GSTS. TRẦN ĐÌNH SỬ GIẢNG SAI BÀI THƠ
"TRÀNG GIANG" CỦA HUY CẬN
Trần Mạnh Hảo
Bài thơ “Tràng Giang” in trong tập “Lửa thiêng” là một trong những
kiệt tác của nhà thơ Huy Cận. Bài thơ này vừa xuất hiện đã được
đưa ngay vào sách giáo khoa từ trước 1945, đến nay vẫn đang còn học
trong chương trình “Văn Học 11” tập 1 do Bộ GD&ĐT ấn hành thông qua
NXB GD. GSTS Trần Đình Sử đã bình giảng bài thơ này làm mẫu để học
sinh trung học thi tốt nghiệp, thi đại học và cao đẳng, in trong cuốn “GIẢNG
VĂN CHỌN LỌC VĂN HỌC VIỆT NAM - VĂN HỌC HIỆN ĐẠI”, NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội -2001. Nhận thấy bài bình giảng “ Tràng Giang” trên còn có
nhiều điều chưa chuẩn xác, chúng tôi xin phép được trao đổi với ông
Trần Đình Sử, ngõ hầu mong các vị thức giả trong nước chỉ giáo.
Chẳng cần phải “giải mã” bằng các thao tác phân tích sâu xa
gì, chỉ cần bất cứ ai có trình độ sơ cấp, nếu đã đọc “Tràng
Giang”, đều thấy bài thơ này tác giả mượn cảnh sông nước đìu hiu
buổi chiều để không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của quê hương, mà chính là
muốn bày tỏ nỗi sầu, nỗi cô đơn của con người trước vũ trụ. O⮧ Trần Đình Sử đã nhìn
thấy phần nhô lên của tảng băng - thơ “Tràng Giang” và phân tích được
điều này. Nhưng cái phần chìm của tảng băng -thơ “Tràng Giang”, rất
tiếc, ông chưa tìm ra cách gọi tên! Chung quy cũng bởi ông đã hiểu chưa
đúng nghĩa đen của nhiều câu thơ trong “Tràng Giang”. Chúng tôi xin dẫn
giải, chứng minh.
Giảng nghĩa đen câu thơ “Con thuyền
xuôi mái nước song song “, ông Sử viết :”Ở đây con thuyền buông mái chèo xuôi dòng (
xuôi mái) theo dòng nước nhưng thuyền và nước chỉ “song song” với
nhau, chứ không gắn bó gì với nhau
“. Khi “thuyền” và “nước” đang trong cảnh “xuôi chèo mát mái” (
xuôi chèo) chảy song song nhau trong một tư thế gắn bó, hòa hợp, êm ấm,
thơ mộng, sao dám bảo “chúng không gắn
bó gì với nhau” ? Trong ngữ cảnh câu thơ “ Con thuyền xuôi mái nước song song”, “thuyền”
và “nước” đã là đôi uyên ương thắm thiết; nên ngay câu sau, mới xuất
hiện nỗi “sầu trăm ngả” của “nước” khi xa bạn tình bởi việc
“thuyền về” : “Thuyền về nước lại
sầu trăm ngả” ! Việc ông Sử bảo “thuyền” và “nước” “không gắn bó gì với nhau”, trong khi thực
sự chúng yêu nhau vô cùng nên càng đau đớn khi chia ly, là hiểu sai hoàn
toàn nghĩa đen câu thơ.
Khi giảng nghĩa đen hai câu : “Nắng
xuống, trời lên sâu chót vót / Sông dài, trời rộng, bến cô liêu “
người bình thơ viết :” Hai dòng cuối
càng tô đậm thêm cảm giác lạc lõng :nắng xuống, trời lên không chỉ gợi
ra khung cảnh nắng chiều, mà bản thân hai
hướng lên xuống, như không ăn nhập với nhau, và sông dài, trời rộng càng tăng thêm cái vắng
vẻ của bến sông. Cô liêu là vắng vẻ.
Trong hai dòng này nhà thơ đã đem đặt bên
nhau những yếu tố vốn không có gì là buồn để tạo nên một cảnh buồn.
Giữa các yếu tố đó đều có đặt dấu phảy (, )”.
Ta thử đọc lại câu thơ : “Nắng
xuống, trời lên sâu chót vót” để
xem lời giải nghĩa của ông Sử là “Bản
thân hai hướng lên xuống, như không ăn nhập với nhau” có đúng không ? Nhìn bề ngoài, có vẻ “nắng xuống, trời lên” như “không ăn nhập với nhau” thật. Nhưng ngẫm
một chút, mới thấy “nắng xuống” để
“trời lên” là biện chứng của nhau, là hai mặt của một thực thể
“chiều” ! Nó giống như hai đầu của
cái bập bênh tạo hóa : “nắng xuống” thu cái chói gắt về giấu vào
hoàng hôn để chiều dịu lại, xa thêm, làm thinh không cao hơn thành hun hút : “trời lên”. Có
phải trong hai dòng cuối của khổ thơ thứ hai, Huy Cận “đã đem đặt bên nhau những yếu tố vốn
không có gì là buồn để tạo nên một cảnh buồn” hay không ? Về điều này, ông Sử đã lầm.
“Nắng xuống” để hoàng hôn, cho một ngày sắp tắt vốn sẵn một nỗi
buồn chiều. Xưa nay, thơ văn thường mượn buổi chiều, buổi “nắng xuống”
mà bày tỏ nỗi buồn của con người đó sao ? “Trời lên sâu chót vót” cũng tạo một cảm giác buồn. Xuân Diệu từng
viết : “Hôm nay trời nhẹ lên cao / Tôi buồn
không hiểu vì sao tôi buồn”. Trong thiên nhiên phàm cái gì cao quá,
sâu quá, dài quá, rộng quá, lớn quá...đều mang đến cho con người cảm
giác buồn. Thế thì cả ba nhịp ngắt, ba yếu tố sông, trời, bến của
câu thơ : “Sông dài, trời rộng, bến cô
liêu” mỗi nhịp đều là ký hiệu
của một nỗi buồn riêng. Bến “cô liêu” được ông Sử giải nghĩa là
vắng vẻ là chưa hoàn toàn đúng. Nghĩa từ điển của “cô liêu” là lẻ
loi, hoang vắng. Đã vừa lẻ loi, vừa hoang vắng thì buồn quá đi chứ. Tóm
lại, trong năm yếu tố, năm nhịp thơ được Huy Cận dùng dấu phảy (, )
để chia ra thành năm mảnh, mảnh nào cũng man mác buồn. Cộng năm mảnh buồn
nhỏ lại, hai câu thơ trên mới biểu thị một nỗi buồn lớn hơn. Việc
ông Sử giải thích các nghĩa đen hai câu thơ cuối của khổ thơ thứ hai bài
“Tràng Giang” như trên, chứng tỏ ông chưa hiểu nổi khổ thơ này.
Ta hãy nghe ông Sử giải nghĩa khổ thơ thứ ba : “Khổ thứ ba vẫn tiếp tục mạch cảm xúc về
sự hờ hững, mất hết liên lạc giữa
các sự vật :” Bèo dạt về đâu hàng nối hàng / Mênh mông không một
chuyến đò ngang / Không cầu gợi chút niềm thân mật / Lặng lẽ bờ xanh
tiếp bãi vàng “. Vẫn các sự vật đặt bên nhau : bèo hàng nối hàng, bờ
xanh tiếp bãi vàng, hai bờ sông mênh mông không cầu, không đò ngang, tạo thành một thế giới không liên hệ...”...”...Mọi vật thì vẫn có, nhưng không vật nào
có ý tìm nhau, đến với nhau, cần đến nhau”... Đọc thoáng qua khổ
thơ thứ ba, cảm giác đầu mang lại cho chúng ta chừng như ủng hộ kết
luận về “một thế giới không liên hệ” của ông Trần Đình Sử. Nhưng
đọc lại khổ thơ không chỉ bằng mắt mà bằng tâm hồn, bằng chiều
sâu của tư tưởng, tình cảm, mới thấy ông Sử hiểu thơ Huy Cận như trên
là chưa đúng. Các sự vật trong khổ thơ thứ ba tưởng “hờ hững” mà
thực ra không chút hững hờ. Ngay cả những đám “bèo dạt” “hàng nối
hàng” kia cũng hừng hực một nhiệt tình, một hăm hở đi tìm vô định : “Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng”. Bản
chất của bèo, nghề nghiệp của bèo là trôi dạt, là cuộc hành hương tìm
cái không đâu vô bờ bến. Ngay cả sự “không cầu”, “không đò” qua
sông tăng thêm chiều dài rộng, chiều sâu khôn cùng, giúp không gian tịch
lặng càng thêm tịch lặng, chính là để tạo “máng cỏ” cho hồn thơ
giáng thế trong trắc ẩn nồng nàn tạo vật, tuyệt nhiên cảnh đượm tình
này không chút “hững hờ”. “Bờ xanh tiếp bãi vàng” về bề ngoài,
có vẻ lặng lẽ, nhưng trong chiều sâu bờ thẳm kia là động vang của huy
hoàng “xanh” tiếp rực rỡ “vàng”, tạo cho âm hưởng bên trong cất
tiếng nói trữ tình nồng ấm. Mọi sự vật trong khổ thơ đều được nối
với nhau bằng “cầu” bằng “đò” không nhìn thấy là hồn thơ, tình
thơ Huy Cận bảng lảng, nồng nàn khắp nơi. Chính Trịnh Công Sơn, qua ca
khúc của mình, chừng như đã giúp ta bình khổ thơ thứ ba của Huy Cận một
cách thật hay :” Ngày sau sỏi đá cũng cần
có nhau”. Có phải chính nỗi bơ vơ của dòng “Tràng Giang” không cầu,
không đò kia đã núp vào cái vũ trụ bơ vơ của hồn Huy Cận mà chừng như
vơi bớt nỗi bơ vơ ngay khi nhận ra
“ Bờ xanh tiếp bãi vàng” thân mật ?
Những khái quát của ông Trần Đình Sử về “Tràng Giang” ví như
: “Nay Huy Cận một mình đối diện với
khung cảnh vô tình...” là hết sức sai. Cảnh vật thiên nhiên nếu
không có con người thì đều là cảnh vật vô cảm, vô tình cả. Nhưng cảnh
vật trong “Tràng Giang” đâu còn là cảnh vật thuần tuý tự nhiên. Nó
là cảnh vật đã được Huy Cận hoá, thơ hóa, hồn vía hoá nên là cảnh
vật đẫm tình người. Nguyễn Du đã viết rất rõ về điều này như sau
: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu / Người
buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Bảo cảnh vật trong bài thơ “Tràng
Giang” đều là cảnh vật vô tình như ông Sử trên không chỉ không hiểu
được Huy Cận, mà còn không thể nào đọc được thơ nói chung. Ông Trần
Đình Sử tiếp tục phát triển cái nhận xét sai lầm về thơ Huy Cận nói
riêng và về thơ nói chung bằng cách viết như sau : “Cái buồn như toát ra từ cấu tạo của thế
giới, từ cái đẹp thiếu tình người, từ sự mất liên lạc có tính phổ quát gây ra” . Bảo cảnh vật,
bảo nỗi buồn trong bài thơ “Tràng Giang” sinh ra từ “cái đẹp thiếu
tình người”, “từ sự mất liên lạc” của
thế giới như ông Sử viết trên
là cách tốt nhất để giết chết hồn thơ Huy Cận vậy.,.
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com