1005-gd.gif (6609 bytes)
posted: 01.10.2005
Trần
Xuân
An
NƯỚC MẮT CÓ VỊ NGỌT
 
Tiểu thuyết hư cấu
(gồm 5 truyện ngắn liên hoàn)
TÁC PHẨM DỰ THI
CUỘC THI TIỂU THUYẾT 1998 – 2000
DO HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TỔ CHỨC
Viết tại thành phố Hồ Chí Minh 1999
 
v  Kính tặng dòng sông chảy ra Cửa Việt,
băng ngang quê nhà Quảng Trị,
là ranh giới và nỗi đau Chăm – Việt suốt 232 năm (1075 – 1307),
là nguồn nước vỗ về hai bờ Ma – Ô:
Ma Linh – Địa Lí – Bố Chính và Ô – Lí
               (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức [:Thừa
               Thiên], Quảng Nam [:Kẻ Chàm: Cacciam]),
với niềm khát vọng Tổ quốc của hơn 53 nhân tộc đồng bào chúng ta, từ Nam Quan đến Cà Mau, không bao giờ còn đau nỗi đau chia lìa, cắt xé.
 
v  Kính tặng
Mỗi trái tim Việt Nam có một đóa Chăm-pa.
 
v  Kính tặng các vị trí thức lão thành Chăm uyên bác, bao dung và minh triết.
 
v  Tặng bạn tôi, Inrasara,
         nhà thơ, nhà nghiên cứu Chăm,
         Lâm Gia Tiến, nhà giáo Chăm,
cùng các anh: Mạnh, Phăng, Xoài, Sưởng …
và các nhà giáo trong Ban Biên Soạn sách tiếng Chăm tại Ninh Thuận: các anh Trại, Đảo, Cẩn, Liễn …                                           
                                             
Ngày 06 tháng 8 năm 2002
(28 tháng 6 Nhâm ngọ,
  năm thứ 2 công nguyên Hoà Bình).

Phần Phụ Luc cho 5 truyện ngắn: Nước Mắt Có Vị Ngọt

            Bản phác thảo, chép tặng Nghiệm và Quế Sương, hai nhân vật của tôi, lúc họ suýt rơi vào cảnh chia tan, như một lời chúc hàn gắn và hạnh phúc.

                   ĐÔI MẮT EM

                   là hai quả đất và hai vòm trời!
                   nhân hai bóng hình tôi,
                                      thuở em trìu mến
                   nắng ngời tươi đôi vầng trăng tròn
                                      long lanh, quyến luyến
                   hay đôi bong bóng bay,
                             tôi tìm tôi, níu giữ giữa vô cùng
 
                   bong bóng ảo vỡ tan,
                                      thành mưa, mưa,
                                      mặn đắng đôi quả đất,
                                      và đôi vòm trời dưới
                                                          vầng trán em,
                                      bao giọt xé cay, vụn vỡ
                   bóng hình tôi nát tan, chia trăm mảnh thơ
                                                                                        buồn
                   trôi giạt ngoài chân không,
                              theo hạt lệ hư huyền cùng tuyệt vọng
                   làm sao về,
                                 trong đôi lòng mắt người thương?

Chú thích bổ sung:

1. Chú thích (**) cuối truyện ngắn III (Ân sủng của tư nhiên):

          Về chi tiết Đức Mẹ Ma-ri-a (Maria) Trọn đời đồng Trinh:... Hoặc vẫn ''đồng trinh'' nhờ kĩ thuật thụ tinh gián tiếp, nhân tạo, thô sơ, thuở xa xưa ấy, theo sự ''báo mộng - thiên khải'' ở những người có niềm tin tôn giáo (niềm tin vào Cựu Ước), tại đất nước Do Thái (Israel) cổ đại.

          Có thể giải mã mẫu đề (motif) ''con Trời (thiên tử) - hoang thai - chữ trinh'' theo khuynh hướng này cho các truyền thuyết, cổ tích: Thánh Dóng, Mai Hắc Đế, Pô Rô-mê (Po Rome), Thạch Sanh...

          Dẫu sao, cách giải mã ấy cũng chỉ là giả thiết - một giả thiết hợp lí và có luân lí.

2. Chú thích (3) của truyện ngắn IV (Huyết thống nhân tộc ấy thơm mùi hương hoa sứ trắng):  các chữ ''Môn - Khơ-me'' in nghiêng hoặc đứng [khác kiểu]:

          Các nhân tộc Môn - Khơ-me: Cụm từ tạm dùng để gọi chung các nhân tộc cùng ngữ hệ Môn - Khơ-me ở Trường Sơn và ở Tây Bắc (Khơ-mú...). Đó là các nhân tộc đồng bào thiểu số, hẳn ít nhiều có quan hệ nhân chủng với nhân tộc Khơ-me tại Căm-pu-chia (Campuchia) và với nhân tộc Môn ở Mi-an-ma (Miến Điện - Myanmar), Thái Lan...''Ngữ  hệ Môn - Khơ-me'' là thuật ngữ chỉ chung cho cả trăm ngôn ngữ ở Đông Nam Á, có thể gồm cả nhánh ngữ căn Kinh - Mường.

          Ngữ căn Kinh - Mường là một dạng biến thái, phát triển theo hướng chi biệt hóa của hệ ngữ căn Môn - Chứt. Ngữ căn Môn - Chứt lại là một nhánh biệt phái của ngữ hệ Môn - Khơ-me. 

                                              (Theo tư liệu ngôn ngữ học của Ts. HD.).

3. Trích Đại Nam thực lục (Quốc sử quán triều Nguyễn, bản dịch Viện Sử học, tập 35 & tập 36, Nxb. KHXH., 1976):

            “Bãi bỏ binh đội Lạc Hoá phủ Lý Nhân (thuộc Hà Nội). Tiên tổ nước ấy trước là 2 đội Chiêm Hậu, Xiêm Hậu (đều là người man) [có] tài bắn súng nỏ. Trước khi dẹp yên cả nước, chúng hết sức theo việc nghĩa, sau để đóng ở Bắc Thành. Khoảng năm Gia Long phái đến trấn Sơn Nam. Khoảng năm Minh Mệnh đổi tên đội thuộc vào trấn ấy, sau đổi trấn làm phủ, vẫn theo phủ sai phái. Đến nay con cháu không có nghề bắn giỏi, mà vỡ đất lập phường, cùng với người Kinh không khác, bèn bỏ đi, cho vào sổ đinh chịu thuế ở phường Quy Lưu. (Năm Minh Mệnh thứ 20 đội man ấy có đơn xin trưng 20 mẫu đất đất lậu. Năm Tự Đức thứ 3, chuẩn cho đặt là phường Quy Lưu)”.

                                                 (ĐNTL., tập 35, đề mục tháng 10 âm lịch
                                                 [1881], sđd., tr. 75).

            “Nguyên phân sáp, an trí những người Man, người Lạp làm dân, làm nô ở từ các tỉnh hữu kỳ về phía nam, trừ người nào đã thành sản nghiệp, tình nguyện xin lưu ở lại nên cho, ngoài còn dư, đều được thả, về quê cũ yên nghiệp”.

                                                 (ĐNTL., tập 36, sđd., đề mục tháng 11
                                                 âm lịch [1883], tr. 27).           

            Trên đây là hai đoạn trích từ bộ sử thời Nguyễn do sử gia phong kiến biên soạn. Do đó, trong hạn chế lịch sử – cụ thể, quan điểm miệt thị nhân tộc (sô-vanh nước lớn) thể hiện rõ.

             Riêng đoạn thứ hai, chúng tôi không chỉ đọc thấy một lần. Ở kỉ đệ tứ, đệ ngũ, đệ lục, hầu như các tờ chiếu ban ân (ân chiếu) trong các dịp đại khánh, đăng quang đều có điều khoản khoan hồng ấy. Chúng ta thừa hiểu rằng:

a)                Theo luật nhà Nguyễn, tội lưu đày có nhiều mức: tội càng nặng, đày càng xa quê hương bản quán. Trong đó, có nhiều đoàn người Chăm (Chiêm), Xiêm (Thái Lan), Lạp (Chân Lạp, tức là Miên, Cam-pu-chia, Kh’Mer) bị đày tít tận các tỉnh ở hữu kì về phía bắc (từ Thanh Hoá ra đến Cao Bằng, Lạng Sơn). Và những người bị đày xa như thế đã không được khoan hồng, phải vĩnh viễn ở lại ngoài đó, và dần dần đã Kinh hoá. Ân chiếu chỉ khoan thứ cho các đoàn “tội nhân” bị mức án nhẹ, bị lưu đày từ các tỉnh hữu kì về phía nam (từ Thanh Hoá trở vào), nhưng vẫn có bộ phận đã xin ở lại, trở thành người Kinh, vì họ đã có cơ ngơi, sản nghiệp, chung sống thắm thiết.

b)                Thật ra, nói là “tội” cũng không đúng. Đó là các đoàn dân, lính Chăm, Xiêm, Lạp bị bắt làm “chiến lợi phẩm” [!], tù binh với hai mục đích:

-           Hoán vị dân cư (đưa lính, dân Kinh vào phía Nam; đưa lính, dân Chăm, Xiêm, Lạp ra phía Bắc) để khai hoang, lập ấp …

-           Ổn định tình hình ở các vùng đất mới xâm lược được (từ Đèo Cả trở vào Cà Mau).

                          (Chú thích 3 này mới bổ sung vào tháng 8.2002).

  (*) Thời Nguyễn, lấy Thừa Thiên làm kinh đô (có một thời gian dài dưới thời Tự Đức, gồm cả đạo Quảng Trị), lấy Quảng Nam làm tả trực kì, Quảng Bình làm hữu trực kì, lấy các tỉnh từ Quảng Ngãi trở vào làm tả kì, các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra làm hữu kì).

TƯ LIỆU:
54 NHÂN TỘC THUỘC CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC VIỆT NAM:

Gồm có 08 nhóm ngôn ngữ:

1.      Nhóm Việt – Mường có 04 nhân tộc: Việt (Kinh), Chứt, Mường, Thổ.

2.      Nhóm Tày – Thái có 08 nhân tộc: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái.

3.      Nhóm Môn – Khơ-me có 21 nhân tộc: Ba-na, Brâu, Bru – Vân Kiều (hoặc chỉ gọi tắt là Bru), Chơ Ro, Co, Cơ-ho, Cơ-tu, Giẻ-triêng, Hrê, Kháng, Khơ-me, Khơ-mú, Mạ, Mảng, M’Nông, Ơ-du, Rơ-măm, Tà Ôi, Xinh-mum, Xơ-đăng, Xtiêng.

4.      Nhóm Mông – Dao có 03 nhân tộc: Dao, Mông, Pà Thẻn.

5.      Nhóm Ka-đai (Kadai) có 04 nhân tộc: Cờ-lao, La-chí, La-ha, Pu-péo.

6.      Nhóm Nam Đảo có 05 nhân tộc: Chăm, Chu-ru, Ê-đê, Gia Lai, Ra-glai.

7.      Nhóm Hán có 03 nhân tộc: Hoa, Ngai, Sán-dìu.

8.      Nhóm Tạng có 06 nhân tộc: Cống, Hà Nhì, La Hủ, Lô-lô, Phù La, Si-la.

Ngoài ra, còn có một nhân tộc mới được phát hiện ở Quảng Bình vào đầu những năm 1990: nhân tộc Rục (chỉ còn khoảng bốn chục [40] nhân khẩu), có lẽ thuộc nhánh ngôn ngữ Việt – Chứt (nhóm Việt – Mường).

Theo Tạp chí Xưa & Nay,
số 216, tháng 07. 2004, tr. 40 và các tư liệu khác.
03.8.2004
(18.06 G. thân HB4)

TƯ LIỆU THAM KHẢO

(bổ sung vào năm 2001 & 2005)

1)       Dương Văn An, Ô Châu cận lục, số A. 263, Thư viện Khoa học trung ương, Bùi Lương dịch, Nxb. (?); Trần Đại Vinh, Hòang Văn Phúc dịch, Nxb. Thuận Hóa, 2001.

2)       Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. KHXH., 1964; Nxb. Thuận Hoá tái bản, 1995.

3)       Lê Quý Đôn, Phủ Biên tạp lục, bản dịch Lê Xuân Giáo, UB.DT.PQVK. ĐTVH. xb., 1972.

4)       Nguyễn Đình Đầu, Việt Nam, quốc hiệu và cương vực qua các thời đại, Nxb. Trẻ, 1999.

5)       Nguyễn Kiên, Nguyễn Cao Lũy, Lịch sử 6, tái bản lần thứ 12, Nxb. Giáo Dục, 1999.

6)       Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong, Nxb. Văn Học tái bản, 1996.

7)       Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng, Các triều đại Việt Nam, bản in lần thứ 2, Nxb. Thanh Niên, 1995.

8)       Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện (chính biên, sơ tập), tập 2, bản dịch Viện Sử học, Nxb. Thuận Hoá, 1993.

9)       Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, bản dịch Phạm Trọng Điềm, Đào Duy Anh hiệu đính, tập1 & tập 2, Nxb. Thuận Hoá, 1992.

10)  Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tiền biên & chính biên (trọn bộ), bản dịch Viện Sử học, Nxb. Thuận Hoá, 1964 – 1978.

11)  Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) (gọi tắt là Cương mục), tiền biên và chính biên, bản dịch (2 tập), Tổ Biên dịch Viện Sử học (Hoa Bằng, Phạm Trọng Điềm, Trần Văn Giáp), Nxb. Giáo Dục, 1998. 

12)  Quốc sử viện triều Trần & Sử quán triều Hậu Lê, Đại Việt sử kí toàn thư (gọi tắt là Toàn thư), bản in nội các quan bản (1697), bản dịch (3 tập), dịch giả Ngô Đức Thọ, hiệu đính: GS. Hà Văn Tấn, giới thiệu: GS. VS. Nguyễn Khánh Toàn, khảo cứu văn bản: GS. Phan Huy Lê, Nxb. Văn hoá – Thông tin, 2003.

13)  Trần Quốc Vượng, Việt Nam, cái nhìn địa – văn hoá, Nxb. Văn hoá Dân tộc, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật liên kết xuất bản, 1998.

14)  Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, bản in lần thứ 5, Nxb. Tân Việt, 1954.

15)  Từ điển triết học, bản tiếng Việt, Nxb. Tiến Bộ, Mát-x-cơ-va (Moscou) và Nxb. Sự Thật, 1986.

16)  Tạp chí Cửa Việt (TcCV.) [liệt kê theo thứ tự số ấn hành]:

a)     Nguyễn Văn Ngọc, bài “Xứ Cửa Tùng”, TcCv., số 9, 1991, tr. 72 – 77.

b)     Nguyễn Cửu Sà, bài “Về nguồn gốc các giếng cổ ở Gio Linh”, TcCV., số 9, 1991, tr. 78 – 80.

c)     Nguyễn Văn Ngọc, bài “Sự thành lập các làng cổ ở Quảng Trị”, TcCV., số 10, 1991, tr. 70 – 76.

d)     Mai Lĩnh, Tư liệu về Quảng Trị, số 11, 1991, tr. 89 – 90.

e)     Nguyễn Lương, bài “Mấy ý kiến về bài “Sự thành lập các làng cổ ở Quảng Trị””, TcCV., số 15, 1992, tr. 88 – 89.

f)      Lê Văn Thuyên, bài “Di tích Chăm-pa ở Quảng Trị”, TcCv., số 16, 1992, tr. 84 – 86.

15) Tạp chí Văn hoá các dân tộc, số 9, 1999, chuyên đề: Văn hoá Chăm.

NƯỚC MẮT CÓ VỊ NGỌT:

1. Tổ kiến màu đất (mở và kết).                                        7

2. Trên chuyến tàu lửa ra miền Trung.                               22

3. Ân sủng của tự nhiên.                                                 36

4. Huyết thống nhân tộc ấy thơm mùi hương hoa sứ trắng?    58

5. “Xuất gia”.                                                               97

*   Và một vài trang phụ lục.                                            115

GHI CHÚ THEO THỦ TỤC:
Xin được tạ ơn sự liêm khiết của trí tuệ…
Xin hãy bảo vệ, yêu thương, trân trọng những giọt mồ hôi của chất xám và của trái tim trên trang viết …
TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN TỪNG CHỮ, TỪNG Ý TƯỞNG CỦA MÌNH.
TRÂN TRỌNG
VÀ THÀNH  THẬT BIẾT ƠN.
 
CHỊU TRÁCH NHIỆM XUẤT BẢN:
BIÊN TẬP:
BÌA:
CHỮA BẢN IN:
In 1.000 cuốn, khổ 13x19 cm,
tại xí nghiệp in:
Số đăng kí kế hoạch xuất bản:
do Cục Xuất bản cấp ngày:
Quyết định xuất bản:
In xong và nộp lưu chiểu trong tháng:
 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com