Hoàng
nguyên Nhuận Đã hẳn, Hoàng
tôi không phải là người Việt duy nhất xúc động trước cảnh Tổng Thống
Kim Đại Trọng của Nam Hàn và Chủ Tịch Kim Chính Nhất của Bắc Hàn bắt
tay nhau toan tính hàn gắn hai miền đất nước đã hơn nửa thế kỷ khốn
khổ vì những hận thù viễn khiển. Hình ảnh đó xuất hiện như một
chuyện thần tiên, khác hẳn những chuyện thần tiên mà dân tôi nước tôi
từng hụt lui hụt tới không biết bao nhiêu lần.
1963-1993,
ba mươi năm cũng đủ dài để có một cái nhìn trầm tĩnh hơn về phong trào
Phật giáo vận động tự do tín ngưỡng và công bằng xã hội phát khởi
ngày Phật Đản 1963. Trực
tiếp châm ngòi cho phong trào 63 là công điện 9195 ngày 6.5.1963 của Phủ Tổng
Thống chỉ thị 'chỉ được treo cờ quốc gia' mà thôi. Nếu lệnh nầy
được ban hành vào một dịp khác Phật Đản và thi hành tại một nơi khác
Huế thì phản chấn hẳn đã nhẹ hơn. Phật Đản là ngày lễ trọng và
Huế là linh địa của Phật giáo đang thường xuyên chịu đựng bức chẹt,
nhất là từ khi quyền lực của Ngô đình Diệm tạm thời được củng cố
trên toàn Miền Nam từ năm 1956 trở đi. Huế cũng là nơi đặt chính tòa của
Tổng Giám Mục Ngô đình Thục, thường tưng bừng cờ Mặt
khác, 1963 cũng là năm cao điểm của những khủng hoảng chính quyền đang
phải trải qua. Chuỗi khủng hoảng nầy không phát xuất từ 'ngoại thù'
Miền Bắc mà từ nội bộ phe phái Miền Nam với cuộc nổi dậy của Bình
Xuyên-Hòa Hảo, vụ ám sát Ngô đình Diệm ở Ban Mê Thuột, cuộc binh biến
của Nguyễn chánh Thi, vụ ném bom Dinh Độc Lập của Phạm phú Quốc-Nguyễn
văn Cử. Bên cạnh chuỗi khủng hoảng đó là áp lực của Vatican và
Washington. Vatican
không che đậy toan tính dùng Ngô đình Thục làm bàn đạp đẩy mạnh chiến
dịch 'nước Chúa trị đến' khắp Miền Nam qua việc Hồng Y Agagianian đến
Miền Nam đại diện Vatican để chứng giám cho gia đình nhà Ngô công khai
dâng Việt Nam cho Đức Mẹ Maria. Mặt
khác, Tổng Thống Kennedy thừa hưởng trọn hậu quả về đường lối chính
sách của các chính quyền Mỹ tiền nhiệm biến Miền Nam thành một tiền
đồn, nói là để ngăn chận đà bành trướng không chỉ của Miền Bắc
mà cả của Trung Hoa và Nga Sô từ phần đất này. Ngăn chận như thế nào
? Đối đầu đến mức nào ? Miền Nguyễn
văn Thiệu biết học thuộc bài học xương máu của Ngô đình Diệm nên
được bảo bọc. Sau 17 năm câm nín xứ người, Bác Sĩ Phan quang Đán mới
lên tiếng: 'Thiệu vẫn nhận định rằng mọi quyền lực đều phát xuất
từ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ mà những việc CIA nhúng tay vào là quan trọng nhất,
đường lối Mỹ bảo sao nghe vậy đã được Thiệu triệt để áp dụng [2]'.
Phan quang Đán từng là Phó Thủ Tướng của Nguyễn văn Thiệu. Nghĩ lại
chuyện xưa, Phan quang Đán vẫn còn bực đến độ xấc xược gọi kẻ mà
ngày trước ông từng thưa bẩm là Thiệu, chứ không Tổng Thống gì cả. Nguyễn
văn Thiệu dứt điểm Đệ Nhất Cộng Hòa, khai sinh Đệ Nhị Cộng Hòa và
rồi đã khai tử chế độ nầy một cách hỗn loạn. Dương văn Minh và
Nguyễn văn Thiệu ít ra cũng giống nhau ở một điểm, đó là không ngoan cố
cầm cự để gây đau khổ thêm cho đồng bào. Lệnh di tản chiến thuật của
Nguyễn văn Thiệu bản chất là một lệnh "Tan Hàng" !. Dương văn
Minh chỉ là cái ống nhún, là trái độn, là kẻ cầm cờ trắng vừa che
đậy cho Hoa Kỳ rút lui trong những danh dự khả hữu còn sót lại, vừa cứu
dân chúng khỏi thế mạng cho những kẻ ăn trên ngồi trốc đã ba chân bốn
cẳng bơn đào ngay cả khi đối phương chưa có mặt ở ven đô Sài Gòn. Biến
cố 63 tự thân có thể chỉ là một cơn bão trong tách trà, nhưng là cơn bão
đã khiến cho một chế độ đã bốn lần thoát hiểm phải nhào đầu lạc
địa. Sau ngày 1.11.1963, yêu sách dân chủ tự do của dân chúng không còn bị
ngăn chận be bờ nữa. Chấp nhận chiến tranh hy sinh để bảo vệ tự do dân
chủ ? Nhưng dân chủ tự do kiểu 99 phần trăm phiếu bầu của Đệ Nhất
Cộng Hòa, và kiểu độc diễn của Đệ Nhị Cộng Hòa thì có đáng hy
sinh bảo vệ không? Lại nữa, đánh hay đàm thì Miền Sau
30 năm chiến tranh, Việt Một,
đâu là lý do tồn tại, đâu là sức mạnh và chính nghĩa của hai miền Hai,
đất nước có đáng phải mãi mãi chia cắt? Ba,
Đệ Nhất Cộng Hòa là cơ hội - hay đã đánh mất cơ hội, để duy trì nền
Hòa bình Genève mong manh tạm bợ, chờ cho đến khi những oan khiên lịch sử
được hóa giải mà không đòi hỏi nhiều sắt máu? Bốn,
trong cuộc chiến Việt Nam chống ngoại thuộc, phần nào là phần tất yếu,
chẳng đặng đừng phát xuất từ những nhu cầu thiết thực và truyền thống
tâm linh và lịch sử của đất nước, phần nào là phần vì cầu nên lụy,
vì quyết tâm yêu nước muốn dĩ ngoại trị ngoại và rồi chính mình bị
nhiễm độc tố ngoại lai hồi nào không hay? Năm,
Mỹ có thể thắng, hay ít nữa cũng huề ở Việt Sáu,
Phật giáo có bị giựt dây, có bị lợi dụng và Phật giáo có trách nhiệm
gì trong diễn biến tình hình đất nước, ít nữa là trong giai đoạn 12
năm cuối cùng của cuộc chiến, từ 1963 đến 1975? Thật
khó mà có những câu trả lời khả dĩ cho những câu hỏi đó nếu người
ta không cảnh giác để mà tránh cạm bẫy của những huyền thoại, hay những
chuyện thần tiên đẫm máu... Huyền
Thoại 1: Phật Giáo Lật Đổ Ngô đình Diệm Kẻ
đầu tiên tin tưởng vào huyền thoại nầy chính là anh em Ngô đình Diệm
khi họ xem Phật giáo như đối thủ quyết lật đổ mình chứ không muốn
đối thoại, dù Thông Cáo Chung 16.6.1963 giữa chính quyền và Phật giáo khả
dĩ hội đủ điều kiện kỹ thuật để Hòa giải, ít nữa là tiên khởi.
Ngô đình Diệm đã nói một câu bất hủ có thể châm ngòi nổ thánh chiến:
'Tôi tiến hãy theo Tôi, Tôi lùi hãy giết Tôi, Tôi chết hãy trả thù cho
Tôi'. Ông không ngờ rằng những kẻ ông kỳ vọng trả thù cho ông lại
chính là kẻ đào huyệt chôn ông. Thật vậy, cầm quân tràn ngập Dinh Gia
Long và đẩy anh em ông vào cảnh chết thảm chính là hai tướng Nguyễn
văn Thiệu và Lâm văn Phát, những đồng chí và đồ đệ trung thành từng
được giao cầm đầu hai Sư Đoàn 5 và Sư Đoàn 7 gác cổng thủ đô bảo
vệ gia đình ông. Phong
trào Phật giáo 63 không chủ trương lật đổ, mà cũng không đủ sức lật
đổ chế độ. Di Ngôn của những người hy sinh tự thiêu, cũng như những
văn kiện và lời tuyên bố của các nhân vật Phật giáo trong giai đoạn
đó không có một câu nào hàm ý lật đổ chế độ hay cướp chính quyền.
Hoàn cảnh của Phật giáo thời bấy giờ là lưng sát chân tường, quyết
tâm của Phật giáo khi đứng lên tiến tới là nhẫn nhục giác tha. Sau vụ
Đài Phát Thanh Huế, khi bàn về 5 nguyện vọng Phật giáo sắp đưa ra, Hoàng
tôi có hỏi Thầy Thiện Minh Phật giáo tính đi xa tới đâu thì Thầy trả
lời đòi bỏ Dụ số 10 và chấm dứt kỳ thị đàn áp Phật giáo, và Thầy
trầm giọng xót xa: '... đòi không được thì dắt nhau về Tây Phưông mà
ở vậy.' Tôi không khỏi ớn lạnh nghĩ rằng Thầy nói không khác gì Nguyễn
thái Học trước giờ hành động. Không thành công thì thành nhân. Nhưng còn
đường nào khác hơn? Nhất là sau khi Phật giáo đã gián tiếp gởi một
thỉnh nguyện thư gần như tối hậu thư cho Tổng Thống và Quốc Hội
ngày 20.2.1962 [3].
Quyết tâm nhẫn nhục giác tha đó cũng đã được Hòa Thượng Thích Tịnh
Khiết, lãnh đạo tối cao của Phật giáo lúc đó nhắc lại qua lời nhắn
nhủ: 'Tôi chết, xin cầu nguyện cho kẻ giết tôi.' Có
người nghĩ rằng cuộc tranh đấu năm 1963 của Phật giáo chỉ là một hiện
tượng giặc cỏ, làm loạn. Nói như thế tức là lặp lại ý kiến của
Ngô đình Nhu cho rằng cuộc đấu tranh của Phật giáo là phản lại tinh thần
Ba-La-Mật. Những người nầy làm như không biết rằng chính quyền đã phải
ra lệnh giới nghiêm Thiết Quân Luật, nghĩa là treo giò Hiến Pháp và đồng
bộ thực hiện cuộc hành quân Nước Lũ toàn Miền Nam đêm 20.8.1963 mới
trấn áp được phong trào Phật giáo. Đã hẳn, người Phật tử có tham
gia hay ủng hộ biến cố 1.11.1963, nhưng tầng lớp chủ động phong trào đã
chỉ ngồi trong tù nhìn ra chứ không được tham dự vào bất cứ giai đoạn
nào của biến động 1.11.1963. Có
người nhắc đến việc Thượng Tọa Trí Quang vào Tòa Đại Sứ Mỹ sau đêm
20.8 như một bằng chứng hợp tác giữa Mỹ và Phật giáo trong vụ Phật
Đản 63. Thực tế thì khi chính quyền tấn công vào Chùa Xá Lợi, Thượng
Tọa Trí Quang cũng bị bắt đưa về trung tâm Cát Lái để giam giữ và
thanh lọc như bao nhiêu Tăng tín đồ khác bị bắt đêm đó ở Sài Gòn.
Chính nhờ có kẻ hy sinh 'Lê Lai liều mình cứu chúa' trong lúc thanh lọc
mà Thượng Tọa mới thóat và sau đó xin tỵ nạn trong Tòa Đại Sứ Mỹ. Không
hề có nước mắt rơi máu đổ vì lý do tôn giáo sau ngày 1.11.1963. Đó là
điều cho phép Tăng tín đồ Phật giáo an tâm nghĩ rằng trước sau họ không
nô lệ cho cuồng tín và hận thù. Cái chết của ba anh em nhà Ngô là những
cuộc thanh toán mà thành phần Phật giáo lãnh đạo và tham gia phong trào 63
có thể hiểu nhưng không hề mong và cũng không muốn xảy ra. Có
người thắc mắc nếu Phật giáo không chủ trương lật đổ thì chống
làm gì? Ngô đình Diệm đổ rồi có ai tài giỏi hơn thế ông không ?
Không đủ sức làm Tổng Thống thì đừng có chống Tổng Thống. Như ngày
xưa, không làm vua được thì đừng có nghĩ chuyện chống vua. Chống vua là
bị mất đầu, đừng kêu oan, đừng la lối là bị kỳ thị đàn áp. Luận
điệu nầy gián tiếp chỉ trích Phật giáo đã bị xúi giục lợi dụng
mà làm thôi. Bảo
rằng Phật giáo chỉ bị 'xúi giục' mà làm thì không hẳn là sai, nhưng kẻ
xúi giục Phật giáo không phải là Hoa Kỳ hay Miền Bắc. Kẻ xúi giục Phật
giáo là chính quyền Ngô đình Diệm, bằng những bất công lỗi lầm đối
với Phật giáo. Ngay cả những kẻ ủng hộ chế độ hết mình bây giờ
nói lại chuyện xưa như Nguyễn văn Châu, Huỳnh văn Lang, Lâm lễ Trinh,
Tôn thất Thiện, hay Phạm kim Vinh, Nguyễn văn Chức, Trần trung Quân... cuối
cùng cũng phải thú nhận là chế độ đã vấp phạm nhiều lỗi lầm, nhất
là trong vụ 63 [4]. Mặt
khác, cho rằng Phật giáo không bị Mỹ thì cũng bị Miền Bắc lợi dụng
xúi giục là một lập luận chỉ khả dĩ đứng vững nếu có những bằng
chứng cho thấy chính quyền Kennedy và Hà Nội muốn gì mà phải lật đổ
Ngô đình Diệm ? Nguyên một sự kiện chiến tranh đã leo thang khốc liệt
sau năm 1963 cũng đủ chứng minh luận điệu Mỹ và Miền Bắc có chung một
mục đích khi lợi dụng Phật giáo để lật đổ Ngô đình Diệm là luận
điệu khó đứng vững. Thật vậy, không là Miền Bắc đơn phương xúi giục
lợi dụng Phật giáo làm ngòi nổ lật đổ Ngô đình Diệm để rồi cả
Miền Bắc phải đội bom trải thảm và trực diện đánh nhau với Mỹ thập
tử nhất sinh như thế sao ? Không là Tổng Thống Kennedy xúi giục và lợi
dụng Phật giáo chống Ngô đình Diệm để rồi phải Mỹ hóa chiến tranh
và Việt hóa chiến bại như thế sao ? Điều
nầy có thể gợi ra một luận điệu khác về một phe nhóm ở Mỹ lợi dụng
vụ Phật giáo 63 bắn một mũi tên giết hai con chim là anh em Ngô đình Diệm
và anh em Kennedy để nắm trọn quyền cai trị Miền Nam và đẩy mạnh chiến
tranh. Phải chăng Tổng Thống Johnson đã gián tiếp xác chứng cho luận điệu
này khi ông một đàng tố cáo việc lật đổ Ngô đình Diệm - nghĩa là đổ
tội cho Kennedy, và đàng khác bật đèn xanh cho Thiệu-Kỳ trừng trị Phật
giáo khi lên án các cuộc tự thiêu của Phật giáo là những 'hy sinh vô
ích' vì thấy rằng Phật giáo là một trở ngại chính đối với chủ
trương Mỹ hóa và leo thang chiến tranh. Sau
hết, cho rằng không thay thế được Ngô đình Diệm thì đừng chống là một
luận điệu vô tình biện minh cho câu nói của Ngô đình Diệm: Sau Hiến
Pháp còn có tôi, nghĩa là ông ngồi trên Hiến Pháp để bảo vệ Hiến Pháp
chứ không phải Hiến Pháp bảo vệ chức quyền Tổng Thống của ông, dù
hợp hiến nhưng ông nói sai là sai, dù vi hiến nhưng ông nói đúng là đúng,
ông đâu biết rằng nói như thế là ông đã mở đường và biện minh cho
những kẻ chống ông bằng bạo lực súng đạn. Sau
năm 1975, Nhà Nước phải từ bỏ cuồng vọng cải tạo xã hội chủ nghĩa
không thông qua giai đoạn tư bản, phải từng bước đổi mới, phải từng
phần thực hiện tự do dân chủ - không phải từ Bắc vào Nam nhưng chính
là từ Nam ra Bắc - đó cũng là nhờ ý thức trưởng thành chính trị của
Miền Nam. Ý thức đó do đâu nếu không phải là do những phong trào đấu
tranh của Phật giáo từ năm 1963 đến năm 1975, và tiếp đó qua những ngọn
đuốc lãnh đạo như Thiện Minh, Đôn Hậu, Trí Thủ, Huyền Quang, Quảng Độ
ở trong nước hay Nhất Hạnh, Mãn Giác ở ngoài nước? Lâu
nay, một số người ồn ào hăm hở đòi sống chết cho nhân quyền, tự
do, dân chủ. Phần đông số đó lại là những kẻ từng mạt sát các
phong trào vận động tự do dân chủ và nhân quyền của Phật giáo là làm
loạn, là xáo trộn, là bị xúi giục lợi dụng. Những kẻ đã theo Pháp
để 'chống Việt Minh', theo Mỹ để 'chống Việt Cộng', đã vinh danh Ngô
Tổng Thống đắc cử với 99 phần trăm phiếu, đã suy tôn Nguyễn Tổng Thống
chiến thắng vinh quang với bầu cử độc diễn... Đó cũng là những kẻ
lâu nay cứ nằng nặc đòi phải 'tức khắc' bỏ điều 4 Hiến Pháp 1992 của
CHXHCNVN, dù cho điều khoản này thực chất cũng chỉ là một cách lặp lại
điều 4 Hiến Pháp 1967 của Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa mà họ đã vịn
vào để ăn ra làm nên bằng cách chụp mũ những người cạnh tranh với họ
hay khác họ. Huyền
Thoại 2: Phản Thần Loạn Tướng Giết Ngô đình Diệm Có
người kết tội những tướng tá tham gia biến cố 1.11.1963 là phản thần
loạn tướng sát chủ. Bất quá họ chỉ là đao phủ thủ chứ không toàn
quyền quyết định về số phận anh em Ngô đình Diệm. Hoa Kỳ không muốn
họ chết thì chẳng tướng tá nào dám giết. Hoa Kỳ muốn đưa họ ra khỏi
xứ thì chẳng tướng tá nào cản nổi. Lại nữa, nếu cái chết của Ngô
đình Diệm và Ngô đình Nhu chỉ là do quyết định đơn phương của tướng
tá Việt Khi
họ còn sống và có quyền hành, gia đình họ Ngô đã được Ngô
đình Diệm tạ thế được ba tuần thì Tổng Thống Kennedy bị bắn chết
ở Huyền
Thoại 3: Ngô đình Diệm Phản Quốc Năm
1979, trước cảnh suy sụp hỗn loạn xứ sở đang trải qua vì đại họa
'tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc' trên đường cải tạo xã hội
chủ nghĩa, tôi hỏi một vài người trong chính quyền rằng trước cảnh này
họ thật sự mong ước gì thì người nào cũng trả lời họ chỉ mong được
trở lại năm 1960. Với họ đó là năm tuyệt hảo. Tôi nghĩ đó là câu trả
lời chân thật, khác xa những khẩu quyết đội đá vá trời của họ khi
mới vào Sài Gòn. Tôi cười nhẹ: 'Năm 1960 cũng là năm các anh rắp ranh khởi
diễn cuộc kháng chiến cứu nước thần thánh lần nữa đó phải không ?' 1960
là năm cao điểm của thanh bình an lạc ở cả hai miền Nam Bắc. Hồ chí
Minh thực hiện được điều đó ở Miền Bắc thì Ngô đình Diệm cũng làm
được điều đó ở Nam. Hồ
chí Minh đuổi được Pháp khỏi nửa phần đất nước phía Bắc thì - dù
được Trung Hoa tán trợ, Pháp vẫn không bám được vào Miền Nam phải ra
đi để cho Ngô đình Diệm và Mỹ điền khuyết vào. Đệ
Nhất Cộng Hòa của Miền Hồ
chí Minh có quyền lựa chọn Vô Sản chủ nghĩa thì Ngô đình Diệm cũng có
quyền lựa chọn Tư Bản chủ nghĩa. Những lựa chọn nầy không tiên quyết
biến người lựa chọn thành phản quốc, đã hẳn. Nhưng điều Ngô đình
Diệm lựa chọn lại không phải là ý thức hệ Tư Bản. Thật vậy, một
trong những chủ trương nòng cốt của Tư Bản chủ nghĩa là tách biệt thế
quyền với thần quyền. Con người tự do làm giàu và tự do sống theo lương
tâm của mình chứ không phải theo lệnh của Giáo Hội hay của chính quyền
công cụ của Giáo Hội. Ngô đình Diệm đã phạm điều tối kỵ đó của
Tư Bản chủ nghĩa nên cuối cùng đã trở thành công cụ của Giáo Hoàng
Pius XII và giáo triều Vatican đang điên cuồng chống Nga - nghĩa là chống
Chính Thống giáo, với sự tiếp sức của những người Mỹ chống Nga và
Trung Quốc theo cung cách phán quan của những giáo tò Cường
toan của Chiến Tranh Lạnh đã xóa bỏ cái lằn ranh đa nguyên, tương biệt,
tương kính, tương trợ khả hữu giữa hai miền Nam Bắc Việt Sau
năm 1945, Đảng Cộng Sản vẫn hợp pháp hoạt động ở Nhật, Ý, Pháp,
Tây Đức, Hoa Kỳ. Nhưng đảng viên cộng sản ở các nơi đó không hề bị
lên máy chém, không bị giam cầm, không bị khai trừ khỏi Giáo Hội, và cũng
không hề hô hào đồng khởi, tổng nổi dậy để 'đánh cho Mỹ cút Ngụy
nhào'. Chuyện gì có thể xảy ra cho đất nước nếu sau năm 1960, Ngô đình
Diệm và Hồ chí Minh cứ nhất quyết đánh võ mồm như Hoa lục và Đài
Loan, như Nam Bắc Triều Tiên sau năm 1953, như
Đông và Tây Đức cho đến khi bức tường Berlin sụp đổ năm 1989 ? Huyền
Thoại 4: Cộng Sản - Quốc Gia Trong
chiến tranh Việt Chủ
nghĩa quốc gia do Pháp nặn ra làm bình phong biện minh cho việc phục hoạt
lá bài Bảo Đại để biện minh cho việc tái lập chế độ thuộc địa
ở Đông Dương. Bảo Đại đã tự ý thoái vị năm 1945 nên khi Pháp bảo
'hồi loan', không thể xưng Vua, Tổng Thống, Chủ Tịch Nước... nên chỉ
còn một chữ Quốc Trưởng, hiểu sao cũng được. Đã có 'quốc trưởng'
thì phải có 'quốc gia' để cho 'quốc trưởng' lãnh đạo. Cho nên ở đây, không phải quốc gia đẻ
ra quốc trưởng, mà chính Pháp đẻ ra quốc trưởng và quốc trưởng đẻ
ra quốc gia. Quốc gia và quốc trưởng chỉ là tấm bình phong cho Pháp tái
lập nền đô hộ mà Pháp đã tự đánh mất khi để Nhật đảo chánh hất
văng khỏi Đông Dương năm 1943. Một
số người Miền Lúc
vị ngộ, phải ẩn thân ở hang Pắc Pó, Hồ chí Minh giết thời giờ bằng
cách dịch quyển thủ bản hành động của người Mác-xít là quyển Làm Gì của Lenin. Như vậy, xét về kinh
điển Mác-xít bằng tiếng Việt thì quyển Cộng Sản Sơ Giải của Hà huy
Tập in ở Sài Gòn năm 1942 là kinh điển tiên khởi. Quyển sách mỏng nầy
cũng tối tăm, lẩm cẩm, tốc điệu, cuồng nhiệt không thua gì Phép Giảng Tám Ngày của Công giáo Việt Năm
1953, khi cán cân lực lượng đổi thay, người Mác-xít đã gây ra một lỗi
lầm đến nay vẫn chưa gội sạch đó là phát động phong trào chính huấn
và cải cách ruộng đất. Phong trào thất bại, Hồ chí Minh nhận lỗi và
Trường Chinh nhận tội. Nhưng nền Chuyên Chính Vô Sản ở Việt Có
nhân thì có quả, làm thế nào để hóa giải một cách có hiệu quả những
hoa độc trái đắng của độc tôn độc thiện quan liêu - và cơ hội chủ
nghĩa nữa, như vừa kể trên ? Đó là câu hỏi trọng đại cho cả dân tộc
trên đường đi vào thế kỷ 21. Huyền
Thoại 5: Dân Chủ - Tự Do Cuộc
chiến 30 năm ở Việt Nam thường được hai phe đối chiến mô tả như cuộc
chiến giữa 'tự do dân tộc' và 'tự do dân chủ'. Phe tự do dân tộc thắng,
phe bảo vệ tự do dân chủ thua và đến lượt phe tự do dân tộc triển
khai tự do dân chủ. So sánh tự do dân chủ mà người dân Việt được hưởng
từ trước đến nay với thực tế dân chủ ở một số lớn các nước Tây
phương thì quả thực cũng chẳng khác gì đem ảnh quan tuyến X của một
hoa hậu so sánh với ảnh thực của hoa hậu ấy. Bởi lý, tự do dân chủ
không tùy thuộc định chế, giấy mực mà tùy thuộc vào thực tế của
khung cảnh trong đó tự do dân chủ được triển khai. Mặt
khác, tự do dân chủ một thời đã được xử dụng như công cụ của Chiến
Tranh Lạnh nên màu sắc huy hồng của ngọn cờ tự do dân chủ cũng tất yếu
mờ nhạt từ khi Chiến Tranh Lạnh rã băng. Những chuyện biếm nhục trong
thượng tầng chính trị ở Nhật, Ý, Anh, Hoa Kỳ, Phi Luật Tân, Đại Hàn,
Thái Lan, Nam Dương, ở hầu hết các nước Nam Trung Mỹ, ở Nga và Đông
Âu thời hậu cộng sản, ở Afganistan thời hậu giải phóng, nạn độc tài,
đói kém và nội chiến ở Phi châu, quan niệm của đa số các nước Đông
Nam Á về nhân quyền, tự do dân chủ, thành tích kinh tế nghịch biến với
thành tích thực hiện dân chủ của Trung Hoa v.v... là những bằng chứng
khiến người ta phải thành tâm xét lại chức năng của những ý niệm và
định chế tự do dân chủ. Trong
tiến trình xét lại nầy, một số câu hỏi có thể đặt ra như thứ nhất,
tự do dân chủ là quyền căn bản như quyền cơm áo, sức khỏe, học
hành, lao động vậy đâu là thứ tự ưu tiên của hai thứ quyền đó ? Thứ
hai, tự do dân chủ phải chăng là một thứ lễ nghĩa. Muốn có lễ nghĩa
trước tiên phải phú quý, muốn phú quý trước tiên phải no đủ ? Thứ
ba, mục tiêu tiên quyết của tự do dân chủ là gì, là điều kiện thăng
tiến các giá trị nhân sinh, hay là cái thắng hãm bớt đà tuột dốc của
hà lạm, hủ hóa, nhũng nhiễu vốn là mặt trái của quyền lực ? Thứ tư,
phải chăng dân chủ tự do là phương thức vận dụng và quy kết quyết định
của đa số để hoạch định và quản lý việc nước mà mục tiêu chính
là những thành công kinh tế xã hội vì 'phú quý - kinh tế' sinh 'lễ nghĩa
- dân chủ tự do' chứ không phải ngược lại ? Nói thế khác, tự do dân
chủ chính trị tuỳ thuộc quyền tư hữu, nhưng bản chất của tự do tư
hữu là tự do kinh tài rừng rú vì tham dục. Làm thế nào để quân bằng
hai thứ tự do đó ? Thứ năm, tự do dân chủ tùy thuộc mức độ kết ước,
và kết ước lại tùy thuộc vào việc tài phán và trừng phạt, nghĩa là
tùy thuộc vào luật pháp. Tự do dân chủ không luật pháp là hỗn loạn,
luật pháp không tự do dân chủ là luật rừng. Theo cách nào trước ? Luật
pháp được đặt định tùy hoàn cảnh và nhu cầu của đa số dân chúng.
Nhưng có thấu hiểu và chấp nhận hoàn cảnh cũng như nhu cầu đó không lại
là chuyện tiên quyết tùy thuộc giới lãnh đạo đương quyền. Điều nầy
phân biệt luật pháp dân chủ và luật pháp độc tài, dân chủ pháp trị
và dân chủ đảng trị, tự do phổ biến và tự do của một giai tầng xã
hội nào thôi. Điều nầy cũng giải thích tại sao có những minh chúa hiền
vương trong các chế độ quân chủ phong kiến, tại sao có những Tổng Thống
tồi tệ, những Thủ Tướng ác ôn, những Quốc Hội bù nhìn trong những
chế độ dân chủ. Cho
đến ngày sụp đổ, số phận nền dân chủ tự do của Miền Người
Việt lưu vong được may mắn hơn đồng bào ở quê nhà về kinh nghiệm tự
do dân chủ. Thế nhưng hình như một số người Việt lưu vong lại chỉ thích
cái tự do dân chủ mà đồng bào đang hưởng ở quê nhà - do đầu óc bi
quan thù hận của họ tưởng tượng thêu dệt ra - hơn là thứ tự do dân chủ đang thịnh hành
nơi xứ tạm dung. Tất cả chỉ có tác dụng nhắc nhớ đến một chính
nghĩa đã bị lịch sử vùi chôn và vô tình biện minh cho kẻ chiến thắng.
Họ hô hào đòi hỏi nhân quyền, dân chủ, tự do 'lập tức, tức khắc,
triệt để, tồn diện' mà không hề quan tâm đến tương quan ý nghĩa của
những từ ngữ đó đối với ý chí tự quyết, tự chủ, ý thức đồng bào
và ngay cả tự ái dân tộc là những điều đã giúp cho Việt Nam còn là
Việt Nam như hôm nay. Huyền
Thoại 6: Thắng Bại ở Việt Người
dân Huế hẳn chưa quên chuyện treo cờ, đổi tiền và cấm nói lái sau khi
Huế, Đà Nẵng và rồi toàn Miền Trung mất năm 1975. Dân chúng được lệnh
đổi tiền nhưng chỉ đến Huế thôi. Dân chúng phải treo cờ đỏ sao vàng
nhưng chỉ đến Đèo Hải Vân thôi, bên kia Đèo Hải Vân trở vào Nam chỉ
treo cờ Mặt Trận. Dân Huế bị cấm không được nói mấy chữ 'đại thắng
lợi', dù là để khen ngợi và ca tụng cách mạng. Bởi vì đại thắng lợi
nói lái lại là thành Đợi Thắng Lại, nghĩa là mong cho 'cách mạng' thua
và mong 'quốc gia' trở lại như hồi Mậu Thân. Mặt khác, sau ngày
30.4.1975, Sài Gòn thất thủ rồi nhưng ít nữa cũng là 4 ngày sau thì bộ
chỉ huy Chiến Dịch Hồ chí Minh mới lục tục vào Sài Gòn, trong khi bộ
đội tên lửa thì vẫn đi thẳng xuống miền cực Nam để bố trí hỏa tiễn
SAM I, SAM II trong rừng U Minh, đề phòng Mỹ trở mặt. Miền
Miền
Miền
Bắc chiến thắng, trên chiến trường, đã hẳn. Lịch sử không thiếu những
trường hợp thắng trở thành bại. Phật giáo được A Dục Vương đưa vào
nội địa Ấn Độ và bị Ấn giáo phủ lên như cỏ dìm ngập những cành
hoa mong manh. Ở Hy Lạp ngày xưa, dân Trước
khi Miền Kiểm
soát Miền Với
của cải, tiến bộ và chủ lực hơn một triệu tay súng Việt Huyền
Thoại 7: Tín Ngưỡng và Ý Thức Hệ Lịch
sử không thiếu những ví dụ về sự chuyển hóa từ tự do dân chủ sang
độc tài. Và lịch sử cũng không thiếu những ví dụ về sự chuyển hóa
ngược lại. Sự chuyển hố đó không chỉ tùy thuộc vào những thành bại
kinh tế chính trị, mà còn tuỳ vào lòng người, người cai trị cũng như
kẻ bị trị. Và lòng người ở đây lại chịu ảnh hưởng của văn hóa,
đạo đức, tín ngưỡng hơn là ý thức hệ hay luật pháp. Điều nầy đặt
ra vấn đề tác dụng của tín ngưỡng và ý thức hệ trong việc lãnh đạo
và quản lý Nhà Nước. Cuộc
chiến 30 năm qua đã bị phủ lên màu sắc ý thức hệ. Cũng vì màu sắc
ý thức hệ đó mà tôn giáo bị lôi kéo lợi dụng như những công cụ. Một
số người Mác-xít tin rằng tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân, người
Công giáo Việt Nam nhắm mắt nghe lời Đức Thánh Cha hay các cha-nhà-thờ rằng
Việt Minh là cộng sản, cộng sản là quỷ Satan cho nên theo Pháp diệt Việt
Minh, theo Mỹ diệt Việt Cộng là vâng ý Cha trên trời và vâng lời Cha dưới
đất. Chống cộng trở thành một tín lý, nhất là từ năm 1949, khi Giáo Hồng
Pius XII ban hành giáo chỉ Rerum Novare đe dọa khai trừ khỏi giáo hội những
người theo Marx. Tín lý chống cộng nầy lại được nuôi dưỡng và kích
động bằng cái gọi là những bí mật Đức Mẹ tiết lộ cho ba đứa nhỏ
năm 1917 tại Nhà
Nước Việt Vạn
bất đắc dĩ, cộng sản hay tư bản cũng chỉ là những trở lực ngẫu
nhiên của Phật giáo mà thôi. Phật giáo có mặt ở Việt Nam ngót 2000 năm,
cộng sản hay tư bản chỉ mới chưa đầy hai trăm năm. Chưa kể là từ
nguyên ủy, Phật giáo đã ấp ủ những ước vọng xã hội kinh tế mà những
cuộc cách mạng chính trị hiện đại - kể cả Marx, đã sao chép một
cách cục bộ phiến diện và quá khích. Lục Hòa của Phật giáo hay chính
sách cộng tồn của các tông đồ tiên khởi của Thiên Chúa giáo là những
ví dụ. Ý
thức hệ Mác-xít phát xuất từ Tây phương, có va chạm thì cũng chỉ va
chạm với tôn giáo Tây phương, nghĩa là tôn giáo độc thần. Dù cho các
tông phái độc thần nầy - Công giáo, Tin Lành, Chính Thống giáo, Hồi
giáo... thường nặng tay với nhau còn hơn với cộng sản, hay còn hơn khi bị
cộng sản nặng tay. Thái độ và ý thức chống tôn giáo độc thần nầy
chẳng đợi Marx hay những người Mác-xít dạy cho hay xúi giục mới có.
Vì như Linh Mục J. Murray giải thích: 'Thiên hạ nổi cáu vì không hiểu tại
sao Thượng Đế nhân ái như thế lại có thể làm ngơ cho đa phần thống
khổ xảy ra trên trái đất. Sự thể đa phần những thống khổ nầy lại
đã do những kẻ có đức tin tôn giáo gây ra đủ khiến cho thiên hạ càng
nổi cáu hơn nữa' [7]. Đồ
đệ của Marx đã sai lầm khi xem tôn giáo độc thần Tây phương và tôn
giáo Đông phương như Lão giáo, Nho giáo, Ấn giáo, Phật giáo đều là thuốc
phiện hại dân, chẳng khác gì tôn giáo độc thần tin rằng người Mác-xít
nào cũng là satan ngạ quỷ cả. Huyền
thoại Công giáo chống cộng là một huyền thoại đang tiếp tục tác hại
trong một số tập thể người Việt lưu vong. Năm 1954, vì muốn đem 700.000
giáo dân vào Nam làm nòng cốt cho tiền đồn của Khối Tự Do nên Mỹ và
Vatican đón Đức Mẹ di cư vào Nam. Năm 1975 Miền Trong
khi đó, bất chấp tinh thần Trung Quán bất nhị, bất chấp tinh thần Lục
Hòa giác tha, một số Tăng tín đồ Phật giáo cũng theo đuôi đám giáo
dân bị Vatican cho vào xiếc ấy để chống cộng còn hăng hơn cán bộ dân
vận chiêu hồi ngày trước. Những người nào không chịu làm theo họ thì
sẽ bị họ gọi là Phật tử yêu quái, là đám văn hóa vận của đảng Cộng
Sản Việt Mục
tiêu tối hậu của người Phật tử là giải thoát. Điều kiện giải thốt
là chuyển nghiệp, là giải nghiệp. Giải nghiệp không chỉ là biệt nghiệp
tự thân mà còn là cộng nghiệp của tha nhân. Hai cộng nghiệp nặng nề
nhất là thực dân đế quốc và ý thức hệ huyền hoặc không tưởng. Cho
nên giải nghiệp cũng là giải thực và giải hoặc. Giải nghiệp qua con
đường giải thực và giải hoặc, là con đường tự giác nhi giác tha,
cùng giải thoát với đồng bào đồng loại. Nhưng giải thực không tất yếu
phải phanh thây uống máu quân thù, và giải hoặc không tất yếu phải ban
phép lành cho súng đạn để giết sạch lồi quỷ đỏ. Chiến thắng vững
bền là biến kẻ thù trở lại thành người, và biến người đó thành bạn.
Việt Tín
ngưỡng đi trước và đi sau cách mạng, chứ không dẫm chân hay đi song hành
với những chuyển biến chính trị và kinh tế. Sự tàn lụi của tôn giáo
trong các xã hội Tây phương kể từ cách mạng Pháp 1789 đến nay là một
bằng chứng. Vì không có gì để đóng góp thiết thực cho giai đoạn trước
và sau cách mạng, nên khi cách mạng chính trị kinh tế thành công, khi xã hội
đã ấm no dân chủ, thì tôn giáo cũng tàn lụi vì không đáp ứng được
những nhu cầu cao hơn các nhu cầu mà kinh tế chính trị có thể thỏa mãn
như cơm áo, tư hữu, hưởng lạc, vun bồi tự ngã bằng cạnh tranh tài lợi,
danh vọng, chức quyền. Huyền
Thoại 8: Phật giáo và Công giáo Chống Nhau Trước
tiên, chính một số đồng bào Công giáo hình như cũng đang nghĩ rằng danh
từ công giáo đã trở thành lỗi thời
vì gắn liền với một giai đoạn lịch sử thành công nhưng chẳng mấy vẻ
vang huy hoàng cho Công giáo trên đất nước Việt Tín
lý của Kitô giáo là Kính Chúa Yêu Người, là bác ái. Nguyên tắc ở đời
sống đạo của Phật tử là từ bi, lục Hòa, nên bảo rằng hai đạo nầy
chống nhau thì kể cũng khó hiểu. Thực tế đáng buồn là chuyện khó hiểu
ấy lại có thực. Khi cả hai tôn giáo nầy bị biến thành cái mâu cái thuẫn
trong tay một số tín đồ của cả hai phe vì những toan tính và động lực
chẳng có gì là tín ngưỡng cả. Thật vậy, khi thôn tính Việt Duyên
nợ oan khiên giữa Công giáo và Phật giáo Việt Mỗi
lần nghe lại bản Giọt Mưa Trên Lá, nhạc
của Phạm Duy lời thơ của Nhất Hạnh, Tôi có cảm tưởng từ bi của con
nhà Phật rộng hơn bác ái của con nhà Chúa. Có một nhà văn, nhà thơ, nghệ
sĩ Công giáo nào cho đến nay làm như ông sư Nhất Hạnh thảnh thơi bồng
Phật Chúa đặt ngang nhau như thế chưa, hay họ chỉ lăm le hất tượng Phật
thế tượng Chúa vào ? Hình
như đó cũng là câu hỏi mới đây của những người như Linh Mục dòng
Tên Anthony Aroklasamy, Karichi Kadowaki, và Linh Mục dòng Benedictin Bede Griffiths.
Linh Mục Anthony là người Âu sinh ở Ấn xuất gia làm Linh Mục học Thiền
ở Nhật, chu du khắp thế giới nói chuyện Hòa đồng tôn giáo. Theo ông,
người ta có thể vừa là Thiên Chúa giáo đồ vừa là Phật giáo đồ.
Linh Mục Anthony than thở: Thỉnh thoảng báo chí loan tin những người lính
Nhật trong rừng mò ra, họ trốn trong rừng, không hề hay biết cuộc chiến
đấu cho Thiên Hoàng của họ đã chấm dứt từ 40 năm qua. Một số tín hữu
Công giáo chúng ta hình như cũng có tâm trạng và thế giới quan tương tự.
Hình như họ không ý thức - và cũng không muốn ý thức, rằng Giáo hội
đã thay đổi nhiều về giáo lý và phương thức phụng hành tín ngưỡng.
Giáo hội kêu gọi đối thoại với các truyền thống tín ngưỡng khác và
học hỏi các truyền thống đó để biết rằng sự mầu nhiệm của Thượng
Đế và thiên triều bắt buộc chúng ta phải từ bỏ óc hẹp hòi và tham vọng
vơ hết về cho mình [14].
Trong khi đó, Linh Mục Kakichi cho rằng Thiền
của Phật giáo và Thiên Chúa giáo không những chỉ bổ túc cho nhau mà còn
tương trợ mạnh mẽ nhau nữa. Ông xuất thân từ một gia đình Phật tử
và là tác giả của quyển sách nổi tiếng Thiền
và Thánh Kinh. Linh Mục Bede là người
được thế giới tặng cho biệt danh Nhà Sư Kitô giáo, Đạo sĩ Thiên Chúa
giáo, là người đã hành đạo như một nhà sư với tín lý Thiên Chúa
giáo gần 40 năm. Năm 1955, ông gặp một nhà sư Ấn rồi theo người nầy
sang Ấn lập một đạo tràng ở Tamu Nadu. Ông thường lo lắng: Nếu không
biết thích ứng thì Thiên Chúa giáo sẽ mất hết ảnh hưởng. Thiên Chúa
giáo là một tôn giáo rất Tây phương, và nhiều khi chúng ta đã quên điều
ấy [15]. Tươ
Nếu
Việt Chuyện
thần tiên có thật đầu tiên phải kể là Nam Quốc Sơn Hà. Bước vào thời
hiện đại, Việt Thánh
nhân là kẻ tiên thiên hạ chi ưu hậu thiên hạ chi lạc. Lãnh đạo là nghĩ
đến cái khổ, cái khó, cái cần của dân trước công khó và thành tích của
mình. Qua
mười năm sau cùng của cuộc chiến, tính đổ đồng số bom đạn mỗi
người Việt nhận được là 250 kí lô. Tâm hồn người sống sót đương
nhiên cũng bị lở loét bởi những sản phẩm chính trị kinh tế văn hóa
tôn giáo được nhập cảng vào tâm hồn người Việt một lần với số
bom đạn đó. Cho nên, thống nhất sơn hà và hàn gắn quê hương đã khó,
thống nhất và hàn gắn lòng người lại càng khó hơn. Công tội lịch sử
mai đây phần lớn sẽ được định tùy theo thành tích thống nhất và
hàn gắn lòng người đó. Chuyện
thần tiên thật như đếm thứ hai là Việt tính, Việt tình. Đất nước dẫy
đầy độc tố và thuốc khai quang chính trị văn hóa tâm linh gần trăm
năm, thế mà đa số người Việt vẫn không bị ngộ độc trầm trọng đến
độ trở thành lang sói với nhau khi có cơ hội ngàn năm một thuở để lấy
oán trả oán, như cách mạng 1945, đình chiến 1954, chính biến 1.11.1963,
ngày 30.4.1975. Thực tế có lẽ phải nói rằng người Việt trở thành lang
sói với nhau thường chỉ là theo đơn đặt hàng, theo khế ước đấu thầu
chính trị, theo chiến dịch, theo chiến thuật giai đoạn qua những tờ truyền
đơn, những sách báo tuyên truyền, trên những diễn đàn, bục giảng của
những kẻ ấm no cao sang nhờ theo gió trở cờ, nhờ bán buôn thù hận, nhờ
sưu tầm anh hùng tử sĩ và thánh tử đạo như người làm giàu với nghề
buôn đồ cổ mà thôi, hơn là trong hiện thực, trong ruột gan thâm căn cố
đế. Đã
hẳn, lịch sử Việt Nam không phải không có những bóng đen u ám như vụ
Ôn Như Hầu ở Bắc, vụ thanh toán Đệ Tam - Đệ Tứ ở Nam, phong trào
chính huấn và cải cách ruộng đất ở Bắc, hành động thủ tiêu lính Việt
Nam sau trận Điện Biên Phủ, vụ tàn sát đồng bào Thượng ở A Lưới
Nam Đông, vụ Mậu Thân ở Huế, chiến dịch Phượng Hoàng... Nhưng những
bóng đen u ám ấy thật cũng chẳng đáng gì so với các cuộc tàn sát tôn
giáo chính trị ở Âu châu ngày xưa và ở Bắc Ireland, Rwanda, Yugoslavia, Ấn
Độ ngày nay, hay phong trào thanh trừng Pháp gian sau khi Paris được giải phóng
khỏi tay Đức, hay chiến dịch truy kích địch của Mao trạch Đông sau khi
làm chủ Hoa lục, hay phong trào cải cách ruộng đất của Stalin, hay chiến
dịch triệt hạ đô thị và tập thể hoá nông nghiệp của Pol Pot... Ngót
bốn triệu thương vong trong 30 năm máu lửa. Con số lớn lao và đau xót thật.
Nhưng chỉ nguyên nạn đói kéo dài mấy tháng năm 1945 cũng đã giết gần
ba triệu rưỡi đồng bào. Nghĩ đến những bóng mây đen lịch sử đó,
nghĩ đến những đồn bót, lao tù, trại giam, trại cải tạo, nghĩ đến
những hận thù ủy nhiệm, những căm giận viễn khiển, những đắng cay tự
thân kinh niên... Hoàng tôi vẫn hú hồn hú vía thấy rằng ân oán 30 năm vẫn
chưa đủ sức đẩy các thành phố lớn vào biển máu, chưa đủ sức biến
các trại cải tạo thành những lò sát sinh thời Đức Quốc Xã, những
nông trường tập thể ở Siberia thời Stalin, những nông trường máu của
Pol Pot. Tương
lai Việt Phong Trang 4.1993 -
6.2000. GHI CHÚ [1]
[2]
TiVi
Tuần San, Melbourne, số 27.1.1993. [3]
Tuệ
Giác - Việt Nam Phật Giáo Tranh Đấu Sử , Hoa Nghiêm, Sài Gòn 1964, tr. 80,
119 & tt, 133. [4]
Nguyễn
văn Châu - Ngô đình Diệm và Nỗ Lực Hòa Bình Dang Dở, Xuân Thu, [5]
Theo
truyền thuyết, Đức Mẹ hiện ra với ba đứa nhỏ 7 tuổi, 9 tuổi và 10
tuổi năm 1917 ở ngôi làng Fatima và đã thố lộ với chúng ba điều bí mật.
Sau biến cố đó, hai đứa chết và đứa con gái 10 tuổi còn lại thì bị
nhốt vào một Dòng tu kín tuyệt đối không được tiếp xúc với người
ngoài. Năm 1942, Giáo Hoàng Pius XII công bố điều tiết lộ 1 và 2 nhưng vẫn
tuyệt đối dấu kín điều bí mật thứ
ba. Điều bí mật nầy chỉ có Giáo Hoàng và một cận thần được đọc
sau khi đắc cử. Đến tháng 5.2000, Giáo Hoàng John Paul II mới công bố
luôn điều bí mật thứ ba nầy gồm dự kiến hình ảnh một Giám Mục nằm
sóng soài giữa một đám người tử đạo. Có người giải thích đó là dự
báo Đức Giáo Hoàng John Paul II bị mưu sát hồi tháng 5.1981. Theo những
chuyên gia thiên tri sấm truyền thì bí mật thứ nhất liên hệ đến đại
chiến thứ hai bùng nổ, bí mật thứ hai liên hệ đến sự thăng trầm của
cộng sản quốc tế. [6]
Tuyên
Cáo ngày 7.12.1992 của Hòa Thượng Huyền Quang. |