1005-gd.gif (6609 bytes)
posted: 01.10.2005
Trn
Chung
Ngc
TẢN MẠN & TẢN MẠN: THIỀN SƯ NHẤT HẠNH
CHIẾN TRANH – NHÂN QUYỀN - DÂN CHỦ
(PHẦN II : CHIẾN TRANH VN)

Nhập Đề:

Tản Mạn Xung Quanh Cuộc Tranh Luận “Gọi Tên Gì Cho Cuộc Chiến” Trên Talawas.

Trong Phần II của loạt bài viết “Tản Mạn Về Thiền Sư Nhất Hạnh – Chiến Tranh – Nhân Quyền Và Dân Chủ” tôi định viết chút ít về cuộc chiến ở Việt Nam cách đây trên 30 năm.  Tình cờ đọc trên Talawas thấy có một loạt bài tranh luận về đề tài “Gọi tên gì cho cuộc chiến”, liên hệ đến chủ đề tôi muốn viết.  Do đó tôi nghĩ trước khi vào đề tôi xin góp vài nhận xét về cuộc tranh luận trên.

*

Trên diễn đàn truyền thông hải ngoại Talawas chúng ta thấy một số bài trong mục Tư tưởng: Chiến tranh nhìn từ nhiều phía tranh luận về bài “Ba Mươi Năm Gọi Tên Gì Cho Cuộc Chiến?” của Giáo sư Lê Xuân Khoa. Cuộc tranh luận rất sôi nổi với sự tham gia của rất nhiều người, ở trong nước cũng như ở hải ngoại, có vẻ như thuộc mọi giới già, trẻ, và đặc biệt phần lớn chia làm hai phía tạm gọi là: anti-Cộng và pro-Cộng trong khi trên thực tế Cộng Sản đã đi vào quá khứ.  Tôi đã đọc những bài của Lê Xuân Khoa, Nguyễn Hòa, Lữ Phương, Trần Trung Đạo, Nguyên Trường, Đỗ Xuân Mai, Nguyễn Xuân Đức, Tạ Văn Tài, Hồ Phú Bông, Tử Vi Thiên Đức, Tiêu Dao Bảo Cự và những ý kiến ngắn của một số bạn trẻ ở trong nước cũng như ở hải ngoại, có người sinh sau 1975.  Hậu sinh khả úy, trong số này có những ý kiến rất đáng để chúng ta học hỏi, những ý kiến vuợt ra ngoài những thiên kiến và sáng suốt hơn các tư tưởng gia nổi tiếng thuộc hai phe pro-Cộng và Anti-Cộng, ở trong nước cũng như ở hải ngoại. 

Trong số những bài tranh luận chủ chốt, có những bài đáng đọc, và cũng có những bài không đáng đọc. Tôi sẽ không nêu rõ bài nào đáng đọc và bài nào không đáng đọc.  Đáng hay không đáng là tùy theo nhận xét của mỗi người, và đối với tôi, giá trị của mỗi bài tùy thuộc thuộc nội dung của toàn bài chứ không phải tùy thuộc tác giả bài đó là ai, có bằng cấp gì, hay đã giữ những chức vụ gì, mà nhiều khi cũng chỉ thuộc loại nói vậy thôi.  Do đó, tôi phần nào đồng ý với ông Nguyễn Hòa là: "Một người nghiên cứu nghiêm cẩn sẽ không bao giờ lấy thâm niên làm việc ở thời quá khứ ra “bảo lãnh” cho hoạt động nghiên cứu ở thời hiện tại?"   Bằng cấp khoa bảng, kinh nghiệm chỉ có thể được bảo đảm bởi sự lương thiện trí thức, bởi sự hiểu biết của mình về những chủ đề mình trình bày, có đúng không, có cập nhật hóa không, chứ không bằng một mảnh giấy hay chức vụ.  Nếu cần, những thông tin thuộc loại này thường được để ở ngoài chứ không gài vào trong nội dung của bài.

1.  Nội dung bài của Giáo sư Lê Xuân Khoa là đưa ra 6 tên cho cuộc chiến nhưng gạt bỏ hai tên : “chiến tranh chống cộng” và “chiến tranh chống Mỹ-Ngụy”, chỉ thảo luận về 4 tên còn lại:  “nội chiến”, “chiến tranh của Mỹ”, “chiến tranh Việt Nam”, “chiến tranh ủy nhiệm”, và sau khi đưa ra một số luận giải về 4 tên trên, cuối cùng tác giả kết luận:

Trở lại vấn đề gọi tên cuộc chiến 1955-1975, để các phe liên hệ có thể vượt lên khỏi những ám ảnh tiêu cực của quá khứ và chấm dứt những cuộc tranh luận do tình cảm chủ quan, cuộc chiến này nên được gọi đơn giản là "chiến tranh Việt Nam" với ý nghĩa khách quan phi chính trị là chiến tranh xảy ra trên đất nước Việt Nam. Nội dung phức tạp của nó sẽ được lịch sử ghi chép một cách đầy đủ và trung thực. [Tác giả muốn tránh né chính trị nhưng trong nội dung toàn bài, tác giả đã đi sâu vào chính trị rồi]

Tác giả cũng đề nghị một điều như sau, và tôi cho đây là mục đích chính của tác giả khi viết bài “Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến?”:

Ba mươi năm sau chiến tranh, đã đến lúc chính quyền trong nước và cộng đồng hải ngoại cần phải nhận ra thực chất của cuộc chiến, ôn lại những bài học quá khứ và nhìn nhận nhau với những trao đổi bình đẳng hai chiều để có thể cùng góp công xây dựng một nước Việt Nam giàu, mạnh và dân chủ, hội nhập thành công vào cộng đồng thế giới và có đủ khả năng đối phó với những đe dọa mới từ phương Bắc. Giữa hai bên, những bước đầu tiên cần phải được thực hiện bởi chính quyền trong nước một cách thật tình và cụ thể. Một khi thiện chí ấy đã được chứng tỏ, cộng đồng hải ngoại cũng cần phải đáp ứng tích cực.

Nhưng “thực chất của cuộc chiến” là như thế nào, có phải đúng như những luận giải của tác giả ở trong bài hay không?  Chắc chắn là không phải rồi, vì qua bài viết của tác giả tôi thấy tác giả đã vấp phải nhiều sai lầm trong sự luận giải, phản ánh một sự hiểu biết có vẻ khá thiếu sót về các vấn đề lịch sử.  Thật vậy, tôi không thể nào đồng ý với sự luận giải của tác giả về thế nào là “nội chiến” và thế nào là “chiến tranh ủy nhiệm”.  Theo tôi, “nội chiến” tuyệt đối không phải như tác giả viết: Cuộc chiến 1955-1975 ở Việt Nam được gọi là nội chiến vì sau khi đất nước bị chia đôi, chính quyền miền Bắc đã để lại cán bộ, chôn dấu vũ khí và hoạt động bí mật đàng sau các phong trào tranh đấu ở miền Nam; trong khi đó, chính quyền Ngô Đình Diệm cũng phát động chiến dịch tố cộng sâu rộng và mãnh liệt.” và “chiến tranh ủy nhiệm” cũng tuyệt đối không phải là: “Tên gọi này phản ánh một sự thật hoàn toàn khách quan nhưng không một quốc gia tham chiến nào, trực tiếp hay gián tiếp, muốn chấp nhận nó để phải mang tiếng xấu. Gọi là ủy nhiệm vì từ cuộc xung đột về ý thức hệ, hai phe Việt Nam đã bị các cường quốc lãnh đạo hai khối tư bản và cộng sản sử dụng như những công cụ đua tranh thế lực trong thời Chiến tranh Lạnh. Hoa Kỳ đã dùng chiến trường Việt Nam để thí nghiệm và tiêu thụ các loại vũ khí kể cả chất độc da cam, trong khi Liên Xô và Trung Quốc đã nhiệt tình giúp đỡ và thúc giục Bắc Việt tận lực hi sinh và chiến đấu trường kỳ.”  Tôi cũng không đồng ý với cái tên “chiến tranh Việt Nam” trong phần kết luận của ông Khoa, và tất nhiên cũng không đồng ý với quan điểm “thực tế là một cuộc nội chiến vì ý thức hệ và cũng là một cuộc chiến tranh ủy nhiệm giữa các đại cường mà rốt cuộc là tất cả mọi phe đều thua.” của ông Khoa vì kết luận dựa trên tiền đề, trong khi thực chất của cuộc chiến ở Việt Nam không có gì có thể gọi là nội chiến hay chiến tranh ủy nhiệm.  Tôi hi vọng những phân tích về cuộc chiến của tôi trong phần “tản mạn” ở sau sẽ làm sáng tỏ những ý kiến của tôi ở trên.

2. Cuộc tranh luận bắt đầu bằng bài "Gọi tên cuộc chiến hay xuyên tạc sự thật?” của ông Nguyễn Hòa, đăng trên tờ Nhân Dân ở trong nước.  Xét về phương diện những sự kiện lịch sử, những thực tế của cuộc chiến tranh, những điều ông Nguyễn Hòa viết trong bài không phải là không có cơ sở, tuy ông viết hơi gay gắt và có vài điểm nhỏ không thích hợp khi viết về cá nhân Giáo sư Lê Xuân Khoa.  Có thể nói, tôi đồng ý với ông Nguyễn Hòa trong hầu hết những luận điểm ông viết trong bài.  Nếu ông Hòa viết một cách hòa hoãn hơn, và trong cuộc tranh luận trên diễn đàn hải ngoại, tránh đưa ra những từ như Đảng, Bác Hồ, Lê-Nin, chủ nghĩa xã hội, những từ thường gây ra những dị ứng đối với đa số người Việt hải ngoại, thay vào đó cần phải đưa ra những tài liệu mà ngày nay không thiếu để hỗ trợ cho những lập luận của mình thì tôi chắc bài đó có tính cách thuyết phục hơn nhiều.  Nhưng tôi thông cảm, viết đăng trên tờ Nhân Dân ở trong nước thì cũng phải vậy thôi. 

Có một điều tôi cần phải phê bình là ông Hòa cho rằng người Quốc Gia không yêu nước chân chính như người Cộng Sản.  Ông đã không xét đến việc Cộng Sản đã làm gì từ 1945 để cho một số người Việt Nam không nhỏ, cũng yêu nước không kém gì người Cộng Sản, bắt buộc phải ở trong vị thế của người Quốc Gia đối lập.  Phải chăng người Quốc Gia đều là Pháp-Ngụy hay Mỹ-Ngụy, toàn là những kẻ “bán rẻ đất nước, phục vụ quyền lợi và mưu đồ của ngoại bang.”??  Nhìn vấn đề như vậy thì có vẻ phiến diện, thiển cận. Người Quốc Gia chúng tôi ý thức được rõ ràng rằng mình đang ở trong thế kẹt, thế kẹt đó là dù muốn dù không cũng nằm dưới dù của Pháp và Mỹ, không có tự do và cũng không đủ khả năng để hành động theo ý muốn.  Do đó, tuy có một lý tưởng, một lý tưởng quốc gia khác với lý tưởng Cộng Sản, nhưng thực tế đối với đa số quần chúng lại không có chính nghĩa.  Cũng vì vậy mà ở miền Nam có những phong trào phản chiến, vận động hòa bình, chủ trương trung lập, không chấp nhận sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam, nhưng cũng không chấp nhận chế độ Cộng Sản mà họ đã có những kinh nghiệm đắt gíá. Điều này khiến người Cộng Sản phải nhận thức được rằng, đó chính là điểm khác của chế độ miền Nam, tuy kẹt và còn rất nhiều hạn chế, nhưng dù sao cũng khác với chế độ Cộng Sản trong thời chiến rất nhiều. 

Cộng Sản đã thành công trong công cuộc giải phóng đất nước và thống nhất quốc gia, điều mà mọi người dân Việt Nam nên cảm thấy hãnh diện trước cộng đồng quốc tế. Tôi ở phe thua trận, nhưng chiến thắng Điện Biên Phủ, cũng như ngày 30/4/1975, đã mang đến cho tôi một niềm hãnh diện được làm một người Việt Nam, một người Việt Nam không Quốc không Cộng, không Nam không Bắc, một người Việt Nam không từ bỏ gốc gác tổ tiên, không từ bỏ lịch sử khi vinh khi nhục của quốc gia, và lẽ dĩ nhiên rất hãnh diện với lịch sử chống xâm lăng của dân tộc.  Thế giới đã biết nhiều hơn về Việt Nam qua cuộc chiến và kết quả của cuộc chiến, và không còn dám khinh khi những người Việt Nam nhỏ bé, mặc bà ba đen, đi chân đất và...không biết xử dụng dao, nĩa.

Nhưng từ giải phóng đất nước đến giải phóng con người là một đoạn đường khá dài, Cộng Sản đã tiến tới đâu trên đoạn đường này, và tiến mau hay tiến chậm, tất nhiên Đảng Cộng Sản phải biết rõ hơn ai hết.   Đất nước ngày nay đã khác xưa nhiều lắm, điều này tôi hoàn toàn đồng ý với ông Nguyễn Hòa, và ngày nay trên thực tế không còn Cộng Sản, nhưng vấn đề đặt ra là khác như vậy đã đủ chưa, và Nhà Nước có thể làm khác hơn nữa được không?  Khác hơn và tốt hơn để cho toàn dân được hưởng chứ không phải là khác hơn để duy trì quyền lực của một thiểu số ngồi trên đầu trên cổ người dân.  “Quan nhất thời, dân vạn đại”, “vạn vật vô thường”, tấm bảng “Quang minh chính đại” còn trên Lăng Tự Đức, và câu nói thời danh của Hồ Chủ Tịch: “Cần Kiệm Liêm Chính” còn đó, tôi nghĩ chúng có thể dùng làm những đề tài Thiền quán trong thời đại ngày nay. Nhà Nước chắc cũng biết rằng trong nước cũng như ở hải ngoại, luôn luôn có những lực lượng chính trị, tôn giáo vọng ngoại, dựa thế ngoại bang, tranh đấu chính trị cũng như tôn giáo đằng sau đủ mọi chiêu bài với mục đích khuynh loát chính quyền và nếu có thể lật đổ chính quyền.  Để mất dân thì trước sau gì cũng mất chính quyền.  Đó là bài học muôn đời của lịch sử thế giới.

3.  Bài thứ ba tôi muốn nói đến là bài của Tiến Sĩ Tạ Văn Tài giới thiệu cuốn “Khi Đồng Minh Tháo Chạy” của Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng tuy Mỹ không phải là “đồng minh” của Nam Việt Nam, và cũng không hề “tháo chạy”.  Tôi chưa đọc cuốn này và có lẽ sẽ không đọc nó nên không có ý kiến.  Một cuốn Palace File đối với tôi kể cũng quá đủ về tác giả này.  Tác giả viết trong cơn mơ, cho rằng Nam Việt Nam là một quốc gia độc lập, đồng vai đồng vế với “đồng minh” Mỹ.  Trong phần II của bài giới thiệu, nội dung viết về những vấn đề liên hệ đến cuộc chiến ở Việt Nam, có nhiều chi tiết lịch sử có giá trị.  Tuy nhiên cũng có một số nhận định bất cập. Thí dụ, Tiến sĩ Tài viết:

Khía cạnh nội chiến, người Việt giết hại người Việt, cũng rõ rệt trong cuộc cải cách ruộng đất tàn ác 1953-54 ở Miền Bắc, khiến một triệu đồng bào Việt Nam bỏ chạy khỏi miền Bắc, di cư vô miền Nam, và cũng rõ sau này trong việc sát hại oan uổng những người dân ở Huế trong Tết Mậu Thân 1968 (xin xem cuốn Giải khăn sô cho Huế của Nhã Ca).

Đây là một nhận định vô cùng sai lầm của một người trong lãnh vực học thuật (scholarship).  Cải cách ruộng đất là một chính sách của chính quyền với mục đích san bằng bất công, sản phẩm của thời nô lệ Pháp, nhưng đã đi quá mức và gây ra nhiều oan uổng trong việc thi hành.  Chính quyền đã công khai thú nhận lỗi lầm vào năm 1956, không phải lỗi lầm về chính sách mà lỗi lầm trong phương cách thi hành.  Do đó chẳng làm gì có khía cạnh nội chiến “rõ rệt” trong đó.   Chẳng lẽ Tiến sĩ Tài không biết đến cao điểm của cuộc cải cách ruộng đất là vào năm nào hay sao?  Chẳng lẽ một người có học vị cao như Tiến sĩ Tài, trong công cuộc nghiên cứu lịch sử, lại không biết đến vai trò của Lansdale (Mỹ) trong việc tổ chức phá hoại ngầm ở ngoài Bắc ngay từ 1954, sau Hiệp Định Genève?  Chẳng lẽ Tiến sĩ Tài không biết đến thành phần gần một triệu đồng bào ngoài Bắc di cư vào Nam hay sao?  800000 là giáo dân Công Giáo đi theo 72% tổng số linh mục ở ngoài Bắc di cư vào Nam vì Lansdale đã tung ra tin là “Chúa đã vào Nam” và “Đức Mẹ đã vào Nam” để kéo đám giáo dân có đầu mà không có óc, sống trong những ốc đảo ngu dốt (từ của Linh Mục Trần Tam Tĩnh) vào Nam làm hậu thuẫn cho ông Tổng Thống Công Giáo Ngô Đình Diệm.  Phần còn lại là một số người sống ở thành thị, trong những vùng dưới sự kiểm soát của Pháp, và một số quân nhân công chức đang làm việc cho chính quyền Bảo Đại. 

Về cuộc cải cách ruộng đất và Tết Mậu Thân, chúng ta nên cẩn thận khi đưa ra bất cứ một khẳng định nào về ý nghĩa cũng như những con số nếu chúng ta không nắm vững vấn đề.  Cuốn “Từ Thực Dân Đến Cộng Sản” của Hoàng Văn Chí nói về cuộc cải cách ruộng đất và số người bị giết trong khi ông ta không phải là một nhân chứng trực tiếp không đáng tin cậy, chính Hoàng Văn Chí đã thú nhận như vậy trong một cuộc phỏng vấn [Xin đọc Gareth Porter, Edwin Moise, Noam Chomsky và Edward S. Herman], và cuốn “Giải khăn sô cho Huế” của Nhã Ca không phải là một tài liệu lịch sử.  [Bernard Fall, dựa vào tài liệu ngụy tạo của Hoàng văn Chí, đưa ra con số 50000 địa chủ bị giết, và Tổng Thống Nixon tăng con số đó lên gấp 10, thành 500000 địa chủ bị giết cộng với 500000 người bị cầm tù trong các trại nô lệ (slaves camps), những con số mà các học giả ngày nay cho là lố bịch (ridiculous).  Xin đọc The Vietnam War 1945-1990 của Marilyn B. Young, trang 50]  Muốn tìm hiểu hai vấn đề này chúng ta cần có các tài liệu nghiên cứu nghiêm chỉnh, không thiên vị.  Tôi đề nghị tác giả nên tìm đọc 2 bài sau đây của Gareth Porter:  “The Myth of Bloodbath: North Vietnam’s Land Reform Reconsidered”, Bulletin of Concerned Asian Scholars, September 1973, pp. 2-15, và “The 1968 “Hue Massacre””, Indochina Chronicle, #33, June 24, 1974; cộng với Chương 5: “Bloodbaths in Indochina: Constructive, Nefarious and Mythical” trong cuốn The Political Economy of Human Rights, Vol.1, Black Rose Books, Montréal, 1979, của Noam Chomsky và Edward S. Herman, hay sự phân tích về chương trình và kết quả của cuộc cải cách ruộng đất của giáo sư Mortimer T. Cohen trong cuốn From Prologue To Epilogue in Vietnam, trang 248, và trong nhiều cuốn sách của nhiều tác giả khác mà tôi không thể kể hết tên ra đây..

Tiến sĩ Tài chấm dứt bài của mình bằng một câu xanh rờn: “Viết để vinh danh đồng bào Việt Nam hải ngoại, 30 năm sau tháng 4/1975.”, nhưng có lẽ “đồng bào hải ngoại” ở đây chỉ là 2 tiến sĩ: Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng và Tiến Sĩ Tạ Văn Tài, vì “đồng bào hải ngoại” còn gồm cả những tội phạm Việt Nam đang ngồi trong các nhà tù Mỹ về đủ mọi thứ tội; những kẻ tranh đấu cho tự do, dân chủ nhưng lại chà đạp lên tự do, dân chủ; những tay sai lãnh tiền của ngoại bang để phá Việt Nam như Võ Văn Ái ; những bác sĩ luật sư toa rập với nhau để lấy tiền bồi thường của các hãng bảo hiểm trong những vụ đụng xe, hay khai gian để lấy tiền của Medicare; những thầy tu vô đạo đức; và cả những người không hề muốn mình được vinh danh v..v..

4.  Bài thứ tư là bài Chiến tranh, nghệ thuật tuyên truyền và chân lý lịch sử của Tiêu Dao Bảo Cự.  Có thể nói ngay rằng Tiêu Dao Bảo Cự mù tịt về chiến tranh và chân lý lịch sử.  Lý luận của ông ta ngớ ngẩn và lẩn quẩn đến độ nực cười.  Bàn về những tác hại về chất độc da cam rồi ông ta đưa ra một câu hỏi: Vì sao tội ác?  Rồi ông không giải thích Vì sao tội ác? mà lại đi vào biện hộ cho công ty hóa chất Mỹ là “các công ty này không trực tiếp gây ra tội ác” [tại sao các công ty này phải bỏ ra 180 triệu đô la để bồi thường cho các cựu chiến binh Mỹ bị nhiễm độc??], rồi thì “Nếu cho rằng các tập đoàn tư bản đứng đằng sau các chính quyền Mỹ mới thực sự chi phối chính sách của chính quyền thì họ chính là nguồn cội của tội ác, tuy nhiên vẫn không phải là trực tiếp,  rồi thì “Rõ ràng trực tiếp gây ra tội ác là quân đội Mỹ, trực tiếp hơn nữa là các phi công đã lái máy bay đi rải chất độc này (dù có khi họ không biết rõ nơi họ đã hành động, cũng như nhiều phi công thả bom B52 đã nói họ không thấy gì bên dưới, họ chỉ tính tọa độ trên bản đồ và bấm nút. Dĩ nhiên không phải vì thế mà trách nhiệm và tội ác của họ được miễn trừ).” [Xin Chúa hãy tha tội cho họ, vì họ không biết họ đã làm gì]  Trong quân đội mà không biết rõ nơi hành động cũng như không biết mình thả bom ở đâu vì không nhìn thấy, đúng là một chuyện tiếu lâm vô tiền khoáng hậu trong lịch sử quân đội Mỹ, do Tiêu Dao Bảo Cự viết.  Mà các phi công B52 nói với ai?  Với Tiêu Dao Bảo Cự??]

Tiếp theo, để xem ông Tiêu Dao Bảo Cự viết ngớ ngẩn đến mức nào, chúng ta hãy đọc một vài đoạn về chân lý lịch sử của ông ta:

Quân đội Mỹ không tự ý hành động mà thực hiện chính sách của chính quyền Mỹ. [Có quân đội nào được tự ý hành động??] Tại sao chính quyền Mỹ lâm chiến ở Việt Nam sau khi hiệp định Genève được ký kết, chia đôi đất nước? Nếu không có cuộc chiến tranh giải phóng của miền Bắc, được chuẩn bị ngay từ năm 1954 khi cài cấy cán bộ ở lại và sau đó từng bước đưa vũ khí và quân đội vào miền Nam và cuộc chiến lan rộng thì Mỹ có trực tiếp đưa quân vào miền Nam không? [Nghĩa là lỗi tại miền Bắc mọi đàng (Mea Culpa)?? Nếu có cuộc Tổng Tuyển Cử năm 1956 theo quy định của Hiệp Định Genève thì có cần đến chiến tranh giải phóng hay không?  Khi nào thì Bắc Việt bắt đầu đưa vũ khí và người vào Miền Nam, đưa bao nhiêu, và tại sao lại phải đưa??] Miền Nam có cần được giải phóng không khi lúc đó hai miền đều có chính quyền và do hoàn cảnh lịch sử đều có mức độ lệ thuộc nước ngoài không khác nhau là mấy và không thể nói là bị xâm lược? [Có thật như vậy không?  Nước ngoài nào dựng lên chính quyền miền Nam, và nước ngoài nào dựng lên chính quyền miền Bắc??] Nếu không có xâm lược thì không thể có chiến tranh giải phóng mà đó đích thực là nội chiến. Nội chiến kết với chiến tranh ủy nhiệm đã tạo ra chiến tranh xâm lược khi Mỹ trực tiếp đưa quân vào Việt Nam. (Thực ra vai trò của Liên Xô và Trung Quốc lúc đó đối với Miền Bắc không khác gì vai trò của Mỹ ở Miền Nam [nói bậy], nhưng vì Mỹ sai lầm trong việc đưa quân vào Việt Nam nên bị mang tiếng là xâm lược và đây cũng là nguyên chính đưa đến sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến, đặc biệt là cuộc chiến tuyên truyền của những người Cộng Sản.) [Mang nửa triệu quân vào đất nước của người ta mà không phải là xâm lược, chỉ bị mang tiếng là xâm lược??  Vậy thế nào mới là xâm lược??]

Thật quả tôi rất lấy làm ngạc nhiên vì trong thời buổi này, với hàng núi tài liệu được in thành sách và ở trên Internet về cuộc chiến ở Việt Nam, mà vẫn còn những người “nổi danh” như Tiêu Dao Bảo Cự tiếp tục đưa ra những câu hỏi và nhận định hết sức ấu trĩ và ngớ ngẩn về cuộc chiến ở Việt Nam.  Hi vọng trong phần sau tôi sẽ có những giải đáp cho những câu hỏi không đáng hỏi  này.  Có thể nói những ý kiến của Tiêu Dao Bảo Cự không khác gì những luận điệu chống Cộng ở hải ngoại, nói mà không biết mình nói cái gì.

5.  Một bài có cùng trình độ với Tiêu Dao Bảo Cự là bài “Con sông Gianh chảy giữa lòng Hà Nội” của ông Trần Trung Đạo.  Ông Trần Trung Đạo đã vận dụng tối đa “Con sông Bến Hải đang chảy cuồn cuộn giữa lòng Trần Trung Đạo” để viết bài “Con sông Gianh chảy giữa lòng Hà Nội”, phê bình bài “Gọi tên cuộc chiến hay xuyên tạc sự thật” của ông Nguyễn Hòa.   Gọi là phê bình cho nó vui chứ thực ra đây chỉ là một bài “tố Cộng” thuộc loại rẻ tiền.  Thay vì phân tích, thảo luận những điểm trong bài của ông Nguyễn Hòa, thì với mỗi điểm ông Trần Trung Đạo lại mở một màn kể tội Cộng Sản, nhìn Việt Nam qua một cặp kính đen: cái gì ở Việt Nam cũng xấu, tất cả chỉ là phên dậu bên ngoài, có tính cách vá víu “câu giờ”, không phải để đưa nước nhà ra khỏi quỹ đạo lạc hậu v..v..  Những lý luận chống Cộng của ông thuộc loại nói lấy được, nói mà không biết mình nói cái gì, kiểu cả vú lấp miệng em.

Tưởng ông chống Cộng thế nào chứ ngoài việc kể xấu Việt Nam, những chuyện mà ai cũng biết và tùy theo mức độ, không nước nào là không có, ông không có một luận cứ nào ra hồn, toàn là những luận điệu đao to búa lớn của giới CCCĐ hay CCCB ở hải ngoại, phần lớn là xuyên tạc sai sự thực. Chúng ta hãy đọc vài thí dụ:

Về câu "Đất nước mình đã khác nhiều lắm" của ông Nguyễn Hòa, sau khi cho rằng những đổi khác chỉ là “phên dậu bên ngoài, có tính cách vá víu “câu giờ””, nghĩa là sự đổi khác chỉ có ở bề ngoài [có thể ông chưa từng về Việt Nam, chỉ đọc những thông tin chống Cộng ở hải ngoại], Ông Trần Trung Đạo phê bình một cách lãng xẹt như sau:

Trong lúc một thiểu số đảng viên cao cấp và gia đình họ sống trong biệt thự có máy điều hòa, nghỉ ngơi trong các khách sạn bốn sao, năm sao, ăn uống trong nhà hàng đắt tiền, con cái họ đang ngồi trong các giảng đường đại học tư ở Mỹ với học phí trung bình 40 ngàn đô-la một năm chưa kể tiêu dùng cá nhân, tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam chưa hề được đặt chân đến khách sạn Sofitel Plaza, Caravelle, con cái họ vẫn thất học và nhiều nơi trên đất nước, sau gần 30 năm vẫn chưa có điện để thắp sáng những căn nhà tối tăm heo hút.

Thưa với ông Đạo, không phải là “tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam chưa hề được đặt chân đến khách sạn Sofitel Plaza, Caravelle” mà tôi tin rằng, tuyệt đại đa số người Việt sống ở hải ngọai, trong số này có tôi, cũng chưa bao giờ đặt chân đến khách sạn Sofitel.  Trong 2 chuyến về thăm quê hương, tôi cũng chưa hề đặt chân vào khách sạn Caravelle.  Hơn nữa tuyệt đại đa số người dân Mỹ cũng chưa hề đặt chân đến những khách sạn như Sofitel hay Hyatt, hay Marriott , hay Sheraton v..v..  Vấn đề là tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam đặt chân đến các khách sạn Sofitel và Caravelle để làm gì?  Có cần thiết không?  Ông chống Cộng như vậy không sợ người ta cười cho hay sao?  Hơn nữa,  không phải chỉ có một thiểu số đảng viên cao cấp có con cái đang ngồi trong các giảng đường đại học tư ở Mỹ với học phí trung bình 40 ngàn đô-la một năm..., mà tôi biết có những người trong chế độ cũ ở lại ngày nay cũng có khả năng gửi con đi học đại học tư ở Mỹ.  Ông nghĩ sao về những CEO ở Mỹ, những cầu thủ Football, Baseball, những người làm cho các đài truyền hình như Barbara Walters, Peter Jenning v...v..., và những ca sĩ có lợi tức nhiều triệu đô-la một năm, trong khi mấy chục phần trăm người dân Mỹ sống dưới mức nghèo, khoảng $14000/1năm, và cũng có những kẻ nằm gầm cầu, ăn xin ở các thành phố lớn.  Trận bão Katrina gần đây ở miền Nam nước Mỹ cho thấy cảnh nghèo khổ của người dân da đen ở New Orleans là như thế nào.  Có ai đưa ra sự khác biệt giữa giới tư bản ở New York và cảnh nghèo đứt ruột ở New Orleans ra mà kể tội Nhà Nước Mỹ không??  Vậy câu ông viết ở trên chẳng có nghĩa lý gì, vì trong xã hội nào cũng có sự cách biệt giàu nghèo, cũng có bất công, cũng có tham nhũng.

Đây là những thực tế xã hội chứ không phải là tôi muốn bênh vực, tán thành hay chấp nhận sự cách biệt giàu nghèo quá đáng, hay sự bất công, hay sự tham nhũng trong xã hội.  Ông đưa ra một khía cạnh xã hội để phản bác câu của ông Nguyễn Hòa nhưng điều này lại chứng tỏ trình độ thấp kém của ông trong lãnh vực đối thoại hay phê bình.  Thật vậy, ông không thể phản bác câu "Đất nước mình đã khác nhiều lắm" của ông Nguyễn Hòa bằng những chuyện lặt vặt như bất công, tham nhũng [tuy tham nhũng đang là một quốc nạn], đĩ điếm, cần sa ma túy v..v.. mà phải nhìn vào những vấn đề rộng lớn có ảnh hưởng đến toàn thể xã hội như đời sống của người dân ngày nay có hơn trước không, có tự do hơn trước không, kinh tế có phát triển hơn trước không, đường xá có mở mang hơn trước không, nền giáo dục có khá hơn trước không, tôn giáo có tự do hơn trước không, so với năm 1975 ra sao, và so với cả thời VNCH ở miền Nam trước 1975 v..v.. Còn vấn đề khác đã đủ chưa và có cần khác hơn nữa không lại là vấn đề khác.

Để cho ông Đạo thấy ông đã chống Cộng dở ẹt như thế nào khi ông đưa ra vài tệ đoan xã hội để lên án chính quyền Việt Nam, tôi cho ông vài con số thống kê về những tệ đoan xã hội trên đất Mỹ, những tệ đoan chiếm giải quán quân trên thế giới, nhưng không có một người nào lại đần độn đến độ quy kết đó là trách nhiệm của chính quyền hay đó là đường lối chủ trương của chính quyền:

-          Thống kê năm 2000:  14 triệu người tuổi từ 12 trở lên dùng ma túy (6.3% dân số).

-          Năm 2001: 15.980 vụ giết người, 90.491 vụ hiếp dâm.   Cứ 2 phút lại có một người bị hiếp (tài liệu của bộ Tư Pháp)

-          Trên 1 triệu gái mãi dâm hành nghề trên đường phố, nhà tắm hơi (sauna), phòng tẩm quất (massage parlor) và qua điện thoại, trong đó có 300.000 vị thành niên.  Thành phố New York tốn $43 triệu mỗi năm để kiểm soát các vấn đề liên quan đến mãi dâm.

-          14.000.000 người nghiện rượu.

-          Có 2.200.000 tù nhân Mỹ đang ngồi tù.  Cả thế giới có 9.000.000 người đang ngồi tù, Mỹ chiếm 22% trong khi tỷ lệ dân số của Mỹ trên thế giới chỉ có 5%.

-          Ở Trung Quốc thì cứ trong 100.000 người có 111 người ngồi tù, ở Mỹ là 686 người, gấp hơn 6 lần trong khi dân số Mỹ chỉ bằng 24% dân số Trung Quốc.

-          Hơn 50% các cặp vợ chồng do Chúa kết hợp đi đến ly dị.

-          Từ 4% đến 10% dân chúng đồng tính luyến ái.

-          Mấy ngàn linh mục Công Giáo bị truy tố về tội cưỡng dâm trẻ em phụ tế và nữ tín đồ.

Tại sao trong nước Mỹ, một nước được coi là dân chủ tự do, luật pháp nghiêm minh, văn minh tiến bộ nhất thế giới, mà các tệ đoan xã hội lại đứng hạng đầu thế giới như vậy?  Chính vì nền tư bản rừng rú, tự do cá nhân quá mức, tôn thờ chủ nghĩa tiêu thụ vật chất, đạo đức xã hội suy sụp v..v.. đều không kiểm soát được đã quật ngược lại xã hội đã tạo ra chúng. Nhà nước Việt Nam không nên chỉ tập trung vào cơn sốt phát triển kinh tế bừa bãi mà bỏ quên những lãnh vực như giáo dục, luân lý gia đình, đạo đức xã hội v.. v... 

Chúng ta hãy đọc một câu khác của ông Trần Trung Đạo để thấy rõ sự hiểu biết của ông ta về kết quả cuộc chiến như thế nào:

Tôi đã gặp các vị đó [những người lãnh đạo các đảng phái không cộng sản, nhưng không hề kể rõ họ là ai], đã lắng nghe họ trang trải nỗi lòng, đã đọc sách vở của họ [sách nào, của ai, có giá trị gì không?], qua đó, tôi hiểu tại sao họ không thắng được cộng sản. Anh biết tại sao không? Họ nhân hậu quá, họ yêu nước chân thành quá, họ Việt Nam quá. Muốn chiến thắng cộng sản họ phải giết chết cái Việt Nam tính trong con người họ. Họ đã không làm được điều đó, và kết quả, họ thua.

Ông Đạo viết cho ai đọc đây?  Họ thua vì họ không giết chết cái Việt Nam tính trong con người họ??  Nhưng cái Việt Nam tính là như thế nào??  Là phải hi sinh cho nền độc lập và thống nhất quốc gia , hay là phải cúi đầu trước các thế lực thực dân?  Và “những người lãnh đạo các đảng phái không cộng sản” là những ai, có những uy tín gì, quy tụ được quần chúng đứng sau lưng không, có bao nhiêu hậu thuẫn từ mọi tầng lớp trong xã hội, và đã có những thành tích gì trong việc chống Pháp, mưu cầu độc lập và thống nhất nước nhà?  Ngô Đình Diệm?   Ngô Đình Thục?  Ngô Đình Nhu?  Hay Nguyễn Văn Thiệu?  Trần Văn Hương?   Tôi vẫn thường thắc mắc:

“Miền Nam có hơn một triệu quân, một thời cộng với hơn nửa triệu quân Mỹ, với đầy đủ vũ khí, đạn dược, và có ưu thế tuyệt đối về máy bay, xe tăng, tàu chiến, B52, và cả thuốc khai quang Agent Orange để cho Việt Cộng không còn chỗ ẩn núp v..v.. nhưng tại sao vẫn không thắng nổi đối phương để rồi Mỹ phải tìm cách Việt Nam hóa cuộc chiến, rồi “tháo chạy” [từ của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng], và cuối cùng Việt Cộng vẫn “cưỡng chiếm” được miền Nam?  Vậy ngoài yếu tố quân sự, những yếu tố nào đã quyết định cuộc chiến?  Phải chăng là lòng yêu nước?  Chính Nghĩa?  Hợp với lòng dân và được dân ủng hộ?  Ý chí chiến đấu của binh sĩ?  Khả năng chỉ huy của các cấp lãnh đạo?  Và còn gì nữa?” 

Hay là còn thiếu một yếu tố là phải “giết chết Việt Nam tính” trong lòng yêu nước?   Thế mà cũng viết với lách, thơ với thẩn. Ông Đạo chống Cộng như vậy cũng chẳng lấy gì làm lạ vì ông ấy đang Theo bước chân người linh mục cho nên cũng phải vậy thôi [Xin đọc bài của Hoài Vy về Trần Trung Đạo trên trang nhà Giao Điểm, tháng 8 & 9].  Tôi nghĩ rằng tôi không nên tốn thêm thì giờ nữa với một người như Trần Trung Đạo.

Để kết thúc phần Nhập Đề này, tôi nghĩ cũng nên đưa lên vài quan điểm của giới trẻ, những người không liên hệ trực tiếp vào cuộc chiến ở Việt Nam, lấy trên diễn đàn Talawas.  Họ có cái gì để cho chúng ta học không?  Nhiều lắm.  Và chúng ta có cảm thấy xấu hổ đối với họ hay không?

Của Đoàn, Hà Nội:


Chiến tranh đã qua ba mươi năm rồi mà người Việt chúng ta vẫn còn chia rẽ đến thế này đây. Tôi là một người Việt trẻ, sinh ra sau năm 1975, trưởng thành sau năm 1986 (không còn nhiều ấn tượng về thời bao cấp đen tối). Đối với thanh niên Việt nam trong nước bây giờ, vấn đề quan trọng nhất là làm giàu, không phải là "cộng sản" hay "tư bản". Chúng tôi bây giờ đều có tư tưởng hướng về tương lai. Chúng tôi không trải qua thời chiến tranh, nên trong chúng tôi không có thù hận. Chúng tôi cũng không được dạy để thù hận những người Việt đã tham gia cuộc chiến ở phía bên kia (tạm gọi thế, vì bây giờ không còn "bên" nữa). Quá khứ đã qua rồi, hãy chấp nhận nó như nó đã xảy ra. Đó là suy nghĩ của tôi cũng như các bạn của tôi.... Chiến tranh Việt nam ư? Thế cuộc chiến Việt-Pháp 1946-1954 gọi là gì? sao không gọi là Chiến tranh Việt nam? Thế Trịnh nguyễn phân tranh gọi là gì? Cũng là chiến tranh Việt nam. Ba lần kháng chiến chống quân Nguyên cũng xảy ra trên đất Việt đấy thôi. Từ 1954-1975 gọi là gì? Chiến tranh Việt nam ư? Thế nửa triệu quân Mỹ từng có mặt ở Việt nam trong thời gian đó thì sao? Họ đánh nhau với ai? Sao không có tên họ trong cuộc chiến? Miền Nam hay Miền Bắc cũng đều là đất đai của người Việt cả. Sắp đến ngày 30/4 rồi, tôi càng ngày càng thấy biết ơn những người đã đổ máu để cho tôi bây giờ được "vào nam ra bắc" tự do. Xem phim Hàn, tôi lại nhớ đến những người đã chết để cho người Việt được thống nhất, không rơi vào cảnh phân chia như người Triều Tiên. "Việt nam ơi, bừng cơn mơ, cho mắt nhìn sạch tan căm thù". Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã hát như vậy. Tôi mong rằng cơn mơ này, dù là ác mộng hay say sưa trong men say chiến thắng, cũng sớm tan đi, để chúng ta cùng góp "Bàn tay giúp nước, bàn tay kiến thiết, những dấu căm hờn xưa nhạt mờ".

 

Của Vũ Sinh, Hà Nội:

 

Ba mươi năm cuộc chiến cũng là 1/3 cuộc đời vậy mà tranh luận vẫn không ngừng. Nhưng có một điều về cuộc chiến là trường tồn đó là: Lòng dũng cảm, đức hy sinh của người Việt Nam, là sự khốc liệt đến phi nhân tính của cuộc chiến.  Nếu bạn đã xem TV phim tài liệu Hồ sơ chiến tranh: Bí mật cuộc chiến, bạn sẽ thấy minh chứng cho điều này, đó là: Tại mảnh đất này, vũ lực đàn áp đồng nghĩa với thất bại thảm hại... Người VN có thể không đồng quan điểm, nhưng ngoại bang sẽ không bao giờ chiếm được mảnh đất này.

 

Của Duy, Quy Nhơn:


Theo tôi, tại sao bây giờ lại đặt ra vấn đề thay đổi tên gọi làm gì, phải chăng quý đài có ý gì khác, bây giờ cho tôi hỏi: Tại các nước Châu Phi đang đói kém, nạn xung đột sắc tộc, li khai diễn ra hàng ngày, nhân quyền ở đây coi như "xấp xỉ bằng không" tại sao Mỹ không can thiệp? Tại sao Mỹ cứ nhằm vào Iraq hay Cuba, Bắc Triều Tiên, Trung Quốc, Việt Nam? Phải chăng đây là những khu vực chiến lược, để Mỹ làm bá chủ toàn cầu? Thái độ tự coi mình là nước đàn anh, áp đặt các nước phải theo mình?  Tôi khẳng định rằng phía sau chiêu bài "nhân quyền, dân chủ" là cái cớ để gây mất trật tự an ninh các quốc gia khác. Mỹ nên lưu ý: tất cả các nước sẽ tiêu diệt ý đồ ngông cuồng đó của Mỹ. Tôi tin rằng ở Mỹ rất tự do, tự do một cách bệnh hoạn, con cái hỗn láo với bố mẹ, trẻ em cầm súng bắn thầy cô, ai cũng có thể sử dụng súng... đó là kiểu tự do gì vậy? Người Mỹ nên thay đổi quan điểm và nên biết điều hơn để cho thế giới này bình yên, nếu không Mỹ sẽ không thể nào tránh khỏi làn sóng chống Mỹ trên toàn thế giới đi đầu là Nga và Trung Quốc. Nếu có thể cho tôi phát động một cuộc chiến tôi sẽ phát động cuộc chiến: " Chống thói ngông cuồng của Mỹ" dạy cho Mỹ một bài học để Mỹ hiểu thế nào là " Tự do, bình đẳng".  [Ông bạn ở Quy Nhơn lại biết Mỹ rõ hơn những người ở Mỹ]

 

Của Nguyễn Nam, Cincinnati, Hoa Kỳ:

 

Qua ý kiến các bạn về cuộc chiến VN gửi đến diễn đàn này của đài BBC, tôi thấy có lẽ mong muốn đoàn kết dân tộc của chúng ta sẽ còn rất lâu mới thực hiện được. Đầu tiên từ "đoàn kết" có nghĩa là tất cả mọi thành viên trong một tập hợp đều có chung một mục đích và thống nhất với nhau về cách hành động để đạt mục đích đó. Rất tiếc điều đó đã không diễn ra trên forum này và theo hiểu biết của tôi, nó cũng không diễn ra ngoài thực tế xã hội.

Những người theo tư tuởng Cộng Sản kêu gọi xoá bỏ hận thù để đoàn kết dân tộc nhưng vẫn giữ quan điểm về cách nhìn nhận cuộc chiến và ý thức hệ như là 30 năm về trước, khi mà lòng hận thù đố kỵ lên đến cực điểm. Như vậy thử hỏi phía bên kia có thể nào đứng về phía các bạn.

Còn những người theo chủ nghĩa Quốc Gia lại chỉ toàn đem những mặt không hoàn thiện của chính quyền hiện tại ra để chê bai. (Chính các bạn cũng biết trước 75 cũng có tham nhũng, tệ nạn). Các bạn có nghĩ người hàng xóm bị các bạn xỉ vả cả ngày sẽ đối đãi tốt với mình?

Theo ý kiến chủ quan của tôi, sự đoàn kết sẽ được hình thành khi mỗi bên phải thay đổi quan điểm của mình để đến gần hơn mục tiêu chung là xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh.

 

Của Le Hoang Nguyen, Brussels, Bỉ:

 

Vóc dáng của dân tộc Việt Nam nhỏ bé từ ngàn đời nay, nhưng sức mạnh của dân tộc Việt Nam không ở vóc dáng mà là ở trong sự sống mãnh liệt trước bao mưu toan đồng hóa, xâm lược. Hơn bất cứ một dân tộc nào trên thế giới, chúng ta, những người Việt Nam hiểu rõ ràng thế nào là xâm lược và đứng lên chống quân xâm lược. Tôi đã đọc hết bài viết của ông Khoa và các ý kiến của quý vị. Tôi không thể hiểu được các vị gọi phát súng đầu tiên của người Pháp và đến khi người Pháp cuối cùng rời khỏi Việt Nam là gì? Cũng như sự hiện diện 500000 lính Mỹ ở miền Nam Việt Nam, sự tàn phá của bom, đạn Mỹ trên đất nước của người Việt Nam là gì? Và nếu người Việt Nam mang súng đạn sang Pháp, sang Mỹ thì người dân các nước ấy sẽ gọi là gì? Tất cả chỉ có duy nhất là xâm lược! và các cuộc chiến tranh đó chỉ có duy nhất là chống xâm lược. Hơn tất cả các âm mưu, toan tính của các nước lớn, các chủ nghĩa cao siêu.

Khát vọng giành độc lập của dân tộc Việt Nam đã vượt qua mất mát xương máu, sự tàn phá của chiến tranh. Hàng ngàn năm rồi chúng ta vẫn đứng lên thế và sẽ tồn tại kiên trường như thế! Còn quan hệ của người Việt với người Việt trong chiến tranh, tôi cho rằng lịch sử của dân tộc sẽ công bằng đánh giá ...Nhưng tôi tin rằng hiện nay chúng ta, những người Việt Nam sinh ra sau chiến tranh, đã nhìn thấy sự mất mát, tụt hậu của đất nước. Lương tri của dân tộc Việt Nam sẽ mách bảo chúng ta tìm đến, đoàn kết cùng nhau xây dựng đất nước, cùng nhau mang đến một xã hội phát triển với đậm nét truyền thống Việt Nam.

Của Long, Hà Nội:

Cháu là một người Việt sinh ra sau cuộc chiến, quan tâm đến sự hưng thịnh của dân tộc VN. Đã quá nhiều tư tưởng, ý kiến chống đối nhau, mà người ta quên rằng một nửa dân số VN bây giờ sinh ra sau 1975. Chúng cháu không muốn thấy hận thù anh em. 30 năm trôi qua, có thể chưa đủ để mọi vết thương lành vết, nhưng cũng là lúc mọi người hi vọng là sẽ xếp lại quá khứ, hướng tới tương lai. Hãy làm điều đó vì thế hệ trẻ chúng cháu.

Đến đây chấm dứt phần Nhập Đề.

*

(mời đọc tiếp đoạn 2)

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com