1005-gd.gif (6609 bytes)
posted: 10.10.2005
TTKh

Ngọc Thiên Hoa

Bài 7.

TỐNG BIỆT HÀNH : KHÚC NHẠC TIỄN ÐƯA NHÂN BẢN

                    ( Nguyên bản thi phẩm có ghi lại đầy đủ phần trên )

Nét buồn thời chiến đã mang lại cho văn học nhân loại một đề tài tiễn biệt. Bên cạnh dòng chảy tiễn biệt tổng hợp xuyên qua mọi thời đại, “Tống biệt hành” của Thâm Tâm với 26 câu thơ theo thể thất ngôn đã vượt trội với dòng thơ trữ tình chảy riêng từ nhánh sông văn học Việt Nam đổ vào dòng tiễn biệt của văn học thế giới.

     Giá trị hiện thực xã hội thời loạn lạc được Thâm Tâm phản ánh qua văn bản với nhiều ẩn ý sâu sa : Một gia đình gồm mẹ già, hai chị và một em gái. Gia đình này đã trải qua những đêm nước mắt vì sự quyết định ra đi của người con trai. Ai đã nhìn thấu được nội tâm của từng nhân vật mà viết xuống nếu không là người trong cuộc:

                                   Ta biết ngươi buồn chiều hôm trước.
                              ...  Ta biết ngươi buồn sáng hôm nay;

Cụm từ ''Ta và ngươi'' khác ''Ta và người''. ''Ta'' một lối xưng hô từ ''Tôi'' mà ra nhưng hàm ý khí phách rất biết mình, tự khẳng định mình so với cái từ “Tôi” khiêm tốn . “Ta” có thể đi với “ngươi” vì tính cách ngang hàng. ''Ta'' cũng đi với ''người'' như ''Tiễn người -ta tiễn thêm lần nữa'' (Hoàng định Nam). “Tôi” đi với “người” ví dụ như ''Người đi -Tôi tiễn khỏi lòng tôi'' (Hoàng định Nam). ''Ngươi'' hay ''Người'' đều chỉ ngôi vị thứ hai tức là người thứ hai. ''Tôi'' hay ''Ta'' chỉ là một người là chủ thể , là bản thể của mình. Trong TBH ,với hai câu trên , ta cũng ngầm hiểu được có hai người. Một người là chủ thể ngôi thứ nhất đang nói với ngôi vị thứ hai. Nhưng khi xét toàn văn bản , chủ thể ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai lại nằm trong một con người theo một lời độc thoại : Con người của mình trong qúa khứ nói với con người của mình trong hiện tại. Một dị bản khác viết ''Ta biết người buồn'' thì thấy rõ hai con người khác nhau nhưng trong TBH. Thâm Tâm đã viết ''Ta biết ngươi buồn'' thì hiểu ngay ''ngươi''  là ''ta'' nên ''ngươi'' có suy nghĩ gì ''ta'' cũng biết hết . Không ai dùng ''Ta-Người''  là hai người cho một người nhưng nói về một người có thể dùng ''Ta-Ngươi''. Theo cách hiểu như vậy nên người viết cho rằng trong TBH khi TT dùng "ngươi'' , ta hiểu chỉ còn một người, khi TT dùng ''người'' là có cả hai người. Hai người đó là những ai ? Một người là người nào ? Hiểu ra họ, thi phẩm phần nào được hóa giải theo nghĩa ''tươi lắm thay'' chớ không ''buồn chiều hôm trước, buồn sáng hôm nay'' và mới thấy sự cắt bỏ đoạn cuối của thi phẩm là một sự không nên làm.

      Buổi “chiều hôm trước” ám chỉ một thời gian đã qua nhưng  chưa xa lắm. “Nỗi buồn” từ “chiều hôm trước” còn tồn động thành đá tảng, chưa trôi tan đến “sáng hôm nay” dù hai người chị hết lòng : ''Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.'' “Dòng lệ sót” là dòng nước mắt đã cạn cùng và có thể hiểu như một dòng lệ sót sa vì từ ''dòng lệ'' này có tính chất như số nhiều chớ không như ''giọt'' ít ỏi. Hiểu theo hai nghĩa  nhập lại ''dòng-giọt lệ sót'' thì  dứt giọt nước mắt chắt chiết này , lời cuối sẽ khô tức là không phí nước mắt nữa mà hai chị gạt nước mắt, bằng lòng tiễn em lên đường chẳng dây dưa qua từ “ nốt” là hết không thêm bớt nửa lời. Đây là một tính cách cứng cáp hiếm có. Có lẽ nó được phát sinh từ hình bóng trụ cột là người cha không có trong gia đình và gia đình này đã quen với sự trống vắng, chịu đựng mất mác, những con người ấy sẽ có tính cách vững vàng, quyết liệt hơn. Giá trị này của “Tống biệt hành” qua tình cảm hai người chị lẽ nào không được văn học ghi nhận, đóng dấu? Ðây là nét nhân bản thứ nhất của thi phẩm.

       Tính cách vững vàng này của hai người chị đã làm hình bóng người mẹ an tâm ẩn mình với dòng nước mắt trước khóc chồng nay khóc tiễn con trai bên cạnh hai người con gái dũng cảm giữa thời chiến. Thi Thánh Đỗ Phủ thời thịnh Đường sống trong thời kỳ loạn lạc “An-Sử” ( An lộc Sơn-Sử tử Minh) đã dùng ngòi bút hiện thực phê phán chế độ, lên án chiến tranh và nhận xét trong “Binh xa hành” :

                                 Tín tri sinh nam ác,
                                 Phản thị sinh nữ hảo.
                                 Sinh nữ do đắc giá tị lân,
                                 Sinh nam mai một tùy bách thảo.

(Nếu biết sinh con trai chi bằng tốt hơn sinh con gái. Sinh con gái còn có giá vì được ở gần. Sinh con trai thân mai một vùi trong cỏ dại). Thiết nghĩ đem ý hiện thực chua chát này để lý giải tại sao người mẹ đã không có lấy một lời với con trai dù đau lòng đứt ruột. Hình ảnh người mẹ âm thầm này trở thành hình ảnh người mẹ chung trong buổi chia biệt : ''Ngày con đi mẹ gượng cười không khóc. Rồi gục đầu để giấu kín tâm tư'' (Lê như Phò -Tâm tình gởi mẹ-) hay như trong ''Thuở ấy ta đi '', Thuỷ lâm Synh viết : ''Thưở ấy ta đi mẹ già nín khóc. Nắng của ngày mưa chết yểu sau vườn''. Người mẹ dù  ''gượng cười'', dù ''nín khóc'' cũng đồng nghĩa một sự hy sinh, cam lòng đáng quý trọng.  Người phụ nữ được coi là phái  yếu ớt giữa đời thường, nhưng trong chiến tranh nét yếu ớt chuyển sang sức mạnh tinh thần hơn cả cánh đàn ông  với khả năng có thể “đào hào, sẻ núi, lấp sông” huống chi chỉ trong một tình huống “tiễn con” lên đường.

      Ta hãy xem, người con trai và mẹ già đã có sự chuẩn bị tâm lý đến mức độ nào cho ngày tiễn biệt trong bài “Gốc khế” của Lê Đạt:

                                 Khi gió mùa anh đi
                                 Sang sông tìm nắng khác.
                                 Để mẹ già tóc bạc
                                 Lưng còng trên gậy tre.
                               …Ba năm anh không về
                                 Ba năm rồi ba năm .

“Ba năm anh không về” qua lời dẫn truyện rồi ba năm nữa cũng không. Bài thơ chưa có chuẩn bị sự tâm lý nào cho người mẹ ở lại ngóng trong với tóc bạc, lưng còng theo qui luật thời gian cộng thêm tâm lý nhớ con theo năm tháng (Sự không về của anh là sự hụt hẩng của mẹ) . Bởi thế, gốc khế xanh kia vẫn xanh mà chát vì vắng người xưa còn mẹ thì “bạc và còng” tàn lụi vì thời gian. Ðây là hiện thực nhưng hiện thực này làm người đọc tưởng chừng như người con trai  chưa làm tròn bổn phận làm con để báo đáp ''Công cha như núi. Nghĩa mẹ nước nguồn''.

       Trong TBH, Thâm Tâm đã để nhân vật con trai (tác giả hóa thân) tỏ lòng cùng với mẹ, nói trước khả năng xấu cho mẹ trong bước đường ra đi của mình:

                                 Chí lớn chưa về, bàn tay không.
                                 Thì không bao giờ nói trở lại!
                                 Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.

Từ “ba năm” quen dùng như sự ướt lệ chỉ thời gian tượng trưng từ quan niệm: “Ba năm tang chế” nghĩa là người sắp ra đi sẽ không hứa hẹn một ngày trở về. Sự chuẩn bị tâm lý này dẫu thật sự có trần trụi, tàn nhẫn nhưng dù sao cũng dễ chịu hơn nếu sau đó có một tin dữ của người con từ chiến khu hay từ nơi nào đó báo rằng người ấy ngã xuống. Mẹ già sẽ không nghe như ''tiếng sét'' , không đứng tim đột ngột bởi cú sốc bất ngờ. Trong dòng tự sự, ngòi bút chuẩn bị tâm lý này không làm người đọc ngạc nhiên nhưng trong thi ca, bút pháp này quả thật gây cho người đọc cảm xúc pha chút bất ngờ qua từng cụm từ toàn phủ định “không bao giờ trở lại”, “cũng đừng mong” mà như khẳng định “con không về, mẹ đừng trông”. Ðây là nét nhân bản thứ hai của thi phẩm.

 Nhưng ''miệng cứng lòng mềm'', nỗi buồn đã bật ra vì sao? Huy Cận trong “Tương tư” lý giải :

                                 Hôm nay trời nhẹ lên cao
                                 Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn.

Một cắt nghĩa nhẹ tênh, bế tắc. Huy Cận buồn không tên, không tuổi. Nhân vật người con trai trong TBH buồn có “lý lịch” hẳn hòi: Đó là buồn ngày tiễn biệt. Ngày tiễn biệt là một buổi sáng mùa hạ lý tưởng:       

                                   Sáng hôm nay;
                                  Trời chưa mùa thu tươi lắm thay,

Thời gian đưa tiễn đã có.Tâm lý chuẩn bị cho sự xa cách vĩnh viễn này cũng đã xong Người đi chỉ việc ra đi nhưng trước khi ra đi, những hình ảnh gia đình động lại trong mắt, trong tâm tưởng người ra đi như thế nào? Văn bản cho thấy: “Mẹ” đã “già” trong lòng con trai và như thế nỗi xót xa, thương yêu sẽ hằn trong tâm tưởng. Với hai chị ? Hai chị trong trắng, tiết tháo hơn bất cứ loài hoa nào mà người em trai đã nhìn thấy:

                                 Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
                                 Một chị, hai chị cùng như sen    (Văn bản khác ghi ''cũng như sen'', đồng nghĩa ).

Thi phẩm có hai  từ “nốt” -cách dùng miền Bắc- nghĩa là hết (Hiện nay, thi ca ít thấy sử dụng chỉ sử dụng trong văn nói). Một từ ''nốt'' dùng cho lời khuyên em trai của hai người chị ''Khuyên nốt em trai dòng lệ sót''. (Theo ''dòng lệ -giọt lệ sót'', ta có thể hiểu lúc đầu sẽ khuyên em trai đừng đi, sau đó gạt nước mắt khuyên bảo những điều dọc đường gió bụi cần làm. Ðây cũng là nét tâm lý chung mà chị thay mẹ lo lắng cho em.) Từ ''nốt'' thứ hai   dùng cho loài sen ví với hai chị trong hai câu trên. Lời thương đã rót ''nốt''- hết- cho người em trai, người em trai cũng nhìn ra ''hết'' -nốt- nét đẹp của hai chị. Người ngoài thường cho sen nở, sen tàn nên nghĩ hai chị cũng “ tàn” như sen nhưng quên mất cái quí giá của sen chính ở chỗ : ''Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn''.

Vẻ đẹp bên ngoài có rực rỡ cỡ nào cũng theo quy luật “hoa nở hoa tàn”, còn cái tiết  liệt bên trong mới là phẩm giá quý nhất có giá trị vĩnh cữu của con người. Trong đôi mắt của người em trai, hai chị “đẹp người, đẹp nết” là hình ảnh khắc sâu trước giờ tiễn biệt mà em trai  buột phải xa cách. Hình ảnh này sẽ mãi mãi theo người em đi xa dù lỡ mai em có thể không quay về hay thời gian có tiễn đưa tuổi xuân chị theo con bướm nọ đi về nơi xa nhưng với người em, hai chị vẫn đẹp tươi như những đoá sen từ thuở ly biệt. Ðây là nét nhân bản thứ ba của thi phẩm.  

Nếu nói hình ảnh người mẹ già lặng nhìn con đi với nét tâm lý sẵn sàng chịu đựng “ba năm tang chế” lỡ con không về và hình ảnh người chị cao cả, thanh khiết, bất khuất, đẹp đẽ là hình ảnh mà người em trai không quên thì hình ảnh cuối cùng trong thi phẩm là hình ảnh “nguời em nhỏ” :

                                 Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
                                 Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay...

Đây không phải là đôi mắt mà thi ca đắm say : ''Mắt em là một dòng sông. Thuyền ta bơi lặng trong dòng mắt em'' của Lưu trọng Lư trong ''Trăng lên'' cũng không phải là ''mắt xoe tròn thương thương quá đi thôi'' mà Giang Nam đã dùng trong ''Nghe em vào đại học''. Đây đích thực là một người em gái nếu văn bản chỉ dùng  một từ ''em nhỏ''.

       Trong dòng thi ca, thi nhân dùng cho người yêu bằng từ “em gái, em tôi” như Hữu Loan trong ''Màu tím hoa sim'' : ''Tôi thương nàng như tình thương em gái'' và Xuân Diệu trong ''Đơn sơ'' : ''Em tôi ăn nói vô duyên quá. Em giết tình anh có biết không''. Từ ''mắt biếc ''nếu đứng riêng sẽ là một hoán dụ chỉ người yêu như trong ''Nhớ anh'' của Nhật Quang: ''Thu tiễn hạ trời buồn da diết. Nhớ anh yêu, mắt biếc đợi chờ''. Không ai dùng chữ “em nhỏ” để ám chỉ người yêu. ''Nhưng trong một câu thơ trong TBH mà có hai từ: Một người, một mắt vừa là em gái vừa là người yêu, ta nên hiểu cách nào hợp lý đây ? Lại phải cầu cứu vào quy luật thơ. Ca dao thì hay dùng ''Phú, tỷ, hứng'' (diễn tả, so sánh, bày tỏ cảm xúc ) trên nói bâng quơ, dưới mới vào ý chính như: ''Trời không mây như cây không gió. Mắt ai sầu, anh ngó, anh thương'' . Thơ ca thường thường hai câu đi với nhau tạo thành một nghĩa . Câu trên mở, câu dưới kết . Trong câu ''Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc'' là câu mở cho ''Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay...'' là câu kết. ''Em nhỏ'' cộng với tính từ mức độ “ngây thơ” thêm “đôi mắt biếc” chia đủ ba cụm không dư một từ đủ thấy tác giả thật khéo léo đưa hình ảnh trên  đối với hình ảnh dưới là “chiếc khăn tay” . Nhưng ''Em  nhỏ'' có biết gì đâu mà ''thương tiếc chiếc khăn tay''?. Giả dụ, ''em nhỏ'' tặng cho anh chiếc khăn thì cũng đến mức độ “lưu luyến” người anh đi xa  thôi. Từ ''thương tiếc'' chỉ dùng trong văn tự như điếu văn  hay trên vòng hoa cho người khuất bóng thường được trang trọng ghi ''vô cùng thương tiếc''. Trong văn thơ, từ này cũng được sử dụng cho những gì đã qua trong quá khứ và là kỷ niệm sâu sắc lắm. Nếu kỷ niệm'' gói tròn'' trong ''chiếc khăn tay'' thì em nhỏ chỉ là người trao cho anh trai  chiếc khăn của anh với ai đó mà anh vô tình hay cố tình bỏ quên. Có thể hiểu  từ ''thương tiếc'' là tiếc nuối  cho một  kỷ niệm dễ thương nhưng đã mất thật rồi. Xuân Diệu nhìn áo nhớ người . Nguyên Sa nhìn áo nàng màu gì thì yêu mến màu đó rồi về tương tư.Thâm Tâm nhìn chiếc khăn tay kia tất sẽ nhớ lại kỷ niệm.Kỷ niệm đầy ấp rứt bỏ sao đành! Khăn nếu được tặng thì người nhận sẽ vui sướng dù là chia xa, không ai nhận tặng vật mà lòng ''thương tiếc''. Tiếc cái gì kia chứ? Vậy thì ...đã hết thật rồi đó một chữ ''tình'' bỏ ngõ...trong ca dao : ''Khăn thương nhớ ai, khăn vắt trên vai''. Cách hiểu coi  ''em nhỏ'' trao anh trai  ''chiếc khăn tay'' coi như tình anh em  hay người yêu cũng đều là không đúng tâm lý. Lúc này, ta mới thấy giá trị của từng câu chữ, từng cách dùng từ chính xác, tinh xảo, hoàn hảo của TT qua từ ''Em nhỏ'' chuyển thành ''Em'' với hai nghĩa khác hoàn toàn và đáng được có trong thi phẩm. Ta đi theo cách loại bỏ những từ chưa thích hợp dưới đây :

      Văn bản khác ghi: ''Em nhỏ ngây thơ đôi mắt ướt''. Mắt ướt có hai nghĩa: Nghĩa là ướt nước mắt, nghĩa khác là mắt huyền dùng vẫn được trong câu thơ với ý không đổi bao nhiêu nhưng giá trị nghệ thuật (cách vận dụng vần) trong câu thơ sẽ bị triệt tiêu bởi vì : ''mắt ướt'' không đi với “thuơng tiếc” mà “mắt biếc” đi với “thương tiếc” làm câu thơ mặn mòi, nổi bật về nội dung, già dặn nghệ thuật gieo vần.

        Dựa vào “sen nở nốt” với “em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc” trong ''Giời chưa vào thu'', người đọc có thể hình dung độ tuổi của họ trong gia đình: Họ san sát nhau, không thể già hơn một mùa sen đang nở tàn, không thể vàng hơn một mùa thu rụng lá sắp tới. Người sắp ra đi đang độ tuổi học trò. Có day dứt, buâng khuâng, quyến luyến gì với gia đình dù không có sự đưa tiễn của người cha thì người trong cuộc vẫn phải ra đi. Có nhiều cách đưa tiễn khác nhau nhưng cách nào cũng làm người tiễn nhỏ lệ và người đi mủi lòng .

       Trong thi ca, ngoài đời, tiễn bạn thường rót rượu cho nhau:

                                 Mời anh cạn hết chén này
                                 Nửa đời phiêu lãng chỉ còn đêm nay.
                                                                (Lưu trọng Lư -Giang hồ-)
Mượn rượu tiêu sầu để thời gian ngắn lại thật lời thơ hiếm có xưa nay. Thơ Đường có Ôn đình Quân trong “Tống nhân đông du” viết:
                                 Hà đương trùng tương kiến,
                                 Tôn tửu úy ly nhân.

(Bao giờ gặp nhau lần nữa ,chén rượu này mời kẻ đi xa). Chuyện tiễn đưa bên chén rượu dài đến say mèm không nói hết, nói tới chết cũng không thể hết lời.

“Tống biệt hành” ngày tiễn biệt không có chén rượu nào.Thâm Tâm thiếu sót hay vì người tiễn đưa chỉ là những người phụ nữ? Hai người bạn đàn ông tiễn nhau nếu không có chén rượu thì cuộc tiễn mất vẻ khí phách nam nhi và thi ca mất hương vị say độc đáo qua chén rượu làm kỷ niệm. Loại bỏ giả thuyết này thì trong thi phẩm chỉ còn chút kỷ niệm là một ''chiếc khăn tay'' .Thi phẩm có nhiều cái rắc rối, mơ hồ trong đó có hình ảnh ''người em nhỏ'' và ''chiếc khăn tay''. Theo dân gian, buổi tiễn đưa này là tiễn Phạm quang Hòa có Huyền Trân, mẹ già, hai chị (một chị dâu con ông bác của Hòa, một chị là bạn người chị dâu). Cô bé là cô hàng xóm tặng chiếc khăn tay có thêu thêm hai chữ Y.A. (tên hay từ “yêu anh” không rõ!). Đời cần cụ thể. Thơ văn không nhất thiết phải cụ thể như thế vì sẽ làm mất chất lãng mạn của thi ca, nhân vật sẽ không còn mang giá trị thẩm mỹ dù nét thẩm mỹ đó bắt nguồn từ hiện thực và được hư cấu theo từng loại thể . Ví dụ để nói về ''chiếc khăn tay'' -kỷ vật của tình yêu - trong “Hương thầm”, Phan thị thanh Nhàn đã hư cấu  một cô bé và đã để cho cô bé này :

                                 Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay
                                 Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm.
                                 Bên ấy có người ngày mai ra trận
                                 Bên ấy có người ngày mai đi xa…

Cái “ngập ngừng”, thẹn thùng ấy đầy nữ tính sao quá đổi dễ thương nhưng cô gái này cách cô em trong TBH hơn ba mươi năm  dù sao cũng còn ''bạo dạn'' sang tận nhà hàng xóm tiễn người. Trong TBH, người tiễn ''Em'' hình như ...thụ động và có chút ...không rõ ràng. Nếu nói mẹ, chị, em ...tiễn thì câu thơ: ''Ðưa người, ta không đưa sang sông'' chẳng lẽ là của họ nói với người ra đi ? Nếu bảo họ không phải là người tiễn thì càng vô lý vì văn bản đã chỉ rõ thời điểm chia tay (buổi sáng mùa thu ) với hình ảnh mẹ, chị, em bên cạnh chiếc khăn tay được gói tròn không biết là giấu cái gì ở trong. Ngày ra đi của người thân không lý nào một gia đình bốn người lại chẳng có ai đưa tiễn ? Thôi thì, thêm nét nhân hóa, ẩn dụ vào chiếc khăn với ba chấm lửng cho người đọc tự suy ngẫm coi thử ai là kẻ đưa tiễn . Ba dấu chấm lửng thứ hai này không phải ngẫu nhiên mà gặp ba dấu chấm lửng thứ nhất. (''Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…'' và ''Một giã gia đình ,một dửng dưng…'') mang ý nghĩa chứa đựng một nỗi niềm thầm kín không thể nào nói hết được và muốn người đọc cùng chia xẻ ?

      Những hình ảnh mẹ, chị, em, kỷ niệm... trong đôi mắt người  sắp đi tràn đầy yêu thương. Với bao nhiêu tình yêu mến này trong gia đình mà cũng không đủ sức giữ người con trai ở lại? Sức mạnh nào  thôi thúc anh đi ? Lý do nào không cắt nghĩa nổi ? Anh ta ra đi  vì cái gì? Và vì sao muốn ''đi một bước xa lìa phố cũ?''. Ta xem xét văn bản : Người con trai quyết lòng ra đi với “cái chí lớn”, “đỉnh thiên lập địa” có phải thật sự là lý do chính:

                                 Chí nhớn chưa về bàn tay không,
                                 Thì không bao giờ nói trở lại!

“Chí nhớn” từ miền Bắc như ''chí lớn'' từ miền Nam. Có nhiều bản ghi ''chí lớn'' không sai nghĩa nhưng giữ  ''từ địa phương'' , giữ nguyên văn bản là một cách coi trọng tác giả. Văn bản khác ghi ''Chí nhớn không về, bàn tay không'' nghĩa là có hai từ ''không'' tạo thành ''phủ định của phủ định'' là khẳng định: ''Không còn mơ ước gì nữa cả'' tạo ra một cảm giác thất vọng giết mất sức sống của ý thơ . Chọn từ ''chưa về'' là hợp lý với ý còn hy vọng cho câu thơ tươi sáng . Ý ra đi không hẹn ngày về nằm ở câu ''Ba năm mẹ già cũng đừng mong'' và nằm trong hai câu trên. Ca dao có câu: ''Làm trai cho đáng nên trai. Xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài yên.'' Thiết tưởng đây cũng là phương cách sống của tất cả những người con trai không phải chỉ riêng gì những người trai thời loạn. Cái chí làm trai trong ca dao gặp “chí nam nhi” của Nguyễn Công Trứ như cá gặp nước:

                                 Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc
                                 Nợ tang bồng, vay trả, trả vay .
                                 Chí làm trai nam bắc, đông tây
                                 Cho phỉ sức anh hùng trong bốn bể.

Ngẫm ra, chưa thấy múa may gì cho ra hồn nhưng khẩu khí khẳng khái thốt ra như vậy cũng hiếm thấy kẻ có “sức anh hùng” như thế cả. Chí khí này gặp cái trí muốn mài gươm giết Trương Phụ của Đặng Dung: ''Tẩy binh vô lệ vãn thiên hà'' hay làm một Phạm hồng Thái với tiếng bom Sa Diện? Hoặc muốn như Mã Viện “Đại trượng phu dương tử ư cương trường, dĩ mã cách khỏa thi nhĩ (da ngựa bọc thây) mà Hưng Đạo Vương Trần quốc Tuấn trong Hịch tướng sĩ nguyện với lòng: “Tuy dư chi bách thân cao ư thảo dã, dư chi thiên thi, khỏa ư mã cách, diệc nguyện vi chi (Trăm thân phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm). Có ngoa, cũng như một Tào Thực với “hùng tâm tráng khí” ủ mộng “hưng quốc” : “Bắt Tôn Quyền, xẻo tai Gia cát Lượng, dù cho thân bị phanh ở bờ cõi Thục, đầu có bị treo ở cổng thành Ngô cũng coi như còn được sống”. Ngay cả người con gái Triệu thị Trinh năm nao lại “cỡi luồng sóng dữ quét quân thù chớ không chịu thân nô tì cho người ta”, huống hồ nam nhi sống trong trời đất không bắt chước Kinh Kha sang Tần, Dự Nhượng nuốt than, Kính Đức liều mình,Triệu tử Long cứu chúa, Đặng Dung mài gươm, Phạm ngũ Lão đan sọt…thì làm cái gì nữa! Nhưng hỡi ơi!Chí lớn có con đường thênh thang mà  cuộc đời có còn cái thời đại oanh oanh liệt liệt cho người dấn thân vào chốn ''giang hồ'' để làm những việc hữu ích ''nên tông diệu tổ?''. Bức tường ''Quan Trạng đi trước võng vàng theo sau'' đổ nhào tự bao giờ!

Người con trai trong TBH có biết thế không ? Nếu biết mà vẫn chọn con đường ra đi thì thật là kẻ liều mình, gan dạ!. Nếu không biết nên cứ dấn thân thì càng cần có một bản lĩnh . Người con trai trong TBH đã có một ''bản lĩnh'' nào nếu không nói cái bản lĩnh ấy được kế thừa từ trong gia đình  kiên cường ? Cuộc chia tay không hẹn ngày về với cái chí lớn đó đã vẽ ra hình ảnh một “ly khách” trong đầu người con trai có bản lĩnh này:

                                 - Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,

Hai tiếng kêu như nhắc nhở  bản lĩnh này qua cái gạch đầu dòng dành riêng cho ngôn ngữ đối thoại của nhân vật . (Có văn bản bỏ dấu ngang (-) nên từ “ly khách” biến thành lời dẫn suông mang tính cách miêu tả) . Nó còn mang ý tự cảm thán. Con ve sầu lột xác hay tằm hóa bướm khi hình ảnh nam nhi bắt đầu khoát chiếc áo “ly khách” ?. Nam nhi chi chí  là người vẫy vùng ngang dọc trên con đường nhỏ nhưng ''ly khách'' là kẻ mang trong mình một trách nhiệm hẳn hoi mới kèm theo “chí lớn”. Đem “con đường nhỏ” của nam nhi đối lập với “cái chí lớn” của ''ly khách '' trong câu thơ với ý thật khập khểnh bởi vậy mới kêu lên chua chát : ''-Ly khách! Ly khách!'' (Kẻ bỏ quê! Kẻ bỏ nhà !). Nhưng TBH đã có người mẹ chịu đựng mất mác giỏi , có chị tháo vát , tiết liệt hay thì kẻ làm con, em trong một gia đình như thế không lẽ buông tiếng kêu não lòng? Vì vậy mà hai câu thơ trên được hiểu : ''Ly khách'' đi với ''chí lớn'' còn ''con đường nhỏ'' đi với ''bàn tay không''. Chí lớn phải được đi trên con đường lớn nếu đi trên ''con đường nhỏ'' thì kết qủa chỉ có ''bàn tay không''. Không gì . Không có gì đáng nói nữa cả. Cho nên, người sắp ra đi phải cần có một thái độ biểu hiện mình không thua kém mẹ, chị  mới kêu lên đầy khí phách qua dấu ngang đầu dòng : -Ly khách! Ly khách! (Người đi oai phong! Người đi oai vũ!) . Tiếc thay  cho kẻ có hoài bão lớn lao mà chưa biết đi đâu? về đâu? làm gì như một lớp thanh niên thời loạn:

        Hài cỏ gươm cuồng ta đi đây ( Có văn bản ghi ''gươm cùn'')

                                 Ta đi nhưng biết đi về đâu chứ?
                                 Đã dấy phong yên lộng bốn trời.
                                               (Nguyễn Bính -Hành phương Nam-)

Con người “hài cỏ, gươm cuồng”  hào khí y chang con ''võ sĩ bọ ngựa ' của Tô Hoài mà cũng dám tỏ mặt anh hùng với bốn phương. Lời thơ cuồng nhưng gan dạ.Khá khen thay kẻ dám “múa lưỡi đánh tan bao kẻ sĩ” (Tráng khí ca). Nhưng mộng kia chưa chín đã rơi:

                                 Hôm qua không có, hôm nay mất
                                 Ai rú trong trời tám hướng sương.

Vũ quần Phương đã nhận xét câu thơ trên của Thâm Tâm: “Thân kiếp chơi vơi trong cõi phi thời gian, dĩ vãng không có, hiện tại cũng không mà tương lai thì mù mịt sương khói? “Con đường nhỏ” như vậy làm sao mà thành cái ''chí lớn'' đây? Cuối cùng cũng rơi vào u uất như Ðặng Dung trong ''Cảm hoài'':

                                 Thời lai đồ điếu thành công dị
                                 Vận khứ anh hùng ẩm hận đa. 

(Gặp thời kẻ bần cũng thành công. Ngẫm đắng cay khi anh hùng lỡ bước). “Con đường nhỏ” cũng rớt vào ''lỡ bước'', cái ''chí lớn'' cũng rơi vào nỗi “cảm hoài” vậy mà người con trai trong TBH dám mang cả hai vừa muốn làm kẻ ''nam nhi'' vừa muốn được ghi danh “tráng sĩ” qua từ ”ly khách” dẫu biết rằng : ''Ra đi là sự đi liều. Quản chi nắng sớm,mưa chiều cực thân.'' Lời nguyện  giữ vững ý chí cũng đã thốt ra từ người sắp ra đi mặc cho con đường mình đi đầy chông gai mà vẫn gan góc  thề :

                                 Chí nhớn chưa về bàn tay không,
                                 Thì không bao giờ nói trở lại!

Ðây là nét nhân bản thứ tư của thi phẩm. 

Ngôn ngữ văn học và ngôn từ văn học “ly khách” còn nhiều tranh cãi giữa hình ảnh ''ly khách'' qua ngôn ngữ và hình tượng ''ly khách'' qua ngôn từ lại gặp nhau ở ba câu:

                                 Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
                                 Chị thà coi như là hạt bụi
                                 Em thà coi như hơi rượu say.

Dòng thơ trữ tình bắt nguồn từ hiện thực nào cũng mang đôi cánh lãng mạn.Trong sự chia xa nào cũng  nhận thương đau cho cả hai phía. Trong TBH, đau thương ấy đã được chấp cánh bởi ngôn ngữ văn học: ''chiếc lá bay, hạt bụi, hơi rượu say”. Từ ngôn ngữ văn học này, người đọc sẽ thấy được nghĩa tạo hình ảnh đó có giá trị nhất định trong từng cụm từ trên và khi chúng đứng hẳn trong một câu thơ sẽ tạo ra hình tượng mang tính chất trừu tượng làm nhức đầu người đọc với hình ảnh :

      “Chiếc lá bay” kia thả hồn như một cuốn chuyện phim ''Cuốn theo chiều gió'' (Gone with the wind) của nữ văn sĩ Mỹ Margaret Mitchell và như “diệp lạc tiêu diêu” -lá rụng từng cơn -của các nhà thơ Đường. Nó còn như “Chiếc lá cuối cùng” bay xa của Vũ thành An trong nhạc và vô định như ''con thuyền không bến'' của đời.

      “Hạt bụi” kia cũng tan trong cõi vô hình ẩn ý cho một kiếp “phù sinh tử táng mấy lăm hồi”' của Cao bá Quát, Nguyễn công Trứ . Nó như “cát bụi trở về với cát bụi”của Phật giáo cùng đồng nghĩa “hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi” của Trịnh công Sơn.

       “Hơi rượu say” mang dư vị mơ hồ, cảm giác phù phiếm, ảo mộng, trôi tan trong “Xuân nhật túy khởi ngôn chí” của Lý Bạch và như ''say'' cuồng của Vũ hoàng Chương .

Ba câu thơ như ba cây thẳng hàng, rạch ròi không thể đổi khác. Chủ ngữ “mẹ, chị, em” chi phối vị ngữ là cụm động từ “thà coi như” với giá trị nhất định như sau:

   . Mẹ thà như chiếc lá bay chứ không thể mẹ thà chiếc lá bay (vô nghĩa)

   . Chị thà như hạt bụi (chị như hạt bụi, chị là hạt bụi đều có nghĩa nhưng bỏ từ ''như'' thì thành ''chị thà coi hạt bụi'' ra nghĩa khác)

   . Em thà như hơi rượu say (em thà hơi rượu say -không đủ nghĩa)

 Như vậy, xét về phương diện ngôn ngữ, từ ''thà'' chỉ là từ kết nối giữa chủ ngữ với vị ngữ. Giá trị của nó khi đi với chủ ngữ thì không rõ nghĩa ví dụ trong TBH, không thể hiểu nếu chỉ viết : ''Mẹ thà. Chị thà. Em thà''. Ba câu trên nếu bỏ đi từ ''thà'' thì giá trị câu trở thành câu so sánh suông : ''Mẹ coi như chiếc lá bay. Chị coi như là hạt bụi. Em coi như hơi rượu say.'' dẫn đến sự hiểu hai cách: ''Mẹ, chị, em coi con, em, anh mình như chiếc lá bay, hạt bụi, hơi rượu say và người sắp ra đi coi mẹ, chị, em mình cũng như vậy. Nhưng khi dùng từ ''thà'' đứng trước động từ (như) có danh từ (chiếc lá bay, hạt bụi, hơi rượu say) làm bổ ngữ thì chúng lại có ý nghĩa như một sự ép mình hy sinh làm cái gì đó ví dụ : ''Thà như giọt mưa'' (Phạm Duy) hay trong câu nói bất hủ của Trần bình Trọng : ''Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc''. Trong TBH, cụm động từ “thà coi như” không thể bỏ mất một từ nếu không, câu thơ chẳng còn mang phép tu từ điệp ngữ  mà chỉ còn mỗi điệp từ ''coi như''. Giá trị tu từ của từ “thà” đứng riêng hay nằm trong văn bản đều mang bản sắc “đi không đổi tên, ngồi không đổi họ”. Khi một tác giả dùng từ ''thà'' trong tác phẩm thì coi như họ, hay nhân vật họ dựng  đã chịu ''lùi xuống''. Lui xuống không có nghĩa là thua cuộc. TBH của Thâm Tâm đã vận dụng từ ''thà'' theo nghĩa nào?

     Coi “thà” như “nhát dao” là hơi quá nghĩa hy sinh, hơi chút tàn nhẫn. Coi “thà” như sự hy sinh một cách '' bất hiếu'' cũng hơi quá lời. Đằng nào cũng làm cho người con trai ra đi thêm “trọng tội” theo cách hiểu : Người ra đi không về kia có thể là “chiếc lá bay” trong lòng người mẹ, là “hạt bụi” trong mắt người chị, là “hơi rượu say” trong lòng người em. Dừng lại chỗ này. ''Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc” kia sao có thể hiểu hết ý nghĩa một ly rượu cuộc đời. Say tình, say đời không thể dùng cho “em nhỏ”. Tạm thời hiểu theo nghĩa suông theo sự chọn lựa của mẹ, chị, em và cả trong ý nghĩ của người con tức là cả hai cũng nghĩ, cùng chọn lựa hoá thân tốt đẹp :

                                 Mẹ là chiếc lá bay trong lòng con trai.
                                 Chị là hạt bụi trong lòng em trai.
                                 Em là hơi rượu say trong lòng anh trai.???

Ta lại phải dừng lại ở chỗ ''em'' này để nói sau. Thử nghĩ:

          Chia tay với con trai mà coi như nó mất hẳn thì giữa kiếp sống người thân với sự chia lìa đau đớn so với chiếc lá bay vô tư của cỏ cây, người mẹ không muốn mất con thì ...“thà” chọn kiếp vô tư của cỏ cây. Chính vì vậy nên mới có cụm từ “thà coi như” với hình ảnh “chiếc lá bay” cuốn theo bước chân người con trai. Người chị không muốn mất em nên đành chọn kiếp làm “hạt bụi” để cùng “chiếc lá bay” của mẹ đi theo em tận cùng trời cuối đất mà san sẻ buồn đau sướng khổ với nó, động viên nó. Từ ''chiếc lá bay'' với nghĩa âm thầm mà Thâm Tâm hay tác giả hoặc người con trai nhẹ nhàng dùng cho mẹ cũng đi đôi với sự nén khóc âm thầm khi chia tay con lúc đầu . Từ “hạt bụi” được Thâm Tâm chọn lựa dùng với nghĩa ''dọc đường gió bụi'' bám vai hai chị coi như tương xứng với những lời yêu thương “nói nốt” với em trai lúc đầu.

      Và đến phiên người ''em''? Với cái nhìn ngây thơ từ đôi mắt biếc kia thì Thâm Tâm để cho em gái sẽ chọn ''thà'' làm cái gì cho xứng đáng? Từ “em nhỏ” biến mất ở câu dưới, chỉ còn một từ “em” mà TT không thể vô tình sử dụng như người viết đã đề cập ở phần trên. ''Em'' đã chọn thà làm “hơi rượu say” khi lòng anh không tỉnh táo:

                                 Vắng em lửa cháy bình khô rượu
                                 Đời vắng em rồi say với ai ?
                                                                         (Vũ hoàng Chương)

Rượu làm ta say. Em cũng làm ta say. Nhưng không em, ta say để làm gì? Hình ảnh này với “hơi rượu say” làm sao anh trai có thể dùng cho em gái và ngược lại? Đã nói men say, hơi rượu chỉ dành riêng cho bạn bè tri kỷ, tri âm và vợ chồng trước khi chia tay trong thơ Đường và thời phong kiến . Ngày nay, chia tay nhau người  ta chỉ dùng ...hơi bia với câu ''bảo trọng'' như phim Tàu. Có đùa đến độ nào thì chia tay không ai không rươm rướm nước mắt nhưng cũng không có anh trai nào coi đứa em gái cốt nhục của mình là ''men say''!.           

      Trong dòng nhạc, dòng thơ không bao giờ thiếu vắng hình ảnh say vì ''em'', say vì ''tình'' này. Thâm Tâm từng nằm vùi trong ''Vọng nhân hành'':

                                Say vùi ta đốt tuơng tư thảo
                                Bóng khói qua mây lại nhớ mình.

Say vùi rồi chợt tỉnh. Thâm Tâm quả có cái say của lý trí. Trong ''Tình xa'', Trịnh công Sơn đã nhìn thấy cả : ''Giọt rượu nào mãi chua cay trong tình vẫn u mê.''

Như vậy, ''hơi rượu say'' dứt khoát không thể dùng, không viết cho tâm trạng của em gái hoặc dùng cho nhân vật người anh trai nghĩ về em gái ruột thịt. Thâm Tâm tuy đã dùng nó nhưng rất ý nhị khi bỏ đi từ ''nhỏ'' trong ''em nhỏ'' để chỉ còn lại từ ''em'' đầy đủ nghĩa ẩn ý. Em nhỏ kia đang ngây thơ thì hãy để  em nhỏ ra ngoài sự hy sinh thầm lặng nên từ ''thà'' cũng rơi xuống cho từ ''em'' nhưng không phải là từ ... ''em nhỏ'' nghĩa là cho ''em'' chớ không là ''em gái''. Có khí phách cỡ nào, bản lĩnh cỡ nào thì cũng khó thoát khỏi sự yêu thương lẽ thường của con người và khi họ nghĩ về điều đó một chút cũng đâu làm mất đi chí khí gì mà còn tăng giá trị con người không đến nổi là gỗ đá, là vô tình . Thật ra, cây cỏ cũng nào có phải vô tri, nếu vô tri không ai tin có ''Lời của gió'' mà Duy Thái đã viết nên ca khúc tuyệt vời này. 

Con người với mình trần, mắt thịt -một thực thể biết nói-không thể hiểu nổi một ''pho tượng đá'' nói gì thì chỉ còn cách tự biến mình thành ra một dạng khác để ''im lặng'' nghe. Khi lời không thể phát được giữa thinh không thì ngôn ngữ thầm sẽ tự bật ra. Nếu con người hiểu con người thì sự vật hiểu sự vật trong mối quan hệ tương đồng. Sự đồng điệu này của văn học được nhạc sĩ tài ba Phạm Duy đưa vào âm nhạc tạo thành những cung bậc, âm sắc hẳn hoi trong ''Thà như giọt mưa'': ''Thà như giọt mưa vỡ trên tượng đá. Thà như giọt mưa khô trên tượng đá. Thà như mưa gió đến hôn tượng đá. Có còn hơn không ?''. Không có sự lựa chọn nào có những hình ảnh hy sinh âm thầm huyền hoặc mà đầy đủ ý nghĩa như vậy cả với từ ''thà'' cam chịu, chấp nhận hy sinh một cách cao thượng không một chút tính toán để giữ lại nguyên vẹn một chữ ''tình người''.

         Ngôn ngữ dùng để xây dựng hình tượng nhân vật, tiếp cận sự việc, lý giải vấn đề như trên gọi là ''phép nhân hóa''. Phép biến con người chuyển sang sự vật thì gọi là phép gì trong thi phẩm Tống biệt hành nếu không cho là ''hoán chuyển''?:

                                Mẹ: Chiếc lá bay,
                                Chị: Hạt bụi,
                                Em: Hơi rượu say.

Dị bản khác đã ghi : Mẹ! Thà coi như chiếc lá bay,

                              Chị! Thà coi như là hạt bụi,
                              Em! Ừ coi như hơi rượu cay.

Theo văn bản này qua ba dấu cảm thán (!!!), ta xác định được ngay người con trai đang nghĩ về người mẹ ''như chiếc lá bay''; người em trai đang nghĩ về người chị ''như là hạt bụi''; người anh nghĩ về em gái ''như hơi rượu cay'' nghĩa là người nam nhi này đã coi nhẹ tình nhà . Cách hiểu như vậy làm cho nghĩa thâm thúy, lòng hy sinh cao cả của hai bên đều bị thương tổn. Bí mật , ẩn ý của những câu thơ mất. Tình cảm gia đình thiêng liêng cũng chẳng còn. ''Tống biệt hành'' chỉ còn là bài thơ tuyên truyền, cổ động cho một kiểu ra đi ''vì đất nước'' mới quên đi ''tình nhà''. ''Tình nhà, nợ nước'' nếu có trong cuộc đời mà thi phẩm đem vào phải được ''nâng cấp'' và bảo toàn ấy mới là điều kỳ diệu của tay ''kỳ bút'', ấy mới thật sự là một  thi nhân tài ba!. Thâm Tâm đã bảo toàn được điều này . Từ ''Ừ'' là tiếng nhủ thầm theo văn bản này là của chính người con trai tự nhủ . Nó kết hợp với cụm từ ''hơi rượu cay'' đứng trong văn bản này càng khẳng định tác giả , người con trai sử dụng cho người yêu qua từ ''cay''. ''Cay'' : tính từ chỉ mức độ mà vị giác cảm nhận: Có uống mới hay, có dùng mới biết, có thử mới tường. Trong khi đó, từ ''say'' cũng là tính từ chỉ mức độ nhưng cảm nhận từ não bộ. Tính từ ''say'' này cao cấp hơn ''cay'' vì ''rượu cay'' nhưng chưa chắc làm người ta say nhưng đã ''say'' vị thơm ngon nồng đắng thì phải có thêm mùi vị cay của rượu. Người mới nghe họ sẽ chọn từ ''cay'' vì thực tế hơn nhưng ''say rồi sực tỉnh'' ngay mới là ''bản lĩnh''. Người nam trong thi phẩm cần có bản lĩnh như vậy nên bản chọn của HT-HC giữ từ này ngẫu nhiên mà ''đắc''. 

Nhận xét khi phân tích về đọan thơ nhiều thi pháp này, giáo sư Lê ngọc Trà  trong ''Văn học 11'' Tập II ( Nhà xb GD 2004 ) có nhận định :

                               ''Người đi ? Ừ nhỉ, người đi thực !
                               Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
                               Chị thà coi như là hạt bụi
                               Em thà coi như hơi rượu say.

Chỉ có bốn câu thôi mà không biết có bao nhiêu cách hiểu. Không ai biết chính xác tác giả nghĩ như thế nào, nhưng chắc chắn là không phải cách hiểu nào trùng với tác giả mới là hay.''

Như vậy, cách hiểu nào đưa giá trị nội dung, nghệ thuật của tác giả lên cao, bảo đảm ''tính nhân bản'' của tác phẩm thì người đọc có quyền chọn mà theo.

      Trước sự quyết tâm ra đi của người con trai không hẹn ngày trở lại , những người thân trong gia đình đã chọn nghĩa hy sinh (thà làm một cái gì đó) nhưng không phải hy sinh con, em mình, không thể bỏ nó mà sự hy sinh này chỉ mong mỏi được như ''người bạn đồng hành'' của người sắp ra đi vào bước đường bão giông trước mắt. Trong sự hy sinh này còn sự chọn lựa nào khác hơn là sự ''hoá thân'' sang một kiếp khác lặng lẽ, trôi tan, sưởi lòng bằng ''chiếc lá bay, hạt bụi, hơi rượu say''?. Những hình ảnh này theo dư vị đắng cay của cuộc đời mà người   ra đi sẽ giữ lấy và nhớ rằng: ''Dù bất cứ nơi đâu, hoàn cảnh nào, người ấy sẽ không bao giờ cô đơn và hơi rượu say kia sẽ làm người ra đi tỉnh lại  chợt nhận ra mình cần phải bưóc tiếp đoạn đường mình đã chọn lựa." Ðây không phải là cách hiểu tốt cho thi phẩm hay sao ? Và không phải ngẫu nhiên mà tác giả lại dựng khung cảnh tiễn đưa với lòng buồn tan nát mà cảnh vẫn ''tươi lắm''. Ý chí quyết định tất cả, vượt lên tất cả buồn phiền. Ðây là nét nhân bản thứ năm của thi phẩm.

     Ðến đây, ta lại gặp chút bí ẩn : ''Chiếc lá bay'' thì tới mùa hoặc già cỗi mới rụng. ''Hạt bụi'' này có lúc có, lúc không. Hai hình ảnh trên không phải lúc nào cũng gắn bó bên đời người đi xa nhưng chính ''hơi rượu say'' thấm thía này mới đi từ cõi lòng mà ra qua cả bốn mùa, tồn tại hẳn trong ngày lẫn đêm. Cái gì chưa uống đã say ? Chính hơi say của  đời này mới cắn hồn ta, mới bám lấy hồn ta đời đời kiếp kiếp. Không phải là ''em'' thì còn cái gì đủ sức làm ta điên đảo hơn? Như vậy, bản thân người ''em'' không chọn từ ''thà'' mà  chính là người sắp đi xa đã chọn từ ''thà'' khi nghĩ tới ''em''. Trong ba câu hy sinh chọn từ ''thà'' thì hai câu được chọn từ chủ thể ''mẹ ,chị''. Câu cuối được chọn bởi đối tượng vị ngữ không hiện diện trong câu . Sự sắp xếp này từ cổ chí kim chưa thấy có thi nhân nào gây ra nhiều rắc rối thú vị như vậy cả!. Như vậy, câu ''Em thà coi như hơi rượu say'' nên hiểu ngược lại : ''Ta thà coi em như hơi rượu say vì lỡ có ''say'' em, ta cũng còn đủ bản lĩnh tỉnh táo mà đi theo con đường gió bụi ta đã chọn.

Trong TBH, chỗ nào nữa để tác giả hóa thân nhân vật người con trai  nhắc về "tình riêng" của mình. "Chiếc khăn tay" đã hé mở một điều. "Hơi rượu say" cho ta nhiều nghi vấn vì hơi thơ có "tĩnh" nhưng âm vị rất "chua cay". Vậy thì hình ảnh người yêu đưa tiễn ở đâu? Có hay không? Ai là người thấu được nỗi lòng này? Một người ngoài cuộc nếu có thấy cũng chỉ thấy "vu vơ" như Tế Hanh:

                              Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt
                              Lòng buồn đau xót nỗi chia xa.

Xót dùm, buồn dùm thôi chứ làm sao biết "ẩn tình dạ khúc" ở bên trong? Vu vơ không thôi thì làm sao nói được nỗi lòng người trong cuộc? Vậy người trong cuộc thực sự tiễn đưa này là ai? Không ai cả? Tiễn đưa không có ai thì chỉ còn mình tiễn đưa lòng, tự mình dùng ...72 phép thần thông của Tôn ngộ Không mà "phân thân" ra để tự đưa, tự tiễn. Thâm Tâm đã để mình tiễn cái quá khứ của mình: Muốn phá bỏ thực tại.Thực tại quá chán chường "ru rú trong trời tám hướng sương" mà trong "Tráng chí ca", Thâm Tâm đã phẫn nộ muốn "Ném chén cười cho đã mắt ta" khi cảm thấy không xứng đáng là một kẻ  "tráng khí" bằng người. Nam nhi vẫy vùng cần gì phải mượn cái gương Kinh Kha tận bên Tàu. Chỉ cần "hài cỏ, gươm cuồng" như Nguyễn Bính trong "Hành Phương Nam" cũng đi. Chỉ cần trang bị chút "da ngựa bọc thây'' của Trần quốc Tuấn và ''Trung liệt ca'' Phạm hồng Thái : ''Thà làm một đấng nam nhi. Ngữa nhìn máy chém gan lỳ tướng quân'' mà Hoàng phùng Miên diễn tả là có thể  ''giã gia đình, trường học để ra đi''. Người ra đi là tác giả. Người tiễn cũng là tác giả. Tưởng tượng gắn liền hiện thực : Tác giả phải xây dựng  cho được bối cảnh gay cấn rồi đặt mình trong bối cảnh ấy mà giải quyết. Tống biệt hành đã có bối cảnh cô nhi qủa phụ rất thương tâm: Không cột trụ -đàn ông- trong gia đình. Hiện thực này đã không xa lạ trong lịch sử thời ly loạn, binh biến, chinh chiến (nhập ngũ, bắt lính, tòng quân...). Nếu thơ Ðỗ Phủ là bức tranh hiện thực tố cáo xã hội phong kiến thời thịnh Ðường đang trên đường xuống dốc với những cuộc nổi loạn như loạn An-Sử thì ''Tống biệt hành'' bé nhỏ hơn với một bức tranh ''cô nhi quả phụ'' trên cũng có giá trị như một bằng chứng sống tố cáo cuộc chiến tranh gây ra nỗi đau chia cắt !.

             Thâm Tâm chỉ để hai từ ''buồn'' cho nhân vật người con trai trong thi phẩm như muốn kiềm chế nỗi lòng có ''bi'' nhưng không ''lụy'' như Nguyễn Bính đã nói dùm trong ''Hành phương Nam'':

                               Người đi buồn lắm mà không không khóc
                               Mà vẫn cười qua chén rượu đầy.

Khí phách này dù đã mượn chén rượu mới có nhưng rất đáng mặt nam nhi mà ngàn năm trước, tận bên Trung Quốc, Lư Luân đã viết tiễn Lý Ðan :

                               Ly biệt chính kham bi,
                               Yểm khấp không tương hướng . 
       (Ly biệt đau lòng nhưng không thể hướng vào nhau mà khóc.).

Trong thực tế, Nguyễn Bính ''mang giầy cỏ, gươm cuồng'' vào Nam khi chiến tranh đến, Thâm Tâm cũng chọn một cách lên đường bỏ lại ''những chuyện thương tâm'', xa lìa ''ngày muộn chuông đau chuyện đá vàng'' trong ''Can trường hành''. ( Những bài làm theo thể ''Hành'' của 7 nhà thơ Ðường là  Lý Bạch,Thôi Hiệu, Ðỗ Phủ, Bạch cư Dị, Cao Thích, Vương Duy , Trần Ðào và 5 nhà thơ Việt Nam là Nguyễn Du, Cao bá Quát, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Vô Danh đều mang âm điệu buồn thảm chớ chưa có  một niềm vui dù là vui suy diễn từ văn bản ra ngay cả bài ''Dương phụ hành'' của Cao bá Quát ca ngợi sắc đẹp của người đàn bà Tây phương . Chỉ riêng bài TBH của Thâm Tâm, nghĩa một, là buồn nhưng nghĩa thứ hai lại là một bản lĩnh bên cạnh giá trị là một bức tranh lên án chiến tranh.)

Tạo ra hoàn cảnh thương tâm bao nhiêu thì cách giải quyết càng quyết liệt , dứt khoát bấy nhiêu mới khắc họa được tính cách nhân vật sâu sắc mới có giá trị hiện thực của hình tượng xây dựng. ( Bức tranh ''Binh xa hành'' cuả Ðỗ Phủ  là biểu tượng cuả cảnh mẹ, vợ con xa cách chồng , cha vì họ bị bắt lính . Bức tranh ''Sở kiến hành'' của Nguyễn Du là biểu tượng về kiếp sống lê la của mẹ con thuộc tầng lớp nghèo hèn trong xã hội. Bức tranh ''Tống biệt hành'' qủa phụ cô nhi của Thâm Tâm là biểu tượng về sự chia cắt bởi chiến tranh và hình ảnh ''ly khách''là biểu tượng cho một tầng lớp trẻ ra đi tìm lý tưởng sống trong thời loạn lạc.).

Thâm Tâm đã xây dựng nhân vật có sự phân vân  giữa tình nhà và tình riêng với chí lớn, giữa quá khứ  và hiện tại. Tác giả đặt mình vào nhân vật để giải quyết tình nhà ( mẹ , chị , em đều là những người can đảm , tiết liệt đủ sức chịu đựng , chèo chống  trong sự trống vắng những rường cột gia đình : Trước vắng cha nay vắng con, em trai.). Nếu giải quyết tình nhà mà chưa giải quyết tình riêng là một thiếu sót cho nhân vật. Thâm Tâm đã không hề quên và đã sắp đặt câu thơ, hình tượng hết sức khôn khéo, thông minh. Mẹ , chị , em đã giải quyết xong. Tiếng lòng của họ cũng đã tuôn ra từng giọt lệ, từng hoá thân thầm lặng để thông cảm, nâng bước người sắp phải ra đi mà ta đã xem xét ở trên.

             Buồn thương nhưng không bi lụy (không khóc), nhân vật này đã mang chữ ''Dũng'' . Không để hoàn cảnh chi phối (ngoại cảnh vẫn tươi sáng, không héo uá), nhân vật này đã mang chữ ''Trí'' : ''Giời chưa mùa thu tươi lắm thay! Bóng chiều không thẩm, không vàng vọt.'' vì người buồn mà không ảnh hưởng bởi cảnh, ngược lại, nỗi buồn không lan tràn bao trùm cảnh vật nên khung cảnh tiễn đưa vẫn vô tư trong buổi sáng mùa hạ lý tưởng , nhân vật này đã mang một chữ ''Nhân''. Ra đi nhưng vẫn mang theo hình bóng người mẹ và không để mẹ rơi vào tình huống bất ngờ, nhân vật này đã mang chữ ''Hiếu''. Ra đi nhưng không quên mang theo hình bóng hai người chị tiết hạnh, trong trắng đẹp đẽ và em nhỏ thơ ngây đáng thương ,nhân vật này đã có chữ ''Nghĩa''. Quyết lòng quên đi người đã làm mình ''say'' nhưng không hề quên đi kỷ niệm , nhân vật này giữ trọn chữ ''Tình''. Một con người ''lý tưởng'' với sáu chữ ''Hiếu, Nghĩa, Tình, Dũng, Trí, Nhân'' tuy có quá lời nhưng chính là con người nói theo nghĩa hôm nay : Có một nhân sinh quan , thế giới quan để biến nỗi buồn thương kia thành sức mạnh tiếp nối , động viên cho một dự định ''giã gia đình''. Nét tâm lý này đã được ngòi bút nghệ thuật khéo léo Thâm Tâm dàn dựng khiến thi phẩm ''Tống biệt hành'' khác hẳn những thi phẩm của những nhà thơ Ðường trong cùng đề tài ''tiễn đưa'' bằng thể ''hành''. Theo họ, chia tay phải gắn với cảnh. Cảnh gắn với tâm trạng mới bật thành tiếng thơ ai oán, ngậm ngùi, chua xót và bao giờ chia tay cũng có bối cảnh : Kẻ đi, người tiễn.

            Xét 64 nhà thơ Ðuờng  tính từ Sơ Ðường : Vương Bột đến thịnh Ðường : Lý Bạch qua Trung Ðường : Hàn Dũ kết lại ở Vãn Ðường : Lý thương Ẩn) không ai không viết tiễn đưa người đi xa mà thiếu cảnh buồn. Rõ nhất là 16 nhà thơ Ðường có bài thơ với đề tựa ''Tống biệt''. Nhân vật của họ đều là thật như Lý Bạch có ''Tống Mạnh hạo Nhiên chi Quãng Lăng'', Ôn đình Quân có ''Tống nhân đông du''. Sự tiễn đưa đều rõ ràng như Ðỗ Phủ có ''Tân hôn biệt'', Tào Ðường có ''Thiên Thai tống biệt'', Lý Ích có ''Hỷ ngoại đệ , hôn  ly biệt''...Cảnh tiễn biệt này sang Việt Nam đã được lột xác mang sắc thái phương Ðông đậm đà hương vị gia đình,huyền ảo hư cấu cho bạn bè, cho người yêu. Ta có thể tìm thấy trong thơ Thế Lữ với ''Bên sông đưa khách'', trong Nguyễn đình Thư với ''Tống biệt'', trong Phạm văn Dật với ''Tiễn đưa'' , trong Huy Thông với ''Anh-Nga''...cho bạn bè. Cuối cùng cho một tình yêu qua ''Giản dị'' của Hồ Drếnh hay trong ''Một mùa đông'' của Lưu trọng Lư hoặc ''Tiễn người ra khỏi lòng tôi'' của Hoàng định Nam.

Trong ''Tống biệt hành'', nhân vật nam vừa mang giấc mộng ra đi vừa ray rứt với qúa khứ .Tiếng lòng kia thắt lại theo câu ''tống biệt'' ngày nao : '' Ðâu biết lần đi một lỡ làng . Dưới trần gian khổ chết yêu đương.'' Qúa khứ hiện dần với dòng sông chia cắt : ''Gió về lạnh lẽo chân mây trắng . Người ấy sang sông đứng ngóng đò.'' Con đò đi mất, chỉ còn lại người bên sông buồn một mình. Buồn chết nhưng làm sao mà khóc ?. Giọt nước mắt của con người lụy tình kia sắp rớt thì người nam nhi ( dũng trí nhân ) hùng dũng ...nuốt vào lòng !. Thế mới có cảnh đưa người ra đi (ta và em), vừa đưa lòng đi (ngươi) ra đi một lượt:

                               Ðưa người, ta không đưa qua sông
                               Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
                               Bóng chiều không thẩm, không vàng vọt
                                Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?

Từ ''Người'' gói gọn ba chủ thể ( tôi đi, lòng đi, em đi ). Tuyệt bút ''Tống biệt hành'' của Thâm Tâm vượt hẳn các nhà thơ khác với đề tài tiễn biệt theo thể ''Hành'' là ở đoạn đầu bốn câu này. Nếu như câu: ''Ðưa người, ta không đưa qua sông'' làm nhiều người thấy rằng nó gợi điển tích Kinh Kha tráng sĩ : ''Gió đìu hiu sông Dịch lạnh lùng ghê. Tráng sĩ một đi chẳng trở về'' nhưng nếu không đưa người sang sông nghĩa là không đưa người đi làm tráng sĩ tức chỉ còn ... đưa lòng ta. Lòng ta là lòng con người muốn làm ''ly khách'' định từ ''giã gia đình''. Lòng ta mâu thuẩn với con ''người ấy'' có bản lĩnh vì nếu   muốn tiễn đưa lòng trước hết phải ''dững dưng'' với quá khứ mới đi được như Hoàng trọng Nam trong ''Tiễn người ra khỏi lòng tôi'' đã viết: ''Tiễn nguời -Tôi tiễn khỏi lòng tôi...Người đi -tiễn khúc trỗi lên rồi.''  Thâm Tâm đã dựng cảnh ''tống biệt'' không có sông mà nghe tiếng sóng. Âm vang tống biệt với tiếng sóng lòng làm ta nghe văng vẳng đâu đây lời ca ngậm ngùi ru con chim sáo ngày xưa trong ca dao : ''Ai đưa con sáo sang sông. Ðể cho con sáo sổ lòng bay xa''. Con người có nghĩa , có tình như Thâm Tâm sao không thể để cho nhân vật mình hoá thân ngậm ngùi ru tình vào kỷ niệm một lần cuối qua dòng sông quên lãng ?. Dòng sông trong ca dao như một hình ảnh ướt lệ  cho sự sang ngang. Phụ diễn sự tiễn biệt đau lòng đó, Ngô thụy Miên đã ghép thành nốt nhạc : ''Tôi đưa em sang sông. Chiều xưa mưa rơi âm thầm''. Bóng chiều của thi ca bao giờ cũng đi kèm với nội tâm không vui của con người nhưng với Thâm Tâm lại khác : ''Bóng chiều không thẩm, không vàng vọt'' nghĩa là buổi chiều chưa tắt mặt trời. Bầu trời vẫn còn đủ sáng. Ðó là một cái nhìn rất ''tĩnh'', rất ''chuẩn'', rất ''tinh tế'' khi quan sát một hiện tượng thiên nhiên với từng sắc màu ''không thẩm'' ( không đen xám ), ''không vàng vọt'' ( lợt lạt, bệnh hoạn, không sức sống ). Chỉ bằng hai sắc màu mà Thâm Tâm đã vẽ lên được một buổi chiều chưa tắt nắng  trước khi hoàng hôn bao phủ không thua kém gì thi bút Tô đông Pha.

        Dù nói ''không thẩm, không vàng vọt'' nhưng nội tâm nếu không buồn, không xám, không tươi thì làm sao có những từ chỉ mức độ ''thẩm, vàng vọt'' dẫn cảnh ''hoàng hôn'' phủ xuống dòng thơ ? Bề ngoài là lý nhưng bên trong đầy tình. Tình và lý thống nhất trong một con nguời. Có mâu thuẩn gì thì cũng ''anh em bà con cật ruột'' với nhau ''môi hở răng lạnh'', ''máu chảy ruột mềm''. Cho nên, tình trào ra, lý níu lại. Nét tâm lý này coi như ''đột biến gien'' đặc sắc của Thâm Tâm làm cho những ẩn khúc trong thi phẩm xoắn lại với nhau khi có khi không, khi ẩn khi hiện với bao sắc màu tươi đó, buồn đó, mông lung huyền hoặc đi đi ở ở thu hút lòng người ưa thích phiêu diêu, say cơn nghiền ngẫm ...

         Dòng thơ ''tống tiễn'' trong văn học Trung Quốc  đầy đủ : ''hữu giang, hữu lãng tất bất vô yên'' ( có sông, có khói không thể không có sóng ). Nó còn có ''diệp lạc tiêu tiêu'' ( lá rụng ), có ''bạch vân vô tận'' (mây trắng mãi bay), có ''hàn cầm dữ suy thảo'' (chim lạnh, cỏ héo) ...trong thơ Tư không Thư, Lưu trường Khanh, Vương Duy. Dòng chảy này qua văn học Việt Nam giữ lại được bóng sắc ''hoàng hôn, khói, sóng, mây...:

                               Mây bạc lưng trời bay lững thững
                               Chim trời tan tác bóng hoàng hôn.
                                            (Thái Can -Trông chồng)

Từ ''hoàng hôn'', ''tan tác'' đã nói hết nội tâm buồn bã, mất mác, cô đơn của cảnh ''trông chồng'' khi ''chinh nhân ruỗi ngựa lên miền Bắc''. Hoàng hôn gợi nhớ chồng. Hoàng hôn gợi nhớ nhà trong Ðinh Hùng với ''Bài hát mùa thu'' năm nao : ''Ai về xa mãi cô thôn. Một mình trông khói hoàng hôn nhớ nhà''. Khói hoàng hôn ở đây hắc hiu, man mác khi chuyển sang ''Tràng giang'' của Huy cận thì nó mang ý nghĩa ''không'' mà ''có'':

                               Lòng quê dờn dợn vờn con nước
                               Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Nỗi nhớ nhà này không chờ phải thấy khói hoàng hôn ( tức cảnh sinh tình). Khói chiều là khói thật từ những làng quê bay lên khởi đầu buổi nấu cơm nhưng có giá trị là một tín hiệu kết thúc một ngày bình thường không chiến tranh. Ở đây, ''lòng quê'' đầy ắp nỗi nhớ trong lòng người đi xa nên không cần cái tín hiệu khói chiều kia phát ra, người ta cũng thấy nỗi nhớ tràn ra, bao phủ cả trời chiều!. Các nhà thơ Ðường không ai biến