|
Trần Ngôn
Sử
- NHỮNG VẤN NẠN VĂN SỬ
TRIẾT…
- VÀ NHỮNG DẤU HỎI BỨC
THIẾT VỀ
- GIAI ĐOẠN GIAO THỜI – HẬU
CHIẾN
- SAU NGÀY THỐNG NHẤT ĐẤT
NƯỚC
Việc học tập, nghiên cứu và giảng
dạy các bộ môn khoa học xã hội trong nhà trường và tác động của quá
trình đó vào xã hội, tạo nên những hiệu quả, những phản ứng tiếp
nhận khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, chỉ là một hiện tượng bình
thường. Nhưng thật ra, đó cũng chính là những gì phức tạp nhất, vì vậy,
là những vấn nạn thao thức nhất, thường khiến chúng ta cần ngẫm nghĩ
lại như một nỗi niềm trăn trở khôn nguôi. Phải chăng trong những giai
đoạn giao thời lịch sử, hiện tượng ấy mới biểu hiện một cách rõ
rệt nhất?
Thật khó yên lòng khi mọi người
đều là người trong cuộc, lại tránh né, làm ngơ hoặc cố tình xoa dịu
nỗi thao thức, trăn trở và nhức nhối ấy một cách thiếu trách nhiệm.
Và cũng không tốt lành gì khi vấn nạn đã được đánh động trên báo
chí, cả trong nước lẫn ngoài nước, nhưng vẫn chưa đi đến một sự nhất
trí trong việc xác lập thái độ cần thiết trước hiện tượng chứa đựng
nhiều vấn nạn khoa học xã hội ấy, cụ thể là ở các bộ môn văn học
và sử học, triết học và kinh tế – chính trị học. Nói xác lập thái
độ cần thiết là nói đến điều kiện tiên quyết, mặc dù kết luận
thỏa đáng cần có không phải một sớm một chiều.
Ở nước ta, hai vết thương chia
cắt đất nước là sông Gianh (khởi từ 1558) và sông Bến Hải (bắt đầu
từ 1954) cho đến nay, đã hơn 417 năm diễn biến và hơn 30 năm (1975 –
2005) di họa.
Sau công cuộc thống nhất Đàng
Trong và Đàng Ngoài (1788) của Nguyễn Huệ và sự kế tục thành công sự
nghiệp thống nhất đất nước ấy (1802) của Nguyễn Ánh, sông Gianh không
còn là vết thương cắt đôi đất nước, nhưng trong xã hội thuở bấy giờ,
mâu thuẫn hai Đàng vẫn còn rất gay gắt, thậm chí nổ bùng thành nhiều
cuộc nội loạn – trấn áp, phản ánh vào văn chương và sử học được
sáng tác, ghi chép bởi những tác giả đương thời thuộc giai đoạn đó.
Phạm Thái và Nguyễn Huy Lượng với “Phản
chiến tụng Tây Hồ phú” và “Chiến
tụng Tây Hồ phú” là một trong những trường hợp tiêu biểu của
thái độ kẻ sĩ Bắc Hà trước tân triều. Ngô gia văn phái với Hoàng Lê nhất thống chí có phải đã
nghiêng lệch về phía Ngô Thời Nhậm, một đại thần của vua Quang Trung,
dẫu sao cũng đã mang gốc gác xứ Đàng Trong? Và
tâm trạng Nguyễn Du với Truyện Kiều cùng những tập thơ chữ Hán (Nam Trung, Thanh Hiên, Bắc hành)? Những bài
thơ Bà Huyện Thanh Quan? Đặc biệt là Cao Bá Quát, không những chỉ thể
hiện thái độ chính trị ở thơ ca mà còn trong hành động múa gươm, cầm
súng?
Bây giờ, chúng ta học tập,
nghiên cứu và giảng dạy như thế nào? Với quan điểm, lập trường nào
là khoa học nhất, chân thực nhất, thỏa đáng nhất?
Cũng những câu hỏi ấy được
đặt ra một cách gay gắt, bức thiết trong giai đoạn về sau, thời thực
dân Pháp và tả đạo Thiên Chúa giáo thật sự tấn công, đánh chiếm, cuối
cùng thống trị nước ta (1858 – 1885). Có lẽ ở thời đoạn này, chiến
tuyến và sự chọn lựa thái độ chính trị của kẻ sĩ dễ dàng hơn, vì
tình thế địch – ta quá rõ rệt. Tuy vậy, ngoài Nguyễn Đình Chiểu quyết
liệt chống giặc Pháp xâm lược, vẫn có cuộc bút chiến bằng thơ giữa
Phan Văn Trị với Tôn Thọ Tường! Nhất là đối với những kẻ như
Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trường Tộ, câu hỏi tưởng chừng không cần đặt
ra nữa, thế mà cũng không phải không có những sai lầm kéo dài, những
câu hỏi bị cường quyền thực dân, bạo lực tả đạo ngu dân giằng lấy
để ném vào im lặng! Những câu hỏi về Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất
Thuyết trong Việt Nam sử lược (1924) của
Trần Trọng Kim cũng thế!
Và đối với 45 năm (1885 –
1930) thực dân, tả đạo Thiên Chúa giáo hoàn toàn chiếm đóng đất nước
ta, hoàn toàn thống trị dân tộc ta, những câu hỏi ấy cũng không phải
không dậy lên trong lòng vài ba thế hệ hiện thời cùng chung sống, học tập,
nghiên cứu và giảng dạy! Phan Bội
Châu với chủ trương cầu viện Nhật Bản ở thời điểm Nhật đã hùa
theo thực dân Âu Mỹ xâm lược Triều Tiên (1875) và đã chiến thắng đế
quốc Nga sa hoàng (1904), phải chăng là sáng suốt, không phải “đuổi cọp cửa trước, rước hổ ngõ sau”?
Phan Châu Trinh với chủ trương “bất bạo động, bạo động giả tất tử;
bất vọng ngoại, vọng ngoại giả tất ngu” (đừng bạo động, bạo
động ắt phải chết; đừng trông chờ ngọai viện, chờ ngoại viện hẳn
là ngốc), chỉ nên dựa vào giặc Pháp thống trị để đánh đổ chế độ
phong kiến nhà Nguyễn giai đoạn Khải Định thực sự là tay sai, bù nhìn,
nhằm “chấn dân khí, hưng dân trí, hậu
dân sinh”, hướng tới một chế độ cộng hòa “Pháp – Việt đề huề”, có phải
là cải lương chủ nghĩa, thực chất là thỏa hiệp với giặc Pháp?
Đặc biệt, dấu mốc lịch sử
bị xem là “nhạy cảm” nhất (dùng từ ngữ chính xác là “gây đụng
chạm nhất”) là con số nào? Phải chăng là 1917? 1920?
hay 1930? hoặc 1945? Và những dấu hỏi nào neo vào giai
đoạn ấy, từ khi phong trào cộng sản xuất hiện như một lực lượng có
chính quyền và thực lực ở một đất nước rộng lớn là nước Nga (Liên
bang Xô-viết)? Phong trào Xô-viết Nghệ
– Tĩnh đâu phải không bị xem là cuộc nổi loạn của “bọn giặc vô
thần”, tay sai Nga–Liên Xô, một đế quốc đỏ của châu Âu! Phan Bội
Châu đã từng được những người cộng sản Nga đặt vấn đề gây dựng
phong trào cách mạng vô sản ở nước ta, và Phan Bội Châu đã xác định
bằng hai chữ “giảo quyệt” về
phong trào cộng sản do người Nga đứng đầu ấy, trong cuốn hồi kí “Tự phán”! Có phải ở giai đoạn cuối
đời, Phan Bội Châu thỏa hiệp với chủ trương “Pháp – Việt đề huề” như Nguyễn
Văn Vĩnh, kẻ đứng tên trong hồ sơ đơn trương xin lập Đông Kinh nghĩa
thục, rồi Phan Bội Châu lại tán thành phong trào cộng sản quốc tế của
Lénine – Staline? Cũng trong thời đoạn 1920 – 1945 này, Nguyễn Ái Quốc (Hồ
Chí Minh), một nhân vật lịch sử được Tổ chức Giáo dục – Khoa học
– Văn hóa (UNESCO) của Liên hiệp quốc, trong thập niên 80 thế kỉ XX, thẩm
định và đề cao là danh nhân thế giới, “nhà
văn hóa kiệt xuất, anh hùng giải phóng dân tộc”, không phải không bị
chính một bộ phận người Việt phỉ báng, xuyên tạc, thậm chí kết án
là tay sai của Nga Xô, một trong những người sát tả đạo Thiên Chúa
giáo! Đó là một trong những câu hỏi
mà ở nước ta hiện nay không một ai dám nêu lên (không dám nêu lên trên
mặt báo đã đành, cũng không ai dám nêu lên ngay cả trong những lúc bia bọt
rượu chè, vui miệng!), trừ một số cây bút sử gia nước ngoài hay người
Việt hải ngoại.
Và những câu hỏi khốc liệt vẫn
không ngừng được đặt ra ở cuộc chiến tranh với vết thương chia cắt
đất nước là sông Bến Hải, thuộc giai đoạn sau (1954 – 1975), một giai
đoạn hầu như vài ba thế hệ đã sống, trải nghiệm, với tư cách là người
trong cuộc hay là chứng nhân, nạn nhân. Đích thực Diệm – Thiệu, hai tổng
thống tả đạo Thiên Chúa giáo, không nghi ngờ gì nữa, là hai kẻ đứng
đầu chế độ ngụy tả ở Miền Nam Việt
Nam (cái được gọi là đệ nhất cộng hòa – đệ nhị cộng hòa!). Chế độ Mỹ – ngụy tả đạo cộng hòa ấy thực chất
là sự nối dài của chế độ Pháp – ngụy
tả đạo phong kiến. Những mệnh đề khẳng định ấy cũng cần thiết
đặt thành câu hỏi chăng? Và có cần
thiết phải chép lại cho đủ số câu hỏi đặt ra, trong đó có câu đại
loại như “Thực chất cũng như vậy, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Miền
Bắc Việt Nam là tay sai của “quan thầy
Liên Xô – Trung Cộng””? Cụm từ trong ngoặc kép, in nghiêng là của
các đài phát thanh và một ít công báo ở Miền Nam trước 1975, và đến
nay vẫn còn được sử dụng ở một số sách báo in giấy, tạp chí điện
tử hải ngoại (xin xác định rõ, không phải báo chí, sách xuất bản,
website nào ở hải ngoại cũng thế).
Thời hậu chiến (1975 – 1989)
là giai đoạn hòa bình, tự do, hạnh phúc, độc lập, dân chủ chăng? Không, trong đó vẫn còn cuộc chiến tranh hơn
mười năm tại biên giới phía Bắc, nhất là ở biên giới phía Tây – Nam
và trên lãnh thổ nước láng giềng Campuchia. Đó là cuộc chiến giữa Việt
Nam với liên minh Bắc Kinh bành trướng đỏ – Kh’Mer đỏ, khiến nước
ta càng lệ thuộc sâu hơn vào Liên Xô chăng? Những câu hỏi vẫn chói gắt
bật lên, tung ra, khắc sâu. Không những các dấu hỏi xoáy vào “cuộc chiến của tình nghĩa anh em đỏ” (“The
red brotherhoods’ s war”), mà còn ở xã hội Miền Nam Việt Nam. Thật
có chăng tình trạng những chùa chiền, đình miếu bị cất dẹp chân đèn,
lư nhang, tượng Phật, bài vị tổ tiên họ tộc, để rồi bị trưng dụng
làm văn phòng, sân phơi, kho lúa hợp tác xã, thậm chí để hoang, dột nát?
Người Miền Nam có bị phân biệt đối
xử không? Có phải người Miền Bắc
đã di dân kiểu xâm thực Miền Nam? Có
phải những trí thức Miền Nam bị ép buộc hoặc bị giăng bẫy để phải
rời khỏi những công việc chuyên môn, nhằm mục đích của Miền Bắc là
chiếm chỗ tại Miền Nam để dễ bề thống trị? Tại sao ở Miền Nam, học sinh trung học,
sinh viên đại học chủ yếu tuyển sinh từ Miền Bắc? Tại sao có đến hàng triệu người, thuộc
nhiều diện khác nhau, chủ yếu là người Miền Nam bị cưỡng bức chạy
ra nước ngoài xin tị nạn? Ai cưỡng
bức? Cưỡng bức bằng bạo quyền, thủ đoạn ma mãnh, quỷ quái trong thực
tế hay “cưỡng bức tâm lí”? Chuyên chính vô sản hay “tàn dư Mỹ – ngụy tả đạo” còn sót trong tâm thức? Và vô số câu hỏi khác về các cuộc cải
tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh thời “tiến nhanh, tiến mạnh,
tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”, thời “bao cấp kinh tế”, “bao
cấp tư tưởng”, rồi còn vô số câu hỏi về kinh tế thị trường, tự
hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa thời Đổi mới, sau khi Liên Xô, Đông
Âu thuộc hệ thống chế độ mác-xít – lê-nin-nít – sta-lin-nít sụp đổ,
Trung Quốc đã theo “chủ nghĩa cơ hội Đặng Tiểu Bình”. Và tại sao chưa
có tự do tư tưởng, tự do sáng tác, tự do báo chí, tự do xuất bản tại
nước ta?
Đó là những câu hỏi trung thực
về mặt trái sử học hay là những câu hỏi phản quốc, nhẹ tội nhất cũng
là loại câu hỏi phản động!
Cho dù đánh giá thế nào đi nữa,
những dấu hỏi ấy vẫn tồn tại trong lòng người, giữa xã hội và
trên những trang sách báo, in giấy hoặc trên mạng liên thông toàn cầu
(internet), của người Việt Nam chúng ta hay của những người ngoại quốc
quan tâm đến tình hình chính trị – kinh tế – xã hội – văn hóa – tư
tưởng và nhiều lĩnh vực khác ở nước ta. Không ai có thể thờ ơ, nữa
là người cầm phấn trước bục giảng, cầm bút trên trang bản thảo
nghiên cứu, sáng tác.
Những câu hỏi đặt ra là để
mời gọi sự trả lời và tự trả lời. Đó là những câu hỏi (what? when? who? why? where? và how?) thuộc yêu cầu nghiên cứu khoa học
và sáng tác văn học nghệ thuật, đúng như một phương châm ai cũng biết,
đại để là “không đặt vấn đề (không
hoài nghi, nêu câu hỏi), sẽ không có khoa học” và có thể mở ra một
hệ luận là không có cả văn nghệ chân chính, sâu sắc nữa.
Những câu hỏi như vậy đặt ra
là để vươn tới sự tiến bộ, chân thực trong khoa học xã hội và trong
văn nghệ với những thành tựu mới. Trong giáo dục, là để động viên
và tự động viên sự nghiên cứu, học hỏi và tôn trọng chân lí, nhất
là tôn trọng sự thật lịch sử, sự thật hiện thực với thái độ
trung thực, dũng cảm. Trong xã hội nước ta, sau khi vết thương sông Gianh
chia cắt đất nước thành hai Đàng phong kiến, tuy đã khỏi, vẫn còn nhức
nhối, vết thương sông Bến Hải chia cắt ý thức hệ, địch – ta, tuy đã
lành, vẫn còn rỉ máu, để đoàn kết dân tộc trong điều kiện ắt có
và điều kiện đủ là người ở Miền Nam định cư tại Miền Nam và tự
quản lí chính quyền Miền Nam, người Miền Bắc định cư tại Miền Bắc
và tự quản lí chính quyền Miền Bắc, không xâm lấn nhau, triệt hạ
nhau, dưới sự lãnh đạo thống nhất của một Nhà nước Việt Nam duy nhất,
một nền kinh tế – văn hóa nhất thống (theo nguyên tắc chung của mọi
đất nước trên thế giới: một dân tộc [gồm nhiều nhân tộc], một
lãnh thổ, một nhà nước).
Hay chúng ta chấp nhận như thời
thực dân Pháp – ngụy tả đạo thống
trị, các bậc ông, cha chúng ta cứ phải nhai đi nhai lại câu sử học thuộc
loại nhồi sọ trắng trợn, “Tổ tiên ta
là người Gô-loa”? Đó là một
“chân lí”, “sự thật” quá sai lầm, khiến người dạy, người học
phải hổ ngươi đến mức nhục nhã? Và cứ thế, cứ chịu đựng nhục
nhã như thế, mà nhiều người trong số họ đã đỗ đạt từ sơ học,
cao đẳng tiểu học, thành chung, tú tài, cử nhân, tiến sĩ Tây học; nhưng
rồi cũng có người trong số đó đi làm cách mạng chống thực dân Pháp.
So sánh, ví von như thế là khập khiễng quá đáng! Có điều, người viết bài này muốn nói:
Trong truyền thống dân tộc Việt Nam ta, trải qua ngót một nghìn năm nô lệ
giặc Tàu, ngót một trăm năm bị giặc Tây đô hộ, nên vốn có một “đức
tính” chịu đựng, tuy chịu đựng dài lâu nhưng vẫn bền bỉ nuôi chí
quật cường; thế thì … xin chịu đựng tiếp! Và
rồi, đáng buồn thay, những trang sử dân tộc Việt Nam về thời hiện tại
sẽ tủi buồn biết mấy!
Dẫu trong hoàn cảnh nào cũng phải
học. Không học, chắc chắn là ngu dốt. Thà học năm điều sai, năm điều
đúng, ta còn rèn luyện được tư duy, phương pháp học tập, nghiên cứu,
làm việc, như vậy còn hơn không được học, bị ép bỏ học, hoặc lười
học, chịu ngu dốt, óc não như một mớ đất sét.
Học tập, nghiên cứu khoa học tự
nhiên, kĩ thuật – công nghệ, ngoại ngữ là yêu cầu bức thiết. Tuy
nhiên, văn học, sử học, triết học là những bộ môn khoa học có vấn nạn
nhiều nhất, bức xúc nhất, lại càng cần thiết phải học tập, nghiên cứu
nhiều hơn, sâu hơn, khoa học hơn, để vươn lên giải quyết những vấn nạn
ấy, một cách trung thực, khoa học và dũng cảm chấp nhận chân lí, sự
thật. Tinh thần sáng suốt, tích cực hay không, ý chí và nghị lực có mạnh
mẽ hay không, là ở đó. Bậc phụ huynh nào cũng khuyên con em mình như thế.
Thật không yên lòng nếu những
vấn nạn được nêu lên để dẫn đến tình trạng người cầm phấn trắng
trước bảng đen ném phấn, bỏ nghề, người cầm bút trước bản thảo dở
dang quẳng bút, học sinh, sinh viên lười học, chán học, thậm chí bỏ học,
nhất là đối với các môn văn học, sử học và triết học, mặc dù kinh
tế - chính trị học không phải không có vấn nạn bức xúc (không phải
vì bản năng giai cấp mà bức xúc!), hoặc không chống lại sự cưỡng ép
bỏ dạy, bỏ học.
Không nêu ra vấn nạn là tiêu cực
vô tâm, không làm rõ những vấn nạn cũng chỉ là tiêu cực vô trách nhiệm?
Lương tâm sẽ không bao giờ thôi ray rứt,
nếu tất cả mọi người đặt ra những vấn nạn ấy để rồi tất cả
đều im lặng, mặc cho xã hội trượt dài vào tiêu cực lẽ ra không nên
có, và có thể đánh tan ý thức tiêu cực ấy.
Người viết bài này, cũng như
nhiều người khác, tự xét và tự nghĩ, dẫu sao, cũng đã góp toàn sức lực
trí tuệ, tâm hồn mình, cho dù đó chỉ là một chút đóng góp quá nhỏ
bé, trước những vấn nạn đầy thao thức, trăn trở trong giai đoạn giao
thời – hậu chiến của dân tộc Việt Nam ta, đồng bào Việt Nam ta trong
nước cũng như hải ngoại.
Tp. HCM., lúc 16 : 16, ngày 10-10 HB5
Trần
Ngôn Sử |