1005-gd.gif (6609 bytes)
posted: 10.10.2005
TTKh

Ngọc Thiên Hoa

Bài 6.

III. Đề tài “Tống biệt” qua 16 nhà thơ Đường và những câu tiễn biệt tiêu biểu của các nhà thơ Việt Nam (trong nước, ngoài nước ):

            Cuộc đời muôn hình muôn vẻ là chất liệu phong phú cho thi ca nói riêng và văn học nói chung. Một tác phẩm luôn có hai giá trị: Một là giá trị hiện thực (cuộc sống con người và thời đại) . Hai là giá trị thẩm mỹ (cách xây dựng hình tượng có giá trị vĩnh cửu, để lại trong nguời đọc một cảm xúc tất tận từ tác phẩm).

Một thời đại chinh chiến liên miên sẽ sinh ra hình ảnh người lính thú nơi biên tái và hình ảnh ''hòn vọng phu''…mòn mỏi trông chờ. Triều đại nào cũng có kẻ lên quan, người xuống chức: ''Gặp thời cỡi ngựa bắn cung. Hết thời cỡi kiến, lấy dây thun bắn... ruồi!'' Đó cũng chính là tiếng thở dài, bi phẩn vì thời cuộc và nỗi buồn của buổi chia ly nhưng cách nhìn này cũng sẽ biến dạng theo từng cách nghĩ, cách nhìn của từng tác giả.

Chia ly cũng là đề tài mang tích cách quốc tế. Đề tài “đưa tiễn” trong thi ca Việt Nam và “Tống biệt” trong thi ca Trung Quốc ra đời trên những chất liệu đó.

            1. 16 nhà thơ Đường với đầu đề có chữ ''tiễn biệt'':

Vì trong biển thơ Đường, đề tài này mênh mông quá nên người viết chỉ hạn hẹp trong khuôn khổ những nhà thơ có đầu đề với chữ ''tiễn biệt'' đã nói ở trên và tạm lược dịch vắn tắc dựa trên bản dịch chuyển ngữ của Trương đình Tín .

             a. Tám tác giả thời Đường (713-765): Cực thịnh của nhà Đường (Đường Huyền Tông):

-Đổ Phủ: Có “Tân hôn biệt” gồm 32 câu, thể ngủ ngôn:

                           Kết phát vi quân thê
                           Mộ hôn thần cáo biệt                    

              …Dữ quân vĩnh tương tương (Chiều hôm làm lễ cưới sáng đã chia tay rồi…Xin mãi nhớ nhau.)

-Vương Duy: Có ''Tống biệt'' 1, gồm 6 câu, thể ngũ ngôn:

                          Há mã ẩm quân tửu
                          Vấn quân hà sở chi ?
                          Quân ngôn bất đắc ý
                          Quy ngọc Nam Sơn thùy
                          Đản khứ, mạc phục vận
                           Bạch vân vô tận thì

(Mời xuống ngựa uống với tôi một chén rượu. Hỏi người đi về đâu.Mây trắng mãi bay còn lòng người không ý nguyện nên về ẩn dật ở núi Chung Nam.)

               ''Tống biệt'' 2 gồm 4 câu, thể ngũ ngôn:

                            Sơn trung tương tống bãi
                           Nhật mộ yểm sài phi,
                           Xuân thảo minh niên lạc
                           Vương tôn quy bất qui?

             (Ta ở lại trong núi sau khi tiễn anh đi, năm tới cỏ xuân xanh tốt, vương tôn có đến nữa không?)

- Lý Bạch : Có ''Độ kinh môn Tống biệt'' gồm 8 câu , thể ngũ ngôn:

                           Nguyệt hạ phi thiên kính
                           Nhưng lân cố hương thủy,
                           Vân sinh kết hải lâu
                           Vạn lý tống hành châu.

            (Trăng sáng như gương làm nhớ thương dòng sông cũ.Mây kết thành lầu giữa biển vạn dặm tiễn người đi)

            ''Tống Mạnh hạo Nhiên chi Quãng Lăng'' gồm 4 câu, thể thất ngôn:

                           Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu,
                           Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.
                           Cô phàm viễn ảnh bích không tận,
                           Duy kiến Trường giang thiên tế lưu.

( Người bạn cũ từ Hoàng Hạc Lâu đến nơi Dương Châu đô hội trong ba tháng tựa như khi cánh buồm xa dần trong màu xanh bao la chỉ còn thấy sông Trường giang chảy mãi trên trời.)

-Lưu Trường Chinh : Có ''Tiễn biệt Vương thập Nhất Nam du'' gồm 8 câu, thể ngũ ngôn:

                           Vọng quân yên thủy khoát
                           Huy thủ lệ triêm cân.

( Vẫy tay tràn nước mắt nhìn theo sông nước khói mênh mông)

- Bùi Dịch: Có ''Tống thôi Cửu '' gồm 4 câu , thể ngũ ngôn:

                           Qui sơn thâm thiển xứ ,
                           Tu tận khâu hác mỹ,
                           Mạc học Võ lăng nhân,
                           Tạm du Đào Nguyên lý.

(Ẩn mình nơi sơn cùng sâu cạn thì nên chọn nơi có nét đẹp của hang hóc. Đừng nên sống như dân ở Võ lăng. Tạm chơi ở Đào Nguyên rồi về   nhé )

-Sầm Than : Có ''Tẩu mã xuyên hành phụng tống Phong đại phu xuất sư Tây Chinh'' theo thể tự do :

                           Tướng quân kim giáp dạ bất khoát
                           Bán dạ quân hành qua tương bát

( Tướng thì đêm về hoàng giáp không cỡi còn quân thì nửa đêm khua giáo lên đường)

-Vương Xương Linh: Có ''Phù Dung lâu tống Tân Tiệm'' gồm 4 câu thể ngũ ngôn:

                          Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô,
                          Bình minh tống khách Sở sơn cô.
                          Lạc dương thân hữu như tương vấn,
                          Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.

(Mỗi tối trên sông lạnh vào đất Ngô, sáng sớm tiễn khách tại ngọn núi chơ vơ trên đất Sở. Nếu người thân Lạc Dương có hỏi, thì người ở đây vẫn giữ một lòng băng giá trong bình ngọc)

-Lý Kỳ : Có ''Tống Ngụy Vạn chư kinh'' gồm 8 câu , thể thất ngôn:

                          Triêu văn du tử xướng ly ca
                          Tạc dạ vi sương sơ độ hà

( Sáng nay nghe người lãng tử hát khúc biệt ly, đêm hôm qua ghi lòng những giọt tơ sương trên sông)

* Tống biệt thời thịnh Đường là khúc nhạc biệt ly của vợ chồng, của bạn bè, của những người tìm nơi quy ẩn với tiếng lòng thắm thiết cùng cảnh núi rừng thâm cốc, sông lạng, mây sầu, gió hiu, lá rụng, rét buốt kinh người. Đó là tiếng nói hiện thực của thời đại cuối thịnh Đường đầy loạn lạc. 

              b. Tống biệt với ba tác giả thời Trung Đường (766-835) : (Lý Dự -Ðường Ðại Tông):

- Lý Ích: Có “Hỷ kiến ngoại đề hựu ngôn biệt” gồm 8 câu , thể ngũ ngôn:

                           Thập niên ly loạn hậu,
                           Trưởng đại nhất tương phùng.
                            Minh nhật Ba Lăng đạo,
                           Thu sơn hựu kỷ trùng?

(Sau mười năm ly loạn, anh em mới gặp nhau. Sáng mai em về Ba Lăng, anh em lại cách trở muôn trùng thu phải không?)

-Tư không Thu: Có ''Tặc bình hậu tống nhân bắc du” gồm 8 câu , thể ngũ ngôn:

                           Thế loạn đồng nam khứ,
                           Thời thanh độc bắc hoàn.
                        … Hàn Cầm dữ suy thảo,
                           Xứ xứ bạn sầu nhan.

( Vì giặc giã nên cùng lánh nạn ở phương Nam.Nay thanh bình chỉ một người về phương Bắc. Mặt người buồn theo với lũ chim lạnh lẽo cùng cỏ cây héo sầu)

- Lư Luân: Có ''Tống Lý Đoan'' gồm 8 câu, thể ngũ ngôn:

                           Cố quan suy thảo biến,
                           Ly biệt chính kham bi.
                           Yểm khấp không tương hướng,
                           Phong trần hà sở kỳ?

( Quê cũ cỏ tàn lụi khắp nơi. Chia tay chính lúc buồn. Nay lại chia tay   nhưng không nhìn anh bi lụy. Chốn gió bụi khi nào mới gặp nhau?)

* Tống biệt thời Trung Đường là khúc nhạc biệt ly của anh em, bạn bè có bi nhưng không lụy cùng với cỏ cây úa sầu. Đây cũng là tiếng nói hiện thực chính cho một triều đại Trung Đường chỉ toàn giặc giã và loạn lạc.

             c. Thời Vãn Đường ( 836-907 ): ( Lý Ngang-Đường Văn Tông)

-Ôn Đình Quân : Có ''Tống nhân đông du” gồm 8 câu , thể ngũ ngôn:

                           Hoang thú lạc hoàng điệp,
                           Hạo nhiên lý cố quan.
                       … Hà dương trùng tương kiến?
                          Tôn tưủ uý lý nhan.

( Lá vàng rụng nơi đóng quân lạnh lẽo, người vẫn một lòng từ biệt cố hương. Biết ngày nào gặp lại sẽ nâng ly rượu cho anh thôi buồn sầu.)

-Tào Đường : Có ''Thiên thu tống biệt'' gồm 8 câu , thể thất ngôn:

                          Ân cần tương tống xuất thiên thai,
                           Tiên cảnh na năng khước tái lai.
                           Trù trướng khê đầu tòng khử biệt,
                           Bích sơn minh nguyệt chiếu thương đài.

(Ân cần đưa tiễn người xuống núi thiên thai. Cõi tiên chẳng thể cho người trở lại nữa. Thiếp bên đầu suối buồn bã tiễn người . Chỉ còn non xanh với ánh trăng chiếu rọi rêu phong.)

* Tống biệt thời Vãn Đường là tiếng nói của những nam nhi thời loạn lạc và những người khuê phụ tiễn người trung nhân trong những chén rượu đầy nước mắt cùng với trăng thanh non ngàn hiu quạnh. Đây là tiếng nói hiện thực của một triều đại cuối Đường với những cuộc khởi nghĩa và cướp bóc. Nó còn là bài ca tống tiễn một thời đại rực rỡ , phồn thịnh nhất trong lịch sử Trung Quốc đi vào dĩ vãng. Thời Đường coi như cáo chung nhưng hiện thực theo văn học đã ở lại với lịch sử văn học Trung Quốc cũng như lịch sử văn học thế giới.

Ðề tài ''Tống biệt'' quay trở lại với nền văn học Việt Nam qua dòng thơ Tiễn biệt.

       2. Những bài thơ Việt Nam trong và ngoài nước có những tựa đề và những câu ''Ðưa tiễn'':

Nếu ''Tống biệt'' của Trung Quốc thiên về toàn bộ những cảnh chia ly cha con, chồng vợ, anh em mà đặc biệt là bạn bè thì ''Ðưa tiễn'' của Việt Nam nghiêng về chủ đề ''tình yêu'' nhiều hơn rồi mới đến bạn bè...Ðó cũng chính là nét khác biệt sáng tạo như một sự ''tách dòng'' ra khỏi ảnh hưởng ''một ngàn năm đô hộ giặc Tàu''. ( Người viết chỉ lược trích một số câu tạm gọi là tiêu biểu trong một số bài thơ đã đọc qua có liên quan đến thi phẩm ''Tống biệt hành'' của Thâm Tâm

            a. Ðưa tiễn lòng:
 
-Vũ đình Liên :       ''Làn gió heo mây xa hiu hắt
                            Lạnh lùng chẳng biết tiễn đưa ai .''
 
-Huy Cận       :       ''Có ai tiễn biệt nơi xa ấy
                            Xui bước chân đây cũng ngại ngùng.''
 
-Tế Hanh       :       ''Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt
                            Lòng buồn đau xót nỗi chia xa.''
 
-Phạm Hầu    :          ''Ðưa tay ta vẫy ngoài vô tận
                             Chẳng biết xa lòng có những ai?'' 
                                                    (Vọng hải đài)
 
-Nguyễn đình Thư:   ''Và đây xa cách không người tiễn
                             Mắt với trông theo nghĩ chẳng đành.'' 
                                                     (Vương tình)
 
-Nguyên Sa   :         ''Tôi muốn hỏi thầm người rất nhẹ
                             Tôi đưa người hay tôi đưa tôi ?''  
                                                      (Tiễn biệt)
 
             b. Ðưa tiễn bạn:
 
-Thế Lữ          :       ''Tôi tiễn anh đi đến tận thuyền
                              Ðể dài thêm hẹn cuộc tình duyên.''  
                                                      (Bên sông tiễn bạn)
 
-Xuân Diệu     :         ''Anh đi đường có hoa
                              Tôi nằm trong tủi lạnh.'' 
                                                      (Viễn khách)
 
-Vũ hoàng Chương:    ''Kinh Kha hề Kinh Kha
                              Vinh cho người hề! ba nghìn tân khách
                              Tiễn người đi tiếng trúc nhịp lời ca.''  
                                                       (Bài ca sông Dịch)
 
-Nguyễn đình Thư:    ''Ðể giờ lủi thủi người đi
                              Mai chiều hiu quạnh tà huy tôi buồn.''  
                                                        (Tống biệt)
 
             c. Ðưa tiễn người yêu:
 
-Huy Thông    :       ''Chàng ơi ! Chàng ở lại.
                            Chờ vừng hồng tắm nắng chân mây xa.
                            Và biệt chàng, thiếp xin đi, đi mãi!''  
                                                        (Anh-Nga)
 
-Hàn mặc Tử  :        ''Lau mắt đi ,đừng cho lệ rơi
                             Vì anh rõ trước sẽ có ngày cách biệt.
                             Ngó như gầm nhưng thiệt xa khơi.''  
                                                        (Trường tương tư)
 
-Thái Can       :        ''Anh biết em đi chẳng trở về
                             Dặm ngàn liễu khuất với sương che.''    
                                                        (Anh biết em đi )
 
-Phan văn Dật :       ''Ngày mai chàng lên đường.
                              Thân gió bụi tuyết sương .
                             Tối nay còn với thiếp.
                              Xin cạn chén quỳnh tương.''  
                                                         (Tiễn đưa)
 
-Quách xuân Sơn :   ''Ngắn bằng tiếng nấc buồn đưa tiễn
                             Chẳng ngắn sầu thương đậm tháng ngày.''  
                                                         (Xa)
 
-Lưu trọng Lư  :         ''Kẻ ra non nước, người thành thị
                              Ðôi ngã tình đi, người mỗi nơi.''  
                                                         (Tình điên)
 
                        :    ''Ngày hôm tiễn biệt buồn say đắm
                               Em vẫn nô đùa uống rượu say.''  
                                                         (Một mùa đông)
 
-Huy Cận         :      ''Cơn gió hiu hiu buồn tiễn biệt
                              Xa nhau chỉ biết nhớ vơi đầy.''  
                                                         (Vạn lý tình)
 
-Hoàng trúc Ly :       ''Em bảo anh người đi không trở lại
                               Nấm mồ ai như giọt lệ chưa tan.''  
                                                         (Gặp người em)
 
-Quang Dũng     :       ''Người đi người đi đường quạnh quạnh
                              Ngày tháng thương vay kẻ đợi chờ.''  
                                                         (Cố Quận)
 
-Vũ đình Trường-Tâm Tưởng :
                              ''Ca khúc cuối cùng cho thương nhớ dài thêm
                              Ôi ly biệt để rồi không gặp nữa.''    
                                                          (Mưa về Cao nguyên)
 
              d. Tiễn đưa với những hình ảnh tráng sĩ, ly khách viễn khách, chinh phu, Kinh Kha:
 
-Nguyễn  Bính   :        “Kinh Kha quán lạnh sầu nghiêng chén.
                               Ai kẻ dâng vàng, ai biếu tay?
                               Mơ gì ấp Tiết thiêu văn tự.
                               Hài cỏ, gươm cùn, ta đi đây.''
                                                         (Hành phương Nam)
        
-Huy Cận          :       ''Ai đi đưa xin đưa đến tận nơi
                               Chớ quay lại nửa đường mà làm tủi ."   
                                                         (Nhạc sầu)
                        
                         :    ''Em không nghe rạo rực
                               Hình ảnh người chinh phu
                               Trong lòng người cô phụ.''  
                                                         (Tiếng thu)
 
-Thái Can          :      ''Chinh phu ruổi ngựa lên miền Bắc
                               Tiếng địch bên thành thổi véo von.''  
                                                         (Trông chồng)
 
-Lưu trọng Lư    :        ''Cây nước say theo người tráng sĩ
                               Con đò quên cả chuyến sang ngang.''  
                                                         (Chiều cổ)
 
-Thế Lữ              :      ''Non nước đương chờ gót lãng du
                                Ðâu đây vẳng tiếng hát chinh phu.''  
                                                          (Giây phút chạnh lòng)
 
-Xuân Diệu        :       ''Ðang lúc hoàng hôn xuống.
                               Là giờ vìễn khách đi.
                               Nước đượm màu ly biệt.
                               Trời vương hương biệt ly.''  
                                                         (Viễn khách)
 
-Gia Phong         :       ''Ðời lữ khách sầu vương luyến nhớ
                                Dấu chân mòn lối nhỏ đường xưa.''  
                                                         (Tri âm khúc)
 
-Bích Khuyên     :       ''Ðâu tiếng vó câu cuốn bụi hồng.
                               Ðâu người tráng sĩ của non sông?
                                Mùa Thu hiu hắt ngoài song cửa.
                               Em đợi người về mỗi gió Ðông.''  
                                                         (Em vẫn chờ anh)

     

        3. Loại đề tổng hợp: Phân tích, bình luận, phát biểu, chứng minh : ''Tống biệt hành''.                                                                       

Dựa trên bảng cũ nhất của HT-HC trong “Thi nhân Việt Nam”, người viết đưa vào bốn câu cuối bị cắt của thi phẩm sau khi đọc các đoạn khác bằng cái nhìn chủ quan chọn bốn câu như sau:

                                Hơi thu đầu núi giá lên trăng,
                                Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.
                                Buồn ở lưng trời nghe đã lại,
                                Tiếng đời xô động, tiếng hờn câm.

Với  loại đề tổng hợp, người viết đi từ hiện thực (bối cảnh có trong văn bản đến hiện thực xã hội từ văn bản suy ra) sau đó, đưa giá trị hiện thực lên giá trị hình tượng qua cách đi từ nội dung sang nghệ thuật hòng mang đến cho người đọc hiểu thêm ý nghĩa ''nhân bản'' trong ''Thi phẩm TBH '' qua sự chọn lựa cách phân tích ngang chớ không theo cách phân tích theo bố cục hay từng đoạn bởi vì các ý tưởng lẫn lộn, ẩn mình trong từng câu trên dưới . Phần dẫn chứng có sử dụng thơ văn của các nhà thơ trong nước cũng như thi hữu nước ngoài không phân biệt nhưng có sửa lại lỗi chính tả thông thường không biết là do tác giả hay lỗi in ấn và không làm ảnh hưởng nội dung .

---> đọc tiếp bài 7: thế nào là “khúc nhạc tiễn đưa nhân bản” trong tbh?

 © giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com