1105-gd.gif (2402 bytes)
posted: 03.11.2005
 hoang nguyen nhuan
  Như Chuyện Thần Tiên

Hoàng nguyên Nhuận

 Đây là phần nhuận sắc của bài được viết ra nhân kỷ niệm 30 năm 1963-1993, Phật giáo nhập cuộc đối mặt với chính quyền nhà Ngô. Phần nhuận sắc nầy xảy ra khi Hoàng tôi ngậm ngùi chứng kiến cảnh hòa hợp hòa giải dân tộc xảy ra ở Đại Hàn.  

Đã hẳn, Hoàng tôi không phải là người Việt duy nhất xúc động trước cảnh Tổng Thống Kim Đại Trọng của Nam Hàn và Chủ Tịch Kim Chính Nhất của Bắc Hàn bắt tay nhau toan tính hàn gắn hai miền đất nước đã hơn nửa thế kỷ khốn khổ vì những hận thù viễn khiển. Hình ảnh đó xuất hiện như một chuyện thần tiên, khác hẳn những chuyện thần tiên mà dân tôi nước tôi từng hụt lui hụt tới không biết bao nhiêu lần.         

*
*    *

          1963-1993, ba mươi năm cũng đủ dài để có một cái nhìn trầm tĩnh hơn về phong trào Phật giáo vận động tự do tín ngưỡng và công bằng xã hội phát khởi ngày Phật Đản 1963.

          Trực tiếp châm ngòi cho phong trào 63 là công điện 9195 ngày 6.5.1963 của Phủ Tổng Thống chỉ thị 'chỉ được treo cờ quốc gia' mà thôi. Nếu lệnh nầy được ban hành vào một dịp khác Phật Đản và thi hành tại một nơi khác Huế thì phản chấn hẳn đã nhẹ hơn. Phật Đản là ngày lễ trọng và Huế là linh địa của Phật giáo đang thường xuyên chịu đựng bức chẹt, nhất là từ khi quyền lực của Ngô đình Diệm tạm thời được củng cố trên toàn Miền Nam từ năm 1956 trở đi. Huế cũng là nơi đặt chính tòa của Tổng Giám Mục Ngô đình Thục, thường tưng bừng cờ Vatican khắp hang cùng ngõ hẻm mỗi khi có lễ lạc của Công giáo.

          Mặt khác, 1963 cũng là năm cao điểm của những khủng hoảng chính quyền đang phải trải qua. Chuỗi khủng hoảng nầy không phát xuất từ 'ngoại thù' Miền Bắc mà từ nội bộ phe phái Miền Nam với cuộc nổi dậy của Bình Xuyên-Hòa Hảo, vụ ám sát Ngô đình Diệm ở Ban Mê Thuột, cuộc binh biến của Nguyễn chánh Thi, vụ ném bom Dinh Độc Lập của Phạm phú Quốc-Nguyễn văn Cử. Bên cạnh chuỗi khủng hoảng đó là áp lực của Vatican và Washington.

          Vatican không che đậy toan tính dùng Ngô đình Thục làm bàn đạp đẩy mạnh chiến dịch 'nước Chúa trị đến' khắp Miền Nam qua việc Hồng Y Agagianian đến Miền Nam đại diện Vatican để chứng giám cho gia đình nhà Ngô công khai dâng Việt Nam cho Đức Mẹ Maria.

          Mặt khác, Tổng Thống Kennedy thừa hưởng trọn hậu quả về đường lối chính sách của các chính quyền Mỹ tiền nhiệm biến Miền Nam thành một tiền đồn, nói là để ngăn chận đà bành trướng không chỉ của Miền Bắc mà cả của Trung Hoa và Nga Sô từ phần đất này. Ngăn chận như thế nào ? Đối đầu đến mức nào ? Miền Nam và riêng Ngô đình Diệm được gán cho vai trò gì trong chủ trương đối đầu đó ? Đó là những câu hỏi Kennedy bắt buộc phải có giải đáp trong cuộc vận động tái ứng cử sang năm. Giải đáp đó có thể là duy trì nguyên trạng nhập nhằng, có thể là dứt khoát giải ước rút lui, có thể là ồ ạt nhảy vào gánh trọn. Nhưng rút lui hay tiến tới thì đàng nào Mỹ cũng cần một tấm bình phong chính trị mà Ngô đình Diệm phải chịu trách nhiệm bảo trì và đánh bóng. Triệt hạ hay khiêu khích một tôn giáo của 70-80 phần trăm dân chúng đương nhiên không phải là cách cải thiện đường lối cai trị và ổn định tình hình như Mỹ mong đợi. Anh em Ngô đình Diệm không ý thức rõ ràng chuyện đó mà lại cứ nghĩ rằng Mỹ cần họ vì chẳng có ai thân Mỹ và có ích cho Mỹ ở Miền Nam bằng họ. Vì nghĩ như vậy nên anh em Ngô đình Diệm đã nhờ Mỹ mà có quyền nhưng lại không chịu nghe Mỹ trong lúc cai trị. Sau vụ thảm sát tại Đài Phát Thanh Huế đêm Phật Đản 1963, Ngô đình Diệm cho rằng chính quyền Mỹ chủ mưu dùng Phật giáo làm công cụ phá phách dằn mặt mình nên quyết trừng trị Phật giáo vì nghĩ rằng vạn bất đắc dĩ phải lựa chọn tối hậu thì Mỹ sẽ chọn họ chứ không phải Phật giáo. Stanley Karnow kể rằng năm 1961, Karnow có dịp tháp tùng Lyndon Johnson trong chuyến công du Miền Nam. Lyndon Johnson lúc đó là phĩ của Kennedy và sau này là kẻ phê phán nặng nề vụ lật đổ Ngô đình Diệm năm 1963. Trên chuyến bay về Mỹ, Karnow nhắc lại chuyện khi gặp Ngô đình Diệm ở Sài Gòn, Johnson đã so sánh Ngô đình Diệm với Churchill và hỏi Johnson có thành thật nghĩ vậy không thì Johnson trả lời: 'Thành thật cái cục... mốc họ. Diệm là tay chân duy nhất của ta bên đó'. Nguyên văn: 'Shit, Diem's the only boy we got out there  [1]'. Chính quyền Kennedy không cần Phật giáo nhưng đã xem phản ứng của Ngô đình Diệm đối với Phật giáo là dấu chỉ của bất lực chính trị và chống báng ngang ngược phải bị trừng trị. Và anh em Ngô đình Diệm thảm tử.

          Nguyễn văn Thiệu biết học thuộc bài học xương máu của Ngô đình Diệm nên được bảo bọc. Sau 17 năm câm nín xứ người, Bác Sĩ Phan quang Đán mới lên tiếng: 'Thiệu vẫn nhận định rằng mọi quyền lực đều phát xuất từ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ mà những việc CIA nhúng tay vào là quan trọng nhất, đường lối Mỹ bảo sao nghe vậy đã được Thiệu triệt để áp dụng  [2]'. Phan quang Đán từng là Phó Thủ Tướng của Nguyễn văn Thiệu. Nghĩ lại chuyện xưa, Phan quang Đán vẫn còn bực đến độ xấc xược gọi kẻ mà ngày trước ông từng thưa bẩm là Thiệu, chứ không Tổng Thống gì cả. 

          Nguyễn văn Thiệu dứt điểm Đệ Nhất Cộng Hòa, khai sinh Đệ Nhị Cộng Hòa và rồi đã khai tử chế độ nầy một cách hỗn loạn. Dương văn Minh và Nguyễn văn Thiệu ít ra cũng giống nhau ở một điểm, đó là không ngoan cố cầm cự để gây đau khổ thêm cho đồng bào. Lệnh di tản chiến thuật của Nguyễn văn Thiệu bản chất là một lệnh "Tan Hàng" !. Dương văn Minh chỉ là cái ống nhún, là trái độn, là kẻ cầm cờ trắng vừa che đậy cho Hoa Kỳ rút lui trong những danh dự khả hữu còn sót lại, vừa cứu dân chúng khỏi thế mạng cho những kẻ ăn trên ngồi trốc đã ba chân bốn cẳng bơn đào ngay cả khi đối phương chưa có mặt ở ven đô Sài Gòn. 

          Biến cố 63 tự thân có thể chỉ là một cơn bão trong tách trà, nhưng là cơn bão đã khiến cho một chế độ đã bốn lần thoát hiểm phải nhào đầu lạc địa. Sau ngày 1.11.1963, yêu sách dân chủ tự do của dân chúng không còn bị ngăn chận be bờ nữa. Chấp nhận chiến tranh hy sinh để bảo vệ tự do dân chủ ? Nhưng dân chủ tự do kiểu 99 phần trăm phiếu bầu của Đệ Nhất Cộng Hòa, và kiểu độc diễn của Đệ Nhị Cộng Hòa thì có đáng hy sinh bảo vệ không? Lại nữa, đánh hay đàm thì Miền Nam cũng phải có tiếng nói quyết định chứ không thể nhắm mắt khoán trắng cho Mỹ. Muốn có quyết định thì phải có một chính quyền do dân tự nguyện ủy nhiệm bằng lá phiếu. Ước vọng chính trị đó đã không được thỏa mãn nên hậu quả là đà phát triển của dân chủ, tự do, tự quyết ở Miền Nam đã nghịch biến với chiều phát triển của cuộc chiến cho đến ngày chế độ Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn sụp đổ. Đệ Nhất Cộng Hòa và Đệ Nhị Cộng Hòa là những sản phẩm của tự do - không phải tự do dân chủ mỗi người một phiếu, nhưng là tự do độc diễn, tự do hiếp dâm... dân chủ.

          Sau 30 năm chiến tranh, Việt Nam đã có được thống nhất, độc lập, tự quyết. Thời gian chinh chiến quá dài, chết chóc quá nhiều, tàn phá quá lớn, vết thương để lại trong tâm hồn người Việt suốt mấy thế hệ quá sâu khiến cho tiến trình ổn định nhân tâm, xây dựng đất nước vẫn còn lấn cấn trở ngại. Không phải chỉ là trở ngại vật chất mà còn là những trở ngại danh nghĩa, trở ngại tâm linh. Nguyên do chỉ vì một số người Việt còn lầm huyền thoại với thực tại, hoặc tưởng thực tại là huyền thoại. Thế nên, dù lịch sử đã sang trang, nhưng có người vẫn chưa hoàn toàn đoạn lìa những oan khiên quá khứ để an tâm với hiện tại, để hướng về tương lai, nhất là khi đối diện với một số câu hỏi gai góc như...  

          Một, đâu là lý do tồn tại, đâu là sức mạnh và chính nghĩa của hai miền Nam, Bắc?

          Hai, đất nước có đáng phải mãi mãi chia cắt?

          Ba, Đệ Nhất Cộng Hòa là cơ hội - hay đã đánh mất cơ hội, để duy trì nền Hòa bình Genève mong manh tạm bợ, chờ cho đến khi những oan khiên lịch sử được hóa giải mà không đòi hỏi nhiều sắt máu?

          Bốn, trong cuộc chiến Việt Nam chống ngoại thuộc, phần nào là phần tất yếu, chẳng đặng đừng phát xuất từ những nhu cầu thiết thực và truyền thống tâm linh và lịch sử của đất nước, phần nào là phần vì cầu nên lụy, vì quyết tâm yêu nước muốn dĩ ngoại trị ngoại và rồi chính mình bị nhiễm độc tố ngoại lai hồi nào không hay?

          Năm, Mỹ có thể thắng, hay ít nữa cũng huề ở Việt Nam thay vì cuốn cờ leo lên nóc nhà bỏ chạy?

          Sáu, Phật giáo có bị giựt dây, có bị lợi dụng và Phật giáo có trách nhiệm gì trong diễn biến tình hình đất nước, ít nữa là trong giai đoạn 12 năm cuối cùng của cuộc chiến, từ 1963 đến 1975?

          Thật khó mà có những câu trả lời khả dĩ cho những câu hỏi đó nếu người ta không cảnh giác để mà tránh cạm bẫy của những huyền thoại, hay những chuyện thần tiên đẫm máu... 

Huyền Thoại 1: Phật Giáo Lật Đổ Ngô đình Diệm 

          Kẻ đầu tiên tin tưởng vào huyền thoại nầy chính là anh em Ngô đình Diệm khi họ xem Phật giáo như đối thủ quyết lật đổ mình chứ không muốn đối thoại, dù Thông Cáo Chung 16.6.1963 giữa chính quyền và Phật giáo khả dĩ hội đủ điều kiện kỹ thuật để Hòa giải, ít nữa là tiên khởi. Ngô đình Diệm đã nói một câu bất hủ có thể châm ngòi nổ thánh chiến: 'Tôi tiến hãy theo Tôi, Tôi lùi hãy giết Tôi, Tôi chết hãy trả thù cho Tôi'. Ông không ngờ rằng những kẻ ông kỳ vọng trả thù cho ông lại chính là kẻ đào huyệt chôn ông. Thật vậy, cầm quân tràn ngập Dinh Gia Long và đẩy anh em ông vào cảnh chết thảm chính là hai tướng Nguyễn văn Thiệu và Lâm văn Phát, những đồng chí và đồ đệ trung thành từng được giao cầm đầu hai Sư Đoàn 5 và Sư Đoàn 7 gác cổng thủ đô bảo vệ gia đình ông.

          Phong trào Phật giáo 63 không chủ trương lật đổ, mà cũng không đủ sức lật đổ chế độ. Di Ngôn của những người hy sinh tự thiêu, cũng như những văn kiện và lời tuyên bố của các nhân vật Phật giáo trong giai đoạn đó không có một câu nào hàm ý lật đổ chế độ hay cướp chính quyền. Hoàn cảnh của Phật giáo thời bấy giờ là lưng sát chân tường, quyết tâm của Phật giáo khi đứng lên tiến tới là nhẫn nhục giác tha. Sau vụ Đài Phát Thanh Huế, khi bàn về 5 nguyện vọng Phật giáo sắp đưa ra, Hoàng tôi có hỏi Thầy Thiện Minh Phật giáo tính đi xa tới đâu thì Thầy trả lời đòi bỏ Dụ số 10 và chấm dứt kỳ thị đàn áp Phật giáo, và Thầy trầm giọng xót xa: '... đòi không được thì dắt nhau về Tây Phưông mà ở vậy.' Tôi không khỏi ớn lạnh nghĩ rằng Thầy nói không khác gì Nguyễn thái Học trước giờ hành động. Không thành công thì thành nhân. Nhưng còn đường nào khác hơn? Nhất là sau khi Phật giáo đã gián tiếp gởi một thỉnh nguyện thư gần như tối hậu thư cho Tổng Thống và Quốc Hội ngày 20.2.1962 [3]. Quyết tâm nhẫn nhục giác tha đó cũng đã được Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, lãnh đạo tối cao của Phật giáo lúc đó nhắc lại qua lời nhắn nhủ: 'Tôi chết, xin cầu nguyện cho kẻ giết tôi.'

          Có người nghĩ rằng cuộc tranh đấu năm 1963 của Phật giáo chỉ là một hiện tượng giặc cỏ, làm loạn. Nói như thế tức là lặp lại ý kiến của Ngô đình Nhu cho rằng cuộc đấu tranh của Phật giáo là phản lại tinh thần Ba-La-Mật. Những người nầy làm như không biết rằng chính quyền đã phải ra lệnh giới nghiêm Thiết Quân Luật, nghĩa là treo giò Hiến Pháp và đồng bộ thực hiện cuộc hành quân Nước Lũ toàn Miền Nam đêm 20.8.1963 mới trấn áp được phong trào Phật giáo. Đã hẳn, người Phật tử có tham gia hay ủng hộ biến cố 1.11.1963, nhưng tầng lớp chủ động phong trào đã chỉ ngồi trong tù nhìn ra chứ không được tham dự vào bất cứ giai đoạn nào của biến động 1.11.1963.

          Có người nhắc đến việc Thượng Tọa Trí Quang vào Tòa Đại Sứ Mỹ sau đêm 20.8 như một bằng chứng hợp tác giữa Mỹ và Phật giáo trong vụ Phật Đản 63. Thực tế thì khi chính quyền tấn công vào Chùa Xá Lợi, Thượng Tọa Trí Quang cũng bị bắt đưa về trung tâm Cát Lái để giam giữ và thanh lọc như bao nhiêu Tăng tín đồ khác bị bắt đêm đó ở Sài Gòn. Chính nhờ có kẻ hy sinh 'Lê Lai liều mình cứu chúa' trong lúc thanh lọc mà Thượng Tọa mới thóat và sau đó xin tỵ nạn trong Tòa Đại Sứ Mỹ.  

          Không hề có nước mắt rơi máu đổ vì lý do tôn giáo sau ngày 1.11.1963. Đó là điều cho phép Tăng tín đồ Phật giáo an tâm nghĩ rằng trước sau họ không nô lệ cho cuồng tín và hận thù. Cái chết của ba anh em nhà Ngô là những cuộc thanh toán mà thành phần Phật giáo lãnh đạo và tham gia phong trào 63 có thể hiểu nhưng không hề mong và cũng không muốn xảy ra.

          Có người thắc mắc nếu Phật giáo không chủ trương lật đổ thì chống làm gì? Ngô đình Diệm đổ rồi có ai tài giỏi hơn thế ông không ? Không đủ sức làm Tổng Thống thì đừng có chống Tổng Thống. Như ngày xưa, không làm vua được thì đừng có nghĩ chuyện chống vua. Chống vua là bị mất đầu, đừng kêu oan, đừng la lối là bị kỳ thị đàn áp. Luận điệu nầy gián tiếp chỉ trích Phật giáo đã bị xúi giục lợi dụng mà làm thôi.

          Bảo rằng Phật giáo chỉ bị 'xúi giục' mà làm thì không hẳn là sai, nhưng kẻ xúi giục Phật giáo không phải là Hoa Kỳ hay Miền Bắc. Kẻ xúi giục Phật giáo là chính quyền Ngô đình Diệm, bằng những bất công lỗi lầm đối với Phật giáo. Ngay cả những kẻ ủng hộ chế độ hết mình bây giờ nói lại chuyện xưa như Nguyễn văn Châu, Huỳnh văn Lang, Lâm lễ Trinh, Tôn thất Thiện, hay Phạm kim Vinh, Nguyễn văn Chức, Trần trung Quân... cuối cùng cũng phải thú nhận là chế độ đã vấp phạm nhiều lỗi lầm, nhất là trong vụ 63 [4].

          Mặt khác, cho rằng Phật giáo không bị Mỹ thì cũng bị Miền Bắc lợi dụng xúi giục là một lập luận chỉ khả dĩ đứng vững nếu có những bằng chứng cho thấy chính quyền Kennedy và Hà Nội muốn gì mà phải lật đổ Ngô đình Diệm ? Nguyên một sự kiện chiến tranh đã leo thang khốc liệt sau năm 1963 cũng đủ chứng minh luận điệu Mỹ và Miền Bắc có chung một mục đích khi lợi dụng Phật giáo để lật đổ Ngô đình Diệm là luận điệu khó đứng vững. Thật vậy, không là Miền Bắc đơn phương xúi giục lợi dụng Phật giáo làm ngòi nổ lật đổ Ngô đình Diệm để rồi cả Miền Bắc phải đội bom trải thảm và trực diện đánh nhau với Mỹ thập tử nhất sinh như thế sao ? Không là Tổng Thống Kennedy xúi giục và lợi dụng Phật giáo chống Ngô đình Diệm để rồi phải Mỹ hóa chiến tranh và Việt hóa chiến bại như thế sao ?

          Điều nầy có thể gợi ra một luận điệu khác về một phe nhóm ở Mỹ lợi dụng vụ Phật giáo 63 bắn một mũi tên giết hai con chim là anh em Ngô đình Diệm và anh em Kennedy để nắm trọn quyền cai trị Miền Nam và đẩy mạnh chiến tranh. Phải chăng Tổng Thống Johnson đã gián tiếp xác chứng cho luận điệu này khi ông một đàng tố cáo việc lật đổ Ngô đình Diệm - nghĩa là đổ tội cho Kennedy, và đàng khác bật đèn xanh cho Thiệu-Kỳ trừng trị Phật giáo khi lên án các cuộc tự thiêu của Phật giáo là những 'hy sinh vô ích' vì thấy rằng Phật giáo là một trở ngại chính đối với chủ trương Mỹ hóa và leo thang chiến tranh.

          Sau hết, cho rằng không thay thế được Ngô đình Diệm thì đừng chống là một luận điệu vô tình biện minh cho câu nói của Ngô đình Diệm: Sau Hiến Pháp còn có tôi, nghĩa là ông ngồi trên Hiến Pháp để bảo vệ Hiến Pháp chứ không phải Hiến Pháp bảo vệ chức quyền Tổng Thống của ông, dù hợp hiến nhưng ông nói sai là sai, dù vi hiến nhưng ông nói đúng là đúng, ông đâu biết rằng nói như thế là ông đã mở đường và biện minh cho những kẻ chống ông bằng bạo lực súng đạn.

          Sau năm 1975, Nhà Nước phải từ bỏ cuồng vọng cải tạo xã hội chủ nghĩa không thông qua giai đoạn tư bản, phải từng bước đổi mới, phải từng phần thực hiện tự do dân chủ - không phải từ Bắc vào Nam nhưng chính là từ Nam ra Bắc - đó cũng là nhờ ý thức trưởng thành chính trị của Miền Nam. Ý thức đó do đâu nếu không phải là do những phong trào đấu tranh của Phật giáo từ năm 1963 đến năm 1975, và tiếp đó qua những ngọn đuốc lãnh đạo như Thiện Minh, Đôn Hậu, Trí Thủ, Huyền Quang, Quảng Độ ở trong nước hay Nhất Hạnh, Mãn Giác ở ngoài nước?

          Lâu nay, một số người ồn ào hăm hở đòi sống chết cho nhân quyền, tự do, dân chủ. Phần đông số đó lại là những kẻ từng mạt sát các phong trào vận động tự do dân chủ và nhân quyền của Phật giáo là làm loạn, là xáo trộn, là bị xúi giục lợi dụng. Những kẻ đã theo Pháp để 'chống Việt Minh', theo Mỹ để 'chống Việt Cộng', đã vinh danh Ngô Tổng Thống đắc cử với 99 phần trăm phiếu, đã suy tôn Nguyễn Tổng Thống chiến thắng vinh quang với bầu cử độc diễn... Đó cũng là những kẻ lâu nay cứ nằng nặc đòi phải 'tức khắc' bỏ điều 4 Hiến Pháp 1992 của CHXHCNVN, dù cho điều khoản này thực chất cũng chỉ là một cách lặp lại điều 4 Hiến Pháp 1967 của Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa mà họ đã vịn vào để ăn ra làm nên bằng cách chụp mũ những người cạnh tranh với họ hay khác họ.          

Huyền Thoại 2: Phản Thần Loạn Tướng Giết Ngô đình Diệm 

          Có người kết tội những tướng tá tham gia biến cố 1.11.1963 là phản thần loạn tướng sát chủ. Bất quá họ chỉ là đao phủ thủ chứ không toàn quyền quyết định về số phận anh em Ngô đình Diệm. Hoa Kỳ không muốn họ chết thì chẳng tướng tá nào dám giết. Hoa Kỳ muốn đưa họ ra khỏi xứ thì chẳng tướng tá nào cản nổi. Lại nữa, nếu cái chết của Ngô đình Diệm và Ngô đình Nhu chỉ là do quyết định đơn phương của tướng tá Việt Nam ngoài ý muốn của Mỹ thì sau đó Mỹ tất đã cứu Ngô đình Cẩn chứ không giao ông cho Nguyễn Khánh xử tử. Cùng chết với Ngô đình Cẩn là Phan quang Đông, trùm mật vụ Miền Trung. Tất cả phải chết để cho những bí mật trong mối quan hệ giữa tập đoàn nhà Ngô với Hoa Kỳ, với Vatican, với Nguyễn Khánh và có lẽ cả với Miền Bắc, được đào sâu chôn chặt. Giám Mục Ngô đình Thục, Ngô đình Luyện, bà Ngô đình Nhu thấm thía lời cảnh cáo hắc ám đó nên không hề có tuyên bố, phanh phui, trách móc, nguyền rủa nào cả. Trần kim Tuyến và Võ văn Hải, những cận thần của chế độ cũng không có một hồi ký hay tuyên bố chính thức nào.

          Khi họ còn sống và có quyền hành, gia đình họ Ngô đã được Vatican tuyên dương như con cưng của Hội Thánh. Khi họ thất thế, Vatican ngoảnh mặt làm ngơ. Khi Dinh Gia Long bị tràn ngập, anh em Ngô đình Diệm không chạy vào Tòa Đại Sứ Vatican hay còn gọi là Dinh Khâm Mạng Tòa Thánh mà phải chạy vào nhà một người Hoa ở Chợ Lớn. Gần 30 năm sau Tổng Thống Noriega của Panama đã quên bài học đó nên lúc hoạn nạn đã chạy vào Dinh Khâm Mạng Tòa Thánh hy vọng thoát được bị Mỹ bắt tội. Vì ân nghĩa, đại diện Vatican cho Noriega tá túc mấy hôm rồi giao cho Hoa Kỳ đem về nước xử trị. Anh em Ngô đình Diệm chết thảm, Vatican đã không hề phản đối - dù chỉ là chiếu lệ như Hoa Kỳ, mà cũng không hề ai điếu, không làm lễ cầu hồn. Vatican cũng không dung dưỡng Giám Mục Ngô đình Thục, khiến ông bất mãn lang thang ở Pháp, ở Tây Ban Nha và lìa đời trong thống hận. Bây giờ thì Vatican đang giam cầm bà Ngô đình Nhu chỉ vì sợ bà công khai trở lại đạo Phật và tố cáo Vatican đã lợi dụng gia đình bà để chống Phật giáo như thế nào. Hoàng tôi có đủ dữ kiện và chứng nhân để nghĩ như thế mà không đến nỗi vướng víu khẩu nghiệp.

          Ngô đình Diệm tạ thế được ba tuần thì Tổng Thống Kennedy bị bắn chết ở Dallas. Có người hả hê cho đó là quả báo nhãn tiền. Quả báo ? Đã hẳn, nhưng nhất quyết về một tương quan nhân quả giữa hai chuyện đó thì hóa ra vô tình kết tội nhà Ngô vì nếu nhất quyết Kennedy chết thảm vì đã giết oan anh em Ngô đình Diệm, thì anh em Ngô đình Diệm chết thảm vì đã giết oan ai ? 

Huyền Thoại 3: Ngô đình Diệm Phản Quốc 

          Năm 1979, trước cảnh suy sụp hỗn loạn xứ sở đang trải qua vì đại họa 'tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc' trên đường cải tạo xã hội chủ nghĩa, tôi hỏi một vài người trong chính quyền rằng trước cảnh này họ thật sự mong ước gì thì người nào cũng trả lời họ chỉ mong được trở lại năm 1960. Với họ đó là năm tuyệt hảo. Tôi nghĩ đó là câu trả lời chân thật, khác xa những khẩu quyết đội đá vá trời của họ khi mới vào Sài Gòn. Tôi cười nhẹ: 'Năm 1960 cũng là năm các anh rắp ranh khởi diễn cuộc kháng chiến cứu nước thần thánh lần nữa đó phải không ?'

          1960 là năm cao điểm của thanh bình an lạc ở cả hai miền Nam Bắc. Hồ chí Minh thực hiện được điều đó ở Miền Bắc thì Ngô đình Diệm cũng làm được điều đó ở Nam.

          Hồ chí Minh đuổi được Pháp khỏi nửa phần đất nước phía Bắc thì - dù được Trung Hoa tán trợ, Pháp vẫn không bám được vào Miền Nam phải ra đi để cho Ngô đình Diệm và Mỹ điền khuyết vào.

          Đệ Nhất Cộng Hòa của Miền Nam là một chế độ dân chủ hình thức nhưng so về mức độ thì độc tài gia đình trị ở miền Nam là vẫn ít nặng nề hơn vô sản chuyên chính ở miền Bắc.

          Hồ chí Minh có quyền lựa chọn Vô Sản chủ nghĩa thì Ngô đình Diệm cũng có quyền lựa chọn Tư Bản chủ nghĩa. Những lựa chọn nầy không tiên quyết biến người lựa chọn thành phản quốc, đã hẳn. Nhưng điều Ngô đình Diệm lựa chọn lại không phải là ý thức hệ Tư Bản. Thật vậy, một trong những chủ trương nòng cốt của Tư Bản chủ nghĩa là tách biệt thế quyền với thần quyền. Con người tự do làm giàu và tự do sống theo lương tâm của mình chứ không phải theo lệnh của Giáo Hội hay của chính quyền công cụ của Giáo Hội. Ngô đình Diệm đã phạm điều tối kỵ đó của Tư Bản chủ nghĩa nên cuối cùng đã trở thành công cụ của Giáo Hoàng Pius XII và giáo triều Vatican đang điên cuồng chống Nga - nghĩa là chống Chính Thống giáo, với sự tiếp sức của những người Mỹ chống Nga và Trung Quốc theo cung cách phán quan của những giáo tòa Trung cổ như Thượng nghị sĩ Mac Carthy, như Hồng Y Spellman, như anh em Dulles.  

          Cường toan của Chiến Tranh Lạnh đã xóa bỏ cái lằn ranh đa nguyên, tương biệt, tương kính, tương trợ khả hữu giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam. Krutshchev muốn giảm bớt cơn điên thi đua vũ trang để rồi có thể chết chùm với bom nguyên tử nhưng Mỹ chưa muốn nên Krutshchev chơi lại bằng cách hào đào huyệt chôn Tư Bản bằng cách tán trợ các phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, trước tiên là ở Việt Nam. Kennedy đang lưỡng lự về hiệu năng của chiến tranh đặc biệt chống cộng sản và chủ trương lấy người Việt đánh người Việt. Trung Hoa đang cuống cuồng lo sợ Nga và Hoa Kỳ bắt tay nhau tái diễn cái họa Bát Quốc Liên Quân thời nhà Thanh. Đối phó với hiểm họa ấy, Trung Hoa phải tìm một nơi khác để cầm chân Mỹ và chia rẽ Mỹ với Nga. Giới lãnh đạo Miền Bắc và Miền Nam không thể không ý thức được ván cờ Chiến Tranh Lạnh tay ba mặc nhiên biến một số người Việt thành độc tôn độc thiện để làm khổ đồng bào mình bằng những tiếng ngụy, cách mạng, quốc gia, cộng sản, việt minh, việt cộng...

          Sau năm 1945, Đảng Cộng Sản vẫn hợp pháp hoạt động ở Nhật, Ý, Pháp, Tây Đức, Hoa Kỳ. Nhưng đảng viên cộng sản ở các nơi đó không hề bị lên máy chém, không bị giam cầm, không bị khai trừ khỏi Giáo Hội, và cũng không hề hô hào đồng khởi, tổng nổi dậy để 'đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào'. Chuyện gì có thể xảy ra cho đất nước nếu sau năm 1960, Ngô đình Diệm và Hồ chí Minh cứ nhất quyết đánh võ mồm như Hoa lục và Đài Loan, như Nam Bắc Triều Tiên sau năm 1953, như Đông và Tây Đức cho đến khi bức tường Berlin sụp đổ năm 1989 ?         

Huyền Thoại 4: Cộng Sản - Quốc Gia 

          Trong chiến tranh Việt Nam, chủ nghĩa quốc gia cũng như xã hội chủ nghĩa đều chỉ là những huyền thoại nhập cảng.

          Chủ nghĩa quốc gia do Pháp nặn ra làm bình phong biện minh cho việc phục hoạt lá bài Bảo Đại để biện minh cho việc tái lập chế độ thuộc địa ở Đông Dương. Bảo Đại đã tự ý thoái vị năm 1945 nên khi Pháp bảo 'hồi loan', không thể xưng Vua, Tổng Thống, Chủ Tịch Nước... nên chỉ còn một chữ Quốc Trưởng, hiểu sao cũng được. Đã có 'quốc trưởng' thì phải có 'quốc gia' để cho 'quốc trưởng' lãnh đạo.  Cho nên ở đây, không phải quốc gia đẻ ra quốc trưởng, mà chính Pháp đẻ ra quốc trưởng và quốc trưởng đẻ ra quốc gia. Quốc gia và quốc trưởng chỉ là tấm bình phong cho Pháp tái lập nền đô hộ mà Pháp đã tự đánh mất khi để Nhật đảo chánh hất văng khỏi Đông Dương năm 1943.

          Một số người Miền Nam hay nói đến chính nghĩa quốc gia và cho rằng Ngô đình Diệm là người khai sinh ra chính nghĩa đó. Thực tế, nếu Ngô đình Diệm có nghĩ đến quốc gia thì cũng nghĩ đến theo cung cách của các vua Louis của Pháp: 'Quốc gia là trẫm' - L'état c'est moi. Nói thế khác, Ngô đình Diệm chỉ nghĩ đến triều đình, chứ không phải quốc gia và cũng không phải dân tộc.

          Lúc vị ngộ, phải ẩn thân ở hang Pắc Pó, Hồ chí Minh giết thời giờ bằng cách dịch quyển thủ bản hành động của người Mác-xít là quyển Làm Gì của Lenin. Như vậy, xét về kinh điển Mác-xít bằng tiếng Việt thì quyển Cộng Sản Sơ Giải của Hà huy Tập in ở Sài Gòn năm 1942 là kinh điển tiên khởi. Quyển sách mỏng nầy cũng tối tăm, lẩm cẩm, tốc điệu, cuồng nhiệt không thua gì Phép Giảng Tám Ngày của Công giáo Việt Nam thời tiên khởi. Hồi kháng chiến chống Pháp, Hồ chí Minh chỉ nói Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, hai chữ xã hội cũng tránh, nói gì đến xã hội chủ nghĩa. Năm 1946, bị Pháp và tay sai đuổi khỏi thành phố, giới lãnh đạo Việt Minh không hề 'dương cao ngọn cờ vô sản' mà chỉ kêu gọi lòng yêu nước của 20 triệu đồng bào để đánh Pháp. Cũng vì người dân chống ngoại xâm vì ý chí sống còn, tự chủ và tự ái dân tộc, chứ không vì chủ nghĩa. Chủ nghĩa không dạy người ta yêu nước. Vụ Sô Viết Nghệ Tĩnh, vụ thanh toán triền miên giữa hai phe Đệ Tam và Đệ Tứ Quốc Tế ở Miền Nam, giữa Quốc Dân Đảng và Việt Minh ở Miền Bắc hồi cách mạng mùa Thu, vụ Mậu Thân ở Huế... nêu rõ căn bệnh cuồng tín chấp nhận ý thức hệ như chân lý, như định đề trong khi thực tế đó chỉ là những huyền thoại. Có lẽ chỉ Lê Duẩn là người Việt Nam duy nhất theo bước Nga Sô đem hai chữ chủ nghĩa ghép vào quốc hiệu, Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

          Năm 1953, khi cán cân lực lượng đổi thay, người Mác-xít đã gây ra một lỗi lầm đến nay vẫn chưa gội sạch đó là phát động phong trào chính huấn và cải cách ruộng đất. Phong trào thất bại, Hồ chí Minh nhận lỗi và Trường Chinh nhận tội. Nhưng nền Chuyên Chính Vô Sản ở Việt Nam đã thực sự chết yểu từ ngày đó trong lòng người dân.

          Có nhân thì có quả, làm thế nào để hóa giải một cách có hiệu quả những hoa độc trái đắng của độc tôn độc thiện quan liêu - và cơ hội chủ nghĩa nữa, như vừa kể trên ? Đó là câu hỏi trọng đại cho cả dân tộc trên đường đi vào thế kỷ 21.     

Huyền Thoại 5: Dân Chủ - Tự Do 

          Cuộc chiến 30 năm ở Việt Nam thường được hai phe đối chiến mô tả như cuộc chiến giữa 'tự do dân tộc' và 'tự do dân chủ'. Phe tự do dân tộc thắng, phe bảo vệ tự do dân chủ thua và đến lượt phe tự do dân tộc triển khai tự do dân chủ. So sánh tự do dân chủ mà người dân Việt được hưởng từ trước đến nay với thực tế dân chủ ở một số lớn các nước Tây phương thì quả thực cũng chẳng khác gì đem ảnh quan tuyến X của một hoa hậu so sánh với ảnh thực của hoa hậu ấy. Bởi lý, tự do dân chủ không tùy thuộc định chế, giấy mực mà tùy thuộc vào thực tế của khung cảnh trong đó tự do dân chủ được triển khai.

          Mặt khác, tự do dân chủ một thời đã được xử dụng như công cụ của Chiến Tranh Lạnh nên màu sắc huy hồng của ngọn cờ tự do dân chủ cũng tất yếu mờ nhạt từ khi Chiến Tranh Lạnh rã băng. Những chuyện biếm nhục trong thượng tầng chính trị ở Nhật, Ý, Anh, Hoa Kỳ, Phi Luật Tân, Đại Hàn, Thái Lan, Nam Dương, ở hầu hết các nước Nam Trung Mỹ, ở Nga và Đông Âu thời hậu cộng sản, ở Afganistan thời hậu giải phóng, nạn độc tài, đói kém và nội chiến ở Phi châu, quan niệm của đa số các nước Đông Nam Á về nhân quyền, tự do dân chủ, thành tích kinh tế nghịch biến với thành tích thực hiện dân chủ của Trung Hoa v.v... là những bằng chứng khiến người ta phải thành tâm xét lại chức năng của những ý niệm và định chế tự do dân chủ. 

          Trong tiến trình xét lại nầy, một số câu hỏi có thể đặt ra như thứ nhất, tự do dân chủ là quyền căn bản như quyền cơm áo, sức khỏe, học hành, lao động vậy đâu là thứ tự ưu tiên của hai thứ quyền đó ? Thứ hai, tự do dân chủ phải chăng là một thứ lễ nghĩa. Muốn có lễ nghĩa trước tiên phải phú quý, muốn phú quý trước tiên phải no đủ ? Thứ ba, mục tiêu tiên quyết của tự do dân chủ là gì, là điều kiện thăng tiến các giá trị nhân sinh, hay là cái thắng hãm bớt đà tuột dốc của hà lạm, hủ hóa, nhũng nhiễu vốn là mặt trái của quyền lực ? Thứ tư, phải chăng dân chủ tự do là phương thức vận dụng và quy kết quyết định của đa số để hoạch định và quản lý việc nước mà mục tiêu chính là những thành công kinh tế xã hội vì 'phú quý - kinh tế' sinh 'lễ nghĩa - dân chủ tự do' chứ không phải ngược lại ? Nói thế khác, tự do dân chủ chính trị tuỳ thuộc quyền tư hữu, nhưng bản chất của tự do tư hữu là tự do kinh tài rừng rú vì tham dục. Làm thế nào để quân bằng hai thứ tự do đó ? Thứ năm, tự do dân chủ tùy thuộc mức độ kết ước, và kết ước lại tùy thuộc vào việc tài phán và trừng phạt, nghĩa là tùy thuộc vào luật pháp. Tự do dân chủ không luật pháp là hỗn loạn, luật pháp không tự do dân chủ là luật rừng. Theo cách nào trước ?

          Luật pháp được đặt định tùy hoàn cảnh và nhu cầu của đa số dân chúng. Nhưng có thấu hiểu và chấp nhận hoàn cảnh cũng như nhu cầu đó không lại là chuyện tiên quyết tùy thuộc giới lãnh đạo đương quyền. Điều nầy phân biệt luật pháp dân chủ và luật pháp độc tài, dân chủ pháp trị và dân chủ đảng trị, tự do phổ biến và tự do của một giai tầng xã hội nào thôi. Điều nầy cũng giải thích tại sao có những minh chúa hiền vương trong các chế độ quân chủ phong kiến, tại sao có những Tổng Thống tồi tệ, những Thủ Tướng ác ôn, những Quốc Hội bù nhìn trong những chế độ dân chủ.

          Cho đến ngày sụp đổ, số phận nền dân chủ tự do của Miền Nam đã như một người ngơ ngác trước ngã ba đường: nhà tù để trấn áp, súng đạn để lật đổ và xuống đường để yêu sách. Phật giáo liên tục chọn hướng thứ ba với phong trào tranh đấu cho bình đẳng tôn giáo 1963, phản đối Hiến Chương quân phiệt 1964, vận động Quốc Hội Lập Hiến 1966, chống dân chủ độc diễn 1967, 1971. Phật giáo hầu như là thế lực quần chúng duy nhất thường xuyên dương cao ngọn cờ dân chủ tự do kể từ ngày đất nước bị chia đôi năm 1954 đến nay. Tăng tín đồ Phật giáo không có những đóng góp tự nguyện thiết thực nào cho công cuộc thống nhất quốc gia bằng súng đạn từ Bắc chí Nam, nhưng chắc chắn họ đã và sẽ đóng góp tự nguyện thiết thực cho công cuộc thống nhất nhân tâm bằng tự do dân chủ từ Nam chí Bắc.

          Người Việt lưu vong được may mắn hơn đồng bào ở quê nhà về kinh nghiệm tự do dân chủ. Thế nhưng hình như một số người Việt lưu vong lại chỉ thích cái tự do dân chủ mà đồng bào đang hưởng ở quê nhà - do đầu óc bi quan thù hận của họ tưởng tượng thêu dệt ra -  hơn là thứ tự do dân chủ đang thịnh hành nơi xứ tạm dung. Tất cả chỉ có tác dụng nhắc nhớ đến một chính nghĩa đã bị lịch sử vùi chôn và vô tình biện minh cho kẻ chiến thắng. Họ hô hào đòi hỏi nhân quyền, dân chủ, tự do 'lập tức, tức khắc, triệt để, tồn diện' mà không hề quan tâm đến tương quan ý nghĩa của những từ ngữ đó đối với ý chí tự quyết, tự chủ, ý thức đồng bào và ngay cả tự ái dân tộc là những điều đã giúp cho Việt Nam còn là Việt Nam như hôm nay. 

Huyền Thoại 6: Thắng Bại ở Việt Nam 

          Người dân Huế hẳn chưa quên chuyện treo cờ, đổi tiền và cấm nói lái sau khi Huế, Đà Nẵng và rồi toàn Miền Trung mất năm 1975. Dân chúng được lệnh đổi tiền nhưng chỉ đến Huế thôi. Dân chúng phải treo cờ đỏ sao vàng nhưng chỉ đến Đèo Hải Vân thôi, bên kia Đèo Hải Vân trở vào Nam chỉ treo cờ Mặt Trận. Dân Huế bị cấm không được nói mấy chữ 'đại thắng lợi', dù là để khen ngợi và ca tụng cách mạng. Bởi vì đại thắng lợi nói lái lại là thành Đợi Thắng Lại, nghĩa là mong cho 'cách mạng' thua và mong 'quốc gia' trở lại như hồi Mậu Thân. Mặt khác, sau ngày 30.4.1975, Sài Gòn thất thủ rồi nhưng ít nữa cũng là 4 ngày sau thì bộ chỉ huy Chiến Dịch Hồ chí Minh mới lục tục vào Sài Gòn, trong khi bộ đội tên lửa thì vẫn đi thẳng xuống miền cực Nam để bố trí hỏa tiễn SAM I, SAM II trong rừng U Minh, đề phòng Mỹ trở mặt.

          Miền Nam thua nhanh quá nên làm cho chiến thắng của Miền Bắc lung linh như chuyện thần tiên. Lung linh nhưng thực tế là như Miền Bắc nói trước: 'Mỹ cút Ngụy nhào' và thắng bại rõ rệt, ít nữa là trên chiến trường. Chỉ có đại thắng lợi chứ không có đợi thắng lại.

          Miền Nam không thất bại, Mỹ không thua ở Đông Dưông cũng là huyền thoại. Huyền thoại đó đẻ ra những huyền thoại khác là võ trang quang phục quê hương, hay vận dụng chiến thắng chính trị bằng mô thức đối kháng của phong trào Đoàn Kết ở Ba Lan. Những huyền thoại đó được nuôi dưỡng và phổ biến bằng sấm ký, bằng những bí mật Fatima... Và người ta cứ dài cổ trố mắt chờ xem chế độ đương hành chết ngủm sau khi đã dài cổ nhắc đi nhắc lại năm nầy qua năm khác là lịch sử đang đi vào khúc ngoặc, là 'cộng sản chết tới nơi'.

          Miền Bắc chiến thắng, trên chiến trường, đã hẳn. Lịch sử không thiếu những trường hợp thắng trở thành bại. Phật giáo được A Dục Vương đưa vào nội địa Ấn Độ và bị Ấn giáo phủ lên như cỏ dìm ngập những cành hoa mong manh. Ở Hy Lạp ngày xưa, dân Sparta nổi tiếng thiện chiến, khắc khổ coi thường hạnh lạc trần gian. Sparta chiến thắng và thống trị Athen rồi cuối cùng bị dân Athen chiến bại đồng hóa. Nhà Mãn Thanh chiếm Trung Nguyên và bị văn hóa Hán tộc nuốt chửng, chỉ còn cái đuôi sam trên đầu đàn ông và đôi chân bó giò của phụ nữ là di sản. Còn Bắc Việt vào kiểm soát Miền Nam, một Miền Nam giàu có và tiến bộ hơn Miền Bắc thì sao ?

          Trước khi Miền Nam sụp đổ, Tổng Bí Thư Lê Duẩn chỉ ước mơ một xã hội 'ba máy': máy radio, xe gắn máy Honda và máy cày Kubota. Miền Nam có thừa những máy đó mà còn thêm tivi, tủ lạnh, nghĩa là đã bỏ xa Miền Bắc. Trong Đại Hội 4, Thủ Tướng Phạm văn Đồng tuyên bố chỉ ước mơ kế hoạch 5 năm tới sẽ giúp mỗi gia đình có được cái bình thủy - thermos, và chén nước mắm trong bữa ăn. Miền Nam phồn vinh giả tạo nhưng đã có thừa hai thứ đó. Cho nên, dân Miền Nam ngơ ngác không hiểu nổi tại sao phải hồ hởi tiến nhanh-tiến mạnh-tiến vững chắc để hưởng bo bo khoai mì, để đi bộ bằng dép râu, để nghe đài qua hệ thống loa phĩng thanh tập thể trong khi họ đã ăn gạo, đã có không chỉ nước mắm mà còn xì dầu, bột ngọt, không chỉ có bình thủy, có radio, xe gắn máy, máy cày, máy đuôi tôm, mà còn có tivi và tủ lạnh ? Phải mất gần mười năm, những kẻ chiến thắng mới chịu nhận rằng cải tạo xã hội chủ nghĩa không thông qua giai đoạn tư bản đã thất bại, hay đúng ra chỉ thành công nâng Miền Bắc lên một chút bằng cách hạ Miền Nam xuống một chút. Về điểm này thì cũng phải thôi. Không chấm dứt tệ trạng một nơi ăn không hết, một nơi mần không ra đó thì biết đâu 50 năm tới lại phải có cách mạng, nội chiến nữa ?

          Kiểm soát Miền Nam rồi, Miền Bắc không chỉ bị đồng hóa kinh tế mà còn bị đồng hóa chính trị. Phong thái tà tà lè phè của dân Nam bộ, cái ương ngạnh kiểu thích nói lái của dân Trung bộ phần nào nói lên mức trưởng thành dân chủ tự do của Miền Nam. Điều nầy giải thích tại sao chế độ phải bắt đầu cởi trói kinh tế chính trị từ Miền Nam. Tại sao Sài Gòn đã trở thành lớp huấn luyện cấp tốc cho các 'ứng cử viên' Thủ Tướng, các Tổng Bộ Trưởng chính phủ liên tiếp của CHXHCN Việt Nam sau năm 1975. Chiến thắng xong rồi, người Nam nhận họ, người Bắc nhận hàng. Hàng kinh tế và hàng chính trị. Đồng bào Miền Bắc hưởng cái 'phồn vinh giả tạo' của Miền Nam và rồi nhận luôn mức trưởng thành dân chủ tự do của Miền Nam. Có thể nói đó là cái giá kinh tế xã hội người Miền Nam trả cho đồng bào Miền Bắc để đền bù cái giá lịch sử đồng bào Miền Bắc đã trải qua cuộc chiến tranh vì 'không có gì quý hơn độc lập tự do'.

          Với của cải, tiến bộ và chủ lực hơn một triệu tay súng Việt Nam cộng thêm nửa triệu quân Mỹ, sự thất bại của Miền Nam cũng là một... phép lạ. Phép lạ đó không thể lặp lại lần nữa, nên lật đổ chế độ đương hành chỉ là một huyền thoại. Như huyền thoại Miền Nam không bao giờ thua, Mỹ không bao giờ bỏ con domino Miền Nam. Cũng như huyền thoại cải tạo xã hội chủ nghĩa Miền Nam và thực hiện xã hội chủ nghĩa khắp cả nước không thông qua giai đoạn tư bản. Bài học lịch sử đích đáng cho mọi người Việt Nam là đừng quên bài học lịch sử đó, để khỏi phung phí tâm sức và tài vật lực chạy theo những huyền thoại. 

Huyền Thoại 7: Tín Ngưỡng và Ý Thức Hệ 

          Lịch sử không thiếu những ví dụ về sự chuyển hóa từ tự do dân chủ sang độc tài. Và lịch sử cũng không thiếu những ví dụ về sự chuyển hóa ngược lại. Sự chuyển hố đó không chỉ tùy thuộc vào những thành bại kinh tế chính trị, mà còn tuỳ vào lòng người, người cai trị cũng như kẻ bị trị. Và lòng người ở đây lại chịu ảnh hưởng của văn hóa, đạo đức, tín ngưỡng hơn là ý thức hệ hay luật pháp. Điều nầy đặt ra vấn đề tác dụng của tín ngưỡng và ý thức hệ trong việc lãnh đạo và quản lý Nhà Nước.

          Cuộc chiến 30 năm qua đã bị phủ lên màu sắc ý thức hệ. Cũng vì màu sắc ý thức hệ đó mà tôn giáo bị lôi kéo lợi dụng như những công cụ. Một số người Mác-xít tin rằng tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân, người Công giáo Việt Nam nhắm mắt nghe lời Đức Thánh Cha hay các cha-nhà-thờ rằng Việt Minh là cộng sản, cộng sản là quỷ Satan cho nên theo Pháp diệt Việt Minh, theo Mỹ diệt Việt Cộng là vâng ý Cha trên trời và vâng lời Cha dưới đất. Chống cộng trở thành một tín lý, nhất là từ năm 1949, khi Giáo Hồng Pius XII ban hành giáo chỉ Rerum Novare đe dọa khai trừ khỏi giáo hội những người theo Marx. Tín lý chống cộng nầy lại được nuôi dưỡng và kích động bằng cái gọi là những bí mật Đức Mẹ tiết lộ cho ba đứa nhỏ năm 1917 tại Fatima [5].

          Nhà Nước Việt Nam đương nhiệm cũng có lúc nói trắng ra rằng đế quốc biết lợi dụng tôn giáo thì họ cũng biết lợi dụng tôn giáo vậy [6]. Thực dân đế quốc đã lợi dụng tôn giáo không thành công, thực dân đế quốc đàn áp tín ngưỡng cũng thất bại. Nhà Nước hơm nay hẳn không quên bài học lịch sử đó để khỏi nuôi tham vọng, hoặc diệt tín ngưỡng như diệt kẻ thù, hoặc biến tôn giáo thành đồng lõa với những toan tính cục bộ thối hóa - và có thể là phản động nữa.

          Vạn bất đắc dĩ, cộng sản hay tư bản cũng chỉ là những trở lực ngẫu nhiên của Phật giáo mà thôi. Phật giáo có mặt ở Việt Nam ngót 2000 năm, cộng sản hay tư bản chỉ mới chưa đầy hai trăm năm. Chưa kể là từ nguyên ủy, Phật giáo đã ấp ủ những ước vọng xã hội kinh tế mà những cuộc cách mạng chính trị hiện đại - kể cả Marx, đã sao chép một cách cục bộ phiến diện và quá khích. Lục Hòa của Phật giáo hay chính sách cộng tồn của các tông đồ tiên khởi của Thiên Chúa giáo là những ví dụ.

          Ý thức hệ Mác-xít phát xuất từ Tây phương, có va chạm thì cũng chỉ va chạm với tôn giáo Tây phương, nghĩa là tôn giáo độc thần. Dù cho các tông phái độc thần nầy - Công giáo, Tin Lành, Chính Thống giáo, Hồi giáo... thường nặng tay với nhau còn hơn với cộng sản, hay còn hơn khi bị cộng sản nặng tay. Thái độ và ý thức chống tôn giáo độc thần nầy chẳng đợi Marx hay những người Mác-xít dạy cho hay xúi giục mới có. Vì như Linh Mục J. Murray giải thích: 'Thiên hạ nổi cáu vì không hiểu tại sao Thượng Đế nhân ái như thế lại có thể làm ngơ cho đa phần thống khổ xảy ra trên trái đất. Sự thể đa phần những thống khổ nầy lại đã do những kẻ có đức tin tôn giáo gây ra đủ khiến cho thiên hạ càng nổi cáu hơn nữa' [7].

          Đồ đệ của Marx đã sai lầm khi xem tôn giáo độc thần Tây phương và tôn giáo Đông phương như Lão giáo, Nho giáo, Ấn giáo, Phật giáo đều là thuốc phiện hại dân, chẳng khác gì tôn giáo độc thần tin rằng người Mác-xít nào cũng là satan ngạ quỷ cả.

          Huyền thoại Công giáo chống cộng là một huyền thoại đang tiếp tục tác hại trong một số tập thể người Việt lưu vong. Năm 1954, vì muốn đem 700.000 giáo dân vào Nam làm nòng cốt cho tiền đồn của Khối Tự Do nên Mỹ và Vatican đón Đức Mẹ di cư vào Nam. Năm 1975 Miền Nam mất, một số tín hữu Công giáo lại đem chính sách chống quỷ đỏ đó di tản vượt biên và tiếp tục chủ trương Bốn Không tại xứ người. Họ làm như vậy với lòng tin rằng mình là con chiên ngoan đạo, là giữ đúng đức tin, là vâng lệnh Tòa Thánh, là phụng mạng Đức Thánh Cha. Những người nầy không hề băn khoăn tự hỏi tại sao Tòa Thánh lại quyết định năm 1992 là năm cầu nguyện cho Hòa bình Việt Nam trong đó hẳn phải có chính quyền của quỷ đỏ [8] ? Tại sao Đức Giáo Hoàng đã 'nhiều lần ngỏ ý muốn được nhà nước VC cho phép tới thăm' [9] và muốn được như vậy thì đương nhiên phải thừa nhận ngoại giao với một chính quyền quỷ đỏ? Tại sao 'giữa nhà nước VC và Giáo hội VN đã có một số hành động xây dựng, thông cảm và xích lại gần nhau' [10], nghĩa là Giáo hội đã đi đêm với chính quyền quỷ đỏ ? Tại sao Đức Giám Mục Claudio Celli, Thứ Trưởng Ngoại Giao của Vatican sau khi sang Việt Nam một tuần trở về đã khẳng định 'những buổi gặp gỡ giữa đôi bên đã diễn ra trong sự cởi mở, thành thật và trong bầu không khí thân ái' [11], nghĩa là hai bên đã hn tn thân thiện hữu nghị ? Những tín hữu Công giáo chống cộng hết mình, và bắt ép kẻ khác phải tỏ ra chống cộng hết mình nếu không muốn oan uổng đội nón cối dép râu, có bao giờ tự hỏi tại sao có chuyện trống đánh xuôi kèn thổi ngược đó? Hay Tòa Thánh đã mặc nhiên lợi dụng họ như những con chốt thí để theo đuổi những mục tiêu đối ngoại 'xấu mồi ngồi dai' của Vatican ?

          Trong khi đó, bất chấp tinh thần Trung Quán bất nhị, bất chấp tinh thần Lục Hòa giác tha, một số Tăng tín đồ Phật giáo cũng theo đuôi đám giáo dân bị Vatican cho vào xiếc ấy để chống cộng còn hăng hơn cán bộ dân vận chiêu hồi ngày trước. Những người nào không chịu làm theo họ thì sẽ bị họ gọi là Phật tử yêu quái, là đám văn hóa vận của đảng Cộng Sản Việt Nam, là đám sư áo đỏ [12]. Không chống cộng hơn Bốn Không thì là ăn bã văn hóa vận của cộng sản, còn chống cộng kiểu nầy thì có phải là ăn bã Vatican vận của những kẻ miệng Nam Mô nhưng lại chỉ thích ăn... bánh thánh ?

          Mục tiêu tối hậu của người Phật tử là giải thoát. Điều kiện giải thốt là chuyển nghiệp, là giải nghiệp. Giải nghiệp không chỉ là biệt nghiệp tự thân mà còn là cộng nghiệp của tha nhân. Hai cộng nghiệp nặng nề nhất là thực dân đế quốc và ý thức hệ huyền hoặc không tưởng. Cho nên giải nghiệp cũng là giải thực và giải hoặc. Giải nghiệp qua con đường giải thực và giải hoặc, là con đường tự giác nhi giác tha, cùng giải thoát với đồng bào đồng loại. Nhưng giải thực không tất yếu phải phanh thây uống máu quân thù, và giải hoặc không tất yếu phải ban phép lành cho súng đạn để giết sạch lồi quỷ đỏ. Chiến thắng vững bền là biến kẻ thù trở lại thành người, và biến người đó thành bạn. Việt Nam đã từng thành tựu những chiến thắng đó dưới các triều đại Lý, Trần, Hậu Lê và Nguyễn Quang Trung.

          Tín ngưỡng đi trước và đi sau cách mạng, chứ không dẫm chân hay đi song hành với những chuyển biến chính trị và kinh tế. Sự tàn lụi của tôn giáo trong các xã hội Tây phương kể từ cách mạng Pháp 1789 đến nay là một bằng chứng. Vì không có gì để đóng góp thiết thực cho giai đoạn trước và sau cách mạng, nên khi cách mạng chính trị kinh tế thành công, khi xã hội đã ấm no dân chủ, thì tôn giáo cũng tàn lụi vì không đáp ứng được những nhu cầu cao hơn các nhu cầu mà kinh tế chính trị có thể thỏa mãn như cơm áo, tư hữu, hưởng lạc, vun bồi tự ngã bằng cạnh tranh tài lợi, danh vọng, chức quyền. 

Huyền Thoại 8: Phật giáo và Công giáo Chống Nhau 

          Trước tiên, chính một số đồng bào Công giáo hình như cũng đang nghĩ rằng danh từ công giáo đã trở thành lỗi thời vì gắn liền với một giai đoạn lịch sử thành công nhưng chẳng mấy vẻ vang huy hoàng cho Công giáo trên đất nước Việt Nam. Những người nầy chủ trương dùng tiếng Kitô giáo thay cho Công giáo và Kitô hữu thay cho tín đồ Công giáo.

          Tín lý của Kitô giáo là Kính Chúa Yêu Người, là bác ái. Nguyên tắc ở đời sống đạo của Phật tử là từ bi, lục Hòa, nên bảo rằng hai đạo nầy chống nhau thì kể cũng khó hiểu. Thực tế đáng buồn là chuyện khó hiểu ấy lại có thực. Khi cả hai tôn giáo nầy bị biến thành cái mâu cái thuẫn trong tay một số tín đồ của cả hai phe vì những toan tính và động lực chẳng có gì là tín ngưỡng cả. Thật vậy, khi thôn tính Việt Nam, Pháp đã dùng một số tín đồ Công giáo các cấp làm bàn đạp. Sau năm 1945, Pháp trở lại Việt Nam đánh nhau với Việt Minh 'cộng sản duy vật vô thần' nên Công giáo 'duy linh hữu thần' mặc nhiên là đồng minh của Pháp. Đất nước chia đôi, Miền Nam có hai Tổng Thống đều là Công giáo, cả hai đều cơm không lành canh không ngọt với Phật giáo. Ngô đình Diệm dùng Dụ số 10, Nguyễn văn Thiệu dùng Sắc Luật 23/67 như những đòn chí tử đánh phá Phật giáo. Sau ngày Miền Nam sụp đổ, Phật giáo phản đối chính quyền về chuyện đàn áp tín ngưỡng thì Công giáo phân thân, một bên thượng tầng lãnh đạo đi đêm thỏa hiệp với chính quyền để vớt vát những gì còn vớt vát được, một bên ồn ào chống cộng để hỗ trợ cho chiến dịch đi đêm mặc cả quyền lợi vùi Nhà Nước Việt Nam. Phong trào chống cộng nầy kết tội Phật giáo là thân cộng, là cộng sản và khích động một số Tăng tín đồ nhẹ dạ háo danh phục vụ cho đường lối vừa đánh vừa đàm của Vatican. Ý đồ này của một số người Công giáo đã và đang được một số Tin Lành lưu vong tiếp tay và lợi dụng.

          Duyên nợ oan khiên giữa Công giáo và Phật giáo Việt Nam bắt nguồn từ những tham vọng và vô minh chính trị hơn là tín lý hay động lực tín ngưỡng. Duyên nợ đó là một thực tế và cố gắng thực hiện được duyên bồi nợ xóa là điều vạn hạnh cho tất cả. Nguyễn ngọc Lan ngày trước từng băn khoăn hỏi Đạo là đường hay pháo đài ? Phải chăng ông muốn là các đồng đạo của ông phải rời địa đạo quyền lợi, pháo đài tín lý giao thông hào mặc cảm lịch sử để chia sớt đau thương và ước vọng của đồng bào anh em ? Thánh Kinh dạy phải yêu thương kẻ láng giềng, và cũng cho phép mắt đổi mắt, răng đền răng. Yêu thương thì khó khăn tốn kém lôi thôi hơn là mắt đổi mắt răng đền răng. Cứ cái đà đó thì không khéo người Việt Nam nếu không mù hết ắt cũng không còn cái răng nào mà nhai. Bao nhiêu năm rồi từ ngày rời trường Pellerin, Hoàng tôi không có dịp dự lễ. Phục Sinh năm nay tôi đưa Lệ Hằng đi dự thánh lễ ở công viên Wiley Park. Nhìn lớp lớp đồng bào Công giáo quần tụ trên khu đồi quanh lễ đài, tôi mường tượng cảnh Đức Jesus trong bài giảng trên núi mà tông đồ Mathieu đã mô tả lại. Đây là đoạn Kinh Thánh đã làm tôi trăn trở bao nhiêu lần. Tôi cảm động khi nghe Linh mục chủ sự nhắc đến những tiếng từ bi, cứu độ, giải thoát, tình thương trong bài giảng chính. Ít ra thì cũng rượu cũ bình mới. Năm 1989, Hồng Y Ratzinger, Bộ Trưởng Bộ Tín Lý đã ra văn thư cảnh giác tín đồ là không nên nhập nhằng giữa cầu nguyện theo Công giáo và chiêm niệm theo Đông phương như Thiền hay Yoga [13]. Lập trường chính thức đó không cản được những người muốn nói tiếng nói Hòa đồng.

          Mỗi lần nghe lại bản Giọt Mưa Trên Lá, nhạc của Phạm Duy lời thơ của Nhất Hạnh, Tôi có cảm tưởng từ bi của con nhà Phật rộng hơn bác ái của con nhà Chúa. Có một nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ Công giáo nào cho đến nay làm như ông sư Nhất Hạnh thảnh thơi bồng Phật Chúa đặt ngang nhau như thế chưa, hay họ chỉ lăm le hất tượng Phật thế tượng Chúa vào ?

          Hình như đó cũng là câu hỏi mới đây của những người như Linh Mục dòng Tên Anthony Aroklasamy, Karichi Kadowaki, và Linh Mục dòng Benedictin Bede Griffiths. Linh Mục Anthony là người Âu sinh ở Ấn xuất gia làm Linh Mục học Thiền ở Nhật, chu du khắp thế giới nói chuyện Hòa đồng tôn giáo. Theo ông, người ta có thể vừa là Thiên Chúa giáo đồ vừa là Phật giáo đồ. Linh Mục Anthony than thở: Thỉnh thoảng báo chí loan tin những người lính Nhật trong rừng mò ra, họ trốn trong rừng, không hề hay biết cuộc chiến đấu cho Thiên Hoàng của họ đã chấm dứt từ 40 năm qua. Một số tín hữu Công giáo chúng ta hình như cũng có tâm trạng và thế giới quan tương tự. Hình như họ không ý thức - và cũng không muốn ý thức, rằng Giáo hội đã thay đổi nhiều về giáo lý và phương thức phụng hành tín ngưỡng. Giáo hội kêu gọi đối thoại với các truyền thống tín ngưỡng khác và học hỏi các truyền thống đó để biết rằng sự mầu nhiệm của Thượng Đế và thiên triều bắt buộc chúng ta phải từ bỏ óc hẹp hòi và tham vọng vơ hết về cho mình [14]. Trong khi đó, Linh Mục Kakichi cho rằng Thiền của Phật giáo và Thiên Chúa giáo không những chỉ bổ túc cho nhau mà còn tương trợ mạnh mẽ nhau nữa. Ông xuất thân từ một gia đình Phật tử và là tác giả của quyển sách nổi tiếng Thiền và Thánh Kinh. Linh Mục Bede là người được thế giới tặng cho biệt danh Nhà Sư Kitô giáo, Đạo sĩ Thiên Chúa giáo, là người đã hành đạo như một nhà sư với tín lý Thiên Chúa giáo gần 40 năm. Năm 1955, ông gặp một nhà sư Ấn rồi theo người nầy sang Ấn lập một đạo tràng ở Tamu Nadu. Ông thường lo lắng: Nếu không biết thích ứng thì Thiên Chúa giáo sẽ mất hết ảnh hưởng. Thiên Chúa giáo là một tôn giáo rất Tây phương, và nhiều khi chúng ta đã quên điều ấy [15].

          ơng lai Việt Nam không chỉ tùy thuộc vào những thành bại của chế độ đương quyền mà có lẽ còn tùy thuộc vào thế Hòa hợp giữa Công giáo và Phật giáo là hai tôn giáo có lúc đã đứng ngập đến đầu gối trong những vũng lầy lịch sử do cuồng vọng thế tục và những mưu đồ thế lực cục bộ gây ra khiến cho đồng bào xa đồng bào, tín hữu xa tín hữu. Hòa hợp với Phật giáo cũng có nghĩa là Hòa hợp với đại khối dân tộc bằng thiện tâm mà các hàng lãnh đạo Công giáo ở Vatican cũng như tại quốc nội thường đề cao bằng lời nói hơn là việc làm cụ thể.

*
*    *

          Nếu Việt Nam không thiếu những huyền thoại ngỡ như là thực tại, thì Việt Nam cũng không thiếu những thực tại ngỡ như là huyền thoại, ngỡ như là chuyện thần tiên.

          Chuyện thần tiên có thật đầu tiên phải kể là Nam Quốc Sơn Hà. Bước vào thời hiện đại, Việt Nam đã bị chia cắt liên miên. Trịnh Nguyễn phân tranh. Pháp chia Việt Nam thành bốn phần là ba Kỳ Nam, Trung, Bắc và Hoàng Triều Cương Thổ. Hòa bình Genève chia nước làm đôi... Người Việt xa nhau, nghi ngờ nhau, hận thù tàn hại nhau vì đủ thứ lý do. Nhưng trận chiến tàn, tiếng bom đạn im thì đất nước lại về một mối 'từ Cà Mâu đến Ải Nam Quan'. Tất cả là Việt Nam, tất cả là người Việt. Đã hẳn, cả nhân loại không chỉ có người Việt biết yêu nước, nhưng trong thời hiện đại, có lẽ chỉ người Việt là giống dân phải dành nhiều thì giờ, năng lực và máu xương nhất để xua những đối phương hùng mạnh nhất khỏi biên giới quốc gia, để tái thống nhất đất nước, để có điều kiện xóa bỏ độc quyền kinh tế của những kẻ có môn bài ngoại quốc để chiếm ruộng vườn, đồn điền, đất đai thành thị, thị trường cơm áo, để có cơ may triệt hạ những rào cản y tế giáo dục, để có điều kiện hóa giải những thế lực ngu dân tung hoành thao túng sinh hoạt tâm linh, văn hóa, giáo dục...

          Thánh nhân là kẻ tiên thiên hạ chi ưu hậu thiên hạ chi lạc. Lãnh đạo là nghĩ đến cái khổ, cái khó, cái cần của dân trước công khó và thành tích của mình.

          Qua mười năm sau cùng của cuộc chiến, tính đổ đồng số bom đạn mỗi người Việt nhận được là 250 kí lô. Tâm hồn người sống sót đương nhiên cũng bị lở loét bởi những sản phẩm chính trị kinh tế văn hóa tôn giáo được nhập cảng vào tâm hồn người Việt một lần với số bom đạn đó. Cho nên, thống nhất sơn hà và hàn gắn quê hương đã khó, thống nhất và hàn gắn lòng người lại càng khó hơn. Công tội lịch sử mai đây phần lớn sẽ được định tùy theo thành tích thống nhất và hàn gắn lòng người đó.

          Chuyện thần tiên thật như đếm thứ hai là Việt tính, Việt tình. Đất nước dẫy đầy độc tố và thuốc khai quang chính trị văn hóa tâm linh gần trăm năm, thế mà đa số người Việt vẫn không bị ngộ độc trầm trọng đến độ trở thành lang sói với nhau khi có cơ hội ngàn năm một thuở để lấy oán trả oán, như cách mạng 1945, đình chiến 1954, chính biến 1.11.1963, ngày 30.4.1975. Thực tế có lẽ phải nói rằng người Việt trở thành lang sói với nhau thường chỉ là theo đơn đặt hàng, theo khế ước đấu thầu chính trị, theo chiến dịch, theo chiến thuật giai đoạn qua những tờ truyền đơn, những sách báo tuyên truyền, trên những diễn đàn, bục giảng của những kẻ ấm no cao sang nhờ theo gió trở cờ, nhờ bán buôn thù hận, nhờ sưu tầm anh hùng tử sĩ và thánh tử đạo như người làm giàu với nghề buôn đồ cổ mà thôi, hơn là trong hiện thực, trong ruột gan thâm căn cố đế. 

          Đã hẳn, lịch sử Việt Nam không phải không có những bóng đen u ám như vụ Ôn Như Hầu ở Bắc, vụ thanh toán Đệ Tam - Đệ Tứ ở Nam, phong trào chính huấn và cải cách ruộng đất ở Bắc, hành động thủ tiêu lính Việt Nam sau trận Điện Biên Phủ, vụ tàn sát đồng bào Thượng ở A Lưới Nam Đông, vụ Mậu Thân ở Huế, chiến dịch Phượng Hoàng... Nhưng những bóng đen u ám ấy thật cũng chẳng đáng gì so với các cuộc tàn sát tôn giáo chính trị ở Âu châu ngày xưa và ở Bắc Ireland, Rwanda, Yugoslavia, Ấn Độ ngày nay, hay phong trào thanh trừng Pháp gian sau khi Paris được giải phóng khỏi tay Đức, hay chiến dịch truy kích địch của Mao trạch Đông sau khi làm chủ Hoa lục, hay phong trào cải cách ruộng đất của Stalin, hay chiến dịch triệt hạ đô thị và tập thể hoá nông nghiệp của Pol Pot...

          Ngót bốn triệu thương vong trong 30 năm máu lửa. Con số lớn lao và đau xót thật. Nhưng chỉ nguyên nạn đói kéo dài mấy tháng năm 1945 cũng đã giết gần ba triệu rưỡi đồng bào. Nghĩ đến những bóng mây đen lịch sử đó, nghĩ đến những đồn bót, lao tù, trại giam, trại cải tạo, nghĩ đến những hận thù ủy nhiệm, những căm giận viễn khiển, những đắng cay tự thân kinh niên... Hoàng tôi vẫn hú hồn hú vía thấy rằng ân oán 30 năm vẫn chưa đủ sức đẩy các thành phố lớn vào biển máu, chưa đủ sức biến các trại cải tạo thành những lò sát sinh thời Đức Quốc Xã, những nông trường tập thể ở Siberia thời Stalin, những nông trường máu của Pol Pot.

          Tương lai Việt Nam sẽ chẳng là gì nữa, hiện tại Việt Nam cũng sẽ chẳng là gì cả nếu những chuyện thần tiên mà có thật nầy thực sự chỉ là chuyện thần tiên.          

Phong Trang 4.1993 - 6.2000.          

GHI CHÚ  :


[1] Stanley Karnow -  Vietnam , A History, Century London 1983, tr. 214. 

[2] TiVi Tuần San, Melbourne, số 27.1.1993.     

[3] Tuệ Giác - Việt Nam Phật Giáo Tranh Đấu Sử , Hoa Nghiêm, Sài Gòn 1964, tr. 80, 119 & tt, 133. 

[4] Nguyễn văn Châu - Ngô đình Diệm và Nỗ Lực Hòa Bình Dang Dở, Xuân Thu, California 1989.  Trần trung Quân - Trong Lòng Địch, Văn Hữu, Texas 1984. Phạm kim Vinh - Việt Nam Tự Do, Tủ sách PKV, California 1987. Nguyễn văn Chức - Việt Nam Chính Sử, Tiền Phong, Virginia 1989. 

[5] Theo truyền thuyết, Đức Mẹ hiện ra với ba đứa nhỏ 7 tuổi, 9 tuổi và 10 tuổi năm 1917 ở ngôi làng Fatima và đã thố lộ với chúng ba điều bí mật. Sau biến cố đó, hai đứa chết và đứa con gái 10 tuổi còn lại thì bị nhốt vào một Dòng tu kín tuyệt đối không được tiếp xúc với người ngoài. Năm 1942, Giáo Hoàng Pius XII công bố điều tiết lộ 1 và 2 nhưng vẫn tuyệt đối dấu  kín điều bí mật thứ ba. Điều bí mật nầy chỉ có Giáo Hoàng và một cận thần được đọc sau khi đắc cử. Đến tháng 5.2000, Giáo Hoàng John Paul II mới công bố luôn điều bí mật thứ ba nầy gồm dự kiến hình ảnh một Giám Mục nằm sóng soài giữa một đám người tử đạo. Có người giải thích đó là dự báo Đức Giáo Hoàng John Paul II bị mưu sát hồi tháng 5.1981. Theo những chuyên gia thiên tri sấm truyền thì bí mật thứ nhất liên hệ đến đại chiến thứ hai bùng nổ, bí mật thứ hai liên hệ đến sự thăng trầm của cộng sản quốc tế. Vatican đã dùng bí mật thứ ba đó như một cách rung cây nhát khỉ về hiểm họa cộng sản, và đại họa tận thế được giáo hội nói là sẽ xảy ra vào lúc 'chẳng đủ 2000 năm'.  

[6] Tuyên Cáo ngày 7.12.1992 của Hòa Thượng Huyền Quang.