1005-gd.gif (6609 bytes)
posted: 01.10.2005
Hương
An

Sự khẩn thiết có mặt của một
Viện Bảo Tàng Nông, Công, Ngư Nghiệp

Lời người viết:
Bài tham luận này đã được tạp chí BÁCH KHOA, đăng tải trong số báo xuất bản ngày 27-3-1975 tại Sàigòn. Bài báo đã không tới tay tác giả và độc giả tại Đà Nẵng cũng như nhiều tỉnh khác tại Miền Nam . Lúc đó, Đà Nẵng, nơi tác giả sinh sống, đang ở trong tình trạng hỗn loạn và nguy ngập và rồi thất thủ vào sáng ngày 29-3-1975.
Sau 7 năm tu tiên bất đắc dĩ trên non cao, khi về trần có nghe bạn bè ở Sàigòn nói lại rằng đã được đọc bài báo đó.
Nay nhờ nhiệt tình tìm kiếm của bạn Nguyễn Văn Nghệ, người viết được gặp lại đứa con tinh thần thất lạc non ba mươi năm.
Cảm ơn bạn Nghệ vô cùng.
 
*

Trông người mà nghĩ đến ta

Hình như người Việt Nam chúng ta ưa nói hơn là làm, thích khoe khoang rầm rộ nhưng rất ít chứng minh bằng thực tế. Người ngoại quốc có lẽ đôi khi đã giật mình trước quá khứ lập quốc dài lâu của chúng ta, nhưng chắc cũng đã nhiều lần kín đáo mỉm cười khi tìm kiếm để chiêm ngưỡng và tìm hiểu những di tích và di vật làm chứng cho cái quá trình lập quốc và văn minh của một dân tộc thường tự hào có trên “4.000 năm văn hiến”. Họ không kín đáo mỉm cười sao được khi họ thấy rằng cái quá khứ của giống dân sống trên mảnh đất chữ S này thật là đằng đẳng, đầy oai hùng và bi thương, nhưng tìm cho ra những chứng tích dồi dào của lịch sử và văn minh của dân tộc này còn khó hơn tìm đường lên cung trăng vì nó chẳng còn lưu giữ được là bao và hầu như ít ai có ý lưu giữ để làm gì!

Có thể người viết đã nói quá đi một chút, nhưng chắc chắn người viết đã nói lên một sự thật. Thông thường, cái nơi mà người ta có thể tìm thấy bộ mặt dĩ vãng của một quốc gia một cách dễ dàng và nhanh chóng là những di tích lịch sử, các bảo tàng viện. Các quốc gia thường khoe lịch sử và văn minh của nước họ trong những tòa nhà “trưng bày đồ cổ này. Ngay như Hoa Kỳ, một quốc gia mới khai sinh trong vòng 200 năm trở lại đây, có một quá khứ lập quốc dài không bằng một phần mười quá khứ của Việt Nam, nhưng những bước đường mà tổ tiên họ đã sống, đã đi qua đều được gìn giữ trân trọng và đầy những di tích, di vật sống động gấp trăm ngàn lần nước ta. Một dân tộc như Hoa Kỳ, vồn bị các quốc gia của cựu thế giới coi thường về phương diện văn hóa, đã có những công trình bảo vệ văn hóa đáng kể hơn ta rất nhiều, còn nói chi đến việc so sánh với các quốc gia có truyền thống dài lâu như Trung Hoa, Nhật Bản, Anh, Pháp, v.v.

Các bảo tàng viện chúng ta hiện có, có thể đếm không quá một bàn tay; một là Viện Bảo Tàng Quốc Gia tại Sàigòn, hai là Viện Bảo Tàng Huế, tục gọi là Musée Khải Định, và ba là Cổ Viện Chàm (Musée Cham) ở Đà Nẵng. Ai đã vào thăm ba nơi đó đều thấy nơi nào cũng nhỏ bé về qui mô và nghèo nàn về số lượng, đó là chưa nói đến giá trị và tính cách quan trọng của các cổ vật trưng bày. Nói ra đau lòng: thực ra những thứ còn sót lại trong hai Viện Bảo Tàng Huế và Sàigòn chỉ là những quí vật hạng hai hạng ba, vì những thứ đáng giá, đồ hạng nhất (hết rang 9, từ đây trở đi là trang 10, lời người chép lại), đã đào thoát ra ngoại quốc mất rồi. Ghép cả ba viện bảo tàng này lại thật không bằng một góc của của các viện bảo tàng Louvre của Pháp, British Museum của Anh, hay Đài Loan của Trung Hoa Quốc Gia.

Phải thành thực mà thú nhận rằng – một sự thú nhận xót xa – dân ta, đa số đã không biết quí , không biết trọng những gì tiền nhân đã di lưu vì thiếu ý thức bổn phận và trách nhiệm của một cá nhân đối với di sản văn hóa và những di tích lịch sử. Bởi thế, ta thấy gì? Trong những ngày toàn quốc kháng chiến của năm 1946, những pho sách vô giá, những tài liệu ngàn vàng của Thư viện Bảo Đại và lầu Tàng Thơ đã “được” người dân rùng rùng gánh ra khỏi chín cửûa Kinh thành, đem bày bán khắp chợ, vùng An Hòa, Bao Vinh ... để người ta mua làm ... giấy gói hàng, làm giấy vấn thuốc hút, và nếu cần, làm giấy nhen lửa! Nếu không có một tâm hồn nặng tình văn hóa của Lm Nguyễn Văn Thích hy sinh tiền túi để mua lại một ít, rồi khi yên ổn đem tặng lại cho quốc gia, thì chắc ngày nay đối với hai kho tàng đó chúng ta chỉ còn một con số không to tướng. Trong biến cố Mậu Thân (1968) có bao nhiêu sách quí của Thư viện Đại Học Huế được đem nhen lửa, lót làm chỗ nằm? Có bao nhiêu cổ vật quí báu của Viện Bảo Tàng Huế đã lọt vào tay tư nhân có quyền thế để rồi xuống tàu ra ngoại quốc; kết quả là trương mục ngân hàng của ai đó đầy lên như thủy triều, biệt thự thì lộng lẫy nhưng quốc gia thì nghèo nàn! Những tâm hồn ích kỷ, thiển cận đã tạo nên những mẫu người Việt Nam (!) đặc biệt : dân biểu tượng Chàm, con buôn đồ cổ bất lương, không ngừng làm băng hoại di sản của cha ông.

Rồi còn gì nữa? Hiện có bao nhiêu di tích lịch sử bị lãng quên, để phôi pha và tàn lụi theo năm tháng? Có bao nhiêu di tích lịch sử chưa được khám phá? Có bao nhiêu tài liệu lịch sử, văn học chưa được sưu tầm hay chưa được đưa từ nước ngoài về đất tổ? Cố đô Huế với đền đài, miếu vũ đã bẽ bàng chờ đợi từ sau biến cố Mậu Thân ...

Văn minh nước ta vốn là văn minh nông nghiệp. Một cuộc sống lâu dài và giản dị đã bắt nguồn từ việc cấy hái, đám ruộng bùn lày, mùa màng khi được khi mất mà ra. Cho đến bây giờ, khi con người đã có thể thoát khỏi hấp lực của trái đất để đặt chân lên một thiên thể khác không khó khăn, thì cuộc sống đó vẫn còn là căn bản của đời sống dân ta.

Điều lạ lùng nhất là những phương tiện làm nên và nuôi dưỡng đời sống đó, giúp cho dân tộc trường tồn từ thời lập quốc cho đến giai đoạn tiến bộ ngày nay, đã không được mọi người quan tâm cho bằng những yếu tố, những sản phẩm khác của đời sống. Nói một cách khác, có lẽ người ta chú ý nhiều đến sự đổi thay của một kiểu áo kiểu quần từ bên Tây bên Mỹ xa xôi nào đó hơn là sự tiến bộ của lưỡi cày; người ta thích tìm tòi và lưu giữ một cách quí trọng một cái lọ cổ, một chiếc bát xưa của đời Khang Hi, Càn Long, hay Tần, Hán nào đó hơn là để ý lưu giữ một kiểu gàu tát nước đã mất, một kiểu lưỡi cuốc (hết trang 10, bắt đầu trang 11) đã được dùng nhưng nay không còn, cái tơi lá không đáng trăm bạc nay không còn thích dụng, mặc dù chính những thứ hết sức quê mùa, tầm thường đó đã có công đem lại sự sống và làm cho sự sống của dân tộc trở thành trường tồn và dễ thở.

“Có thực mới vực được đạo”, ai cũng công nhận chân lý của câu tục ngữ xoàng xĩnh này, nhưng dường như người ta rất dễ quên. Xin hãy lắng lòng một chút, hãy lấy tay che bớt hào quang của những chiến thắng oai hùng trong lịch sử của một Lý Thường Kiệt, một Trần Hưng Đạo, một Quang Trung v.v. ta sẽ thấy gì? Rõ ràng là nếu không có những con người cần cù bất chấp nắng lửa mưa dầu, ngày ngày cúi mình trên những cánh đồng loáng nước bùn lầy, nếu không có những dụng cụ tầm thường như cái cày, cái bừa, cái cối xay, bộ cối chày giã gạo, cái giần, cái sàng, cái nong, cái nia, cái liềm, cái hái, v.v. thì thử hỏi lấy gì làm nguồn nhiệt lượng cung cấp cho hàng vạn tinh binh và dũng tướng anh hùng kia để cầm nổi gươm giáo, mang nổi cung tên, cất nổi bước chân, để chiến thắng vinh quang trước quân xâm lăng?

Thế nhưng cho đến nay, mặc dù đã trải qua bao triều đại, bao thể chế, câu :dĩ nông vi bản” đối với nước ta vẫn còn giá trị lớn, nước ta vẫn không có được một công trình nào giúp hậu thế nhìn lại cái quá khứ nông nghiệp quan trọng và vững vàng kia của dân tộc.

Cách đây non hai năm, người viết đã thao thức thật nhiều trước một mẩu tin chắc chắn không làm cho ai để ý hay bận tâm. Trong buổi phát thanh sáng của ngày 4-3-1973, đài VOA loan một tin như sau: Sở Bảo tồn Di tích Lịch sử của Hoa Kỳ quyết định trợ cấp 60.000 đô la một năm cho vợ chồng tiến sĩ R. . . (không rõ viết ra sao) và hai người con. . . Trợ cấp để làm gì? Thưa, hai vợ chồng ông này đều là sử gia, chuyên về thời kỳ Tây tiến của nước Mỹ. Họ tình nguyện đi đến một miền điển hình của vùng Trung-Tây để sống lại đời của một nông dân đi khẩn hoang của thế kỷ XVIII. Họ sẽ dựng lại ngôi nhà thô sơ bằng gỗ của thời đó, mặc y phục thời đó, ăn thuốc lá, thực phẩm và uống thức uống thời đó do họ tự chế lấy bằng những sản phẩm họ làm ra với những phương tiện và dụng cụ thời bấy giờ. Tóm lại, du khách tới vùng cư ngụ của hai vợ chồng sử gia này sẽ được sống lùi lại trên hai trăm năm, sẽ chứng kiến một cách sống động cảnh sống điển hình của tổ tiên người Mỹ thời lập quốc. Người dân Hoa Kỳ nào muón biết quá khứ Tây tiến thì cứ tới đó; học giả, sinh viên muốn nghiên cứu cho tường tận ngọn nguòn hãy đến đó mà sống.

Còn ta? Có lẽ ngoài một Sơn Nam “lẩn thẩn”, không mấy ai biết rõ tiền nhân ta đã chiến đấu gian khổ với thiên nhiên và con người, đã sống cam go và hào hùng như thế nào, đã hy sinh ra sao trong công cuộc khai phá miền đất Thủy Chân Lạp để ngày nay biến thành Nam phần trù phú của quốc gia.(hết trang 11, bắt đầu trang 12)

Khi chúng tôi nảy sinh ra ý nghĩ cần thiết phải thành lập một Viện Bảo tàng Nông, Công, Ngư Ngiệp (1968) và đem bàn với vài vị lão thành ở Huế thì các vị này cho biết đó không phải là một ý kiến mới mẻ, vì “Tây nó đã làm rồi”. Quả là một điều kỳ lạ và bi thảm với chúng ta, nhưng đó là sự thật.

Trước năm 1945, Phòng Hỗn hợp Thương mãi và Canh nông Trung kỳ (Chambre Mixte de Commerce et d’Agriculture de l’Annam) đã phối hợp với chính quyền bảo hộ thiết lập ở Huế một viện bảo tàng, lấy tên là Musée Economique (Bảo tàng viện Kinh tế). Điều khôi hài là tất cả những người Việt Nam đi xem viện bảo tàng do Tây-thực-dân lập ra đều lấy làm thích thú và không ngớt trầm trồ. Không thích thú và trầm trồ sao được khi họ được thấy tận mắt đủ các loại nông cu, đủ các loại tơi nón, đủ các loại sản phẩm thủ công nghiệp, đủ các loại nông phẩm, các loại y phục, những món giải trí (các thứ bài bạc, cái đầu hồ . . . ) , những dụng cụ thường nhật, được sưu tập khắp nước, từ Nam chí Bắc, từ đồng bằng đến cao nguyên và thượng du. Tất cả được phân loại, gọi tên theo thổ ngữ, sắp xếp có hệ thống, trưng bày mỹ thuật trong mấy gian phòng nay dùng làm Tòa Thượng thẩm của Pháp đình Huế. Sau đó, vì cần cơ sở này, Pháp cho dời vào Điện Khâm Văn trong Đại Nội, và năm 1946, khi bùng nổ cuộc kháng chiến, Việt Minh đã mang đi đâu hay đã thiêu hủy cùng các cung điện khác thì không ai rõ.

Như chúng rôi đã thưa ở trên, công việc mà người Pháp làm như đã nói quả là một điều bi thảmvà kỳ lạ đối với chúng ta, ít ra là bề ngoài. Kỳ lạ, vì đang khi người Pháp bận nỗ lực thi hành chính sách thực dân, khai thác thuộc địa để làm giàu chính quốc thì họ lại có thì giờ nghĩ đến và làm nên chuyện một việc xem ra rất là vô bổ và không quan thiết đới với họ và ngay cả đối với một số lớn người Việt đương thời. Bi thảm, vì đáng lý người Việt Nam chúng ta phải nghĩ ra và làm việc đó trước, chứ không phải để cho ngoại nhân thống trị đưa ra sáng kiến và tổ chức, rồi ta thụ hưởng một cách hồn nhiên và . . . không cần bảo tồn!

Nhà văn Duy Lam, trong một lần mạn đàm với chúng tôi, đã không khỏi ngậm ngùi khi thuật lại câu chuyện ông được một người bạn ngoại quốc ở Sàigòn cho xem trọn bộ Phong Hóa, Ngày Nay, Văn Hóa Ngày Nay đóng gáy da chữ vàng cẩn thận, chưa kể trọn bộ tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn ! Người có chút thao thức về văn hóa dân tộc sẽ còn nhiều dịp ngậm ngùi và đau xót như thế nếu cái đà “mất máu văn hóa” này tiếp tục mà không có người có thẩm quyền chịu khó tiêm cho một mũi vitamin K thật mạnh hoặc làm một cái ga-rô cấp thời.
Vì sao khẩn thiết phải có một Viện Bảo Tàng Nông, Công, Ngư Nghiệp?
Chúng tôi thành thực xin lỗi độc giả là đã than thở hơi nhiều. Thật sự, chúng tôi muốn “thắp một ngọn nến ( hết trang 12, bắt đầu trang 13) nhỏ hơn là ngồi nguyền rũa bóng tôi”, nhưng có lẽ thấm thía về sự u uất của bóng tối rồi mới thấy ánh nến nhỏ là cần thiết. Để trả lời câu hỏi vừa nêu ra, xin hãy chú ý một chút đến những gì đã, đang và sẽ diễn ra trong đời sống hiện nay của nước ta, của dân tộc ta:

- Trong lãnh vực nông nghiệp, việc cơ giới hóa đang được khuyến khích mạnh mẻ. Với sự truyền bá sâu rộng, với sự khích lệ và giúp đỡ của chính phủ, với sự quảng cáo khéo léo của các xí nghiệp kỹ nghệ ngoại quốc và trong nước, với kỹ thuật rao hàng tân kỳ của các nhà nhập cảng, nông dân Việt Nam đã thấy rõ cái lợi của việc cơ giới hóa nông nghiệp. Nên, nếu hoàn cảnh cho phép, họ không ngần ngại gì mà không giã từ phương tiện canh tác cũ -- vốn đã gắn liền với đời sống của họ và cha ông kể có hàng nghìn năm – để theo phương tiện mới, nhanh chóng, đỡ nhọc sức, năng suất cao và lợi tức nhiều hơn. Do đó, hiện nay ở nông thôn, dần dần những chiếc máy cày Kubota, Agrima, Matchless, International Harvester (IH), John Deer v.v. đang thay thế cho con trâu và cái cày cái bừa. Cũng thế, ta thấy máy xay lúa thay cho cối xay lúa, cối chày giã gạo, cái nong cái nia, cái giần cái sàng, Những máy bơm nước đủ hiệu đủ cỡ thay cho xe đạp nước, guồng nước, gàu sòng, gàu dai v.v. Người nông dân Việt Nam hiện nay đang tập làm quen và có vẻ ngày một gần gũi với tiếng nổ của động cơ, mùi gasoil, ét-xăng, nhớt, mỡ . . . Ngay hiện nay, khi lề lối canh tác cổ truyền chưa đến nỗi mất hẳn sau lũy tre xanh (nếu còn được lũy tre!) nhưng số người thành thị hiện nay chưa biết và chưa thấy cái cày, cái cối xay lúa, cái xe đạp nước v.v. ngang dọc ra làm sao, không phải là hiếm, nhất là trong lớp tuổi thiếu niên. Hơn một lần chúng tôi đã thử làm một cuộc trắc nghiệm bỏ túi khi nói chuyện với một tổ chức thiếu niên thành phố: để đáp lại câu hỏi có em nào đã thấy cái cối xay lúa ở nhà quê chưa, thì chỉ có 14 trong số trên 60 em hiện diện đưa tay. Và để làm cho các em không đưa tay có ý niệm về dụng cụ gọi là “cối xay lúa” chúng tôi vừa phải định nghĩa. vừa giải thích cách chế tạo, cách sử dụng, kèm theo hình vẽ trên bảng đen!
Quê tôi, vốn không phải là mọt nơi đất đai màu mỡ, thế nhưng hồi ấu thơ, tôi đã biết mặt và biết tên ít nhất là bốn ông thợ đóng và chữa cối xay thường có mặt trong làng, và nhà nào có chừng năm sào ruộng trở lên là có cối xay lúa và cối chày giã gạo trong nhà. Thế nhưng hiện nay, trong một dịp thăm quê, tôi không thấy một cái cối xay lúa nào cả. Chả là trong làng có hai “nhà máy” xay lúa bỏ túi, một thúng lúa xay mất không đầy 10 phút, giá 30đ, khỏe quá, để cối xay lúa làm gì cho chật nhà. Còn gàu sòng gàu dai cũng mất tiêu luôn vì đã có máy bơm nước của riêng mỗi nhà hay của tổ hợp.

Nếu chúng ta không mau mau sưu tập và bảo tồn những dụng cụ nông nghiệp tầm thường nhưng có công năng làm nên đời sống mấy ngàn năm đó, thì tôi tin rằng chỉ chừng (hết trang 13, bắt đầu trang 77) 15 đến 20 năm sau có muốn tìm nữa cũng đỏ con mắt. Vì sao? Vì những dụng cụ đó vốn chóng hư hỏng, và những người thợ có thể đóng những dụng cụ đó đang trên đường về với tổ tiên.
- Trong lãnh vực công nghiệp và ngư nghiệp ta cũng thấy hiện tượng tương tự do hậu quả của sự phát triển kỹ nghệ biến chế và việc canh tân phương tiện cùng kỹ thuật đánh cá. Ngày nay, đồ dùng bằng plastic mềm hoặc cứng đang bành trướng mau lẹ và phổ biến thật rộng rãi khắp hang cùng ngõ hẻm: lồng bàn nhựa thay cho lồng bàn tre, rổ rá nylon thay cho rổ rá đan tay, áo mưa plastic đánh bạt chiếc tơi lá. Khoảng năm 1950, 1951, khi đang còn học đệ Thất (lớp 6) trung học, tôi vẫn còn mang tơi lá, và hơn một nửa lớp cũng mang kè kè chiếc tơi lá như thế vào những ngày mưa của xứ Huế. Áo mưa bằng vải tráng cao su chỉ dành cho hạng học sinh con nhà giàu hay ở lớp cao hơn. Hiện nay, vào mùa mưa, di chuyển trên các tỉnh Quân khu I (Quảng Trị-Quảng Ngãi), họa hoằn lắm mới được thấy một chiếc tơi lá. Không mấy ai nghĩ rằng món vật dụng rẻ tiền và tầm thường này đã che mưa và che lạnh cho dân Việt hơn bốn ngàn năm nay, nên cũng không mấy ai thèm quan tâm tới chiếc tơi lá đã bị đào thải từ bao giờ và như thế nào.

Hơn 15 năm trước, cái cảnh Tế Hanh đem tấm lòng yêu quê hương ra diễn tả:
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới. Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông. Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng, Dân trai tráng trong làng đi đánh cá. Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã, Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt Trường Giang, Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng, Rướn thân trắng bao la thâu góp gió
......
là cảnh thường thấy đối với dân vùng sông nước. Ngày nay, cảnh đi đánh cá vẫn còn và còn nhiều , nhưng phăng mái chèo mạnh mẽ vượt Trường giang đã hiếm, mà cảnh những cánh buồm trắng no gió lúc ra đi hay lúc trở về cũng không thấy nữa, chỉ thấy làn khói đen phun lên trời hay và tiếng động cơ vang trên mặt nước xanh.

Đừng tưởng người ta chỉ việc bỏ chèo, bỏ buồm và chỉ gắn động cơ vào ngư thuyền là đủ để gọi là “canh tân ngư nghiệp”. Đã có thật nhiều thay đổi: nào ngư thuyến phải thay hình đổi dạng để thích hợp với việc động cơ hóa, rồi lưới nylon, phao plastic thay cho lưới gai, phao gỗ, phao ống tre v.v.
Tóm lại, trước sự cơ giới hóa nông, công, ngư nghiệp, hậu quả trước mắt là tất cả những dụng cụ về canh nông, ngư nghiệp, những sản phẩm thủ công nghiệp, những dụng cụ thủ công nghiệp (dàn ép dầu mè, dầu lạc, guồng quay tơ, ( hết trang 77, bắt đầu trang 78) dàn ép mía, khung dệt vải v.v.) rồi sẽ bị đào thải hết, đào thải tàn nhẫn và tự nhiên theo luật tiến hóa của nhân loại. Nếu không để tâm tổ chức, gìn giữ, bảo tồn ngay từ bây giờ thì một ngày kia sẽ không còn gì nữa. Không có một Bảo tàng viện về nông, công và ngư nghiệp để lo sưu tập và bảo trì ngay từ bây giờ thì chỉ 20 năm sau có bạc tỉ cũng khó kiếm. Lúc bấy giờ có hối tiếc cũng vô ích và hoài niệm chỉ là xót xa. Có người sẽ nêu câu hỏi:

- Việc gì phải vội. Những cổ vật cách đây mấy ngàn năm, mấy trăm năm mà nay người ta còn tìm ra, còn giữ được, huống gì những thứ tầm thường kia, khi nào lại không có sẵn.
Để trả lời ý kiến này, chúng tôi chỉ xin đặt lại một vài câu hỏi: đời sống của một cái rỗ, cái rá bằng tre dài bao lâu? Một chiếc xe đạp nước bằng gỗ, nếu không dùng, sẽ tồn tại được bao nhiêu năm? Một cái cối xay lúa làm bằng tre, đất sét và gỗ đen dãi dầu mưa nắng vì không còn đắc dụng, sẽ vững được mấy năm? Khi những người thợ đóng cối xay, thợ chằm tơi chết đi, ai có thể chế tạo được những vật dụng đó cho hậu thế coi chơi?

Trong đà tiến bộ chung của thế giới, việc canh tân mọi ngành sinh hoạt là cần thiết để sinh tồn, để giàu mạnh. Ta không thể vì hoài cổ mà chủ trương “xưa bày nay làm” một cách phi lý và phản tiến bộ, nhưng ta cũng không vì muốn tiến nhanh, tiến mạnh mà quên mất quá khứ, cội nguồn. Tây phương và những nước tiên tiến tại Á châu tiến nhanh hơn ta gấp bội nhưng quá khứ của họ, dù là tầm thường, vẫn được trân trọng gìn giữ.

VÕ HƯƠNG-AN

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com