theo.
2. Bản của Mã giang Lân : Không giữ lại dấu phẩy.
Trước từ ''ly khách'' không có dấu ngang. Từ ''chí nhớn'' thay bằng
''chí lớn''. ''Ngươi buồn'' thành ''Người buồn''. ''Cùng như sen'' thay bằng
''cũng như sen''. ''Giời chưa mùa thu '' thay bằng ''trời chưa mùa thu'' bỏ
luôn dấu phẩy giữa câu. ''Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc'' thành ''Em nhỏ
ngây thơ, đôi mắt biếc'' với dấu tách câu ở giữa.
3. Bản của Trần đình Sử : Giữ được vài dấu phẩy nhưng
thêm dấu phẩy sau câu ''chị thà coi như là hạt bụi'' mà văn bản cũ không
có . Cũng ''người buồn'' nhưng thêm dấu hai chấm (:) văn bản cũ không
có. Thay đổi đáng kể là ''bóng chiều không thắm, không vàng vọt,'' thay
bằng ''Nắng chiều không thắm..." Ðây là bản duy nhất đổi từ ''bóng''
thành ''nắng'' khiến nghĩa cũng đổi theo.
4. Bản của Lê tiến Dũng và
5. Bản của Trần đăng Xuyền : Lấy theo nguyên bản của
HT-HC nhưng giống các tác giả trên đổi từ ''ngươi'' thành ''người''.
6. Bản của Hà bình Trị (ngữ văn 11-tập 2): Bỏ mất dấu chấm
than ở từ ''ly khách'' mà thêm dấu phẩy vào sau ''ly khách'' và ''hạt bụi''
(Ly khách, ly khách, con đường nhỏ ...là hạt bụi,)
7.
Bản của Nguyễn hưng Quốc: Bản duy nhất giữ nguyên từ ''Ngươi''
trong ''ngươi buồn''. ''Giời chưa mùa thu'' thay bằng ''Trời chưa là thu''.
8. Các văn bản khác: Không có dấu phẩy ở sau
các câu. Không dấu phẩy ở ngắt câu chỉ có một dấu phẩy ''một chị,''.
Không gạch đầu hàng ly khách (-Ly khách ). ''Giời chưa mùa thu'' thay bằng
''Trời chưa vào thu''. Thêm dấu than ở ''Mẹ! Chị! Em !'' mà văn bản cũ
không có. ''Chí lớn chưa về bàn tay không'' thành ''Chí lớn không về,
bàn tay không''. Thay đổi này sẽ ảnh hưởng đến ý nghĩa của câu. ''Em
nhỏ ngây thơ đôi mắt bìếc'' thành ''Em nhỏ ngây thơ đôi mắt ướt'' (
Bản duy nhất đổi từ ''biếc'' thành ''ướt'' nên ý nghĩa sẽ khác ). ''hơi
rượu say'' thành ''hơi rượu cay''. Tổng kết
lại, ''Tống biệt hành'' hiện đang có ''dị bản'' đáng kể như sau : - ''Bóng chiều''
thành ''Nắng chiều''. - ''Ngươi buồn'' thành
''Người buồn''. - ''Giời chưa mùa
thu'' thành ''Trời chưa vào thu '', ''Trời chưa là thu''. - ''Mắt biếc''
thành ''Mắt ướt''. -''Rượu say'' thành
''Rượu cay'' - ''Mẹ. Chị. Em.''
thành ''Mẹ! Chị! Em! '' . - ''Em thà'' thành
''Em ừ ! . Ngoài ra những dấu
ngang, dấu phẩy, từ địa phương ''chí nhớn, chí lớn'', dấu tách câu
...rối rắm, nhức đầu không biết người viết tự đưa vào hay lỗi in
ấn ? TỐNG
BIỆT HÀNH ( Nguyên bản chưa bị cắt )
1. Bản của Nguyễn hưng Quốc: Bốn câu cuối :
( Không biết vì sao
từ "Ðời'' có hoa ?)
2. Bản của những trang ''Web'':
3. Bản của
Ðể nguyên hay phục
hồi nguyên bản thi phẩm ''Tống biệt hành''? Chọn bản nào và vì sao ? Ta
cần theo nội dung toàn bài và cách gieo vần
của một bài thơ thuộc thể ''Hành''. ( Phần phục hồi
nguyên bản xin đọc phần cuối bài này). II. Thể “Hành” qua những
bài thơ Việt 1. Thể “Hành”: Nguồn gốc:
a. Trong tiếng Việt : Hành là một danh từ
chỉ một loại rau cọng nhỏ, màu
xanh, thẳng đứng. Củ và lá hành có tác dụng khử mùi dầu mỡ. Hành có
mùi hăng, thơm khó ngửi tùy khứu giác con người. Hành đi với ngò là hai
loại gia vị không thể thiếu được trong các món ăn Việt Nam. Không biết
Nam Cao đã lấy hành ở đâu cho Thị Nở nấu cháo đãi Chí Phèo ? “Bát
cháo hành Thị Nở “ từ đấy mà ra. Tên Chí Phèo cũng đã ''lưu hành''
trong văn học Việt Trong thi ca, ca dao
không hiểu tại sao người ta nỡ lòng:
Còn thằng bạn
''hành'' chẳng mấy ai chú ý nên không bị ... mẻ đầu sứt trán gì. Hành đi vào ''chuyện
xưa tích cũ'' là loại mọc lên từ “bánh bao nhưn thịt chó” của bà
Thanh Đề… “đãi” mấy sư sãi bởi
họ khinh dễ thành tâm của bà. Vì món “giã cầy” này mà bà bị xử
“oan” ngồi bàn chông dưới địa ngục!!! Chưa gì mà “hành” đã “hạ”
người ta như thế khi nó trở thành động từ “hành” cho bỏ ghét, “hành
hạ cho đến chết”. Khi nó dẫn người ta về cội nguồn, lễ hội theo tôn
giáo thì nó trở lại danh từ trong “hành hương” . “Hành”… mọc
tràn trên những tác phẩm thể loại tự sự văn xuôi nhưng trong mảnh đất
thi ca, hành ít được… trồng có lẽ vì “động
từ” của nó. Đi sâu vào vuờn
Hành -thế giới từ của các nhà ngôn ngữ-chôm chĩa cọng “hành” rồi
nhanh chân chạy ra, nếu không… chết trong trận “thiên la địa võng” của
sân cỏ ngôn ngữ này !. Tiếng Việt, nghĩa
“hành” là như thế. Tiếng Việt chịu ảnh hưởng nghìn năm đô hộ của
Trung Quốc nên từ “hành” trong tiếng Hán Nôm cũng tương tự. b. Trong ngôn ngữ Hán Nôm: Hành gồm : Danh, động
từ: - Hành là động từ
trong: “Đại đạo chi hành dã, thiên hạ vi công” nghĩa là “Đạo
trời đất được lưu hành thì cả thiên hạ chung” (Trích Đại đồng
học thuyết - Học thuyết đại đồng – Chu Thiên với giáo trình Hán văn
– nxbTPHCM) .(Hành với nghĩa “lưu hành” sang Tiếng Việt là “lưu hành
nội bộ, lưu hành trong dân gian, cao hơn chút là “Giấy thông hành” Hộ
Chiếu -Passport-) Hành cần danh từ
làm bổ ngữ trong câu: “Hành thiện chi nhân, như xuân viên chi thảo”
nghĩa là “Người làm việc thiện như cỏ mùa xuân” (Trích Thiện dữ
ác-Thiện và ác. - Hành là danh từ
trong "Cảnh hành lục vân: Tri túc thường lạc, đa tham tắc ưu”
nghĩa là “Sách Cảnh hành lục nói: Biết (cho là) đủ thường vui, tham quá
ắt lo nhiều” (Trích Tri túc - Biết đủ, Chu Thiên) Sách có sách “Cảnh
hành” của Trung Quốc. Thơ cũng có “hành” là “hành” danh từ nhưng
“hành” người ta theo nghĩa động từ đó là “Hành” của một thể văn
cổ xưa. 2.
Thể
“Hành” trong thi ca:
Cuốn “Đường thi tuyển dịch” của Trương đình Tín ghi rõ: Thơ Đường
chỉ có hai thể chính là: Thơ cổ thể hay còn gọi là thể cổ phong: ''Đây
là một thể thơ không có một luật lệ nhất định từ cách gieo vần cấu
tứ đến thanh điệu, câu chữ và bố cục… sắp xếp câu dài ngắn
không hạn chế.” Nó có nguồn gốc vẫn còn bàn cãi nhưng tạm cho từ thời
Hán Vũ Đế. Thơ cận thể hay còn gọi
là kim thể hay cách luật mà “người làm thơ phải tuân thủ những luật
lệ nghiêm ngặt về câu, về thanh, về vần về bố cục…” (Trương đình
Tín -Sách đã dẫn)
Như vậy thể “Hành” nằm trong thể thơ cổ thể (cổ phong) nhưng vì sao
gọi là “hành” thì Trương đình Tín không nói, Chu Thiên cũng chẳng nhắc,
người viết cũng nào có biết đường mà lần nên đành mượn tạm những
bài “hành” của các nhà thơ ta, thơ tàu coi có gì để gọi là “hành”
?. a. Những
bài thơ theo dạng “Hành” của 8 nhà thơ Đường và 5 nhà thơ Việt Thơ Đường chia làm
bốn chủ đề: Điền viên, lãng mạn,
biên tái và hiện thực. Nhưng sự phân chia trên chưa thật rõ ràng vì giữa
bốn chủ đề không có biên giới rõ rệt. Một bài thơ có thể mang nhiều nội dung khi ẩn khi hiện.
“Trường can hành” của Lý Bạch được xếp vào lớp “lãng mạn” vì
miêu tả hồi ức của người vợ trẻ tuổi rất ướt át nhưng thực sự,
nó cũng mang giá trị hiện thực: Nỗi lòng vợ trẻ có chồng đi xa .”Binh
xa hành”, “Cổ bá hành” ,''Lệ nhân hành'' của Ðỗ Phủ được xếp vào
lớp “hiện thực” vì nó tố cáo nỗi thống khổ, xã hội bất công,
nhân tài bị bạc đãi ,sắc đẹp là niềm đau nhưng nó vẫn mang nội dung
biên tái vì diễn tả cảnh bắt lính vào trận mạc. “Đào nguyên hành”
của Vương Duy được xếp vào lớp điền viên vì thấm màu sắc phật
lão quên hẳn sự đời nhưng thơ điền viên lại có “ phong, hoa, tuyết,
nguyệt” nên nó nhập lại dòng “ lãng mạn” . Ở Việt Khoa học, kỹ thuật,
quân sự quốc phòng ta bò chậm không nói gì mà ngay cả văn học ta cũng
chậm cả Tàu, hoặc xa cả Tây trong khi ta thì nhân tài đâu phải như “lá
mùa thu” . Lỗi này thuộc thời đại, con người hay đổ thừa lịch sử?
Sự cản đường cho văn học phát triển là cái gì nếu không nói là “
bàn tay chính trị”. Tiếc quá ! Nhìn vào khối lượng thơ Ðường ( chỉ một thời đại ) với 48 ngàn
bài thơ và 2100 nhà thơ nổi tiếng bất hủ và vô giá so với mấy trăm bài
thơ Việt Là con đẻ của thơ Đường cổ
phong và cận thể , thể ''hành ''nằm gọn
trong cách chia theo bốn nội dung trên và hình như tưởng rằng chẳng có một
sắc thái nào khác biệt. *
Thể Hành qua 8 tác giả Trung Quốc :
1. Trường can hành ( Lý Bạch ): Thể ngũ ngôn : Nói về tâm trạng người
thiếu phụ trẻ 14 tuổi lấy chồng, 16 tuổi phải tiễn chồng đi xa… 2.
Trường can hành ( Thôi Hiệu ) : Thể
thất ngôn : Lời đối đáp giữa hai người đàn ông và đàn bà hỏi về
nơi chốn, quê quán ( như Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ đối đáp với nhau
trong bài ''Bán Chiếu '') 3.
Cổ bá hành (Đổ Phủ ) : Thể thất ngôn : Niềm hoài cổ, tỏ bày nỗi
lòng thông qua cây bá cổ trước miếu Lưu Bị, Khổng Minh để xót xa cho
người tài hoa bị bỏ rơi.
4. Binh xa hành (Đổ Phủ ) : Thể tự do : Cảnh bắt lính ,dân tình khốn
khổ vì sưu thuế.
5. Lệ nhân hành (Ðổ Phủ) : Thể ngũ ngôn : Phê phán sắc đẹp chị
em Ðường quý Phi là nguyên nhân gây ra chiến tranh.
6. Tỳ bà hành ( Bạch cư Dị ) : Thể thất ngôn: Sự đồng cảm với
người ca kỹ qua tiếng đàn với tâm trạng thương xót hoàn cảnh của
nàng, có chồng không được thương tưởng, em trai đi lính, dì chết.
7. Yên ca hành ( Cao Thích) : Thể thất ngôn: Cảm thông những người
binh sĩ ở biên giới và ca ngợi công lao của Lý tướng quân Lý Quảng.
8. Đào nguyên hành ( Vương Duy ) : Thể thất ngôn : Tâm trạng của người
khách lạc vào miền đất lạvới những người dân chạy trốn chiến
tranh mà ao ước được sống lại cảnh thần tiên đó.
9. Lũng tây hành ( Trần Đào ) : Thể thất ngôn: Ca ngợi 5000 binh sĩ
đánh Hung Nô bỏ mạng mà vẫn là người lý tưởng, thần tượng của những
người thiếu phụ chốn khuê phòng. Trong đó bài dài nhất
là ''Tỳ bà hành'' của Bạch cư Dị, ngắn nhất là ''Trường can hành'' của
Thôi Hiệu. Những
bài “Hành” trên đề tài chính vẫn là nỗi lòng, tiếng nói, sự cảm
thương số phận con người ( là kỹ nữ, là tài ba là người trông chồng là người lính thú… ) * Thể hành qua 5 tác giả Việt 1. Sở kiến hành ( Nguyễn Du): Thể ngũ
ngôn: Ghi lại cảnh đói khổ của ba mẹ con lê la trên đường kiếm ăn.
2. Dương
phụ hành ( Cao Bá Quát ): Thể thất ngôn : Ca ngợi những cái đẹp của
người đàn bà phương Tây.
3. Hành phương
4. Trường sa hành ( không rõ ) : Thể thất
ngôn: Tâm trạng chua xót, buồn bã trong cao ngạo của những người lính
ở đảo.
5.
Can trường hành
( Thâm Tâm ): Thể thất ngôn: Tâm trạng con người muốn phá bỏ hiện thực.
6.
Vọng nhân hành
( Thâm Tâm ) :Thể thất ngôn : Tâm trạng buồn đời không như ý, phẩn
chí.
7. Tống biệt hành ( Thâm Tâm ): Thể thất
ngôn: Nỗi lòng của người nam nhi
trong ngày tiễn biệt( xem phần phân tích TBH ở phần cuối bài ).
8. Tương tư hành ( Hoàng Cầm): Thể tự do : Tình yêu đầy
ảo mộng đau buồn. Bài dài nhất là ''Trường sa hành'' chưa rõ tác giả,
ngắn nhất là ''Dương phụ hành'' của Cao bá Quát. Trong 16 bài “Hành”
tiêu biểu trên, “Tống biệt hành” của Thâm Tâm , theo người viết, vẫn
được xếp ở đầu bảng về cả hai mặt nội dung ( giá trị câu chữ )
và nghệ thuật ( giá trị hình tượng ). Độc giả có thể thử đọc phần
dịch Nôm từ văn bản Hán Việt của những tác giả trên để chọn những
tác phẩm nào mình thích. ( phần bản gốc chữ Hán và chữ Hán Việt, người
viết …điếc! ) b. Khái niệm “ Hành” trong văn
học : Xét 16 bài “Hành” trên, ta mới
thấy đứng về nội dung, “Hành” chưa
nói lên được cái gì khác biệt vì ''Hành'' giống như một khúc nhạc (ly
ca) chia xa. Về gốc độ loại thể ngũ ngôn, thất ngôn (tự do ở cách
gieo vần ), tự do thì những bài “Hành” đều giống y chang những bài
khác. Nếu “Hành” hiểu theo nghĩa: “Đi thấy rồi viết” như “Sở kiến hành” của Nguyễn Du, “Hành phương Nam” của
Nguyễn Bính, “Lũng tây hành” của
Trần Đào… thì cũng đâu có gì khác hơn những bài không có chữ “Hành” mà
cũng đi cũng viết như “Há chung Nam Sơn quá Hộc Tư sơn nhân túc, trí tửu”
của Lý Bạch hay “ Thanh khê” của Vương xương Linh… Ngay cả khi dạng đối đáp nam nữ
thôi như “Trường can” của Thôi Hiệu cũng mang từ “Hành” theo sau thì “Dương phụ” của Cao bá
Quát ca ngợi sắc đẹp tự nhiên của người đàn bà Tây phương nối chữ “Hành” cũng đâu có gì lạ? Bài “Trường sa hành” của chưa rõ tác
giả của Việt Nam dài 64 câu, thể thất ngôn so với bài “Trường sa quá
giả Nghị Trạch” của Lưu trường Thanh 8 câu thể thất ngôn cũng nói về
số phận con người sống trên đảo buồn bã không khác gì. Chỉ khác, Lưu
trường Thanh làm ngắn hơn và không bỏ
chữ “Hành” theo sao đầu đề mà
thôi vì đầu đề dài quá. Từ đây, ta suy luận
ra, nếu đề bài dài, tác giả hầu như ít thêm
chữ Hành . “Hành” chỉ đi sau những đề tựa ngắn gọn, đặc biệt chỉ
có hai từ. Nhưng cũng chưa chắc vì nếu hễ ta thấy những bài thơ nào chỉ có hai từ, ta thêm từ ''Hành'' vào là… lãng
nhách. Không thể cho ''Tiễn đưa'' của Phan văn Dật thành ''Tiễn đưa hành''
nhưng có thể cho “Tống biệt” của Vương Duy , ''Tống biệt'' của Nguyễn
đình Thư thành “Tống biệt hành” như Thâm Tâm thì không sai. Tại sao
được? Tại sao không?. "Hành'' chỉ
là một thể nhỏ của loại thơ cổ thể (cổ phong). “Hành” chỉ được
làm hầu hết theo thể ngũ ngôn và thất ngôn mà thôi nhưng tự do ở
cách gieo vần (khác thể cận kim có luật bằng, trắc chặt chẽ của Trung
Quốc. Khi sang Việt “Hành” theo nghĩa
danh từ phần lớn đứng sau đề tựa mà tác giả đặt (để ngầm phân
biệt với thể song thất lục bát,lục bát,tứ ngôn, thơ không hạn số chữ.)
Đầu đề bài thơ dạng ''Hành'' được qui định như sau: - Phải là một danh từ chỉ
địa điểm (Lũng Tây, Trường Can, Trường Sa, Đào Nguyên…) - Phải là từ Hán-Việt (Tỳ
Bà, Binh Xa, Cổ Bá, Yên Ca, Sở Kiếm, Dương Phụ, Tống Biệt, Can Trường,
Vọng Nhân…” Đầu đề thể Hành
chỉ được gói gọn trong hai từ chính (đầu đề) + một từ phụ là từ
''Hành'' mà thôi, có tác dụng làm cho đầu đề bài thơ trang trọng hẳn lên. Như vậy, “Hành”
chỉ có nhiệm vụ “động niên, đội mũ mão, trang bị kiếm cung “cho
viên tướng ra trận. Còn chuyện đánh đấm thắng bại là do coi tướng đó
có tài cán gì (khả năng cầm bút, khả năng rung động) hay không ?. Tới đây, ai cũng có
thể làm được một bài thơ theo thể “Hành” rồi đó. ''Hành'' là con đẻ
giữa ''cha'' thể cổ phong (không luật bằng trắc, gieo vần tự do và
không hạn chế câu ) với ''mẹ'' cận
kim ( có đối câu, có qui định luật như sau : Thể loại phải là ngũ ngôn
, thất ngôn, ít theo thể tự do nhưng không phải buộc là “Nhất, tam, ngũ
bất luật” , “Nhị tứ lục phân minh” ). Cha phóng túng, mẹ
nghiêm khắc sinh ra đứa con với kiếp lãng tử “hành” thiên hạ. “Tống biệt hành” của Thâm
Tâm là một điển hình với nội dung tiễn biêt.
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com