BÀI THƠ "ĐỒNG CHÍ"
ĐÃ ĐƯỢC GIẢNG HAY NHƯ THẾ NÀO ?
Trần Mạnh Hảo Cuốn "GIẢNG VĂN CHỌN
LỌC VĂN HỌC VIỆT NAM" dày 467 trang, do GSTS Trần Đình Sử tuyển chọn
bài của 28 vị hầu hết là giáo sư đầu ngành, NXB Đại Học Quốc Gia Hà
Nội -2001, thực ra là một cuốn giảng văn mẫu, bình văn của các tác giả
văn học hiện đại được học trong sách giáo khoa văn trung học. Trong
"Lời nói đầu", tác giả tuyển chọn viết : “Giảng văn chọn lọc này cho nhiều đối tượng.
Trước hết là cho học sinh trung học, những người đang ngồi trên ghế
nhà trường…”"..." Sách chọn những tác phẩm có trong chương trình
PTTH hiện nay, chú trọng tới những định hướng ra đề thi cuối cấp và
thi vào đại học, trung học chuyên nghiệp..."..." Chúng tôi chọn
những bài giảng văn hay của các tác giả quen biết..."..." Các
bài được chọn có phong cách, phương pháp giảng văn đa dạng, giúp học
sinh gợi mở nhiều cách tiếp cận, trau dồi ý tứ thêm phong phú, học
cách hành văn thêm linh hoạt". Qua những lời quảng cáo
"hết ý" trên, đủ biết sách này không chỉ gồm những bài giảng
văn học mẫu mực, hay ho, mà còn là những bài văn mẫu do nhiều vị GSTS,
GS đầu ngành trước tác cho học sinh trung học "học tủ" để đi
thi. Chúng tôi sẽ xin phép được hầu chuyện các vị giáo sư giảng văn mẫu,
viết văn mẫu trong cuốn sách này trên một số tờ báo. Bài đầu tiên,
chúng tôi xin bàn với GSTS Trần Đình Sử về việc ông đã giảng mẫu, viết
mẫu bài thơ "Đồng chí" của Chính Hữu từ trang 268 đến trang
273 ra sao ? Bài thơ "Đồng chí"
của Chính Hữu viết năm 1948, đến năm 1949 được tác giả Minh Quốc phổ
nhạc, nên càng nổi tiếng hơn. Bài thơ chỉ vỏn vẹn 20 câu, toàn là lời
ăn tiếng nói bình thường, thậm chí tầm thường của người nông dân ra
trận, chân mộc, bình dị, "quần chúng hóa " tận cùng mà đọc lên
thật cảm động, thật hay. Giảng cho ra được hồn vía bài thơ này quả
tình không dễ, nếu không tìm ra được những chìa khóa để mở mã số
thơ. Trước hết, cần phải làm một sự so sánh giữa bài "Đồng chí"
với ba bài thơ hay khác cùng làm năm 1948 là các bài "Tây tiến" của
Quang Dũng, "Bên kia sông Đuống" của Hoàng Cầm và bài "Đất
nước" của Nguyễn Đình Thi ( 1948-1955) đều được học trong SGK Văn
12; để thấy bài "Đồng chí" đã thoát khỏi thi điệu hoa mĩ, bút
pháp ước lệ mà ba bài thơ kia còn phần nào chịu ảnh hưởng của các
dòng thơ trước 1945. Ngay cả so với hai bài thơ không vần thành công đầu
tiên ở Việt Nam là bài "Gió Tuy Hòa" và "Tình sông núi" của
Trần Mai Ninh- người cắm mốc thay đổi thi pháp thơ Việt Nam trong kháng
chiến chống Pháp- thì bài thơ "Đồng chí" cũng giản dị hơn, lính
hơn, quần chúng hơn, tránh được chất khoa trương tiểu tư sản. Sự thành
công ở "Đồng chí " của Chính Hữu là ở chỗ cái tưởng không
thể thành thơ đã hóa thơ. Cái tầm thường, thông tục kiểu "Quần tôi có vài mảnh vá" là cái tối
kị trong nền thơ lãng mạn trước đó, nay đã thành hình ảnh thơ. Chính
Hữu thông qua "Đồng chí" không chỉ có công thay đổi ngữ điệu,
thi điệu, tiết điệu, bút pháp mà chính là ở nội dung thơ, phẩm chất
thơ, góp phần đưa thơ kháng chiến thành nền thơ có phong cách riêng, thi
pháp riêng, hoàn toàn khác thơ lãng mạn 1932-1945. "Đồng chí"
chính là tiếng thơ, là nỗi lòng của hàng vạn người nông dân chân đất
cầm súng chống Pháp, nên nó được những binh nhất, binh nhì, binh ba ít học,
thậm chí chưa biết chữ thuộc lòng, rồi hát lên với nhạc Minh Quốc. Một
chìa khóa quan trọng khác để mở bài thơ "Đồng chí" chính là
câu thơ cuối : “Đầu súng trăng treo".
Vì vậy, Chính Hữu đã lấy câu thơ này làm tên tập thơ mình xuất bản
năm 1960. Rất
tiếc, GSTS Trần Đình Sử trong bài giảng mẫu, văn mẫu bình bài thơ
"Đồng Chí" đã không tìm ra được chìa khóa để giải mã bài thơ.
Ông chỉ có một phương cách là lúc thì lật đật, lúc thì lẽo đẽo chạy
theo từng câu thơ, từng đoạn thơ để diễn nôm nghĩa đen của chúng. Nghĩa
đen đã nằm lộ thiên trên bề mặt mỗi câu thơ, ai ai cũng nhìn thấy
rõ, việc gì vị GSTS này còn tìm cách giải cái không còn bí ẩn nữa. Việc
làm này của người bình thơ cũng giống như thầy giáo dạy môn cơ thể học,
mang hình nộm người ra, cố gắng giải thích rằng đây là tay, chân, mắt,
mũi, tai, đầu, ngực...Ví dụ khi giảng 4 câu thơ đầu của bài "Đồng
chí", ông Trần Đình Sử diễn
nôm nghĩa đen một cách không cần thiết như sau : "Mỗi người một quê, đất đai canh tác khác
nhau. Miền biển nước mặn đất phèn. Vùng đồi trung du, đất ít hơn sỏi
đá. Những con người tự nhận là xa lạ, cách nhau cả một phương trời
và chẳng hò hẹn quen nhau..." Giảng
văn, bình thơ là dựa vào nghĩa đen để đi tìm những nghĩa bóng, tìm hồn
thơ giấu ẩn bên trong câu chữ, hình tượng, vần điệu, giải những mật
mã nằm dưới nghĩa đen câu thơ như quặng nằm trong lòng đất, để tìm
ra bản chất khái quát của tư tưởng thẩm mỹ bài thơ; qua đó giúp người
học, người đọc tiếp cận được cái hay cái đẹp của bài thơ. GSTS Trần
Đình Sử không làm như vậy. Ông chỉ làm một việc duy nhất là diễn giải
nghĩa đen của câu thơ một cách vụng về, thô thiển; ví như khi ông
"phân tích" cái điều "biết rồi, khổ lắm, nói mãi"
trong hai câu thơ "Anh với tôi biết từng
cơn ớn lạnh / Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi" một cách
dài dòng, vô bổ, tẻ nhạt như sau : “Trong
kháng chiến, ở chiến khu, bệnh sốt rét cơn là phổ biến nhất. Hai câu
thơ nêu đủ các triệu chứng của bệnh sốt rét cơn. Những ai nhiễm bệnh,
thoạt đầu cảm thấy ớn lạnh, sau đó liền cảm thấy lạnh tới người
run cầm cập, đắp bao nhiêu chăn cũng không hết rét, trong khi đó thì
thân nhiệt lại lên cao tới 40, 41 độ, người vã cả mồ hôi, vã vì
nóng và vì yếu. Phải trải qua cơn bệnh này mới hiểu hết cái thật của
câu thơ. Sau cơn sốt đó là da xanh, da vàng, viêm gan, viêm lá lách..."
Có lẽ vì tác giả giảng thơ, bình thơ này chưa qua cơn sốt rét rừng
kia, nên "chưa hiểu hết cái thật của
câu thơ", mới bình thơ một cách "y học" như thế ? Xin lấy
một ví dụ khác, khi tác giả giảng văn mẫu giảng một cách hết sức
thô thiển, sai lạc, buồn cười câu thơ "Miệng cười buốt giá" như sau : “"Miệng cười buốt gia" hẳn là cười
trong buốt giá, vì áo quần không chống được rét, mà cũng là nụ cười
vượt lên trên buốt giá, mặc dù trời lạnh hẳn nụ cười cũng khó mà
tươi...” Thậm chí, ông Trần Đình Sử
còn hiểu sai ngay cả nghĩa đen câu thơ như khi ông giảng câu "Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ"
như sau : “Đắp chăn chung trở thành biểu
tượng của tình thân hữu, ấm cúng, ruột thịt”. Thưa rằng đắp
chăn chung vì gian khổ thiếu thốn, không đủ mỗi người một tấm chăn
chiên, nên bất đắc dĩ phải đắp
chung chăn, chứ không phải cốt để biểu diễn tình thân hữu ! Ví dụ thứ
hai về việc ông Trần Đình Sử hiểu sai ngay cả nghĩa đen câu thơ "Gian nhà không mặc kệ gió lung lay" như
sau : “Câu thơ ngang tàng, đượm chất lãng
mạn như muốn nâng đỡ con người vượt lên cái bất đắc dĩ của hoàn
cảnh. Thử hỏi ai có thể "mặc kệ" để cho gió làm xiêu đổ nhà
mình ? Đó là một thoáng tếu nhộn làm se lòng người”. Ông Trần Đình
Sử chưa hiểu được nghĩa đen của ba câu thơ kết, nên mới viết : “Nếu đoạn một nói về sự hình thành
tình cảm đồng chí, đoạn hai nói về tình cảnh hiện tại, thì đoạn ba
nói về hành động chiến đấu của họ : "Đêm nay rừng hoang sương
muối / Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới / Đầu súng trăng treo". Từ
nhận thức chung, tình cảm chung, bài thơ kết vào hành động". Ba câu
thơ kết này về nghĩa đen là một cảnh tĩnh, chứ không phải động, sao
gọi là hành động được ? Nghĩa bóng của ba câu thơ kết nhằm ngợi ca
cái đẹp của người chiến sĩ, chất lãng mạn cách mạng tận cùng của
người lính trước giờ xuất kích, sao ông Sử dám giảng là "hành động
chiến đấu" được? Khi giảng câu thơ : "Anh với tôi đôi người xa lạ / Tự phương
trời chẳng hẹn quen nhau" GSTS Trần Đình Sử đã dùng sai một thuật
ngữ văn học là : "lạ hóa", như sau : "Để làm hiện lên nội dung mới lạ trong những
từ ngữ quen thuộc, nhà thơ phải dùng phép "lạ hóa". Không phải
ngẫu nhiên mà bài thơ bắt đầu từ những cái khác biệt và xa lạ.".
Đâu phải câu thơ nhắc đến việc những đồng chí nói với nhau rằng,
anh ở vùng nước mặn, tôi ở vùng sỏi đá, trước khi quen nhau ta vốn là
những người xa lạ mà dám bảo thủ pháp nghệ thuật của đoạn thơ này
là "phép lạ hóa" ? Bài thơ "Đồng chí" được viết với
bút pháp hiện thực, thậm chí hiện thực tới mức trần trụi, không câu
nào hoa mỹ, dị thường sao dám bảo có "phép lạ hóa" ở 4 câu thơ
đầu ? Chúng tôi đồ rằng GSTS Trần Đình Sử không hiểu thuật ngữ
"lạ hóa" là một thuật ngữ khởi đầu do trường phái hình thức
Nga đầu thế kỷ XX tạo ra, chủ trương đưa vào nghệ thuật những thủ
pháp mang tính dị thường, nghịch lý, huyền hoặc, siêu thực, rùng rợn,
trái khoáy... để phủ nhận những quan niệm của chủ nghĩa lãng mạn và
chủ nghĩa hiện thực...Sau này, Brecht tiếp thu và cải biên nội hàm thủ
pháp "lạ hóa" này, để đưa vào mỹ học, vào kịch và thơ của
mình, tạo ra những bất ngờ lớn... GSTS Trần Đình Sử khi phân
tích câu thơ : "Đêm rét chung chăn thành
đôi tri kỉ / Đồng chí" đã lầm lẫn yếu tố "vần" và
"thanh" trong sự lập luận vẩn vơ như sau :" Nhà thơ có thể hoàn toàn viết thế này :
"Đêm rét chung chăn, thành đôi đồng chí". "Đồng chí"
và "tri kỷ" đều cùng một vần bằng, vần trắc, hai chữ có thể
thay thế nhau mà không làm sai vận luật, và bài thơ có thể rút ngắn được
một dòng. Nhưng nếu viết như thế thì hỏng". Giả sử phải thay
từ "đồng chí" vào từ "tri kỉ" như trên thì chỉ có
"kỉ" vần với "chí", là vần trắc, còn vần bằng mà
ông Sử nhắc tới khi định hoán vị hai từ cho nhau nằm ở đâu ? Có lẽ
ông Sử lầm lẫn, nên cho rằng "tri" (tiếng đầu của từ
"tri kỉ") và "đồng" (tiếng đầu của từ "đồng chí")
đều là "cùng một vần bằng" chăng? "Tri" và "Đồng"
không hề là một vần bằng, lại không hề có nghĩa vụ phải vần với
nhau theo luật vận. Chúng là một thanh không và một thanh bằng, hai tiếng
đầu tạo nên từ "tri kỷ" và "đồng chí" mà thôi. Nói tóm lại, GSTS Trần Đình
Sử vì chưa thẩm nổi bài thơ "Đồng chí" nên sa vào diễn nôm
nghĩa đen, thậm chí hiểu sai nghĩa đen, lại còn lẫn lộn giữa "vần"
và "thanh", không hiểu thuật ngữ văn học ... Bài giảng mẫu này
chưa đạt, chưa hay như "Lời nói đầu" quảng cáo".,. Thành phố Hồ Chí Minh
20-5-2003 |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com