Nguyễn Văn Hóa Vài điều cần nói trước khi đăng
tải trọn bộ sách: “Phụ Chính Đại Thần Nguyễn Văn Tường 1824-1886”
của tác giả Trần Xuân An Có lẽ Giao Điểm
là mạng lưới độc nhất và sớm sủa nhất giới thiệu tác phẩm “Mật
mã Da Vinci” (The Da Vinci Code) của tác giả Dan Brown nhiều lần Chừng hơn nửa năm sau, trong nước đã
nhanh chóng được phép nhà xuất bản và tác giả “chấp thuận” tác phẩm
được dịch ra Việt ngữ. Theo thông tin trong nước chỉ trong một thời
gian ngắn, “Mật mã Da Vinci” đã bán hết 3 ngàn cuốn trong lần xuất bản
đầu, và trước khi nhà xuất bản rục rịch cho tái bản lần thứ hai cũng
là lúc cuốn sách bị một vài tác giả phanh phui ra là sách đã dịch sai,
dịch ẩu… Lỗi về từ vựng, ngữ pháp
đầy dẫy (theo Doãn Hiệp – “’Mật mã Da Vinci’, những bức xúc từ bản
dịch tiếng Việt, mạng Nhân Dân ngày 15/10/05); Sai vì kém kiến thức tôn giáo, lịch sử, văn
hóa…, sai vì kém tiếng Anh cấp sơ đẳng,
kém tiếng Việt cấp sơ đẳng… (theo Trần Tiễn Cao Đăng, “Bản dịch
Mật mã Da Vinci: một thảm họa dịch thuật”, mạng talawas ngày 17/10/05).
Kết quả: ngày 20/10/05, qua cuộc phỏng vấn của báo Lao Động, ông Bùi Việt
Bắc –Giám đốc nhà xuất bản Văn Hóa & Thông tin, phân trần giải
thích và tuyên bố ngưng dự kiến xuất bản lần thứ hai -3 ngàn cuốn
(Báo Lao Động phỏng vấn Bùi Việt Bắc: Sẽ thành lập hội đồng thẩm
định bản dịch Mật mã Da Vinci, mạng Lao Động ngày 22/10/05). Hiện tượng và tác động của cuốn sách
dịch “The Da Vinci Code”, theo chúng tôi: mang tính năng động của nền
kinh tế thị trường đã lôi kéo theo sự cập nhật hóa “thị trường chữ
nghĩa” trên thế giới, làm cho người đọc trong nước có thể bắt nhịp
kịp thời những tác phẩm bán chạy có giá trị ở nước ngoài. Tuy
nhiên, công tác dịch thuật đòi hỏi dịch giả không những cần có sự lương
thiện trí thức, đồng thời phải có trình độ và khả năng phù hợp. “The Da Vinci Code” là một cuốn sách có
giá trị, không phải chỉ vì nó là tác phẩm lịch sử tôn giáo được tiểu
thuyết hóa một cách hấp dẫn, gay cấn như truyện trinh thám, nhưng còn
mô tả thực chất của giáo hội Ca-tô, và dưới hình thức văn chương đã
giải mã một số vấn đề lịch sử bí hiểm của Ki-tô giáo; cho nên, nếu
không may dịch sai, dịch ẩu, thiếu trách nhiệm, có thể làm cho “trọng
điểm” theo nhận định của phê bình gia nói trên –bị lệch hướng và
tác hại.
Thị trường chữ nghĩa trong nền kinh
tế thị trường có khi làm cho nhà xuất bản và tác giả thay đổi khuynh
hướng, phương pháp sáng tác, viết lách. Thay đổi phương pháp viết lách
hay hình thức xuất bản có thể có khuyết điểm, đồng thời cũng có ưu
điểm. Nêu lên một thí dụ điển hình -là một loạt sách kí, văn hóa, lịch
sử của nhà nghiên cứu văn hóa Huế Nguyễn Đắc Xuân (NĐX). Những cuốn
sách của tác giả NĐX viết về văn hóa, đời sống, chuyện các vua, chúa
triều Nguyễn chỉ mỏng chừng vài trăm trang, khổ nhỏ, có bài chỉ dài
chừng 4, 5 trang sách, nhưng lại rất hấp dẫn. Và điều quan trọng là
giá rẻ và tiện dụng. Đọc ở đâu cũng được, lại dễ mang theo bên người
lúc lên tàu hỏa, máy bay, xe ô-tô, xe buýt công cộng. Đọc trong lúc chờ
đợi. Đọc trong những khi nhìn ngắm cảnh vật đã chán. Đọc để tìm
hiểu lịch sử trong những chuyến đi du lịch. Xin chọn ra một cuốn sách
tiêu biểu cho loại này của tác giả Nguyễn Đắc Xuân: “Chuyện các quan
triều Nguyễn” (Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2001). Chọn một bài tiêu biểu:
“Con vua mà không chịu làm vua” (trang 93), đây là bài viết tác giả đề
cập đến một nhân vật lịch sử trong thời kỳ kinh đô Huế thất thủ
-Nguyễn Văn Tường. Dựa vào một số tư liệu lịch sử (trong đó thấy
có ghi tài liệu của nhà nghiên cứu Phan Văn Dật -cụ còn là người thủ đắc nhiều
tư liệu lịch sử quý hiếm Tác giả Nguyễn Đắc Xuân ghi tiếp:
“Sau sự kiện thất thủ Kinh đô (7-1885), Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm
Nghi xuất bôn tiếp tục kháng chiến. Nguyễn Văn Tường là ngươi mưu lược
được cử ở lại để tìm mọi cách hạn chế bớt sự thiệt hại. Vì
“nhiệm vụ lịch sử” Nguyễn Văn Tường đành mang tiếng phản bội, cộng
tác với giặc.” (trang 95). Nhưng “nhiệm vụ lịch sử” ấy là
gì mà ông Nguyễn Văn Tường phải mang tiếng “phản bội, cộng tác với
giặc”? Một trong những người trả
lời câu hỏi này và chứng
minh Vậy thì nhiệm vụ lịch sử ấy là
một cuộc vận động ngoại giao để hòa giải, hay ít nữa cũng được hòa
hoãn với kẻ thù trong một giai đoạn lịch sử dầu sôi lửa bỏng Vì thế, hành động của Nguyễn Văn
Tường khi tìm gặp Giám mục Caspar ở địa phận Huế, nhờ thu xếp cho
ông gặp gỡ để thương lượng với tướng De Courcy về vấn đề hòa giải,
nhà ngoại giao Đi xa hơn trong cảm tính lịch sử, học
giả Thái Văn Kiểm kể lại giai thoại -vì con đường hoạn lộ của ông
Nguyễn Văn Tường tiến quá nhanh, đâm ra phụ rẫy, quên lời hứa hôn với
cô con gái của ông Bá hộ ở tỉnh Quảng Trị đem nàng về làm hầu. Một
hôm, cô gái con ông Bá hộ giặt áo dưới sông, tình cờ ngước đầu lên
vào lúc ông Tường kinh lý chợ Huyện (tỉnh QT) đi qua mới thốt lên câu
thơ truyền tụng mãi trong dân gian:
Có phải chỉ Đối cực với hai nhận xét trên, đứng
trên quan điểm khôn ngoan lịch sử để hòa giải chính trị, Gs. Cao Huy Thuần
đã viết rằng : “Trong khi Nguyễn Văn Tường tung hết sức lực để đánh
ngã cuộc chống đối của nhà Nho bằng cách yêu cầu họ “theo ý Hoàng
Thượng mà sống hòa bình, đừng tìm cách khiêu khích các con chiên.” Quan điểm ấy nhận được sự tán thành
của kẻ cầm đầu thế lực thực dân là Philastre, nhưng sự thỏa hiệp nầy
luôn luôn bị “các kẻ truyền đạo cũng chống đến cùng chính sách đó,
vì họ tin rằng Tự Đức là kẻ thù tệ hại nhất của đạo Thiên Chúa
và chừng nào mà uy quyền ông ta còn kéo dài ở Bắc Kỳ thì sự thắng lợi
của đạo họ càng xa.” (“Đạo
Thiên Chúa và Chủ nghĩa Thực dân ở VN” -luận á Nhận định ấy có lẽ phù hợp với
lập luận thế lực tôn giáo muốn phá vỡ kế hoặch hòa giải giữa thực
dân và triều đình nhà Nguyễn, chỉ vì tham vọng hoán vị chủ thể quyền
lực. Ca tụng về vai trò ngoại giao của
Nguyễn Văn Tường, có lẽ nên kể thêm về nhận xét của nhà sử học Phạm
Văn Sơn khi Tường và Philastre cùng ra Bắc để ổn định tình hình sau
Hòa ước Nhâm Tuất (13/4/1875), vừa đến Hải Phòng thì Philastre nghe tin
Francis Garnier bị Lưu Vĩnh Phúc hạ sát. Philastre giận dữ đòi bỏ về, Tường
đã can ngăn bằng biện thuyết : “Hà Nội giết Francis Garnier thì cũng
như Đại úy Garnier giết ông Nguyễn Tri Phương, việc đó xuất cơ ngoại
ý, bây giờ chúng ta bỏ về chẳng là uổng công lắm sao!” -Philastre đành
nghe theo rồi lên Hà Nội làm tờ giao ước trả lại các thành cho quan ta,
sau đó ông ra lệnh rút quân Pháp xuống Hải Phòng đợi Hòa ước ký xong
thì về Sài Gòn hết.” Phạm Văn Sơn đã kết luận ông Nguyễn Văn Tường là
một nhà Đứng ngoài hai khuynh hướng trên,
còn có các ghi nhận trung dung như nhà sử học Phan Khoang : “Ngày 24 (tháng
7/1885 !), Trung tướng De Courcy và Nguyễn Văn Tường hợp đồng làm tờ hiểu
thị cho nhân dân toàn quốc rằng hai nước vẫn hòa hảo như cũ.” (VN Pháp thuộc sử, không đề nhà
xb. 1961, in lại ở nước ngoài, trang 364). Nhà sử học Vũ Ngự Chiêu, qua sử
liệu của “IOH 3/D.8” biên bản ngày 25/8/1885, ghi lại nhận xét của
Rheinart về ông Tường: “Một con người có giá trị lớn, thông minh, rất
lịch thiệp, đầy nhiệt tình và rất xảo quyệt. Tuy nhiên ông ta không
có quan điểm rộng rãi, và có những ý nghĩ khá chật hẹp.” Theo Rheinart, “Tường là một thứ kẻ
thù không đội trời chung (ennemi irréconciliable) của Pháp.” (“VN Niên biểu nhân vật chí”, Văn
Hóa xb. 1997, trang 409). Hay, nhận xét một cách nhẹ nhàng thôi, như học giả
Trần Văn Giàu: “Tường đi nước đôi, gặp cơ hội thì xoay trở.” (“Chống xâm lăng, lịch sử VN từ
1858-1898”, Nhà xb. Tp HCM 2001, trang 450). Đó là các khuynh hướng trên đại thể,
nhận xét về nhân vật Nguyễn Văn Tường. Để dễ nhận ra hình tướng của
ông, có thể so sánh ông với nhân vât Tôn Thất Thuyết, một kẻ có khí
chất anh hùng, nhưng “hữu dõng vô mưu”. Sự
tương phản của hai ông thật rõ, nhưng cả hai đều cần thiết trong hoàn
cảnh chống xâm lăng đương thời. Có lẽ số phận của dân tộc Việt
Nam đã khác đi, nếu lúc đó trong quân lính của triều đình có được những
khẩu súng trường, có thể kỹ thuật kém thua Pháp một chút, nhưng là những
khẩu súng có khả năng đẩy một viên đạn đồng
Theo tôi, chỉ cần 4 trang sách nhỏ
qua câu chuyện “Con vua mà không chịu làm vua” của Nguyễn Đắc Xuân là
đủ để “hư cấu” thành một cuốn tiểu thuyết nhân vật lịch sử.
Xuyên qua một vài dữ kiện lịch sử để tiểu thuyết hóa một nhân vật
lịch sử đòi hỏi phải dùng tới những nghệ thuật bút pháp đặc biệt,
dĩ nhiên là mất đi tính cách văn phong hàn lâm, khoa học, nhưng ngược lại,
có thể gỡ rối, thăng hoa đúng mức một nhân vật lịch sử bị hàm oan.
Bởi, hành vi lịch sử của một nhân vật lịch sử bí ẩn Dù sao sự chọn lựa thể loại văn
chương “truyện ký” để viết lịch sử, tác giả đành phải chấp nhận
một số khuyết điểm về kỹ thuật, như : ôm đồm quá
nhiều dữ kiện, thông tin quá bề bộn, và phần chú dẫn đan bện suốt
cuốn sách dày cộm đã làm cho người đọc dễ buông lơi, ngán sợ (phần lớn tác giả dựa trên các tư liệu: ‘Quốc Sử
quán triều Nguyễn; Đại Nam Thực lục, Chính biên’...) Tuesday, October 25, 2005 Nguyễn Văn Hóa |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com