Trần Mạnh Hảo
Nguyễn Minh Châu có truyện ngắn “Mảnh
trăng cuối rừng” đã, đang được đưa vào SGK Văn học 12 của Bộ
GD&ĐT. GSTS Trần Đình Sử, một trong những đồng chủ biên của SGK Văn
trung học, đã giảng mẫu truyện ngắn này, in trong cuốn “GIẢNG VĂN CHỌN
LỌC VĂN HỌC VIỆT NAM- VĂN HỌC HIỆN ĐẠI”( NXB Đại học Quốc gia Hà
Nội 2001). Theo “Lời nói đầu” của cuốn sách, thì đây chính là cẩm
nang cho học sinh lớp 12 đi thi tốt nghiệp và thi đại học, cao đẳng. Cuốn
sách cũng được viết bởi nhiều tác giả, hầu hết là các GS, GSTS đầu
ngành ngành ngữ văn, nên nó toàn là những bài hay, rất cần cho học sinh,
sinh viên và mọi đối tượng yêu văn học.
Chúng tôi thử khảo sát bài giảng văn mẫu của GSTS Trần Đình Sử
về truyện ngắn “Mảnh trăng cuối rừng” của Nguyễn Minh Châu, để
xem nó hay như thế nào ? Trước hết, chúng tôi xin tóm tắt nội dung truyện
ngắn này. Lãm là người lính lái xe đưa hàng ra chiến trường thời chống
Mỹ. Anh có người chị tên Tính, là công nhân cầu đường làm ở cầu Đá
Xanh. Suốt mấy năm liền, chị Tính quyết tâm làm mai mối để Lãm yêu
và lấy cô Nguyệt, đẹp người đẹp nết cùng làm ở tổ đá với chị.
Dù chưa hề gặp Lãm, chỉ thông qua lời kể của Tính, qua những lá thư Lãm
gửi chị có kèm lời thăm hỏi Nguyệt, cô đã coi anh như người yêu, dù chưa quen biết. Cô từ chối
các chàng trai khác để chỉ chờ đợi một người trong mộng là em trai chị
Tính. Đã mấy lần Lãm ghé cầu Đá Xanh thăm chị Tính và Nguyệt, nhưng
không gặp. Một đêm trăng thượng tuần, Lãm chở hàng ra mặt trận. Trên
đường đi, anh sẽ phải qua ngang nơi chị mình làm việc, tình cờ gặp một
cô gái trẻ rất dễ thương, đi nhờ xe về cầu Đá Xanh. Qua câu chuyện,
Lãm biết tên cô gái này là Nguyệt, lại ở chính nơi chị Tính làm công
nhân. Nhưng, theo lời cô gái, ở đó có ba Nguyệt : một “Nguyệt lão”
đã có bốn con, một Nguyệt vừa hi sinh cách đây mấy tháng, còn một Nguyệt
đang đi nhờ xe Lãm đây. Qua câu chuyện và dò ý tứ cô gái, cộng với trực
giác, linh tính, Lãm biết chắc chắn đây chính là người chị Tính làm
mai mối để sẽ thành vợ anh. Khi nhận ra Nguyệt “của mình”, lòng Lãm
trào dâng niềm yêu dấu vô bờ. Tuy nhiên, vì nhát gái, lại quá bất ngờ,
vì còn cần giữ khoảng cách ban đầu cho tế nhị và thơ mộng, Lãm chưa
bộc lộ với Nguyệt rằng mình chính là em chị Tính, người mà dù chưa gặp,
Nguyệt vẫn coi như đã hứa hôn. Khi qua ngầm Đá Xanh, xe Lãm gặp máy bay
Mỹ đến đánh phá. Nguyệt đã lăn xả vào bom đạn để cùng Lãm cứu xe
với những hành động dũng cảm, tuyệt vời cao đẹp. Cô bị thương nhẹ
nhưng vẫn tươi cười chia tay Lãm ở ngầm Đá Xanh. Chính từ đây, tình
yêu với Nguyệt đã bùng cháy trong tâm hồn Lãm. Khi anh đến tìm Nguyệt
thì cô đã vắng nhà, đi công tác. Câu chuyện tình trong chiến tranh được
thuật lại qua lời kể của Lãm ở ngôi thứ nhất.
Người giảng văn vì chưa đọc kỹ truyện ngắn này, đã hiểu sai
nhiều chi tiết quan trọng của truyện, lầm lẫn một số ý nghĩ và hành
vi nhân vật theo kiểu trông gà hóa cuốc. Ví dụ như khi ông Trần Đình Sử
viết :” Lãm tranh thủ chuyến công tác để
thăm chị và nhìn mặt người yêu. Trên đường họ đã gặp nhau nhưng không
nhận ra nhau. Khi anh trở lại tìm thì cô gái vắng. Cho đến khi kể chuyện
này họ vẫn chưa gặp nhau...”...” Do chỉ biết nhau mà chưa gặp nhau, hứa
hẹn nhau, thậm chí chưa có kỷ niệm về nhau, tình yêu trong truyện là một
tình yêu đầy mơ mộng, lý tưởng và khắc khoải...”. Đoạn văn của
ông Trần Đình Sử thuật lại cốt truyện trên đã có mấy điểm sai rất
hệ trọng, chứng tỏ người bình văn chưa đọc kỹ tác phẩm mình giảng.
Chỉ có Nguyệt không nhận ra Lãm thôi, còn Lãm bằng trực giác đã nhận
ra Nguyệt, sao lại dám viết sai cốt truyện là “họ không nhận ra nhau”
? Xin dẫn lời kể của Lãm trong truyện ngắn :” Không hiểu sao, lúc ấy, như có một niềm tin
vô cớ nhưng chắc chắn từ trong không gian ùa tới tràn ngập cả lòng
tôi. Tôi tin chắc chắn người con gái đang ngồi cạnh mình chính là Nguyệt,
chính người mà chị tôi thường nhắc đến” ( tr. 239, 240 Văn Học
12, tập 1, NXB GD 2000). Chính ông Trần Đình Sử ngay ở đoạn sau cũng viết
:”Cho đến cuối truyện, khi linh cảm mách
bảo cô gái đi nhờ xe chính là cô Nguyệt của anh...”. Lãm nhận ra
Nguyệt ngay ở phần đầu truyện chứ không phải đến “cuối truyện”
như ông Sử lầm lẫn. Ông Trần Đình Sử viết như sau là không đọc kỹ
truyện :” Cho đến khi kể chuyện này họ
vẫn chưa gặp nhau !”...” Dù chỉ biết nhau mà chưa gặp nhau ...”.
Ô hay, lầm gì mà lầm khiếp thế, họ ( tức Lãm và Nguyệt) đã chẳng
tình cờ gặp nhau, nói chuyện với nhau trên xe tải, để Lãm nhận ra người
yêu, cùng nhau cứu xe trong bom nổ, băng bó cho nhau khi bị thương, ngẩn
ngơ chia tay nhau...là gì ?
Xin dẫn một đoạn “bình văn” khác, để thấy ông Trần Đình Sử
đã hiểu sai nhiều chi tiết trong truyện “ Mảnh trăng cuối rừng”, tác
phẩm mà ông đang “giảng văn”như thế nào :”Khi gặp Nguyệt trong xe, chỉ cần một câu hỏi
là “mọi sự sẽ vỡ ngay” nhưng anh vẫn “không muốn, hoặc không dám
hỏi”, “không muốn đi sâu vào câu chuyện riêng giữa chuyến công tác”.
Nghĩa là Lãm chưa dành thì giờ cho tình yêu, chưa muốn tranh thủ cho tình
yêu. Mặc dù Lãm một lần hứa :” Thế nào chúng ta cũng còn gặp nhau”.
Rồi lại hứa :”Ngày mai tôi quay về, nhất định tôi vào thăm Nguyệt”.
Nhưng cho đến khi kể chuyện này cho đồng đội, hai người vẫn chưa gặp
nhau, thậm chí chưa nhận thư, mặc dù Lãm đã gửi thư, và cũng không thấy
tình cảm khắc khoải chờ thư ! Lãm bận đủ thứ việc để chưa về kịp
gặp Nguyệt : kiểm tra ngụy trang, tháo xăng, nấu cơm”. Người bình văn lại
nhầm :” Hai người vẫn chưa gặp nhau
“. Người bình văn lại có nhiều lầm lẫn khác lớn hơn, làm sai cốt
truyện của Nguyễn Minh Châu :” Lãm chưa
dành thì giờ cho tình yêu, chưa muốn tranh thủ cho tình yêu”...” Lãm bận
đủ thứ việc chưa về kịp gặp Nguyệt...”. Sau khi nhận ra Nguyệt,
mê đắm, nhớ thương cô vô cùng, lòng Lãm như lửa đốt, quyết lái xe
cho cực nhanh qua đêm, để về ngầm Đá Xanh gặp lại Nguyệt ngay tức khắc,
không hề dềnh dàng, nguội lạnh, hờ hững với tình yêu như ông Sử viết.
Hãy nghe đoạn văn Nguyễn Minh Châu, qua lời nhân vật Lãm nói về việc
anh quyết tâm phóng xe cho nhanh vượt đêm, về thăm lại Nguyệt, nhưng không
kịp vì trời đã sáng ( hồi đó do máy bay Mỹ đánh phá, xe tải hàng chiến
lược quân sự chỉ chạy trong đêm) :” Đêm
ấy tôi chạy nhanh đến vậy, nhưng lên đến tiền tiêu giao hàng cho kho
xong thì trời đã gần sáng. Thế là không kịp về rừng xăng lẻ giấu xe
nữa, đành đánh đi giấu ngay ở đấy. Vả lại hí húi kiếm lá ngụy
trang, tháo xăng, nấu cơm. Thật chán hết sức ! Thế là bay đi một ngày
phép !”.
Không phải “ Lãm bận đủ thứ việc
để chưa về kịp gặp Nguyệt: kiểm tra ngụy trang, tháo xăng, nấu cơm
“ như ông Trần Đình Sử hiểu sai, mà vì hoàn cảnh bó buộc, dù Lãm đã
phóng xe thật nhanh, nhưng “giao hàng cho kho
xong thì trời đã gần sáng. Thế là không kịp quay về rừng xăng lẻ giấu
xe nữa, đành đánh đi giấu ở ngay đấy !”. Ông Trần Đình Sử viết
:” Dù Lãm đã gửi thư (cho Nguyệt), và cũng
không thấy tình cảm khắc khoải đợi chờ !”. Nghĩa là theo ông Sử,
sau khi gặp Nguyệt rồi, Lãm không thiết tha gì mấy với tình yêu của
chính anh và cô, với kỷ niệm sống chết vừa qua với Nguyệt ở ngầm Đá
Xanh ư ? Bình văn như thế quả là đã quay một trăm tám mươi độ so với
văn bản sách giáo khoa. Hãy đọc kỹ đoạn kết thiên truyện : sau khi gửi
lá thư đầu cho Nguyệt nhờ chị “Nguyệt lão” chuyển, Lãm thẫn thờ
như người mất hồn ra bờ sông, ngồi một mình tưởng nhớ, suy tư về tình
yêu của Nguyệt, với nỗi khắc khoải cháy lòng. Anh đã thức gần hết
đêm để kể cho đồng đội nghe về mối tình kỳ lạ của mình, rồi trầm
tư “ lắng nghe tiếng trả lời đâu từ
trong lòng mình”. Lãm khắc khoải thức gần trắng đêm nhớ Nguyệt.
Nguyễn Minh Châu đã tả nỗi thao thức, trăn trở với tình yêu của Lãm bằng
hình ảnh rất văn học như sau :” Ngoài rừng
sâu, đôi chim gọi nhau suốt đêm đã im tiếng, có lẽ chúng đã tìm thấy
nhau “.
Chính vì không đọc kỹ truyện ngắn này, nên người bình văn đã
nhầm lẫn, hiểu sai nhiều chi tiết quan trọng của tác phẩm. Do đó, người
giảng văn thực ra đã giống như bị lạc đề, trông gà hóa cuốc, nên
thay vì phải nói gà đã toàn nói thóc lép. Do đó, bài giảng văn này chưa
đạt yêu cầu.
Người bình văn vì không thuộc văn bản gốc là đối tượng phân
tích, nên giảng sai lạc hầu hết nội dung đã đành, lại còn mắc rất
nhiều lỗi về văn phạm. Ví dụ như khi ông Sử viết :” Đương thời, nhà văn Nguyễn Kiên đã nhận
xét :...”. Câu văn này chưa chuẩn về mặt tu từ. Nghĩa từ điển của
“đương thời” là thời bấy giờ, thời đã qua, hay việc đương thời.
Ý của người bình văn muốn nói rằng : cái thời truyện ngắn này của
Nguyễn Minh Châu in ra, nhà văn Nguyễn Kiên đã từng khen thế này, thế nọ.
Nhưng vì dùng từ không chuẩn, thay vì dùng từ “hồi ấy”, hoặc “thời
bấy giờ”, ông Trần Đình Sử lại dùng từ “Đương thời“.”Đương
thời” là tính từ, không thể đứng đầu câu được; nó phải đứng
sau danh từ ví như “Người đương thời” chẳng hạn. Xét trong văn cảnh
trên, từ “đương thời” rất gần ngữ nghĩa với “sinh thời”. Viết
như thế, vô tình đã đẩy nhà văn
Nguyễn Kiên vẫn còn đang sống sờ sờ ra đó “vào thời quá vãng”,
thì có phải lầm to không ?
Xin dẫn một câu văn quá sức trùng lặp, lủng củng, lôi thôi của
ông Trần Đình Sử :” Nhưng đây là một
tình yêu đặc biệt : tình yêu ngưỡng mộ của hai người chưa hề gặp mặt
nhau và hứa hẹn với nhau, được thể hiện trong một cốt truyện tìm
nhau mà không gặp, gặp nhau mà không nhận ra nhau như một trò chơi ú tim
“. Ngoài cái sai về nội dung :” gặp nhau mà không nhận ra nhau” ra, câu
văn trên còn rất lằng nhằng, ngúc ngắc. Nó chỉ gồm 50 âm tiết nhưng
đã trùng lặp tới 5 lần từ “nhau”, 3 lần từ “gặp”, 2 lần từ
“tình yêu”, 2 lần từ “không”, 2 lần từ “mà”, lại nhiều “là”,
“mà” rề rà lủng củng quá xá. Phải bỏ từ “nhưng” ở đầu câu mới đúng văn phạm. Cụm từ “tình yêu ngưỡng mộ” không ổn, rất
khó nghe. Có thể dẫn ra khá nhiều những câu văn tối tăm, cụt ngủn khác,
ví dụ :” Tình yêu chưa có thời gian để
thực hiện “. Câu này thiếu cả chủ ngữ lẫn vị ngữ. Vì bài viết
đã dài, chúng tôi không thể dẫn ra nhiều lỗi khác của ông Trần Đình
Sử trong bài giảng trên.
Bài giảng văn làm mẫu cho học trò lớp 12 đi thi tốt nghiệp, thi đại
học, cao đẳng trên quả tình đã không đúng như “Lời nói đầu” quảng cáo là mẫu mực, hay ho. Bài văn trên
đã giảng sai hầu như gần hết văn bản
sách giáo khoa là truyện ngắn”Mảnh trăng cuối rừng”của Nguyễn Minh
Châu. Nếu các thí sinh học thuộc những ý chính, hay thuộc lòng bài giảng
này của ông Trần Đình Sử, chúng tôi cam đoan là các em sẽ trượt môn văn.,.
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com