1005-gd.gif (6609 bytes)
updated: 26|25.10.2005

Nguyễn Văn Hóa

Vài điều cần nói trước khi đăng tải trọn bộ sách: “Phụ Chính Đại Thần Nguyễn Văn Tường 1824-1886” của tác giả Trần Xuân An 

Có lẽ Giao Điểm là mạng lưới độc nhất và sớm sủa nhất giới thiệu tác phẩm “Mật mã Da Vinci” (The Da Vinci Code) của tác giả Dan Brown nhiều lần.  Riêng, “Tản mạn xung quanh cuốn ‘the Da Vinci Code’” ( trang web tháng 12/2004 -bấm lên hàng này để đọc lại ) của Trần Chung Ngọc là một bài điểm sách cung cấp cho độc giả chưa từng biết đến Dan Brown một lượng thông tin cần thiết và đầy đủ. Trong phần kết luận, Gs. Trần Chung Ngọc đã ghi lại một nhận định rất quan trọng của một phê bình gia nào đó: “Trọng điểm trong cuốn truyện của Dan Brown viết về Ki-tô Giáo là “hầu hết những gì mà ông cha chúng ta dạy về Dê-su Ki-tô đều không đúng.” (The central claim Brown’s novel makes about Christianity is that “almost everything our fathers taught us about Christ is false. –nguyên văn dịch của TCN).

Chừng hơn nửa năm sau, trong nước đã nhanh chóng được phép nhà xuất bản và tác giả “chấp thuận” tác phẩm được dịch ra Việt ngữ. Theo thông tin trong nước chỉ trong một thời gian ngắn, “Mật mã Da Vinci” đã bán hết 3 ngàn cuốn trong lần xuất bản đầu, và trước khi nhà xuất bản rục rịch cho tái bản lần thứ hai cũng là lúc cuốn sách bị một vài tác giả phanh phui ra là sách đã dịch sai, dịch ẩu… Lỗi về từ vựng, ngữ pháp đầy dẫy (theo Doãn Hiệp – “’Mật mã Da Vinci’, những bức xúc từ bản dịch tiếng Việt, mạng Nhân Dân ngày 15/10/05); Sai vì kém kiến thức tôn giáo, lịch sử, văn hóa…, sai vì kém tiếng Anh cấp sơ đẳng, kém tiếng Việt cấp sơ đẳng… (theo Trần Tiễn Cao Đăng, “Bản dịch Mật mã Da Vinci: một thảm họa dịch thuật”, mạng talawas ngày 17/10/05). Kết quả: ngày 20/10/05, qua cuộc phỏng vấn của báo Lao Động, ông Bùi Việt Bắc –Giám đốc nhà xuất bản Văn Hóa & Thông tin, phân trần giải thích và tuyên bố ngưng dự kiến xuất bản lần thứ hai -3 ngàn cuốn (Báo Lao Động phỏng vấn Bùi Việt Bắc: Sẽ thành lập hội đồng thẩm định bản dịch Mật mã Da Vinci, mạng Lao Động ngày 22/10/05).  Hiện tượng và tác động của cuốn sách dịch “The Da Vinci Code”, theo chúng tôi: mang tính năng động của nền kinh tế thị trường đã lôi kéo theo sự cập nhật hóa “thị trường chữ nghĩa” trên thế giới, làm cho người đọc trong nước có thể bắt nhịp kịp thời những tác phẩm bán chạy có giá trị ở nước ngoài. Tuy nhiên, công tác dịch thuật đòi hỏi dịch giả không những cần có sự lương thiện trí thức, đồng thời phải có trình độ và khả năng phù hợp.  “The Da Vinci Code” là một cuốn sách có giá trị, không phải chỉ vì nó là tác phẩm lịch sử tôn giáo được tiểu thuyết hóa một cách hấp dẫn, gay cấn như truyện trinh thám, nhưng còn mô tả thực chất của giáo hội Ca-tô, và dưới hình thức văn chương đã giải mã một số vấn đề lịch sử bí hiểm của Ki-tô giáo; cho nên, nếu không may dịch sai, dịch ẩu, thiếu trách nhiệm, có thể làm cho “trọng điểm” theo nhận định của phê bình gia nói trên –bị lệch hướng và tác hại.

*
*      *

Thị trường chữ nghĩa trong nền kinh tế thị trường có khi làm cho nhà xuất bản và tác giả thay đổi khuynh hướng, phương pháp sáng tác, viết lách. Thay đổi phương pháp viết lách hay hình thức xuất bản có thể có khuyết điểm, đồng thời cũng có ưu điểm. Nêu lên một thí dụ điển hình -là một loạt sách kí, văn hóa, lịch sử của nhà nghiên cứu văn hóa Huế Nguyễn Đắc Xuân (NĐX). Những cuốn sách của tác giả NĐX viết về văn hóa, đời sống, chuyện các vua, chúa triều Nguyễn chỉ mỏng chừng vài trăm trang, khổ nhỏ, có bài chỉ dài chừng 4, 5 trang sách, nhưng lại rất hấp dẫn. Và điều quan trọng là giá rẻ và tiện dụng. Đọc ở đâu cũng được, lại dễ mang theo bên người lúc lên tàu hỏa, máy bay, xe ô-tô, xe buýt công cộng. Đọc trong lúc chờ đợi. Đọc trong những khi nhìn ngắm cảnh vật đã chán. Đọc để tìm hiểu lịch sử trong những chuyến đi du lịch. Xin chọn ra một cuốn sách tiêu biểu cho loại này của tác giả Nguyễn Đắc Xuân: “Chuyện các quan triều Nguyễn” (Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2001). Chọn một bài tiêu biểu: “Con vua mà không chịu làm vua” (trang 93), đây là bài viết tác giả đề cập đến một nhân vật lịch sử trong thời kỳ kinh đô Huế thất thủ -Nguyễn Văn Tường. Dựa vào một số tư liệu lịch sử (trong đó thấy có ghi tài liệu của nhà nghiên cứu Phan Văn Dật -cụ còn là người thủ đắc nhiều tư liệu lịch sử quý hiếm !), tác giả kể lại cho người đọc biết một giai thoại ít người biết đến: Nguyễn Văn Tường là một “kết hợp mây mưa” giữa vua Thiệu Trị (Trường Khánh Công) và một cô gái đẹp giữa đàng lúc vua Minh Mạng và thái tử (Trường Khánh Công) tuần du ở Quảng Trị. Sau đó, Thiệu Trị cùng vua cha trở về kinh đô, đâu có ngờ rằng sau cuộc truy hoan ấy thì người con gái có thai. Cho đến khoa thi Hương năm 1947, lúc Thiệu Trị lên ngôi vua năm thứ 7, đứa con mang huyết thống “đế vương” kia lớn lên, rất thông minh, về kinh đô dự thi và trúng tuyển cấp Cử nhân dưới cái tên phạm “quốc tính” (mang họ vua) là Nguyễn Phước Tường. Giám khảo vặn hỏi vì cớ gì cậu học trò “dáng nhỏ thó” ấy lại dám mang họ vua. Nguyễn Phước Tường ngang nhiên khai ra tông tích của mình, các quan trường đành thuyết phục cậu học trò phải đổi họ, ba năm sau vào thi lại, sẽ cho đỗ. Dù cứng đầu nhưng bị thuyết phục mãi, Tường cũng nghe lời, và ba năm sau, đến đời Tự Đức thứ 3 (1850), có thêm một ông Cử mới là Nguyễn Văn Tường. Thế rồi, con đường hoạn lộ cất cánh, Nguyễn Văn Tường trở thành một trong ba Phụ chánh đại thần của triều đình lúc ấy. 

Tác giả Nguyễn Đắc Xuân ghi tiếp: “Sau sự kiện thất thủ Kinh đô (7-1885), Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi xuất bôn tiếp tục kháng chiến. Nguyễn Văn Tường là ngươi mưu lược được cử ở lại để tìm mọi cách hạn chế bớt sự thiệt hại. Vì “nhiệm vụ lịch sử” Nguyễn Văn Tường đành mang tiếng phản bội, cộng tác với giặc.”  (trang 95).

Nhưng “nhiệm vụ lịch sử” ấy là gì mà ông Nguyễn Văn Tường phải mang tiếng “phản bội, cộng tác với giặc”?  Một trong những người trả lời câu hỏi này và chứng minh khá “mạnh dạn” là Nguyễn Quốc Trị (nguyên Viện trưởng Học viện QG Hành chánh) : “...Vào hậu bán thế kỷ 19, triều Nguyễn đã có một kế hoặch chống Pháp dài hạn và có đường lối mạch lạc, để đối phó với sức mạnh của vũ khí và kỷ thuật quân sự Tây phương; và nhân vật lịch sử đã cùng vua Tự Đức soạn thảo và áp dụng kế hoặch đó là Nguyễn Văn Tường, người mà các sử gia thường gọi là cố vấn thân tín của nhà vua.” (tác giả đã trích dẫn dịch theo Devilliers, Phillippe, FranÇais et Annamites, partenaires ou ennemis?, Nxb. Destins Croisés 1998, trang 257 –mạng lưới NQT, bạn đọc có thể mở theo đường link của web Gđ tháng 5/2005 để tìm đọc).

Vậy thì nhiệm vụ lịch sử ấy là một cuộc vận động ngoại giao để hòa giải, hay ít nữa cũng được hòa hoãn với kẻ thù trong một giai đoạn lịch sử dầu sôi lửa bỏng. Trong cuộc chiến tranh giữa kẻ xâm lăng và quốc gia bị xâm chiếm, khó có thể có một sự hòa giải thật sự, ngoại trừ quốc gia ấy ý thức sự yếu thế về đối kháng quân sự và kẻ xâm lăng gặp phải những nan đề về chính-trị-thực-dân. Nan đề chính trị của đế quốc Pháp lúc ấy là đương đầu với lực phá hoại sự hòa giải để chính trị hóa nền cai trị thực dân, chính là thế lực truyền đạo Công giáo La mã và tín đồ bản địa. Thế lực nầy hẳn muốn kẻ xâm lăng dứt khoát thanh toán triều đình phong kiến, nhờ đó may ra họ mới có thể là kẻ thay thế bằng một chính quyền tay sai mới. Do đó, kẻ đại diện cho quyền lực của triều đình Huế là Nguyễn Văn Tường, dù có quyền biến thế nào đi nữa, vẫn phải chịu búa rìu dư luận, trước hết là thế lực tôn giáo trong ngoài.  Nhưng, búa rìu dư luận có thể là xuất phát từ cảm tính lịch sử. Cảm tính lịch sử của một nhãn quan lịch sử bắt nguồn từ một định hình thái độ chính trị đối diện với “trung tâm” chính trị. Trung tâm chính trị ấy là nước Pháp, thế lực tôn giáo và triều đình nhà Nguyễn.

Vì thế, hành động của Nguyễn Văn Tường khi tìm gặp Giám mục Caspar ở địa phận Huế, nhờ thu xếp cho ông gặp gỡ để thương lượng với tướng De Courcy về vấn đề hòa giải, nhà ngoại giao -nghiên cứu sử Nguyễn Xuân Thọ đã nhận xét đó là kẻ “đã tự thông đồng với những kẻ cầm đầu của quân xâm lược.” và do đó, “Tường thấy giờ của mình đã điểm; dưới con mắt của những người Việt Nam yêu nước, thì cuộc phản bội của ông ta xảy ra một cách hấp tấp vội vàng, và trong những điều kiện như vậy, càng thêm bỉ ổi, nhuốc nhơ.”   (“Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp ở VN (1858-1897)”, tác giả xb. 1994, chương XVIII, trang 393).

Đi xa hơn trong cảm tính lịch sử, học giả Thái Văn Kiểm kể lại giai thoại -vì con đường hoạn lộ của ông Nguyễn Văn Tường tiến quá nhanh, đâm ra phụ rẫy, quên lời hứa hôn với cô con gái của ông Bá hộ ở tỉnh Quảng Trị đem nàng về làm hầu. Một hôm, cô gái con ông Bá hộ giặt áo dưới sông, tình cờ ngước đầu lên vào lúc ông Tường kinh lý chợ Huyện (tỉnh QT) đi qua mới thốt lên câu thơ truyền tụng mãi trong dân gian:

       ‘Hỡi người mặt trắng râu xanh.
       Phải người chợ Huyện bạn mình đó không?’

Có phải chỉ vì tướng-mạo-luận “mặt trắng râu xanh” (hay bởi niềm thương cảm từ cái chết của vua Hiệp Hòa và quan đại thần Trần Tiễn Thành?), đã làm Thái Văn Kiểm phán quyết các hành động chính trị của Nguyễn Văn Tường là “con người vừa tráo trở, vừa nham hiểm”?  (“VN gấm hoa”   –Nước bạc canh tàn khóc bể dâu, Hương Giang TVK, Làng văn xb. 1997, trang 206).

Đối cực với hai nhận xét trên, đứng trên quan điểm khôn ngoan lịch sử để hòa giải chính trị, Gs. Cao Huy Thuần đã viết rằng : “Trong khi Nguyễn Văn Tường tung hết sức lực để đánh ngã cuộc chống đối của nhà Nho bằng cách yêu cầu họ “theo ý Hoàng Thượng mà sống hòa bình, đừng tìm cách khiêu khích các con chiên.”  Quan điểm ấy nhận được sự tán thành của kẻ cầm đầu thế lực thực dân là Philastre, nhưng sự thỏa hiệp nầy luôn luôn bị “các kẻ truyền đạo cũng chống đến cùng chính sách đó, vì họ tin rằng Tự Đức là kẻ thù tệ hại nhất của đạo Thiên Chúa và chừng nào mà uy quyền ông ta còn kéo dài ở Bắc Kỳ thì sự thắng lợi của đạo họ càng xa.”  (“Đạo Thiên Chúa và Chủ nghĩa Thực dân ở VN” -luận án tiến sĩ tại đại học Sorbonne 1968, nhà xb. Hương Quê in lại, California 1988, trang 292, 293).

Nhận định ấy có lẽ phù hợp với lập luận thế lực tôn giáo muốn phá vỡ kế hoặch hòa giải giữa thực dân và triều đình nhà Nguyễn, chỉ vì tham vọng hoán vị chủ thể quyền lực.

Ca tụng về vai trò ngoại giao của Nguyễn Văn Tường, có lẽ nên kể thêm về nhận xét của nhà sử học Phạm Văn Sơn khi Tường và Philastre cùng ra Bắc để ổn định tình hình sau Hòa ước Nhâm Tuất (13/4/1875), vừa đến Hải Phòng thì Philastre nghe tin Francis Garnier bị Lưu Vĩnh Phúc hạ sát. Philastre giận dữ đòi bỏ về, Tường đã can ngăn bằng biện thuyết : “Hà Nội giết Francis Garnier thì cũng như Đại úy Garnier giết ông Nguyễn Tri Phương, việc đó xuất cơ ngoại ý, bây giờ chúng ta bỏ về chẳng là uổng công lắm sao!” -Philastre đành nghe theo rồi lên Hà Nội làm tờ giao ước trả lại các thành cho quan ta, sau đó ông ra lệnh rút quân Pháp xuống Hải Phòng đợi Hòa ước ký xong thì về Sài Gòn hết.”

Phạm Văn Sơn đã kết luận ông Nguyễn Văn Tường là một nhà biện thuyết có “tài ngoại giao, ăn nói giỏi”.   (“Việt sử toàn thư”, Cơ sở Đại Nam, in lại tại Đài Loan, không đề năm, trang 652).

Đứng ngoài hai khuynh hướng trên, còn có các ghi nhận trung dung như nhà sử học Phan Khoang : “Ngày 24 (tháng 7/1885 !), Trung tướng De Courcy và Nguyễn Văn Tường hợp đồng làm tờ hiểu thị cho nhân dân toàn quốc rằng hai nước vẫn hòa hảo như cũ.”  (VN Pháp thuộc sử, không đề nhà xb. 1961, in lại ở nước ngoài, trang 364). Nhà sử học Vũ Ngự Chiêu, qua sử liệu của “IOH 3/D.8” biên bản ngày 25/8/1885, ghi lại nhận xét của Rheinart về ông Tường: “Một con người có giá trị lớn, thông minh, rất lịch thiệp, đầy nhiệt tình và rất xảo quyệt. Tuy nhiên ông ta không có quan điểm rộng rãi, và có những ý nghĩ khá chật hẹp.”  Theo Rheinart, “Tường là một thứ kẻ thù không đội trời chung (ennemi irréconciliable) của Pháp.”  (“VN Niên biểu nhân vật chí”, Văn Hóa xb. 1997, trang 409). Hay, nhận xét một cách nhẹ nhàng thôi, như học giả Trần Văn Giàu: “Tường đi nước đôi, gặp cơ hội thì xoay trở.”  (“Chống xâm lăng, lịch sử VN từ 1858-1898”, Nhà xb. Tp HCM 2001, trang 450).

Đó là các khuynh hướng trên đại thể, nhận xét về nhân vật Nguyễn Văn Tường. Để dễ nhận ra hình tướng của ông, có thể so sánh ông với nhân vât Tôn Thất Thuyết, một kẻ có khí chất anh hùng, nhưng “hữu dõng vô mưu”.  Sự tương phản của hai ông thật rõ, nhưng cả hai đều cần thiết trong hoàn cảnh chống xâm lăng đương thời. Có lẽ số phận của dân tộc Việt Nam đã khác đi, nếu lúc đó trong quân lính của triều đình có được những khẩu súng trường, có thể kỹ thuật kém thua Pháp một chút, nhưng là những khẩu súng có khả năng đẩy một viên đạn đồng đi xa bằng thuốc súng. Cộng với hai bộ óc dũng lược của hai ông Tường-Thuyết, chúng ta có thể tin tưởng rằng không có một thế lực thực dân nào có thể xâm lăng đất nước ta.  Ông Tường là một con người chính trị, và đúng như sự nhận xét tinh tường của Rheinart, một kẻ “nguy hiểm cho nước Đại Pháp”. Một con người chính trị có hành động quyền biến là lẽ tất nhiên, vấn đề là sự quyền biến ấy được đặt trong tay kẻ yêu nước nồng nàn hay chỉ để phục vụ cho mưu đồ tham vọng cá nhân.  Trong cuốn sách nhỏ của tác giả Nguyễn Đắc Xuân đã ghi thêm về giai thoại bộc lộ về tâm chất của Nguyễn Văn Tường : Khi ông Tường đã “hòa” với Pháp rồi, Giám mục Caspar tiết lộ cho kẻ đứng đầu lực lượng xâm lược De Courcy biết Nguyễn Văn Tường chính là Nguyễn Phước Tường con vua Thiệu Trị (em vua Tự Đức), De Courcy bèn thử lòng Tường – xem ông [hay gửi gấm vào con ông] một tham vọng muốn làm vua chăng? Cả hai lần bị De Courcy dò hỏi, Tường đều lắc đầu. Thấy thế, De Courcy bèn “phản pháo” lại: “Con vua mà không muốn làm vua.. thật là một chuyện lạ. Phải chăng lòng ông vẫn còn mơ tưởng đến Hàm Nghi đang trốn trong rừng ?”.  Chính trong giây phút ấy, tên thực dân De Courcy đã quyết định phải trừng trị ông quan đại thần “yêu nước thầm kín” và “nguy hiểm” nầy.

*
*      *

Theo tôi, chỉ cần 4 trang sách nhỏ qua câu chuyện “Con vua mà không chịu làm vua” của Nguyễn Đắc Xuân là đủ để “hư cấu” thành một cuốn tiểu thuyết nhân vật lịch sử. Xuyên qua một vài dữ kiện lịch sử để tiểu thuyết hóa một nhân vật lịch sử đòi hỏi phải dùng tới những nghệ thuật bút pháp đặc biệt, dĩ nhiên là mất đi tính cách văn phong hàn lâm, khoa học, nhưng ngược lại, có thể gỡ rối, thăng hoa đúng mức một nhân vật lịch sử bị hàm oan. Bởi, hành vi lịch sử của một nhân vật lịch sử bí ẩn là khía cạnh tâm linh, phải dùng tới phân tâm học, văn phong tinh tế mới lột tả hết con người.  Thế mà Trần Xuân An, tác giả “Phụ chính Đại thần Nguyễn Văn Tường 1824-1886”, một cuốn sách dày gần 1000 trang, (còn là lý do tôi viết bài giới thiệu nầy) - lại dùng thể loại “truyện kí”, để viết. Tại sao và thế nào là thể loại văn chương “truyện kí”, đã được Trần Xuân An nói rõ trong “Vài lời thưa trước” trong mấy trang mở đầu sách. Đó là đặc điểm thứ nhất của cuốn sách. Đặc điểm thứ hai, Trần Xuân An vốn là hậu duệ thế hệ thứ năm của ông Nguyễn Văn Tường và, đây không phải là cuốn sách duy nhất của tác giả viết về nhân vật này; trong tháng 5/2005, web Giao điểm đã giới thiệu cuốn sử đầu tiên “Nguyễn Văn Tường –những người trung nghĩa từ xưa…” –có phải Trần Xuân An đã tự mình gánh vác một trọng trách tinh thần nào đó đối với tiền nhân và lịch sử dân tộc?.

Dù sao sự chọn lựa thể loại văn chương “truyện ký” để viết lịch sử, tác giả đành phải chấp nhận một số khuyết điểm về kỹ thuật, như : ôm đồm quá nhiều dữ kiện, thông tin quá bề bộn, và phần chú dẫn đan bện suốt cuốn sách dày cộm đã làm cho người đọc dễ buông lơi, ngán sợ (phần lớn tác giả dựa trên các tư liệu: ‘Quốc Sử quán triều Nguyễn; Đại Nam Thực lục, Chính biên’...). Sự thể ấy được chia sẻ bằng nỗi băn khoăn của ông Dương Trung Quốc (TTK. Hội Khoa học Lịch sử VN) trong lời giới thiệu đầu sách – liệu ‘bộ sách này có được nhiều người đọc hay không, và có nhiều người mua hay không.’! Thực tế trong tâm lý của người tiêu thụ “chữ nghĩa” trong nền kinh tế thị trường là như vậy. Nhưng hình như đó không phải là lý do làm tác giả bận tâm. Trần Xuân An đã từng bộc lộ sự ngậm ngùi riêng tây lẫn niềm hân hoan khi được kết “tình” với mạng lưới Giao điểm, mong ước Giao điểm sẽ là chỗ dựa của những “anh em cầm bút trong và ngoài nước”. Dĩ nhiên những “anh em” đó còn có chung một ước nguyện: dùng ngòi bút làm sáng danh tinh thần dân tộc, sự thật lịch sử và khoa học. Nếu chỉ có thế thôi thì quả nhiên mạng lưới Giao điểm là chỗ dựa của “anh em” từ lâu rồi !

Tuesday, October 25, 2005

Nguyễn Văn Hóa

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com