1005-gd.gif (6609 bytes)
posted: 01.10.2005
Trn
Chung
Ngc
(tiếp theo)
Vào Đề:
Tản Mạn Xung Quanh Cuộc Chiến Ở Việt Nam.
[Chiến Tranh Nhìn Từ Một Phía:  Phía Của Không Phía]

Điểm qua cuộc tranh luận về “Gọi tên gì cho cuộc chiến” ở trên, tôi rất lấy làm lạ là tất cả những người tham dự chỉ bàn đến một yếu tố: chủ thuyết chính trị, lý tưởng thế tục (political, secular ideology) trong cuộc chiến, trong khi thực chất của cuộc chiến 20 năm hậu-Genève, 1955-1975, chính là do sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam với sự hội tụ của ba yếu tố: kinh tế (economics), thần học Ki-tô Giáo (Christian theology), và chính trị.  Ngoài ra, khi viết về cuộc chiến ở Việt Nam mà không xét đến nguồn gốc quan trọng nhất trong sự tham chiến của Mỹ vào Việt Nam là nền văn hóa Mỹ thì thật quả là một thiếu sót.  Tôi hi vọng phần sau đây, dù chỉ là sơ lược vì không có cách nào có thể viết đầy đủ về cuộc chiến ở Việt Nam trong vòng một bài viết ngắn ngủi, có thể bổ túc phần nào, dù ít ỏi, cho những sự thiếu sót trên.  Vì không thể viết hết về cuộc chiến nên tôi xin tự giới hạn vào ba chủ đề trong cuộc tranh luận trên trang nhà TALAWAS, và ngay cả về ba chủ đề này tôi cũng không có cách nào viết ra đầy đủ chi tiết vì chúng sẽ họp lại thành một cuốn sách dày ít ra là vài trăm trang..

-          Tại sao chính quyền Mỹ lâm chiến ở Việt Nam sau khi hiệp định Genève được ký kết, chia đôi đất nước? (Tiêu Dao Bảo Cự) tính chấp pháp lý của cuộc can thiệp của  Mỹ vào Việt Nam.

-          Những nguyên nhân nào đã đưa đến cuộc chiến ở Việt Nam

-          Cuộc chiến ở Việt Nam có phải là nội chiến hay là một chiến tranh ủy nhiệm hay không?

Những ý kiến sau đây về cuộc chiến ở Việt Nam chỉ là sơ lược một số điểm trong những tài liệu trong trên 100 cuốn sách viết về Việt Nam mà tôi đã đọc.  Điều này không có nghĩa là tôi muốn khoe là đã đọc nhiều sách.  Được đào tạo trong ngành khoa học nên tôi nằm lòng câu: “tận tín thư bất như vô thư”, dịch thoát là “Tin tất cả vào một cuốn sách thì thà chẳng đọc sách”.  Do đó phương pháp làm việc của tôi là, bất cứ về một vấn đề nào, tôi cũng tìm đọc càng nhiều sách càng tốt, và rút tỉa từ những cuốn sách đó một mẫu số chung.  Tôi tin rằng với phương pháp làm việc này, tôi không đến nỗi vấp phạm phải những sai lầm trầm trọng trong việc khảo luận.  Tôi cũng ý thức được rằng tôi không tránh được sự chủ quan khi viết về những vấn đề lịch sử.  Như Gaetano Salvemini đã nhận định:  “Người viết sử nào mà nghĩ rằng mình hoàn toàn khách quan thì bị mắc cái bệnh mặc cảm của Thượng đế” (Any historian who thinks he is fully objective suffers from a God-complex).  Tuy vậy, tôi luôn luôn cố gắng trình bày vấn đề qua sự tổng hợp một số tài liệu, hi vọng có thể giảm thiểu tính cách chủ quan của tôi.

Ông Nguyễn Hòa viết:  “Thiển nghĩ, người Mỹ nghiên cứu cuộc chiến tranh ở Việt Nam trước đây nhằm phục vụ cho mục đích của họ”.  Không hẳn vậy, đây chỉ là một thiểu số người Mỹ không đáng kể.  Giới trí thức Mỹ không lệ thuộc chính quyền, và những công cuộc nghiên cứu của họ về chiến tranh Việt Nam rất nghiêm chỉnh trong lãnh vực học thuật, một lãnh vực đặt sự lương thiện trí thức lên hàng đầu vì nó liên hệ đến uy tín cá nhân trong giới trí thức khoa bảng.  Những tài liệu tôi dùng sau đây sẽ chứng minh điều này.

Cuộc chiến ở Việt Nam đã chấm dứt trên 30 năm rồi, nhưng “Hội chứng Việt Nam” (The Vietnam Syndrome) vẫn còn tiếp tục ray rứt cho đến ngày nay với người Mỹ [số cựu quân nhân Mỹ tự tử đã lên tới số tử vong ở Việt Nam, cả triệu cựu quân nhân bị nhiễm độc Agent Orange, khoảng 30000 cựu quân nhân đang ngồi tù] và lẽ dĩ nhiên, với người Việt, ở trong nước cũng như ở hải ngoại.  Tôi là một người Mỹ gốc Việt từ trên 25 năm nay, là một cựu quân nhân trong quân lực VNCH trên 8 năm, là người đã từng phục vụ nhiều năm trong ngành giáo dục Nam Việt Nam trước đây, tôi nghĩ tôi cũng muốn bày tỏ vài ý kiến, rất có thể thuộc loại “lội ngược dòng” ở hải ngoại, về cuộc chiến trên. Bất cứ người nào cũng có quyền bất đồng ý kiến với tôi, nhưng tôi mong rằng đừng có ai có ý định tước bỏ quyền bày tỏ ý kiến của tôi bằng bất cứ thủ đoạn nào khác thí dụ như chụp mũ, mạ lỵ v..v... ngoài phê bình trí thức, đứng đắn, những luận điểm trong bài,

Trước hết, tôi nghĩ cũng nên đưa ra những tổn thất sau đây, những con số về số người Việt Nam tử vong không chắc đã là chính xác, theo tài liệu trong cuốn The Vietnam War Almanac, General Editor: John S. Bowman, Barnes & Noble, Inc., New York, 2005, trang 358, để cho chúng ta có thể nghĩ lại và hiểu rõ hơn bộ mặt thật của cuộc chiến:

-          Mỹ:  Chết 57702; bị thương 313616, cộng với hơn 1000 chết không phải do chiến trận.

-          Nam Việt Nam:   Chết 185528; bị thương 499026.

-          Bắc Việt:   Chết 924048; số bị thương ước tính ít nhất gấp đôi.

-          Cả hai miền:  415000 thường dân chết; 936000 bị thương.

-          Nam Hàn:  Chết 1107.

-          Thái Lan:   Chết 350.

-          Úc và New Zealand: Chết 475.

-          8 triệu tấn bom đã thả xuống Việt Nam, Cambod, và Lào (vào khoảng gấp hơn 2 lần tấn bom mọi phe dùng trong đệ nhị Thế Chiến.)

-          Viện trợ của Nga Sô Viết và Trung Cộng cho Bắc Việt ước tính khoảng 3 tỷ Mỹ Kim.

-          Mỹ đã tiêu ở Việt Nam khoảng 300 tỷ Mỹ Kim (viện trợ và quân phí).

Ngoài ra, Mỹ cũng đã trải trên đất nước Việt Nam 76.954.806 lít hóa chất trong đó có 49.268.937 lít chất độc màu da cam (Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam Và Cuộc Chiến Việt Nam, Giao Điểm 2005, trang 52).  Tác hại lâu dài của các loại hóa chất, nhất là chất độc Da Cam, trên môi sinh và con người Việt Nam là một sự kiện không ai có thể phủ nhận.  Mỹ đã bỏ ra $180 triệu để bồi thường cho các cựu quân nhân Mỹ bị nhiễm ảnh hưởng của chất độc Da Cam nhưng từ chối trách nhiệm, không hề có ý định bồi thường cho người dân Việt Nam, biết rằng mức độ tác hại của chất độc Da Cam trên con người Việt Nam ở mức độ nặng và nhiều hơn nhiều so với các cựu quân nhân Mỹ.   Tổng Thống Jimmy Carter của Mỹ trước đây đã tuyên bố: “Chúng ta không nợ Việt Nam cái gì cả, sự tàn phá là cho cả 2 bên” (The destruction is mutual).  Trước những con số tổn thất trên, và trước thái độ của Mỹ đối với Việt Nam sau cuộc chiến, ai là người có thể biện minh cho cuộc chiến chống Cộng của Mỹ ở Việt Nam là đúng, xin lên tiếng.

Nhìn lại cuộc chiến mà kết quả là trên dưới 3 triệu người chết trong đó có vô số người dân vô tội, thuộc đủ mọi lớp tuổi; đất nước tan hoang vì bom đạn; cây cỏ mùa màng và con người cho tới ngày nay còn chịu ảnh hưởng của chất độc da cam; khoảng 2 triệu người bỏ nước ra đi, có người mừng vì được dịp từ bỏ gốc gác Việt Nam, không dám nhận mình là người Việt Nam, tự cho mình đã trở thành văn minh trong thế giới văn minh, có người tủi vì phải xa quê hương mà không có chọn lựa nào khác v..v.., tôi cảm thấy khó hiểu khi trong thời buổi này mà người Việt chúng ta còn tranh cãi về vấn đề gọi tên cho cuộc chiến 30 năm trước, hay đặt vấn đề ai thắng ai bại. 

Đặt tên cho cuộc chiến, hay biện luận về ai thắng ai bại trong cuộc chiến, tôi cho đó là những chuyện làm vô ích, nếu không muốn nói là phí thì giờ.   Vì gọi tên cuộc chiến như thế nào là tùy thuộc người gọi ở phía nào, và kết cục của cuộc chiến đã quá rõ ràng, nếu chúng ta muốn phân định rõ vấn đề thắng bại. Tôi cũng có quan điểm là trong cuộc chiến Việt Nam, cũng như trong bất cứ cuộc chiến nào khác giữa hai phe, cả hai phe đều thua, tất nhiên không phải thua theo cái nghĩa của giáo sư Lê Xuân Khoa: “thực tế là một cuộc nội chiến vì ý thức hệ và cũng là một cuộc chiến tranh ủy nhiệm giữa các đại cường mà rốt cuộc là tất cả mọi phe đều thua.” bởi vì đó không phải là thực tế. Cuộc chiến ở Việt Nam không phải là một trận túc cầu, không phải là một cuộc đấu quần vợt v..v.. mà có một bên thắng bên thua.  Nó là một cuộc chiến với cái giá của nhiều triệu sinh mạng chưa kể đến những sự tổn thất khổng lồ về vật chất. Xin đừng cho tôi là phủ nhận công lao của các chiến sĩ tranh đấu cho nền độc lập thống nhất của nước nhà.  Cũng đừng cho tôi là phản bội lý tưởng quốc gia.  Nhưng ai thắng ai bại?  “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”. Ý nghĩa chữ “thua” của tôi nằm trong điểm này. Cho nên, chúng ta nên nghe lời khuyên của anh bạn trẻ: Quá khứ đã qua rồi, hãy chấp nhận nó như nó đã xảy ra.

Cuộc chiến 30 năm ở Việt Nam, từ 1945 đến 1975, gồm 2 giai đoạn với 2 sắc thái khác nhau: trước và sau Hiệp Định Genève.  Nhìn lại 2 giai đoạn của cuộc chiến này, tôi không thể nghĩ khác hơn là giai đoạn sau Hiệp Định Genève, theo quan điểm của đa số người Việt Nam, chỉ là sự tiếp nối của một sứ mạng dang dở của giai đoạn trước: giành độc lập và thống nhất đất nước. Người dân Việt Nam nói chung có thể bất mãn về chế độ này hay chế độ kia, nhưng người dân Việt Nam trong suốt giòng lịch sử, bao giờ cũng trân quý nền độc lập và thống nhất quốc gia, và đã đổ biết bao xương máu để gìn giữ mạch sống này của quốc gia, trừ những kẻ thuộc loại như Nguyễn Chí Thiện với câu thơ “Nay người dân luyến tiếc (thằng Tây) vô chừng”, hay Linh mục Hoàng Quỳnh với câu nói lưu xú vạn niên “Thà mất nước chứ không thà mất Chúa”, hay Nguyễn Gia Kiểng, đòi “Tổ Quốc phải ăn năn và phải theo văn hóa Tây phương”, hay Võ Văn Ái với câu Nghị  định 31/C ... biến miền Nam cũ thành một Nhà tù lớn”  v..v.. và v..v..

Nếu chúng ta thuộc khối tuyệt đại đa số người Việt Nam yêu nước, trân quý nền độc lập và thống nhất của nước nhà thì, theo tôi nghĩ, cuộc chiến trong 30 năm, từ 1945 đến 1975, không thể có tên nào khác ngoài cái tên “Một [trong nhiều] Cuộc Chiến để giành độc lập và thống nhất đất nước”, theo đúng tinh thần Điều 3, Chương I, trong bản Hiến Pháp đầu tiên của Việt Nam năm 1945: “Đất nước Việt Nam là một khối Trung-Nam-Bắc thống nhất không thể phân chia.”.  Tên này  thích hợp nhất và gắn liền với lịch sử chống ngoại xâm để giành độc lập và thống nhất đất nước của Việt Nam. Những người Quốc Gia chân chính không thuộc những đoàn thể, thế lực phi dân tộc, dù thất vọng về kết cục của cuộc chiến, dù thất bại trong việc mưu đồ cho đất nước Việt Nam một chế độ khác với chế độ Cộng Sản, cũng không thể phủ nhận được sự kiện này.  Sau cuộc chiến, Việt Nam đã là một nước độc lập và thống nhất. Còn giành độc lập như thế nào, thống nhất theo đường lối nào, Việt Nam hậu chiến ra sao, đó lại là vấn đề khác. Bàn về những vấn đề này, chúng ta đã đi vào lãnh vực phân tích đường lối đấu tranh, mục đích đấu tranh, phương tiện đấu tranh, hậu quả của cuộc chiến trên xã hội v..v.. chứ không phải là đặt tên cho cuộc chiến.

Người Mỹ gọi cuộc chiến đó là “Chiến Tranh Việt Nam” (Vietnam War) giống như trước đây họ đã gọi cuộc chiến ở Triều Tiên là “Chiến Tranh Triều Tiên” (Korean War). Một số nước khác gọi đó là cuộc “chiến tranh Đông Dương” vì nó không chỉ giới hạn ở Việt Nam.  Một số người Việt hải ngoại, hay một số người Việt trong nước, muốn đặt tên cho cuộc chiến đó như thế nào, chống Cộng hay chống Mỹ, là quyền của họ, tôi tôn trọng quyền này và không có ý kiến.

Nhìn vào kết quả của cuộc chiến dài 30 năm là đất nước không còn bóng quân đội ngoại quốc, và tuyệt đại đa số người dân Việt Nam không còn là nô lệ của thực dân, thực dân trên mọi hình thức, thực dân kinh tế, thực dân văn hóa, thực dân tôn giáo v..v..., tôi nghĩ rằng đây là sự khao khát của tuyệt đại đa số người  dân Việt Nam, những người không thuộc hàng ngũ của những thế lực phi dân tộc và tất nhiên phản dân tộc. Không còn là nô lệ không có nghĩa là không còn chịu ảnh hưởng.  Tôi không loại trừ sự kiện là ở trong nước có một số người không nhỏ đang sống với tâm cảnh vọng ngoại: cái gì của Mỹ cũng hay, hay “Tòa Thánh có đánh rắm cũng khen thơm”.  Họ chỉ nhìn thấy bề ngoài và không hề nhìn sâu vào thực chất của những thế lực đế quốc thực dân kinh tế cũng như tôn giáo.  Tôi cũng không loại bỏ sự kiện là ở hải ngoại có một số người không nhỏ nhìn cái gì ở Việt Nam cũng xấu, họ không nhìn sâu vào thực tại xã hội Việt Nam, và nhất là không bao giờ muốn thử “sờ tay lên gáy xem xa hay gần”

Tôi là người đã “chạy CS” từ Bắc vào Nam năm 1954, và từ Nam sang Mỹ năm 1975.   Hiện nay, tôi không còn bố mẹ hay anh chị em ruột thịt (immediate relative) nào còn lại ở Việt Nam ngoài một số nhỏ họ hàng. Tôi đã chọn Mỹ là quê hương thứ hai và không có ý định trở về sống ở Việt Nam.  Tôi vẫn cho rằng quyết định rời bỏ quê hương của tôi năm 1975 là đúng, cho chính tôi và cho gia đình tôi.  Như vậy, nói thẳng ra là, mọi sự việc xảy ra trên đất Việt, xấu hay tốt, bây giờ hay trong tương lai, đều không có ảnh hưởng gì tới cuộc sống hay tương lai của gia đình tôi.  Nhưng không phải vì vậy mà tôi đã không còn bất cứ một ràng buộc nào với Việt Nam.  Mồ mả ông cha, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi trưởng thành v..v.., không phải là những thứ có thể đoạn tuyệt dù ngày nay chúng không có bất cứ một ảnh hưởng trực tiếp nào đối với cuộc sống của tôi trên đất Mỹ.  Nhưng nền văn hóa Việt Nam, lịch sử Việt Nam, tình người Việt Nam v..v.. đã ăn sâu trong tim, trong óc, cho nên, tuy từ 25 năm nay tôi đã là công dân của nước Mỹ nhưng tôi vẫn còn nhiều chất Việt Nam hơn Mỹ.  Dòng máu Việt Nam vẫn tiếp tục lưu chuyển trong huyết mạch, xa mặt nhưng chẳng cách lòng, tôi luôn luôn mong ước những gì tốt đẹp nhất cho Việt Nam.  Đó là lý do tại sao tôi bao lâu nay tôi cứ hay viết về Việt Nam.

Điều này không có nghĩa là tôi ghét Mỹ vì trong hơn 5 năm học ở đại học Mỹ trước 1975, cộng với hơn 30 năm sống trên đất Mỹ sau 1975, tôi đã   tiếp xúc với rất nhiều người Mỹ, từ những người dân thường cho đến các sinh viên cao học, giáo sư đại học cùng  các chuyên gia trong nghề khi tôi gặp ở các hội nghị khoa học quốc tế hội thảo về ngành chuyên môn của tôi.  Người Mỹ có rất nhiều cái đáng cho chúng ta học hỏi, nhưng vấn đề là biết đánh giá đúng những gì thật sự đáng và những gì không đáng.  Người Việt Nam không nên để tự mình đánh mất mình trong những hành động bắt chước dỏm, lố lăng, mà phải học hỏi cách làm việc của người Mỹ, cũng như tinh thần phục vụ tận tâm, nhã nhặn đối với người dân trong mọi dịch vụ liên hệ đến các cơ quan công quyền, cơ quan xã hội, kinh tế, giáo dục, thương trường v..v... Theo sở thích cá nhân, ta có thể uống trà Lipton hay uống trà với sữa, nhưng đừng cho đó là sang như Mỹ, như Anh, vì theo quan niệm về uống trà của Á Đông, đó chỉ là “ngưu ẩm”.  Cũng vậy, mặc áo đầm xum xoe làm lễ cưới ở nhà thờ cũng chẳng có ai cấm, nhưng đó không có nghĩa là văn minh tiến bộ, được Chúa kết hợp (hơn 50% cặp vợ chồng ở Mỹ ly dị sau khi được Chúa kết hợp) mà chỉ là bắt quàng làm sang dỏm. Ở hải ngoại, phần lớn trong các đám cưới, cô dâu đều mặc áo dài, khăn đóng, giữ được phần nào truyền thống và sự duyên dáng của cái áo dài Việt Nam mà cả thế giới đều khen ngợi..

Học hỏi những cái hay cái giỏi của ngoại quốc để biến chế, áp dụng một cách thông minh vào hoàn cảnh chính trị, xã hội, kinh tế đất nước là một điều rất đáng được khuyến khích và cần phải làm.  Trong thời đại ngày nay, Việt Nam không còn chọn lựa nào khác ngoài việc đi theo con đường hiện đại hóa, kỹ thuật hóa, vì chỉ có những kiến thức cập nhật hóa mới có thể làm cho Việt Nam trở thành dân giàu nước mạnh, một căn bản vững chắc để giữ nước và xây dựng nước.  Nhưng hiện đại hóa và kỹ thuật hóa không có nghĩa là Âu Mỹ hóa, mang nếp sống nô lệ vật chất cá nhân của Mỹ, Ki Tô Giáo của Âu Mỹ, và ngay cả quan niệm về dân chủ, nhân quyền, và tự do của Âu Mỹ, về cấy trên đồng ruộng, làng xóm Việt Nam, hay gài chúng vào trong những bộ máy sản xuất trong những cơ xưởng của Việt Nam.  Chúng là những tế bào ung thư, có tác dụng lan rộng và hủy hoại toàn thể đất nước.

Phần phân tích sau đây không phải là để tranh luận về vấn đề đặt tên cho cuộc chiến hay ai thắng ai bại mà là chỉ là vài ý kiến “Tản mạn xung quanh cuộc chiến 30 năm ở Việt Nam trước đây”.

1.      Tiêu Dao Bảo Cự: Tại sao chính quyền Mỹ lâm chiến ở Việt Nam sau khi hiệp định Genève được ký kết, chia đôi đất nước?

Với những kinh nghiệm và hiểu biết của tôi trong nhiều năm phục vụ miền Nam, trừ trên 8 năm trong quân ngũ, còn phần lớn là trong ngành giáo dục, cộng với những tài liệu tôi đọc về cuộc chiến ở Việt Nam trong trên 100 cuốn sách của các học giả, giáo sư đại học, chính trị gia, cựu bộ trưởng, tướng lãnh, lãnh đạo tôn giáo, phóng viên, ký giả, luật sư v..v.. thuộc các nước Anh, Mỹ, Pháp, Úc, phần lớn viết sau năm 1975, cái nhìn của tôi về cuộc chiến có nhiều phần thay đổi.  Qua những tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh của các học giả trên về cuộc chiến ở Việt Nam, về những gì mà người Mỹ đã làm ở Việt Nam, dưới danh nghĩa giúp Nam Việt Nam chống Cộng, đã làm tôi suy nghĩ không ít và không khỏi không đặt lại vài vấn đề: “Có thật là Mỹ thương Việt Nam, muốn giúp Việt Nam?”; “Mỹ hiểu gì về Việt Nam? đã coi dân tộc Việt Nam như thế nào?”; “Căn bản pháp lý của sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam” v..v..  Tôi có thể nói ngay rằng, tất cả những lý do qua những danh từ hoa mỹ nhất dùng để biện minh cho việc Mỹ can thiệp vào Việt Nam đều không có tính cách thuyết phục.  Tiêu Dao Bảo Cự muốn biết tại sao và những lý do mà Mỹ đưa ra để biện minh cho cuộc can thiệp vào Việt Nam thì hãy đọc đoạn sau đây của Giáo sư Cohen.

Giáo sư Mortimer T. Cohen viết trong cuốn From Prologue To Epilogue In Vietnam, Publisher Retriever Bookshop, N.Y., 1979, trang 208:

Trong 21 năm bị lôi cuốn  vào Đông Dương, Chính Phủ Mỹ đã đưa ra những “lý do” về những hành động của mình.  Những lý do này vô giá trị.  Lý do duy nhất mà Mỹ vào Đông Dương là để ngăn chận vùng này khỏi rơi vào tay Cộng Sản bằng một cuộc bầu cử, một cuộc cách mạng nội bộ...  Và đó cũng đủ là lý do.

Thêm nhiều lý do.  Và thêm nhiều lý do nữa.  Chúng mọc lên như măng tháng 5.  Trước khi chiến tranh Đông Dương chấm dứt, những lý do có thể chứa đầy một cuốn sách.   Không lý do nào hợp lý.

(During the course of its 21 years of involvement in Indochina, the United States Government offfered “reasons” for its actions.  These reasons were worthless.  The only reason for the American being in Indochina was to prevent the area from going Communist by an election, by an internal revolution... And this was reason enough...

More reasons.   And more reasons.  They sprouted like asparagus in May.  Before the Indochina War came to an end, a book could have filled with reasons.   None of them were valid.)

Còn nữa, cuốn sách Việt Nam: Sự Khủng Khoảng của Lương Tri  (Vietnam: Crisis of Conscience, Association Press, N.Y., 1967) viết bởi ba giới chức tôn giáo: Mục sư Tin Lành Robert McAfee Brown, Giáo sư Tôn Giáo Học, đại học Stanford; Linh mục Michael Novak, Giáo sư về Nhân Bản Học, đại học Stanford; và Tu sĩ Do Thái Abraham J. Heschel, giáo sư về đạo đức và huyền nhiệm Do Thái tại trường Thần Học Do Thái ở Mỹ, mở đầu bằng câu:

Những trang sách sau đây xuất sinh từ sự cùng quan tâm của chúng tôi rằng: quốc gia của chúng ta (Mỹ) bị lôi cuốn vào cuộc xung đột ở Việt Nam mà chúng tôi thấy không thể nào biện minh được trong ánh sáng thông điệp của các nhà tiên tri hay của Phúc Âm của Giê-su ở Nazareth.

(The pages that follow grow out of our shared concern that our nation is embroiled in a conflict in Vietnam which we find it impossible to justify, in the light of either the message of the prophets or the gospel of Jesus of Nazareth.)

Trong cuốn sách này, Mục sư Tin Lành Robert McAffee Brown viết, p. 67:

Ngay cả quyền hiện diện của chúng ta ở đó (Việt Nam) cũng bị chất vấn, trong ánh sáng của luật quốc tế, bởi những người có địa vị cao trong chính phủ của chúng ta, trong đó có các Thượng Nghị Sĩ Morse, Church, Gore, và Gruening.   Nhưng ngay cả khi có quyền, bản chất những gì chúng ta đang làm ở Việt Nam cũng phải lên án.

(Our very right to be there is questioned, in the light of international law, by men highly placed in our government, among them Senators Morse, Church, Gore, and Gruening.  But even if there is a clearcut “right”, the nature of what we are doing in Vietnam must be increasingly condemned.)

Nếu không có lý do nào chính đáng và cũng không thể nào biện minh được thì chúng ta chỉ có một cách giải thích.  Đó là thực chất cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam là Mỹ đã xử dụng “luật rừng” và “cường quyền thắng công lý”, những hành động mà Mỹ đang áp dụng ở Iraq, và ở nhiều quốc gia khác trước đây.  Điều này có nguồn gốc từ chính nền văn hóa của Mỹ như sẽ được chứng minh qua một số tài liệu. 

Thứ nhất, Tiêu Dao Bảo Cự viết rằng “Hiệp định Genève chia đôi đất nước” là viết nhảm, là chưa hề đọc Hiệp định Genève.  Không có một điều khoản nào trong Hiệp định Genève chia hai miền Nam Bắc ra làm hai miền riêng biệt về đất đai và chính trị. Hiệp Định Genève gồm hai phần:  Phần “Thỏa hiệp Ngưng Chiến Song Phương” giữa Pháp và Việt Minh (Bilateral armistice agreement between France and the VietMinh) làm căn bản cho Phần “Tuyên Ngôn Đa Phương Có Tính Cách Quyết Định” (The multilateral Final Declaration), đồng ghi nhận (endorsed) bởi Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Lào, Cambod, Pháp, Anh, Trung Quốc, Nga Sô Viết [với sự từ chối không tham gia của Mỹ và Chính phủ Bảo Đại].

Phần “Thỏa Hiệp...”, gồm 47 điều khoản, được ký kết giữa Tướng Pháp Henri Delteil, Quyền Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương, và ông Tạ Quang Bửu, Thứ Trưởng Quốc Phòng của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.  Có vài điều khoản chính như sau:

Điều khoản 1 (Article 1) nói về sự thiết lập “một đường ranh giới quân sự tạm thời” (A provisional military demarcation line) [Vĩ tuyến 17] để quân đội hai bên rút quân về: Lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam ở phía Bắc, và lực lượng Liên Hiệp Pháp (French Union) ở phía Nam làn ranh giới.

Điều khoản 8 ấn định quyền kiểm soát hành chánh ở phía Bắc Vĩ Tuyến 17 thuộc Việt Minh và ở phía Nam thuộc Pháp (Civil administration in the regroupment zone to the North of the 17th parallel was to be in the hands of the Vietminh, and the area to the South of the parallel was to be in the hands of the French)

Điều khoản 14, đoạn (a) [Article 14, Paragraph (a)] viết rõ: “Trong khi chờ đợi cuộc Tổng Tuyển Cử để Thống Nhất Việt Nam, quyền hành chánh dân sự trong mỗi vùng rút quân nằm trong tay các phe có quân đội rút quân (nghĩa là Pháp và Việt Minh) theo tinh thần của bản Thỏa Hiệp.”  (Pending the general elections which will bring about the Unification of Vietnam, the conduct of civil administration in each regrouping zone shall be in the hands of the party whose forces are to be regrouped there in virtue of the present Agreement).

Điều khoản 14, đoạn (c) viết:  “Mỗi phe sẽ tự kiềm chế để không có bất cứ hành động   trả thù hay kỳ thị nào đối với những cá nhân hay tổ chức vì những hoạt động trong khi có cuộc tranh chấp quân sự, và phải bảo đảm quyền tự do dân chủ của họ.” (Each party undertakes to refrain from any reprisals  or discrimination against persons or organizations on account of their activities during the  hostilities and to guarantee their democratic liberies)

Bản “Tuyên Ngôn...” gồm 13 đoạn, liên quan đến cả Cambod và Lào, có một đoạn đáng để ý:

Đoạn (6) [Paragraph (6)] nguyên văn như sau:

 “Hội Nghị nhận thức rằng mục đích chính yếu của Thỏa Hiệp về Việt Nam là dàn xếp những vấn đề quân sự trên quan điểm chấm dứt những đối nghịch quân sự và rằng ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY  ĐẤT ĐAI .  Hội Nghị bày tỏ sự tin tưởng là thi hành những điều khoản trong bản Tuyên Ngôn này và trong Thỏa Hiệp ngưng chiến sẽ tạo nên căn bản cần thiết để trong tương lai gần đạt tới một sự dàn xếp chính trị ở Việt Nam”

     (The Conference recognizes that the essential purpose of the Agreement relating to Vietnam is to settle military questions with a view to ending hostilities and that THE MILITARY DEMARCATION LINE IS PROVISIONAL AND SHOULD NOT IN ANY WAY BE INTERPRETED AS CONSTITUING A POLITICAL OR TERITORIAL BOUNDARY.  The Conference expresses its conviction that the execution of the provisions set out in the present Declaration and in the Agrrement on the cessation of hostilities creates the necessary basis for the achievement in the near future of a political settlement in Vietnam.)

Vậy nếu không phải là đất nước chia đôi qua Hiệp định Genève thành hai miền độc lập về chính trị và đất đai, thì cuộc chiến hậu-Genève ở Việt Nam từ đâu mà ra, và tại sao Mỹ lại lâm chiến ở Việt Nam.  Câu trả lời đã nằm sẵn trong câu hỏi.  Nếu không biết đến thì ngày nay, chúng ta đã có vô số tài liệu do chính người Mỹ viết.  Nếu chúng ta biết rằng cả Trung Cộng lẫn Nga Sô đều không muốn cho Việt Nam thống nhất thì chúng ta nên suy nghĩ lại về hai từ “nội chiến” và “ủy nhiệm”.  Tôi sẽ bàn về hai từ này trong một đoạn sau.

Thứ nhất, không phải là sau Hiệp định Genève và vì Bắc Việt gài cán bộ ở lại Mỹ mới can thiệp vào Việt Nam mà Mỹ đã can thiệp vào Việt Nam từ trước đã lâu.  Mỹ đã đồng lõa với thực dân Pháp trong mưu toan tái lập nền đô hộ của Pháp trên dân Việt Nam. Những người thực sự tin rằng Mỹ là “đồng minh” của Nam Việt Nam, muốn giúp dân Việt Nam để chống lại Cộng Sản, để cho dân Việt Nam, hay ít ra là dân miền Nam,  được tự do dân chủ, nên nhớ kỹ rằng chính Mỹ đã đài thọ hơn 80% chiến phí cho Pháp trong cuộc chiến tiền-Genève, từ 1945 đến 1954, để Pháp tái lập chế độ thực dân ở Việt Nam, đưa Việt Nam trở lại vòng nô lệ Pháp, trong khi Mỹ đã biết rõ chế độ thực dân Pháp đối với dân Việt Nam là như thế nào?  Lịch sử Việt Nam sẽ lên án hành động đế quốc thực dân này.  Nếu chúng ta coi Pháp là quân xâm lăng thì Mỹ cũng là kẻ xâm lăng không kém.  Chỉ sau khi Pháp thất trận Mỹ mới đưa ra chiêu bài giúp Việt Nam, bảo vệ nền tự do (sic) của Nam Việt Nam trong khi, như chúng ta đã biết, theo Hiệp Định Genève, Nam Việt Nam không phải là một quốc gia độc lập mà chỉ là một vùng rút quân của Pháp và những lực lượng quân sự dưới quyền Pháp, trong đó có lực lượng quốc gia, chờ ngày Tổng Tuyển Cử trên toàn thể đất nước vào năm 1956. Cuộc kháng chiến chống Pháp đã chứng tỏ lòng người dân Việt muốn gì.  Và đây là quyền tự quyết của Việt Nam mà Mỹ đã hứa là sẽ không can thiệp trong một bản tuyên ngôn đơn phương (unilateral declaration) sau khi Hiệp Định Genève được ký kết.  Do đó, mọi lý do Mỹ dùng để can thiệp vào Việt Nam trở thành vô giá trị, không thể biện minh được, trước những sự kiện trên.

Thứ nhì, bảo rằng Mỹ giúp Nam Việt Nam chống Cộng sau Hiệp Định Genève, nhưng tại sao lại là Việt Nam?  Thuyết Domino của Mỹ cho rằng, theo học giả Gareth Porter: ““lý thuyết domino” cho rằng những nước không cộng sản trong vùng Đông Nam Á sớm muộn sẽ bị lần lượt lật đổ nếu miền Nam Việt Nam mất vào tay cộng sản. Căn cứ theo những suy diễn bình thường, các chiến lược gia Mỹ đã thổi phồng hiểm họa cộng sản, và họ đã tin vào những nguy cơ bị chính họ phóng đại ấy.”  Nhưng vấn đề không phải là ở thuyết Domino mà là Mỹ đã nuốt lời hứa là sẽ không can thiệp vào quyền tự quyết của các dân tộc. Mỹ tự ban cho mình quyền của một cảnh sát quốc tế, ép buộc mọi quốc gia phải theo sự xếp đặt của mình, nghĩa là, như trên đã nói, áp dụng luật rừng và cường quyền thắng công lý của kẻ mạnh.  Nhưng thực ra, theo những tài liệu hiện hữu của một số học giả Mỹ, cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam nằm trong chủ trương bá quyền của Mỹ trên khắp thế giới chứ không phải chỉ riêng ở Việt Nam.  Mỹ đã can thiệp vào nội bộ của nhiều nước: El Salvador, Dominican Republic, Philippines, Thailand v..v..

Mặt khác, trong thời điểm đó, hơn ¼ thế giới theo Cộng Sản, Cuba ở ngay sát nách Mỹ là Cộng Sản, toàn thể Đông Âu theo Cộng Sản, và hai Cộng Sản gộc là Nga và Tàu, tại sao Mỹ không chống ở những nơi đó  mà lại đi chống ở một nước nghèo, nhỏ, xa xôi như Việt Nam, vừa mới giành được độc lập sau một cuộc chiến đấu gian khổ dài 9 năm, nhân dân mệt mỏi, tài nguyên kiệt quệ, và nhất là không có khả năng gây bất cứ sự nguy hại nào cho Mỹ?

Mục Sư Tin Lành Robert McAfee Brown, Giáo sư Tôn Giáo Học tại đại học Stanford, viết trong cuốn Việt Nam: Sự Khủng Khoảng của Lương Tri  (Vietnam: Crisis of Conscience, Association Press, N.Y., 1967), trang 79:

Thật là khôi hài, ngay khi mà chúng ta nói rằng chúng ta phải “chặn đứng Cộng Sản” ở Việt Nam, thì ở những nơi khác chúng ta lại sống chung với Cộng Sản, soạn thảo những hiệp ước với Nga Sô, mở rộng giao thương với Đông Âu, ủng hộ Tito ở Nam Tư.  Ở những nơi khác, chúng ta rõ ràng quyết định là sống chung hòa bình với Cộng Sản, và khuyến khích những xã hội Cộng Sản độc lập, không cần đến sự liên kết với nhau trong khối Cộng sản.

(It is ironic that at precisely the moment we are saying that we must “halt communism” in Vietnam, we are coming to terms with it elsewhere, working out new treaty agreements with Russia, extending trade in Eastern Europe, giving support to Tito in Yougoslavia.  Elsewhere, we have clearly decide to coexist with communism, and to encourage independent Communist societies that will be increasingly free of the need for alliance with one another.)

Mục sư Brown nhận định không sai.  Ngày 4 tháng 11, 1956, xe tăng Nga tiến vào Budapest, thủ đô Hung Gia Lợi, một sự xâm lăng trắng trợn để dẹp một chính quyền Cộng Sản ngỏ ý cho dân được bầu cử tự do.  Mỹ chỉ can thiệp bằng miệng, dùng đài phát thanh VOA khuyến khích dân Hung chống trả, hứa suông là sẽ đem quân vào can thiệp, rồi án binh bất động.   Việt Nam không có quân xâm lăng từ ngoài vào.  Vậy tại sao lại là Việt Nam?

Bây giờ, chúng ta hãy tìm hiểu những động cơ nào đã khiến cho Mỹ can thiệp vào Việt Nam.  Như trên tôi đã nói, sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam là sự hội tụ của 3 yếu tố: chính trị, thần học Ki-tô Giáo, và kinh tế.

Mục đích chính của Mỹ không phải là để tạo nên một miền Nam dân chủ tự do.   Người Mỹ không có thực tâm, không có ý tốt giúp Việt Nam, cũng như ngày nay không có thực tâm, ý tốt giúp Iraq.  Người nào tin rằng Mỹ thực tâm giúp Nam Việt Nam để bảo vệ những giá trị tự do dân chủ cho người dân Nam Việt Nam là đang nằm mơ.  Hãy xét đến thực chất của các chính quyền Ngô Đình Diệm và “Diệm không Diệm” của Nguyễn Văn Thiệu.  Hãy xét đến những chiến dịch quân sự dã man nhất của Mỹ ở Việt Nam đối với người dân trong cuộc chiến.  Thật vậy, ngày nay chúng ta đã rõ mục đích tham chiến của Mỹ ở Việt Nam.  Sau đây là 2 tài liệu nói về cùng một vấn đề.

Trong cuốn The Vietnam War and American Culture của John Carlos Rowe & Rick Berg, Columbia University Press, 1991, trang 72, chúng ta có thể đọc đoạn sau đây:

Bảo vệ sự “tự do” của người dân Việt Nam ư?  Trong những tài liệu nội bộ (của Mỹ) những sự thực ác nghiệt về những mục đích của Mỹ về cuộc chiến tranh (ở Việt Nam) đã nói ra rõ ràng – không gì rõ hơn là trong một bản ghi nhớ của Thứ Trưởng Quốc Phòng John McNaughton, viết thay cho Bộ Trưởng McNamara (với một bản sao chỉ để cho George Bundy đọc) về những mục đích chiến tranh của Mỹ:  70% để duy trì danh dự quốc gia của chúng ta, 20% để cho Nam Việt Nam khỏi bị Trung Quốc chiếm đóng, và 10% để cho người dân Việt Nam được hưởng một lối sống tốt hơn và tự do hơn.

(Protecting the “freedom” of the people of South Vietnam?  In internal documents the harsh realities of US War aims were spelled out – none more succinctly than a memorandum prepared by Assistant Secretary of Defense for Secretary McNamara (with an eyes-only copy to George Bundy) on US War aims:  70% to preserve our national honor,; 20% to keep South VN territory from being occupied by the Chinese; and 10% to the South VN to enjoy a better and freer way of life)

Chúng ta có thể thấy một đoạn tương tự trong cuốn Cuộc Chiến Bất Tận: Cuộc Đấu Thanh Của Việt Nam Để Giành Độc Lập (The Endless War: Vietnam.s Struggle For Independence, Columbia University Press, New York, 1989) Giáo Sư James P. Harisson viết, trang 4:

“Ngày 24 tháng 3, 1965, Thứ Trưởng Quốc Phòng John T. McNaughton tuyên bố là trong khi thực ra chỉ có 10%  nỗ lực của Mỹ để giúp người dân Nam Việt Nam, 20% có mục đích giữ Nam VN (và những lãnh thổ lân cận) khỏi rơi vào tay Trung Quốc, và phần lớn nhất, 70%, là để “tránh một cuộc thất bại nhục nhã của Mỹ.”

(On March 24, 1965, Assistant Secretary for Defense John T. McNaughton stated that whereas in effect only 10% of US efforts aimed to help Vietnamese people, 20% aimed “to keep South VN (and adjacent territory) from Chinese hands”, and the greatest part, or 70%, aimed “to avoid a humiliating US defeat”)

Xét đến những hành động của Mỹ tại Việt Nam, cách đối xử của Mỹ đối với Việt Nam, những chiến dịch mà Mỹ tung ra ở Việt Nam, số thường dân bị thương vong ở Việt Nam v..v.. mà ngày nay chúng ta có hàng đống tài liệu, tài liệu của chính Mỹ, thì 10% để giúp dân Việt Nam không thể để trên cán cân cân bằng với 90% có tính cách tàn phá, hủy diệt Việt Nam.   Sau đây chúng ta hãy xét đến những yếu tố đã góp phần trong cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam: chính trị, tôn giáo, và kinh tế.  Những yếu tố này đan quyện với nhau tạo thành chính sách  và hành động của Mỹ, không riêng gì ở Việt Nam mà còn ở trên khắp thế giới.

Can thiệp vào Việt Nam, chính trị của Mỹ không đặt căn bản trên sự hiểu biết về Việt Nam, điều mà tất cả các học giả ngày nay đều công nhận, mà là trên những gì người Mỹ nghĩ về chính họ, nói khác đi là đặt trên nền văn hóa Mỹ. 

Sau thế chiến thứ II, những cường quốc thực dân Âu Châu như Anh, Pháp, Hòa Lan đều trở nên suy yếu, Mỹ đương nhiên là quốc gia mạnh nhất về quân sự cũng như kinh tế.  Mỹ độc tôn về vũ khí nguyên tử, tự cho mình là cái đầu tầu kéo cả thế giới theo, hoặc là một thị trấn ở trên ngọn đồi (A city on a hill) mà thế giới phải nhìn lên ngưỡng mộ và dập theo những giá trị đạo đức xã hội của Mỹ.  Mặt khác, Mỹ có những hành động trịch thượng, kiêu căng vô lối, tự cho mình có quyền định đoạt số phận của Việt Nam.  Chúng ta hẳn còn nhớ, sau Thế Chiến II, trước khi giúp Pháp trở lại Đông Dương, Tổng Thống Mỹ Roosevelt đã hỏi Tưởng Giới Thạch là “Có muốn Đông Dương không?”.  Và Tưởng Giới Thạch đã trả lời: “Điều này không giúp gì cho chúng tôi.  Chúng tôi không muốn.  Họ không phải là người Tàu.  Họ sẽ không chịu hòa nhập vào dân Tàu” (Backfire, p. 43:   Mr. Roosevelt asked Chiang: “Do you want Indo-China?”  The Generalissimo replied:  “It’s no help to us.  We don’t want it.   They are not Chinese.  They would not assimilate into the Chinese people.”)

Có lẽ không có cuốn sách nào đi thẳng vào những vấn đề như giải thích cuộc chiến, tại sao nó lại xẩy ra, tại sao người Mỹ lại lâm vào cuộc chiến như vậy để cuối cùng đi đến thất bại v..v.. bằng cuốn Kết Quả Ngược Chiều:  Việt Nam – Những Huyền Thoại Khiến Chúng Ta Chiến Đấu, Những Ảo Tưởng Giúp Chúng Ta Thua, Cái Di Sản Vẫn Ám Ảnh Chúng Ta Ngày Nay (Backfire:  Vietnam – The Myths That Made Us Fight, The Illusions That Helped Us Lose, The Legacy That Haunted Us Today, Ballantine Books, New York, 1985) của Giáo sư Loren Baritz, Trưởng Khoa Lịch Sử, Đại Học Rochester.  Sau đây là một đoạn giải thích của Giáo sư Loren Baritz, trang 10-11:

Người Mỹ không biết gì về người Việt Nam không phải là chúng ta đần độn, mà vì chúng ta tin vào một số điều về chính chúng ta... Muốn hiểu sự thất bại của chúng ta, chúng ta cần phải suy nghĩ về thế nào là một người Mỹ... Huyền thoại về Mỹ như là một thị trấn trên một ngọn đồi uẩn hàm Mỹ là gương mẫu đạo đức cho phần còn lại của thế giới, một thế giới cho rằng sẽ đặc biệt ngưỡng mộ chúng ta.  Điều này có nghĩa là chúng ta là một dân tộc được [Thiên Chúa, lẽ dĩ nhiên của Ki Tô Giáo] chọn, mỗi người trong đó, vì được sự ưu đãi và sự hiện diện của Thiên Chúa, có thể vật chết dễ dàng 100 kẻ thù ngoại đạo...

Có vô số cách để người Mỹ biết trong lòng – nơi duy nhất mà những huyền thoại có thể sống được – là chúng ta được chọn để dẫn giắt thế giới trong vấn đề đạo đức công cộng và dạy cho thế giới trong đức tính chính trị.  Chúng ta tin rằng những sự tốt đẹp trong nước chúng ta kết thành sức mạnh đủ để triệt hạ đối thủ của chúng ta, những người, theo định nghĩa, là kẻ thù của đức tính, của tự do, và của Thiên Chúa. [Người Mỹ tin tưởng như vậy.  Nhưng sự thực ra sao? Trong phần trước tôi đã đưa ra một số thống kê của chính Mỹ, chứng tỏ rằng về những tệ đoan xã hội, Mỹ chiếm giải quán quân trên thế giới.  Không ai có thể phủ nhận Mỹ là nước giàu nhất và mạnh nhất về quân sự.  Nhưng còn về các vấn đề đạo đức xã hội, đạo đức thế giới, đức tính của con người, thì Mỹ không có gì để so sánh với các quốc gia Á Châu.  Tổng thống Bush mở cuộc xâm chiếm Iraq cũng không ít thì nhiều có niềm tin như vậy.  Sống ở Mỹ chúng ta không lạ gì khi thấy những nhóm “da trắng ưu việt” (white supremacists) có những hành động bạo động ác ôn đối với những người da màu mà chúng cho là thấp kém trong khi tuyệt đại đa số chúng không tốt nghiệp nổi Trung Học.]

(Americans were ignorant about the Vietnamese not because we were stupid, but because we believe certain things about ourselves... To understand our failure we must think about what it means to be an American...  The myth of America as a city on a hill implies that America is a moral example to the rest of the world, a world that will presumably keep its attention riveted on us.  It means that we are a Chosen People, each of whom, because of God’s favor and presence, can smite one hundred of our heathen enemies hip and thigh...

In countless ways Americans know in their gut – the only place myths can live – that we have been Chosen to lead the world in public morality and to instruct it in political virtue.   We believe that our own domestic goodness results in strength adequate to destroy our opponents who, by definition, are enemies of virtue, freedom, and God)

Tuy vậy, sau Thế Chiến II, lực lượng đối đầu Mỹ duy nhất trong thời đó là Nga Sô Viết và Nga Sô lại là Cộng Sản vô thần, do đó đương nhiên là kẻ thù của Thiên Chúa, cũng là kẻ thù của dân được Thiên Chúa chọn: Mỹ.  Cuộc chiến tranh lạnh đã mang đến cho Mỹ sự sợ hãi Cộng Sản vì ảnh hưởng của Cộng Sản càng ngày càng lan rộng trên thế giới, khắp Đông Âu, và ở các nước thuộc địa ở Phi Châu và Á Châu.   Chủ thuyết của Truman (The Truman doctrine) năm 1947 đưa đến sự viện trợ $400 triệu về quân sự và kinh tế cho Hi Lạp để chống những du kích quân có sự ủng hộ của Cộng Sản.   Thất nghiệp và lạm phát ở Âu Châu khiến cho ảnh hưởng của Cộng Sản lan vào cả những nước như Ý, Pháp, Hòa Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, và Bỉ, và cho tới ngày nay ảnh hưởng của Cộng Sản cũng chưa hết hẳn.  Truman đưa ra kế hoạch Marshall năm 1948 với $12.6 tỷ đô-la viện trợ để giữ Tây Âu khỏi rơi hẳn vào vòng ảnh hưởng của Cộng Sản.

Nhưng năm 1949 có 3 biến cố làm cho sự sợ hãi Cộng Sản của Mỹ lên đến độ hoang tưởng. (From Communist fears to paranoia).  Nga sô chặn đường bộ tới Tây Bá Linh khiến cho Mỹ phải tổ chức không vận để hàng ngày cung cấp các phẩm vật cho một thị trấn có 2 triệu người.  Sau cùng Nga Sô phải nhường bước.  Cũng năm 1949 Nga Sô cho nổ quả bom nguyên tử đầu tiên tạo nên một làn sóng sợ hãi khắp nước Mỹ.  Sau cùng, cuối năm 1949, Mao Trạch Đông đuổi Tưởng Giới Thạch ra khỏi lục địa.  Một quốc gia đông dân nhất thế giới, vừa mới là đồng minh của Mỹ cách đó 4 năm, nay đã rơi vào tay Cộng Sản.  Từ sự sợ hãi Cộng sản đến mức hoang tưởng, Mỹ đã quyết định ngăn chận sự bành trướng của Cộng Sản. 

Trong cuốn Can Thiệp Và Cách Mạng: Mỹ Đối Đầu Với Những Phong Trào Nổi Giậy Trên Khắp Thế Giới (Intervention and Revolution: America’s Confrontation With Insurgent Movements Around The World, A Meridian Book, New York, 1972), Sử gia kiêm nhà khoa học chính trị (historian and political scientist) Richard J. Barnet, đã từng là nhân viên Bộ Ngoại Giao cũng như Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, viết, trang 301:

Sự hiện diện của một sự đe dọa của Cộng Sản, ngay chỉ là có thể có sự đe dọa của Cộng Sản (như ở Cộng Hòa Dominique) cũng đủ để cho Mỹ biện minh cho những sự can thiệp của Mỹ.  Nhận định là có sự đe dọa cũng đủ để ngăn ngừa mọi chất vấn có thể đặt ra về sự cần thiết hay đạo đức để dẹp bỏ sự đe dọa.  Mỹ càng ngày càng nói trắng ra khi tuyên bố là Mỹ có quyền đơn phương quyết định là một sự xung đột ở bất cứ nơi nào trên thế giới là sự đe dọa đối với nền an ninh quốc gia của Mỹ hay trật tự thế giới và Mỹ sẽ làm gì để đối phó.

(The presence of a Communist threat, even the possibility of a Communist threat (as in the Dominican Republic) has supplied adequate justification for a variety of interventions.  To identify the threat has been enough to preclude any further challenge to the necessity or morality of its suppression.  The US has become increasingly outspoken in claiming the unilateral right to make the determination whether a conflict anywhere in the world constitutes a threat to its national security or international order and what should be done about it.)

Một trong những lý do Mỹ đưa ra để biện minh cho sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam là Mỹ đơn phương quyết định là chế độ Cộng Sản ở Việt Nam sau Genève là sự đe dọa cho nền an ninh quốc gia của Mỹ.  Cho nên Mỹ đã chọn Việt Nam làm tiền đồn chống Cộng bất kể là sau ngày tuyên bố đất nước độc lập, 2 tháng 9, 1945, Ông Hồ Chí Minh đã viết 8 bức thơ gửi Tổng Thống Truman và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, yêu cầu Hoa Kỳ ủng hộ tinh thần nền độc lập của Việt Nam và còn ngỏ ý Việt Nam có thể là một thị trường lớn cho những sản phẩm của Mỹ, nhưng Mỹ không hề trả lời..  Mỹ chọn Việt Nam làm tuyến đầu chống Cộng, làm phòng tuyến cuối cùng chống sự bành trướng của Cộng Sản ở Á Châu, vì cho rằng Việt Nam là một nước nhỏ yếu không có khả năng chống lại ý định của Mỹ, cho nên Mỹ sẽ thành công trong mục đích chống Cộng cùng lúc tạo uy tín của Mỹ trên thế giới.  Mặt khác Mỹ còn muốn chứng tỏ cho thế giới biết là vũ khí và chiến thuật của Mỹ có thể đối phó với chiến thuật du kích của Cộng Sản.

Đây là một sự tính toán chính trị sai lầm, đan quyện với  một ý đồ đế quốc thực dân mới (thực dân kinh tế), cộng với tâm cảnh của những “cao-bồi bắn dân Da Đỏ” (cowboys shooting Indians) trong những phim “Westerns”, tự cho rằng Mỹ là khuôn mẫu “thiện” của cả thế giới, vì Mỹ tin tưởng ở Thiên Chúa (In God We Trust), vì Mỹ là “quốc gia của Thiên Chúa” (God Country), theo tinh thần Ki Tô Giáo và lịch sử Ki Tô Giáo: kẻ nào không tin Thiên Chúa của Ki-tô Giáo là kẻ ác, cho nên với quan niệm trắng đen, thiện chống ác, và đã tin vào ưu thế của vũ khí, để can thiệp vào Việt Nam bất kể lý do, bất kể đạo đức, bất kể pháp lý, đưa đến kết quả là thất bại sau khi tàn phá đất nước Việt Nam một cách man rợ, vô nhân tính.  Noam Chomsky đã châm biếm, cho rằng Mỹ đã thắng một phần ở Việt Nam (A partial victory) vì đã thành công để lại cho Việt Nam một di sản tan hoang đất nước, khó có cơ hội phục hồi về xã hội và kinh tế, cộng với cuộc cấm vận của Mỹ kéo dài trong 19 năm.  Hãy nghĩ tới một Việt Nam sau cuộc chiến, mọi mặt đều kiệt quệ đến tận xương tủy, cộng với sức ép của Mỹ (Ấn Độ muốn viện trợ cho Việt Nam 100 con trâu cũng bị Mỹ ngăn chận), Việt Nam vươn lên được tới tình trạng ngày nay, kể ra cũng là một phép lạ rồi.   Trong phép lạ này cũng có phần của người Việt hải ngoại không chịu nghe theo lệnh của bọn người áo đen bán phở và viết báo chống Cộng, yêu cầu Mỹ đừng bỏ cấm vận, hô hào dân tỵ nạn đừng gửi tiền về, đừng về Việt Nam v..v...

Không ai hiểu Mỹ bằng người Mỹ, nhất là giới trí thức Mỹ. Mục Sư Tin Lành Robert McAfee Brown viết (Ibid., trang 14) về khía cạnh tôn giáo của cuộc chiến:

Đây là cuộc chiến của “những kẻ tốt chống kẻ xấu” (good guys versus bad guys), “những kẻ tin Chúa chống những kẻ vô thần” (the godly versus the ungodly), “ánh sáng chống tối tăm”, là “cuộc đối đầu giữa những quốc gia nô lệ và quốc gia trong thế giới tự do” (the antagonists are the “slave nations” and the nations of the “free world”), cuộc chiến chống “những kẻ man rợ đe dọa những dân tộc văn minh, luật pháp và trật tự, và lối sống của người Mỹ” (Barbarians threaten civilized peoples, law and order, and the American way of life).  Đó là cách nhìn lịch sử của những người tin vào một cuộc chiến giữa thiện và ác trong ngày tận thế (Their view of history is apocalyptic)...

Trong những phim “cao-bồi”, bao giờ cũng có hai phe riêng biệt.  Một phe chiến đấu cho luật pháp và trật tự, phe kia vô luật pháp và vô trật tự.  Nếu trong chuyện phim có những dân da đỏ, sự xung đột là giữa những người da màu dã man và những người da trắng văn minh, yêu hòa bình.  Kết cục bao giờ cũng là cảnh tàn bạo.  Phe thắng là phe có nhiều vũ khí tối tân hơn hoặc rút súng nhanh hơn.  Khi mà, trong vài trường hợp, những kẻ xấu (da màu) tiêu diệt một nhóm nhỏ những kẻ tốt (da trắng), đó là một sự tàn sát độc ác và tàn nhẫn (it is a cruel and heartless massacre); khi mà những kẻ tốt (da trắng) giết vô số những kẻ xấu (da màu) [when the good guys kill huge numbers of bad guys], đó là một sự chiến thắng của công lý và văn minh (it is a victory for justice)

Nhận định của một giới chức Ki-tô Giáo như trên thật là rõ ràng trong cuộc chiến ở Việt Nam với những motto: “Kill a gook for God” viết trên mũ sắt của lính Mỹ, “A good VC is a dead one”, và Hồng Y Spellman sang Việt Nam ủy lạo binh sĩ Mỹ rằng họ đang chiến đấu để bảo vệ nền văn minh Ki-tô Giáo, một nền văn minh quy thần, hạ thấp phẩm giá con người, rất xa lạ đối với nền văn minh nhân bản và nhân chủ của Việt Nam.

Mỹ đã thất bại ở Việt Nam trong những mục đích tham chiến và bảo vệ nền văn minh Ki Tô Giáo.  Trước thế giới, Mỹ không còn là  “một thị trấn trên ngọn đồi”. Tại sao Mỹ thất bại ở Việt Nam?  David Lamb (UPI reporter 1960’s; Los Angeles Time’s first peacetime bureau in VN) đã đưa ra một nhận định khá đúng  trong cuốn Vietnam, Ngày Nay (“Vietnam, Now” , Public Affairs, NY, 2002) trang 85,91:

Sai lầm lớn của người Mỹ là không hiểu lịch sử, văn hóa và trạng thái tâm lý đặc trưng của Việt Nam.  Họ quá tin chắc vào sức mạnh quân sự sẽ thắng cuộc chiến, không bao giờ buồn để ý đến chuyện tìm hiểu là họ chiến đấu với ai...  Mỹ đã tới Việt Nam để xây dựng nhưng rút cuộc là phá hủy.  Mỹ tới rừng rú Việt Nam để chiếm lòng dân, nhưng trong cuộc chiến lâu dài nhất – cuộc chiến đầu tiên mà Mỹ thất trận –đã khám phá ra rằng những dụng cụ chiến tranh không thể thay thế cho sinh khí  của tinh thần quốc gia [của người dân Việt].

(The big mistake the Americans made was not understanding the Vietnamese’s history, culture, mentality.  They were so sure military strength sould win the war, they never bothered to learn who they were fighting.... The US had come to Vietnam to build and ended up destroying. It came to the jungles of VN to win hearts and minds, and in fighting its longest war – the first war the US had ever lost – discovered the tools of war were no substitute for the vitality of nationalism..)

Nhưng nghiên cứu kỹ vấn đề, căn bản không phải là “Sai lầm lớn của người Mỹ là không hiểu lịch sử, văn hóa và trạng thái tâm lý đặc trưng của Việt Nammà chính là căn bản pháp lý của sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam.  Như vài tài liệu trên đã chứng tỏ, Mỹ không có lý do nào chính đáng để can thiệp vào Việt Nam từ 1945 đến 1975. Mỹ đã bất kể đến công pháp quốc tế, không dựa trên pháp lý, mà dựa trên “luật rừng” và “cường quyền thắng công lý” để can thiệp vào Việt Nam với ý đồ “bành trướng thế lực và ảnh hưởng trên toàn khu vực” như Gareth Porter đã viết trong bài : “Biện giải vấn đề Việt Nam 30 năm sau — Bàn cờ domino Châu Á hay sự khống chế của Hoa Kỳ?“,  Hà Minh dịch trên Talawas:

Trước vai trò chính của quân đội Hoa Kỳ trong việc quyết định can thiệp sâu hơn vào Việt Nam, sự tương đồng lịch sử giữa việc chiếm đóng Việt NamIraq càng trở nên hiển nhiên. Trong cả hai trường hợp, ưu thế quân sự toàn cầu của Mỹ đã nuôi dưỡng ý đồ bành trướng thế lực và ảnh hưởng trên toàn khu vực. Và trong cả hai trường hợp, các lãnh đạo an ninh quốc gia đã giả định rằng họ có thể dùng vũ lực mà không sợ nguy cơ mở rộng chiến tranh, sự giả định này phụ thuộc nặng nề vào hiệu quả răn đe đối với kẻ thù. Họ đã sai lầm nghiêm trọng tại cả hai nơi: Việt NamIraq. 

Bài học Việt Nam chưa làm Mỹ tỉnh giấc mộng bá vương, cho nên ngày nay chúng ta lại thấy Mỹ đơn phương đi vào cuộc chiến ở Iraq, dựa trên những quyết định đơn phương vô căn cứ hay ngụy tạo: Iraq có vũ khí giết người hàng loạt (Weapons of mass destruction) và Iraq can dự vào vụ 9-11 ở New York.  

Viết về chiến tranh Việt Nam, chúng ta không thể bỏ qua yếu tố kinh tế. Phải chăng những lý do Mỹ đưa ra về sự can thiệp vào Việt Nam chỉ là, như Tướng Telford TayLor, cố vấn trưởng của Mỹ tại Tòa Án Nuremberg để xử các tội phạm chiến tranh Đức quốc Xã (Chief counsel for the prosecution, with the rank of Brigadier General, at the Nuremberg war-crimes trials), đã viết trong cuốn: “Nuremberg Và Việt Nam: Một Tấn Thảm Kịch Của Mỹ” (Nuremberg and Vietnam: An American Tragedy, New York Times Book, 1970, trang 103):   “che dấu ý định khai thác Nam Việt Nam như là một căn cứ quân sự Mỹ để “ngăn chặn” Cộng Sản, hay thống trị Đông Nam Á và những tài nguyên thiên nhiên khổng lồ ở đó” [only to conceal the intention to exploit South Vietnam as an American military base to “contain” Communism, or to dominate Southeast Asia and its enormous natural resources].

 Tây phương đã đến Á Châu như là những đế quốc thực dân, Á Châu không có mấy lý do để tin tưởng rằng Mỹ nhân đạo hơn những người da trắng đã đến trước.  Và chúng ta đã biết, mục đích chính của Mỹ không phải là giúp dân Việt Nam.

Hành động can thiệp vào Việt Nam của Mỹ không nằm ngoài chủ trương của Mỹ là thiết lập một trật tự thế giới ổn định (a stable world order), theo ý định của Mỹ, mà trong cái gọi là trật tự thế giới này, Mỹ nắm Ngân Hàng Quốc Tế (World Bank), Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF = International Monetary Fund).   Mỹ đã dùng những cơ quan này để cho các nước nhỏ đang mở mang vay nhẹ lãi, hỗ trợ những dự án có lợi cho Mỹ, và khi cần có thể làm sụp đổ nền kinh tế địa phương.  Thật vậy, theo Mục sư Robert McAfee Brown (Ibid., trang 24) thì:

Trật tự thế giới ngày nay rất lợi lộc cho những nhà tư bản Mỹ, những người ngồi trên chóp của đống lợi nhuận.  Ngoại viện của Mỹ cho những kém mở mang được coi như là một chủ nghĩa đế quốc mới; không phải là đế quốc quân sự mà là đế quốc đô-la.  Đế quốc đô-la không hiển nhiên như đế quốc thực dân; nó không toan tính thiết lập một văn phòng chính trị thực dân.  Nó mua chuộc những chính trị gia bản xứ sẵn sàng bán linh hồn và xen vào nội bộ của quốc gia qua những phương pháp kinh tế chứ không phải là chính trị.  Nó cũng có hiệu lực như là thực dân quân sự nhưng khó mà có thể lột mặt nạ của nó ra. [Chúng ta hãy nhìn kỹ vài bộ mặt chính trị gia được Mỹ mời đến dự ngày độc lập của Mỹ tại Tòa Đại Sứ ở Việt Nam]

(The present world order is very profitable for capitalists in the United States, who are sitting on top of the heap.  The foreign aid given by the United States to underdeveloped nations is regarded as a new kind of imperialism: not military but dollar imperialism; it does not attempt to set up a colonial political office.  Instead, it buys out willing native politicians and interferes in the country through economic rather than political methods.  It is just as effective as colonial imperialism, though harder to unmask.)

Trong cuốn Turning Points in World History: The Vietnam War, yếu tố kinh tế cũng được nói tới ở trang 50:

Trong ngôn từ chiến lược và kinh tế, Đông Nam Á cũng là vấn đề quan trọng đối quyền lợi của Mỹ.  Đông Nam Á rơi vào tay Cộng Sản sẽ đe dọa chuỗi đảo trải dài từ Nhật tới Phi Luật Tân, cắt đường hàng không của Mỹ tới Ấn Độ và Nam Á và dẹp bỏ phòng tuyến phòng vệ đầu ỡ Thái Bình Dương.  Úc và Tân Tây Lan (New Zealand) sẽ bị cô lập.  Vùng (Đông Nam Á) có nhiều tài nguyên thiên nhiên và chiến lược, gồm có thiếc, cao su, gạo, nguồn dầu dừa, quặng sắt, đồng, tungsten, và dầu hỏa. Mỹ không chỉ bị cắt đứt, không tơ hào gì được những nguồn tài nguyên đó, mà tiềm năng về những thị trường to lớn để tiêu thụ những sản phẩm của Mỹ cũng bị đe dọa.

In strategic and economic terms, Southeast Asia was also critical to American interests.  The fall of Southeast Asia would threaten the island chain stretching from Japan to Philippines, cutting off American air routes to India and South Asia and eliminating the first line of defense in the Pacific.  Australia and New Zealand would be isolated.  The region was loaded with important natural and strategic resources, including tin, rubber, rice, copra, iron core, copper, tungsten, and oil.  Not only would be the US be cut off from those resources, but huge potential markets for American products would be threatened.

Ở trên tôi đã đưa ra sơ lược ba yếu tố chính trị, tôn giáo, và kinh tế đã góp phần trong cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam.  Căn bản là Mỹ đã chọn Việt Nam làm địa bàn chống Cộng ở Đông Nam Á, bất kể là người Việt Nam có muốn hay không.  Mỹ đã quyết định dùng vũ lực để chống Cộng ở Việt Nam, Nam Việt Nam là phòng tuyến không cho Cộng Sản vượt qua, vậy những “nếu” hay “tại vì” đặt ra để giải thích cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam đều không thích hợp. Mỹ sẽ nhảy vào can thiệp nếu có nguy cơ miền Nam rơi vào tay Cộng Sản, bất kể là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam gồm 100% người Nam hay 100% người Bắc.  Nguy cơ này càng ngày càng hiện rõ vào từ năm 1961 đến cao điểm vào những năm 1964-1965, cho nên Mỹ đã ồ ạt đem quân vào Việt Nam. Tuy nhiên, để  cho vấn đề được rõ ràng hơn, có lẽ chúng ta cũng nên bàn đến hai điều sau đây trên Talawas.

2.       Tiêu Dao Bảo Cự:  Nếu không có cuộc chiến tranh giải phóng của miền Bắc, được chuẩn bị ngay từ năm 1954 khi cài cấy cán bộ ở lại và sau đó từng bước đưa vũ khí và quân đội vào miền Nam và cuộc chiến lan rộng thì Mỹ có trực tiếp đưa quân vào miền Nam không?

Lê Xuân Khoa: Cuộc chiến 1955-1975 ở Việt Nam được gọi là nội chiến vì sau khi đất nước bị chia đôi, chính quyền miền Bắc đã để lại cán bộ, chôn dấu vũ khí và hoạt động bí mật đàng sau các phong trào tranh đấu ở miền Nam; trong khi đó, chính quyền Ngô Đình Diệm cũng phát động chiến dịch tố cộng sâu rộng và mãnh liệt.”

Đọc hai đoạn trên của 2 tác giả Lê Xuân Khoa và Tiêu Dao Bảo Cự trong cuộc tranh luận về gọi tên cho cuộc chiến, tôi quả lấy làm thất vọng vì đến thời buổi này mà hai tác giả trên còn có thể viết ra được những câu như vậy.  Hai tác giả trên, và có thể còn một số người khác cũng đồng ý với những lập luận trên, không lý gì đến nguồn gốc cuộc chiến ở miền Nam từ đâu phát khởi, phát khởi từ bao giờ, và tại sao nó lại phát khởi.  Nói ngắn gọn, nó phát khởi là từ một số người ở miền Nam bị dồn đến đường cùng, cho n