1105-gd.gif (2402 bytes)
posted: 03.11.2005
Nguyễn mạnh Quang
 
PHẦN II:
NHỮNG KẾ SÁCH CƯỚP ĐOẠT CHÍNH QUYỀN
VÀ NHỮNG CHÍNH SÁCH THÔNG THƯỜNG
TRONG KẾ HOẠCH KITÔ HÓA CỦA VATICAN.

Chủ đề của mục này nói về những kế sách lấn chiếm tiếm đoạt quyền lực chính trị và những chính sách thông thường của Vatican trong kế hoạch Ki-tô hóa nói chung tai các vùng mục tiêu, và nói chung ở Việt Nam cho đến thời điểm 1954. Vì tính cách liên tục của đế tài, chúng tôi sắp xếp phần này lên trước phần nói về thành tích bóc lột nhân dân và cướp đoạt tài sản tại Việt Nam của Vatican trong thời kỳ 1862-1945. Phần II này gồm có:

Chương 5: Những kế sách thông thường trong kế hoạch Kitô hóa nhân dân của Vatican. (64)

Chương 6: Những kế sách thông dụng để lấn chiếm tiếm đoạt quyền lực chính trị.(68)

Chương 7: Cấu kết với Pháp dùng chính sách chia để trị và đưa tín đồ  lên nắm  quyền. (77)

Chương 8: Giải Pháp Bảo Đại với chính quyền quốc gia và lá cờ vàng ba sọc đỏ. (86). 

Chương 9: Chủ đích và những việc làm của Giáo Hội La Mã tại Việt Nam. (106)

Chương 10: Nhiệm vụ của chính quyền quốc gia và Việt Nam Cộng Hòa đối với Vatican. (110)

CHƯƠNG 5
NHỮNG KẾ SÁCH THÔNG THƯỜNG
TRONG KẾ HOẠCH KITÔ HÓA CỦA VATICAN

Vatican   chủ trương có tham vọng bá chủ thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại về cả thể xác lẫn tâm linh, tự coi là chủ tể của nhân loại, tự cho là có quyền nắm hết tất cả quyền chính  và tất cả mọi   lãnh vực sinh hoạt trong đời sống con người. Để đạt được mục đích này, Vatican đã đưa ra một kế hoạch với những sách lược vừa sử dụng những thủ đoạn lừa bịp  người đời bằng những bánh vẽ như “thiên đường”,  Chúa sẽ đền ơn”, “Chúa sẽ trả ơn”, “hồng ân Thiên Chúa”,  cùng những phép lạ, phép mầu, các phép bí tích và hàng ngàn tín lý  Ki-tô khác, vừa hù dọa những người nhát gan, ít học, ngu dốt bằng những thứ ông kẹ như “hỏa ngục”, “nơi luyện ngục (Purgatory)”, “Chúa sẽ trừng phạt”, v.v…, vừa sử dụng   bạo lực của nhà nước bằng việc thiết lập chế độ đạo phiệt Da-tô để:

1.- Tiến hành kế hoạch hóa Kitô hóa toàn dân bằng bạo lực. Sự kiện này đã xẩy ra ở bất kỳ nơi nào mà tín đồ tay sai của Giáo Hội được đưa lên nắm chính quyền. Điền hình việc Giáo Hội đưa  Ante Pavelich lên nắm chính quyền ở Croatia vào năm 1941, đưa Ngô Đình Diệm lên năm chính quyền ở miền Nam Việt Nam vào năm 1954 và đưa  Giám-mục Augustin Misago lên nắm chính quyền ở Rwanda vào năm 1994.

2.- Thi hành chính sách ngu dân và giáo nhồi sọ với mục đích kìm hãm nhân dân dưới quyền ở trong tình trạng ngu dốt giống như người dân Do Thái trong thời ông Moses cách đây hơn ba ngàn năm và thời ông Jesus cách đây hơn hai ngàn năm. Người dân càng ngu dốt càng không thắc mắc về  tính cách hoang đường và bịp bợm trong các tín điều Kitô do những người làm nghề thày cúng trong đạo Do Thái và trong Giáo Hội bịa đặt ra để mê hoặc và lừa gạt người đời.  (Vấn đề này sẽ được trình bày khá đầy đủ ở Chương 6 trước đây và sẽ được bàn luận rộng rãi trong một mục gồm nhiều chương sách trong Phần II của bộ sách này.) Người dân càng ngu dốt càng không biết sử dụng lý trí để tìm hiểu sự vật (cách vật trí tri) và càng dễ dàng  nghe theo lời dạy “Không thể dùng lý trí và khoa học để giải thích mà cần phải tuyệt đối tin tưởng vào những tín lý của Giáo Hội.”.Đặc biệt hơn nữa, trong chính sách ngu dân này, Giáo Hội chủ trương không cho tín đồ học hỏi và tìm hiểu lịch sử thế giới và lịch sử Giáo Hội La Mã với mục đích làm cho tín đồ và nhân dân dưới quyền không biết gì những bước tiến của nhân loại từ thuở hồng hoang cho đến thời tin học như ngày nay, không biết gì về bộ mặt thật đại gian đại ác của Giáo Hội Lã Mã đã khiến cho văn hào Voltaire đã phải gọi  cái tôn giáo này là một thứ “tôn giáo ác ôn.” 

3.- Độc chiếm tất cả những phương tiện sản xuất và kiểm soát hết tất cả các phạm sinh họat trong đời sống xã hội khiến cho nhân dân phải trông cậy vào Giáo Hội (phải theo đạo và tuân phục Vatican vô điều kiện) thì mới có đường mưu sinh. Sự kiện này được cựu giáo-sĩ  Malachi Martin ghi nhận ở trong cuốn Rich Church, Poor Church  với nguyên văn như sau.

“Trong các vấn đề tôn giáo, trước khi Kitô giáo ra đời, các tôn giáo trên thế giới đều có đặc tính khoan dung. Một trong những thông điệp của Delphic Oracle là “Mọi người đều đúng cả. Chẳng có ai quấy.” Nguyên tắc của người La Mã thời bấy giờ là “Tôn giáo ở trong vùng (nơi bạn cư ngụ) là tôn giáo của bạn.” Trong tâm trí và trong  cách ứng xử của người đời thời bấy giờ là không có sự liên hệ gì giữa tôn giáo và chân lý. Tôn giáo không được coi như là một sự vật có thật. Vì thế cho nên, trước khi có đạo Kitô, không có chiến tranh tôn giáo, không có chuyện bách hại tôn giáo, và cũng không có người nào gọi là tử đạo cho niềm tin tôn giáo của họ. Lúc bấy giờ, không có ai cố gắng áp đặt tôn giáo hay cưỡng bách người khác phải theo tôn giáo của mình. Chỉ có những người Kitô giáo mới sản xuất ra chiến tranh tôn giáo, gây nên những vụ bách hại tôn giáo và tạo nên những người tử đạo.

Ngay từ lúc đầu, người Kitô giáo khăng khăng cho rằng tôn giáo của họ là chân lý, rằng chỉ có tôn giáo của họ mới nói về thực tế. Họ đưa ra lập luận rằng tôn giáo của họ là một chân lý toàn cầu, rằng chỉ có Kitô giáo mới là  tôn giáo đích thực. Vì thế, họ cho rằng mọi hệ thống triết lý khác và mọi hệ thống kiến thức khác - bất kỳ ngành họat động nào của con người có liên hệ với chân lý – đều phải hài hòa với tôn giáo đích thực là Kitô giáo. Trái lại, đó chỉ là một hệ thống triết lý giả, một kiến thức giả. Tất nhiên là mọi tính cách đạo đức đều từ Kitô giáo mà ra. Kitô giáo thấm nhập vào tất cả mọi lãnh vực trong đời sống thế tục từ kinh tế, chính trị, tài chánh, nghệ thuật, giáo dục cho đến các cơ cấu  khác trong xã hội. Tôn giáo và chính trị, tôn giáo và tài sản, tôn giáo và chính quyền, tôn giáo và nghệ thuật, tôn giáo và sự học hỏi – giữa những liên hệ cơ cấu này, không có sự chống đối nào mà không hòa giải được. Những cơ cấu này không thể tách rời được và cũng không thể giữ nó ở trong tình trạng tách rời nhau. Các vấn đề như quân sự, chính trị, tài sản, nghệ thuật và chính quyền, tất cả đều phải bị tôn giáo thống trị tuốt luốt.”

[“In religious matters, the pre-Christian world was ecumenical tolerant. “Everybody is right. Nobody is wrong,” was one message of the Delphic Oracle, “Whatever be the region of the earth where you find yourself,” went the Roman principle, “that region’s religion is your religion.” In men‘s minds and in the way they conducted their affairs, there was no connection between religion and truth. Religion was not considered a true thing. Hence, prior Christianity, there was no religious wars and no religious persecutions. There was no religious martyrs for their faith. No one tried to impose religion as such on anyone else. Only Christians produced such wars, persecutions and martyrs.

From their beginnings, Christians insisted that their religion was true, that it did speak about reality. They drew the logical conclusion from that: that it was universally true. That there could be only one true religion. Theirs. Hence all philosophy and all knowledge - any branch of human activity that dealt with the truth – had to be, would be reconcilable with the true religion, Christianity. Otherwise, it was a false philosophy, a false knowledge. Automatically, an all embracing morality from this Christianity. It permeated all aspects of temporal life: economics, politics, finance, the arts, education, social structures. Religion and politics, religion and wealth, religion and government, religion and art, religion and learning – between these there was no irreconcilable opposition. They were not separate or to be kept separate. Military matters, matters of politics, wealth, art, government – all became dominated by religion.”)  [1]

Sự kiện này cũng được sử gia Loraine Boettner ghi nhận trong cuốn Roman Catholicism như sau:

Trước thời có Phong Trào Đòi Cải Cách Tôn Giáo (1500-1648), các ông giáo hoàng khống chế Âu Châu và các ngài nói rằng chỉ có một con đường duy nhất là thờ phượng Thượng Đế. Thời kỳ này được gọi là “Thời Kỳ Đen Tối” là thích hợp nhất. Trong thời kỳ này, trong Giáo Hội cũng như trong chính quyền, tất cả mọi pham vi họat động và quyền lực đều nằm trong tay giáo sĩ của Giáo Hội. Họ đàn áp và tước đọat hết tất cả mọi quyền sống của nhân dân. Họ cho người rình mò dò xét, theo dõi những việc làm riêng tư của người dân. Với việc đặt ra giáo luật đòi hỏi tín đồ phải đến nhà thờ “xưng tội”, họ xoi mói vào cả đời sống riêng tư giữa vợ với chồng và giữa cha con với nhau. Tất cả việc hôn nhân đều nằm ở trong tay họ. Họ can thiệp cả vào các  công việc của chính quyền, can thiệp vào việc tố tụng và xử lý các vụ án tại pháp đình, xía vào việc quản trị và xử lý tài sản trong nước, họ sử dụng ngân qũy quốc gia để xây cất các nhà thờ và trả lương cho giới tu sĩ, giống y như nước Tây Ban Nha ngày nay (trong thập niên 1960 thời chế độ  đạo phiệt Da-tô Franco trong những năm 1936-1975 - NMQ). Người nào dám chống lại họ thì sẽ bị nguy hiểm mất công ăn việc làm, mất cả tài sản và có thể mất luôn cả sinh mạng. Chúng ta không thể nào dung thứ cho một chế độ chuyên chế bạo ngược như vậy.  Vì thế mới phát sinh ra Phong Trào Đòi Cải Cách Tôn Giáo để giải thoát cho nhân dân cái thảm họa này.”

(“For more than a thousand years before the Reformation the popes had controlled Europe and had said that there was only one way to worship God. That period is appropriate known as the “Dark Ages.” In the church and, to a considerable extent, in the state, too, the   priests held the power. They suppressed the laity until practically all their rights were taken away. They constantly pried into private affairs, interfering even between husband and wife, and between parents and children by means of the confessional. All marriage was in their hands. They interfered in the administration of public affairs, in the proceedings of courts, and in the disposition of estates. The revenues of the state built new churches and paid the salaries of the priests in much the same manner as in present day Spain. Anyone who dared resist ran the risk of losing his job, his property, and even his life. Life under such tyranny was intolerable. From that condition the Reformation brought deliverance.”[2]

Nói về việc Giáo Hội cho người rình mò dò xét những việc làm và đời sống riêng tư của người dân, học giả Da-tô Phan Đình Diệm ghi nhận như sau:

“Công Đồng Chung thứ 19 Tridentinô (Trentô 1545-1564), Giáo Hội đã ra tay củng cố "quyền giáo huấn" là một "chân lý tuyệt đối". Công Đồng đưa ra tín lý và giáo điều vào canon hình luật (thánh luật), một lời nói phạm vào điều cấm của một canon (thánh luật) là thụ án hỏa thiêu sống dễ như chơi. Cha con tố cáo nhau, vợ chồng tố cáo nhau, anh em tố cáo nhau, bạn hữu tố cáo nhau, hàng xóm láng giềng tố cáo nhau, v.v... trước tòa án của Giáo Hội. Giáo Hòang Paul IV (1555-1559) tuyên bố: "Nếu bố tôi là dị giáo đồ, tôi sẽ chụm củi thiêu sống ông ta luôn"   v.v... Ví dụ canon thứ nhất nói về tội  bị thiếu sống, viết: "Nếu bất cứ ai nói rằng, con người có thể tự biện minh trước Thiên Chúa bằng việc làm của chính nó, bất kể việc làm qua giáo huấn nhân bản tự nhiên, hay giáo huấn của luật, nhưng không qua ân sủng của Thiên Chúa, (không) thông qua Đức Jesus Kitô, nó phải tuyệt thông (let him be anathema)...Hàng trăm "canon anathema chi li vụn vặt như thế", giáo điều được "huấn quyền tuyệt đối của Giáo Hội" đưa vào hình luật, giết hại cơ man nào là người trong 8 thế kỷ (năm 1232, Giáo Hòang Gregory IX (1227-1241) thiết lập tòa án xử bọn dị giáo, gọi là Inquisition).  Một phương ngôn của khoa thần học Roma là: "Khi Giáo Hội Roma nói, mọi tiếng nói khác phải câm đi". Một Giáo Hội tự "tuyệt đối hóa" mình nắm cực quyền trên sinh mạng sống đồng loại như thế, người ta không thể nói đến dân chủ." [3]

    Chủ trương độc chiếm tất cả những phương tiện sản xuất và kiểm soát tất cả các phạm sinh họat trong đời sống xã hội như vậy khiến cho nhân dân phải trông cậy vào Giáo Hội (theo đạo và tuân phục Vatican vô điều kiện) thì mới có đường mưu sinh. Chính sách sử dụng những người thân thương trong gia đình để rình mò dò xét lẫn nhau rồi báo cáo cho nhà thờ, đã  gây nên thảm hoạ ghê gớm: Tất cả những  nơi nào có quyền lực của Giáo Hội La Mã vươn tới   nơi nào là ở đó trở thành một xã hội nghèo đói, ngu dốt, lạc hậu, chậm tiến, trong đó con người cư xử với nhau bằng những thủ đoạn hết sức là đê tiện và hèn hạ giống như Giáo-sư Nguyễn Văn Trung đã ghi lại trong bài viết “Một Số Tình Hình Đặc Biệt Của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.”[4]  

Một bằng chúng khác nữa là các nước Nam Âu như Ý Đại Lợi, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha nằm dưới ách thống trị của Giáo Hội  lâu dài nhất thì nghèo nàn, chậm tiến và lạc hậu nếu so với các nước Bắc và Tây Âu là những nơi đã dứt khoát từ bỏ Giáo Hội từ giữa thế kỷ 16. Tương tự như vậy, các nước Châu Mỹ La-tinh được Giáo Hội La Mã đem Tin Mừng và Hồng Ân Thiên Chúa đến ban cho từ thế kỷ 16 thì  trở thành nghèo đói, chậm tiến lạc hậu và đầy dẫy những tội ác. Trong khi đó thì Hoa Kỳ và Canada ở Bắc Mỹ (đa số là Tin Lành) theo chính sách tách rời giáo quyền ra khỏi thế quyền thì trở nên  giầu có, tiến bộ, có trình độ kiến thức cao,  và người dân được hưởng đầy đủ những quyền tự do dân chủ. Tại Á Châu,  Phi Luật Tân cũng được Vatican đem “Tinh Mừng” và “Hồng Ân Thiên Chúa” ban cho từ thế kỷ 16 lcũng trở thành một nước nghèo đói, chậm tiến, lạc hậu và có nhiều tội ác. Trong khi các nước  Á Châu khác không mắc phải cái “thòng lọng Da-tô”, tệ nhất như Cao Mên và Ai Lao cũng vẫn còn khá hơn Phi Luật Tân rất nhiều;  ấy là chưa kể đến Thái Lan, Việt Nam, Tân Gia Ba, Mã Lai, Miến Điện, Triều Tiên, Trung Hoa và Nhật bản. Tại Phi Châu và nhiều nơi khác, bất kỳ nơi nào mắc phải cái “tròng Da-tô” cũng trở thành nghèo đói, chậm tiến, ngu dốt, và thua kém về mọi mặt nếu so với các quốc gia khác ở kế bên không bị mắc vào cái thòng lọng oan nghiệt này. Rwanda và Congo được Giáo Hội La Mã đem hông ân thiên Chúa tới cả mấy trăm năm rồi thì thua kém các nước khác ở trong vùng rất xa. Sự kiện này cũng đã được sử gia Malachi Martin ghi nhận rõ ràng ở trong cuốn The Rich Church, Poor Church và đã được ghi lại nơi Chương 4 ghi chú số 73 ở trên. 

CHƯƠNG 6
NHỮNG KẾ SÁCH THÔNG DỤNG
ĐỂ LẤN CHIẾM TIẾM ĐOẠT QUYỀN LỰC

Tìm hiểu lịch sử truyền đạo và bành trướng thế lực của Giáo Hội La Mã, chúng tôi nhận thấy Tòa Thánh Vatican đã từng nhiều lần  sử dụng những kế sách sau dưới đây:

I.-  MỸ NHÂN KẾ

Lịch sử cho thấy rằng, đã có nhiều lần Giáo Hội tìm cách gài người của Giáo Hội vào chốn phòng the của những người đang cầm quyền hay gần như chắc chắn trở thành nhà lãnh đạo chính quyền, rồi từ đó người đàn bà này sẽ lèo lái ông chồng theo ý muốn của Giáo Hội. Theo sự hiểu biết của chúng tôi,  Giáo Hội đã thực hiện âm mưu này ít nhất là hai lần:

Lần thứ nhất.- Vào cuối đầu  năm 1853 khi thấy rằng Hoàng Đế Napoléon III đã gần tới tuổi 50 (sinh năm 1808)  mà vẫn chưa có vợ, Giáo Hội liên bố trị cho nữ tín đồ trẻ đẹp là công nương Marie de Montijo mới 27 tuổi (sinh năm 1826) thành hôn với ông (và trở thành Hoàng Hậu Eugénie.) Rồi từ đó, chính quyền của Hoàng Đế Napoléon III trở thành cực kỳ bảo thủ. Nhờ đã gài sẵn người của Giáo Hội như vậy, cho nên khi vận động chính quyền này cấu kết với Giáo Hội thành một Liên Minh Thánh (Holy Alliance) và xuất quân đánh chiếm Đông Dương, các cán bộ ngoại giao của Giáo Hội như Tổng Giám Mục Bonnechose cai quản địa phận Rouen, Giám-mục Pellerin, Linh-mục Huc và Linh-mục Legrand de la Liraye đã có thể vừa đi cửa sau thậm thụt vận động với Hoàng Hậu Eugénie, vừa công khai xin tiếp kiến trực tiếp để thuyết phục nhà vua, vừa đệ  chính thức và công khai trình lên triều đình Pháp ba bản phân tách (một của Linh-mục Huc, một của Giám-mục Pellerin và một của Linh-mục Legrand de la Liraye) nêu ra những lợi điểm trong việc cấu kết với Giáo Hội và xuất quân đánh chiếm Đông Dương[5]. Rốt cuộc, Hòang Đế Naplóelon II và triều đình Pháp đã làm theo ý muốn của Giáo Hội La Mã.

Lần thứ hai.-  Vào khỏang đầu năm 1932, khi Bảo Đại được chính quyền Bảo Hộ Liên Minh Thánh Pháp – Vatican đưa về Vỉệt Nam cho lên làm vua bù nhìn ở Huế, Giáo Hội liên bố trí nữ tín đồ Jeannette Nguyễn Thi Lan mới 18 tuổi xinh như mộng đi cùng chuyến tầu về Việt Nam với Bảo Đại. Rút cục, hai người này bám riết lấy nhau và thành đôi vợ chồng. Quy luật của nhà Nguyễn không cho phép người lên kế vị ngai vàng theo đạo Da-tô, nhưng rồi bằng cách này hay bằng cách khác, Giáo Hội cũng vẫn đạt được mục đích của Giáo Hội. Chuyện này được sách Việt Nam Niên Biểu Nhân Vật Chí viết:

Năm 1934, (Bảo Đại) lấy Jeanntte Nguyễn Hữu Thi Lan, con một đại điền chủ miền Nam. Thị Lan theo đạo Ki-tô, gây nhiều trở ngại. Ngô Đình Thục cực lực chống đối vì theo đúng phép đạo, Bảo Đại phải “rửa tội” rồi mới được thành hôn. Pháp dàn xếp cho một giáo sĩ ngoại quốc bí mật làm lễ cưới theo phép đạo. Như thế, Bảo Đại trở thành vua Ki-tô đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.” [6]

Những việc làm  trên đây có chủ tâm biến Bảo Đại thành con bài chuẩn bị cho việc thi hành chính sách chia để trị bằng cách “tôn phò” dòng chính thống nhà Nguyễn” dùng người Việt đánh người Việt và dùng tín đồ Da-tô cai trị đại khối nhân dân ta thuộc các tôn giáo khác.

II.- HẠ BỆ HAY ÁM SÁT NHÀ CẦM QUYÊN
BẤT THÂN THIỆN VỚI GIÁO HỘI LA MÃ

Kế sách này được áp dụng ở Pháp vào năm 1610. Chuyện này xẩy ra là vì nước Pháp đã bắt đầy bi ảnh hương của phong trào đòi cải cách tôn giáo mà mục đich chính là chống lại quyền lực của  Giáo Hội La Mã đã âm ỉ ở Âu Châu từ khoảng hai thế kỷ trước, rồi bùng nổ thành bạo động vào đầu thế kỷ 16. Nguyên nhân của biến cố này là vì vào ngày 31 tháng 10 năm 1517, Linh-mục Martin Luther (1483-1546) phản đối Tòa Thánh Vatican trong việc moi tiền của tín đồ bằng cách bán giấy ân miễn tội ác (indulgences) nói là để xây Thánh Đường Peter, rồi đem dán ở cửa nhà thờ Wittenburg (Đức) công bố bản tuyên ngôn với 95 đề tài tố cáo tội ác của Giáo Hội:

Do việc làm bóc lột nhân dân một cách đồi bại đã khiến cho Linh-mục Martin Luther nổi loạn chống lại toàn bộ hệ thống giấy ân miễn tội ác của Giáo Hội và đưa đến việc ông dán bản tuyên ngôn công bố 95 đề tài bnói về tội ác của Giáo Hội ở của chính nhà thờ Wittenburg vào ngày 31/10/1517, chiều hồm trước ngày Lễ Các Thánh. Việc làm này mở đầu cho Phong Trào Cải Cách Tin Lành. Đề tài thư 86  nói rằng của cải của giáo hoàng lúc đó còn  trội hơn rất nhiều của cái của các nhà triệu phú giầu có nhất cùng thời, vậy thì  tại sao giáo hoàng lại đi mọi tiền của tín đồ nghèo khổ mà không dùng tiền của ông để xây chỉ có một ngôi thánh đường Peter?” (It was this corrupt practice of taking money from people that revolted Martin Luther against the whole system of indulgences and led to his posting 95 theses on the cathedral door in Wittenburg, October 31, on the eve of all Saints Day, 1517. The act marked the beginning of Protestant Reformation. The 86th thesis read: The pope’s riches at this day far exceed the wealth of the richest millionaires; can not he therefore built one single basilica of St. Peter out of his money, rather out of the money of the faithful  poor?”[7] )

 Kể từ đó, ở Âu Châu càng nhìn thấy rõ bộ mặt thật ghê tởm của Giáo Hội và nổi lên phong trào bỏ đạo Kitô La Mã (gọi là Da-tô cho gọn) đi  theo đạo Tin Lành. Vào thế kỷ 16, có ít nhất là hai phong trào nổi lên chống lại Giáo Hội ở lục địa Âu Châu.

Hai phong trào này là hai hệ phái Tin Lành: một hệ phải do Linh-muc Martin Luther khởi lập và một hệ phái do ông John Calvin (1509-1564). Trước khi có hai phong trào này, hấu hết người dân Pháp  là tín đồ  (Catholic) của Giáo Hội. Nhưng kể từ đó, có nhiều người từ bỏ Giáo Hội theo đạo Tin Lành của ông Calvin hay đạo Tin Lành của ông Luther hoặc là không theo đạo nào cả. Những người không theo hệ phái Kitô nào có thể  là những người tin có Thượng Đế nhưng không tin các lý   thuyết thần học Kitô giáo, và cũng có thể họ là những người theo chủ nghĩa duy lý (chi tin những gì hợp lý, chứ không tin những chuyện hoang đường nhảm nhí như những tín lý và giáo luật  trong đạo Kitô).

Tình huống này khiến cho Âu Châu rơi vào thảm trạng chiến tranh tôn giáo giữa những thế lực còn trung thành với Giáo Hội La Mã và những thế lực theo phong trào cải cách tôn giáo mà ta gọi là Tin Lành. Ở Pháp, chính quyền vẫn còn ở trong tay tín đồ cuồng tín của Giáo Hội là vua  Charles IX (1560--1574) và vua  Henry III (1574-1589). Cả hai ông vua này đều thi hành chính sách bất khoan dung đối với những thành phần thuộc các hệ phái tôn giáo khác hay không tin tưởng tôn giáo nào cả. Vua Charles IX (1560--1574) là người chủ mưu vụ tàn sát người Tin Lành ở nhà thờ Saint Bartholomew vào ngày 24 tháng 8 năm 1572 ở Paris, kéo dài trong nhiều tuần lễ và lan rộng ra nhiều nới trong tòan quốc khiến cho con số nạn nhân bị sát hại lên tới gần hai chục ngàn người (mười ngàn ở Paris và 8 ngàn ở các nơi khác). Năm 1574, Charles IX qua đời, người con ông ta lên nối ngôi lấy vương  hiệu là Henry III. Vì cuống tín và bạo ngược giống như vua bố Charles IX (1560--1574), Henry III   bị ám sát chết vào ngày 1 tháng 8 năm 1589.

 Henry III (1574-1589) chết, người con của ông ta lên nối ngôi lấy vương hiệu là Henry IV (1589-1610) ôn hòa, chủ trương hòa đồng tôn giáo và khước bác chính sách bất khoan dung cố hữu của Giáo Hội. Cũng vì thế mà năm 1598 nhà vua ban hành Sắc Lệnh Nantes, công nhận quyền tự do tôn giáo của người dân Pháp.  Việc này làm cho Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô  ngoan đạo người Pháp bất bình và thù ghét nhà vua. Đây là nguyên nhân khiến cho nhà vua bị ám sát  vào năm 1610. Ngay sau đó,  người con nhỏ của nhà vua mới có 8 tuổi đuợc đưa lên ngài vàng lấy vương hiệu là Louis XIIIHồng y Richelieu được đưa lên giữ chức thủ tướng nằm trọn quyền lực chính trị  tại triều đình Pháp. Sự kiện này khiến cho các nhà viết sử đặt vấn đề là phải chăng có bàn tay của Giáo Hội trong cáci chết  Pháp Hoàng Henry IV (bị ám sát) vào năm 1610?.

Theo lệnh của Giáo Hội, Hồng y Richelieu  cố gắng biến nước Pháp thành một nước theo đạo Da-tô  hùng mạnh nhất Âu Châu để khống chế các nước khác theo đạo Tin Lành và biến ông vua nước Pháp này thành một tên bạo chúa Da-tô đúng theo khuôn mẫu một nhà cầm quyền lý tưởng của Giáo Hội giống như các bạo chúa Ferdinand V (1452-1516), Isabella I (1451-1504),   Philip II (1527-1598) của Tây Ban Nha và   Mary I (1553-1558) với tục danh là "Con Mụ Mary Khát Máu" (Bloody Mary) của nước Anh. Sự kiện này được sách  Living World History ghi lại như sau:

"Với  dáng người mảnh khảnh và nước da xanh xao do một căn bệnh bất khả trị gây nên, nhưng Hồng Y Richelieu lại có một ý chí sắt đá. Ông đã thành công đạt được hai mục tiêu là (1) tăng cường quyền lực của nhà vua và  (2) làm cho nước Pháp trở nên  hùng  mạnh nhất ở Âu Châu. Để có thể  hoàn thành được mục tiêu thứ nhất, ông cho ban hành những biện pháp tiêu hủy những quyền chính trị của tín đồ Tin Lành Huguenots và quyền lực của giới quý tộc.  Ông ra lệnh tấn công vào thành phố  quan trọng La Rochelle của người Tin Lành Huguenots để cưỡng bách họ phải từ bỏ đặc quyền duy trì quân lính của họ trú đóng ở trong các thị trấn của họ. Ông ban hành một sắc lệnh tiêu hủy tất cả các lâu đài của giới quý tộc mà không cần thiết cho  việc phòng thủ quốc gia. Giới quý tộc tại các địa phương phải nhường quyền hành cho các bồi thần tay sai thân tín của nhà vua có nhiệm vụ  canh chừng và theo dõi mọi họat động của những người bị coi như là kẻ thù của nhà vua. Hồng Y Richelieu  hoàn thành được mục tiêu thứ hai bằng cách làm suy yếu  quyền lực của triều đình Hapsburgs (Liên Bang các tiểu bang Đức). Ông đẩy nước Pháp vào Cuộc Chiến 30 Năm và sau cùng nước Pháp trở thành một quốc gia hùng mạnh nhất Âu Châu."  (The  cardinal, pale and delicate from incurable disease, had a will of iron. He succeeded in his two aims: to strengthen the power of the king in France and to make France supreme in Europe. To accomplísh the fírst goal, he took steps to destroy the political rights of the Huguenots and the power of the nobles. By attacking their chief town, La Rochelle, he forced the Huguenots to give up their privilege of maintaining fortified towns garrisoned by their  own troops. He issued an edict for the destruction of all nobles' castles that were not necessary for national  defense. Nobles lost their jurisdiction over local districts to new royal officials called intendants, who kept a watchful eye on the kings enemies. Cardinal Richelieu achieved his his second aim chiefly by weakening the power of the Hapsburgs. He plunged France into the Thirty Years' Wars, from which, it emerged as the strongest nation in Europe.") [8] 

Vua Louis XIII qua đời vào năm 1643,  người lên kế nghiệp là vua Louis XIV (1643-1715), nhưng quyền hành vẫn ở trong tay Giáo Hội với Hồng Y Mazarin nắm giữ chức vụ thủ tướng thay thế Hồng Y Richelieu (đã qua đời vào ngày 4/12/1642.) Ông hồng y này đi theo con đường của ông hồng y  (Richelieu) tiền nhiệm do Giáo Hội La Mã vạch ra từ trước, và đã hoàn thành được nhiệm vụ biến vua Louis XIV thành một tên bạo chúa lừng danh của nước Pháp với lời tuyên bố để đới "L' État, c' est moi" (I am the state). Trong khi đó, thì nhân dân Pháp thù ghét cái chế độ đạo phiệt Da-tô này đến tận xương tận tủy. Đoạn văn sử dưới đây là bằng chứng:

"Hà khắc và  luôn luôn hà khắc,  Hồng Y Richelieu tỏ ra rất ít quan tâm đến đời sống  người dân thường của nước Pháp. Chính ông đã cưỡng bách nhân dân Pháp phải gánh chịu thuế khóa nặng nề. Cũng vì thế mà khi ông ta chết vào năm 1642 cũng là lúc nhân dân Pháp  hân hoan reo mừng. Một năm sau, vua Louis XIII cũng qua đời, người con trai của nhà vua lên nối ngôi là Louis XIV, lúc đó mới có 4 tuổi. Trước khi chết,  Hồng Y Richelieu đã huấn luyện được người chuẩn bị thay thế ông    Hồng Y Mazarin gốc Ý Đại Lợi. Trong thời kỳ tuổi thơ của Vua Louis XIV, Hồng Y Mazarin nắm trọn quyền chính trong tay. Các nhà quý tộc có thế lực cố gắng chống lại để giành quyền bị ông hồng y này đàn áp thẳng tay. Vì thế mà nước Pháp rơi vào thảm cảnh nội chiến. Các nhà viết sử gọi cuộc nội chiến này là "The Fronde". Cuối cùng vào năm 1653, các thế lực chống đối đều bị dẹp tan.  Khi Hồng Y Mazarin qua đời vào năm 1661, Vua Louis XIV đã 22 tuổi, và trực tiếp  nắm trọn mọi việc triều cương.

Vua Louis XIV là một trong những ông vua quyền thế trong các ông vua của nước Pháp. Ông cầm quyền  cho đến năm 1715 và được gọi là một thí dụ điển hình của một bạo quân chuyên chế. Ông tuyên bố "Quốc gia là ta", môt lời nói diễn tả chính xác về thái độ và hành động của ông đối với nước Pháp."

("Richelieu, harsh and relentless, showed little concern for the common people of France, who had to bear heavy tax loads, and they rejoiced at his death in 1642. Louis XIII died a year later, and his son became king - Louis XIV - at the age of four. Richelieu had trained Jules Mazarin, an Italian born-cardinal, to be his successor, and during Louis' childhood, Mazarin held the reins of rule in his capable hands. Strong nobles tried to gain control of the government, but after a civil war known as the Fronde, Mazarin in 1653 suppressed the challenge of the nobles to royal power. When Mazarin died in 1661, Louis XIV, then twenty- two years old, personally took over the direction of the government.

Louis XIV was one of the most powerful French kings. Louis XIV ruled France until 1715, and has called the perfect example of absolute ruler. He is supposed to have declared "L'Etat, c'est moi" (I am the state), a saying that accurately describes his attitude towrd France."[9]

III.- TÍCH CỰC ỦNG HỘ MỘT PHE
TẠI QUỐC GIA CÓ NỘI CHIẾN

Tùy theo tình hình thế giới và con số tín đồ địa phương bị chiếu cố, hễ khi nào có cơ hội là Giáo Hội nhẩy vào can thiệp để ăn có:

1.-  Tại Việt Nam, vào giữa thập 1780 khi Nguyễn Ánh nỗ lực chiến đấu chống lại triều đình Tây Sơn, Giáo Hội cho người theo dõi, rình chờ cơ hội để hành động.  Nhân khi viện quân Xiêm La của Nguyễn  Ánh bị quân lính Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Huệ đánh cho tan tành không còn manh giáp ở Rạch Gằm và Xoài Mút ở  Mỹ Tho vào mùa xuân năm 1784, Giám-muc Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) tìm đến gặp Nguyễn Ánh để xin đuợc kết thân và hứa hẹn sẽ hết lòng vận động xin ngọai viện từ Âu Châu đem về giúp Nguyễn Ánh đẻ đánh bại nhà Tây Sơn. Sự kiện này và hậu quả của nó như thế nào đều được sách sử Việt Nam ghi lại rõ ràng.

2.- Tại Tây Ban Nha.- Khi chính quyền Cộng Hòa Tây Ban Nha đã được thành lập vào đầu thập niên 1930, Giáo Hội La Mã vừa xúi giục nhóm tín đồ Da-tô cuồng tín dưới quyền lãnh đạo của Francisco  Franco, vừa vận động hai chế độ Đức Quốc Xã và Phát-xít Ý Đại Lợi viện trợ cho phe Franco gây cuộc nội chiến kéo dài cả mấy năm trời nhằm lật đổ chế độ Cộng Hòa để thiết lập chế độ đạo phiệt Da-tô tại Tây Ban Nha. Sự kiện này được sách sử ghi lại như sau:

"Cả hai phe đều cầu  ngọai viện. Chính quyền Cộng Hòa hy vọng  rằng Pháp và Anh sẽ tiếp tế vũ khí cho họ. Thế nhưng, cả Pháp và Anh đều theo chính sách bất can thiệp. Lý do:  Một phần sợ  rằng   nếu viện trợ cho phe  Cộng Hòa thì sẽ gây ra  chiến  tranh lớn, một phần vì áp lực nội bộ. Trong khi đó, ngay từ đầu cuộc chiến, Tướng Franco đã kêu gọi Hitler  nước Đức và Mussulini nước Ý cung cấp phi cơ chiến đấu cho phe của ông. Được Tây Ban Nha nhường cho nhiều khoáng sản, Đức Quốc Xã cung cấp cho Tướng Franco một không đòan gồm một  trăm phi cơ chiến đấu, Ý Đại Lợi gửi bộ quân  đến tiếp viện. Cả hai nước Đức và Ý lại còn gửi  xe tăng và pháo binh tăng viện cho phe Tướng Franco.  Các nước dân chủ Tây Phương phản đối nhưng không làm gì khác hơn." ("Both sides sought help from abroad. The republic consistently hoped that France and Great Britain would allow them to acquire arms. Partly because of fear of a general war, partly because of domestic pressure, both powers backed non-intervention. General Franco appealed immediately to Hitler in Germany and to Mussolini in Italy, which supply aircrafts early in the war. The Germans, in return for mineral concessions, supplied the Condor Legion (100 combat planes), and the Italians sent ground troops; both supplied tanks and artillery. The Western democracies protested   but did nothing." [10]

Việc Vatican cấu kết với hai chế độ phát xít Ý và Đức Quốc Xã được sách Roman Catholicism  ghi nhận như sau:

Trong nhiều cuộc khủng hoảng lớn ở Âu Châu, Tòa Thánh Vatican đã thụ động cũng như tích cực cộng tác với các thế lực phản động nhất ở Âu Châu và Châu Mỹ La-tinh trong phe phát xít độc tài chống lại phe dân chủ. Chắc chắn đây không phải là tình cờ mà hai quốc gia phát xít nhất trên thế giới ngay nay lả các nhà lãnh đạo của hai nước theo đạo Da-tô  Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đã được giáo hoàng chúc phúc và họ phải biểu lộ lòng trung thành đối với ông ta. Sự giống nhau giữa Vatican và các chế độ phát xít không phải là tình cờ hay ngẫu nhiên. Đạo Da-tô ra điều kiện cho tín đồ phải chấp nhận sự kiểm sóat của Giáo Hội, kiểm soát tư tưởng và cuối cùng là chấp nhận chế độ độc tài.”

(“In several great crises in Europe the Vatican has, through passive and active collaboration with facism, thrown the balance of power against democracy… It has aligned itself with the most reactionary forces in Europe and Latin America. Surely it is not by accident that the two most facist nations in the world today – Spain and Portugal – are Catholic nations whose dictators have been blessed by the pope and are conspicuosly loyal to him! The Vatican’s affinity with facism is neither accidental nor incidental. Catholicism conditions its people to accept censorship, thought centrol, and ultimately dictatorship.” (Rev, ed., 1958 p. 291; Beacon Press, Boston.”)[11]

Vì những hành động can thiệp trắng trợn vào nội bộ đất nước của họ như vậy,   cho nên nhân dân Tây Ban Nha vô cùng thù ghét Giáo Hội La Mã và mãi mãi nhớ đến mối  thù này. Bản văn dưới đây đăng trong nhật báo "Seattle-Post Intelligencer [Seattle]  ra ngày  February 6, 2003" nơi trang  A3  lằ bằng chứng nói lên sự kiện này:

"Ở Tây Ban Nha, nói đến đạo Công Giáo La Mã là gợi lại hình ảnh nhà độc tài phát xít Francis Franco mà đồng tiền Tây Ban Nha nào cũng đều có in hình của ông ta và quyền lực của ông ta được hỗ trợ "bởi Ân Sủng của Thượng Đế"... Ngọai Trưởng Tây Ban Nha Ana Palaciao tuyên bố, "Điểm giống nhau của chúng ta là chiến đấu cho dân chủ, chiến đấu cho nhân quyền và chiến đấu để "tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền"

Một vị dân biểu quốc hội Tiệp Khắc, (quốc gia này sẽ gia nhập  Khối Âu Châu Hợp Nhất vào năm tới), là ông Jan Zahadil tuyên bố, "Đề cập đến Thượng Đế trong bất kỳ hiến chương nào của Khối Âu Châu Hợp Nhất là môt ý kiến ngu xuẩn, nó chỉ tạo nên những mối bất hòa mà thôi. Không được có một tí gì liên hệ trực tiếp với tôn giáo cả." 

["In Spain, a reference to Catholicism evokes memories of the facist dictator Francis Franco, who stamped every Spanish coin with his profile and backed his grip on power "by the Grace of God."... Our identity is the fight for democracy, for huuman rights, for the separation between church and state," said Spanish Foreign Minister Ana Palacio.

"Jan Zahradil, a Czech parlimentarian whose country will join the EU next year, said mentioning God in any EU charter was "a stupid idea (that) will only provokes disagreements. There should be no direct link to religion at all."] [12]

IV.- CẤU KẾT VỚI CÁC ĐẾ QUỐC XÂM LƯỢC
HAY BẠO QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG

Kế sách này được sử gia Avro Manhattan viết trong cuốn "Vietnam Why did we go?" với nguyên văn như sau:

"Nghiên cứu các tiêu chuẩn lich sử cho thấy rằng  trong nhiều thế kỷ, Giáo Hội La Mã liên kết (đồng hóa) các mục tiêu tôn giáo với các mục tiêu của các cường quốc đương thời. Như chúng ta đã thấy, Giáo Hội đã dùng sách lược (công thức) này ở Á Châu khi Giáo Hội  liên kết với các cường quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp trong một thời kỳ.

Ở Âu Châu, sách lược trên đây cũng được áp dụng nhiều lần trong thế kỷ 20 này. Có lúc, Giáo Hội đã liên kết với nước Pháp, liên kết với Đế Quốc Gia-tô Áo - Hung trong thời Đệ Nhất Thế Chiến, rồi trước và trong thời Đệ Nhị Thế Chiến thì Giáo Hội lại liên kết với các chế độ độc tài Ý và Đức của phe hữu. Bằng cách đồng hóa với các cường quốc trên đây vào thời đang lên về các quyền lợi kinh tế, chính trị và chiến tranh, Giáo Hội đã thâu tóm được rất nhiều quyền lợi.

Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt mang theo sự hủy diệt của chế độ phát xít ở Âu Châu. Kể từ đó,  Âu Châu không còn một đé quốc thực dân nào để liên kết, Giáo Hội La Mã quay ra chọn Hoa Kỳ  để liên kết thành một liên minh chính trị. Đây là hành động để đối phó với sự bành trướng của nghĩa Cộng Sản Bôn-sê-vích và siêu cường Nga Sô sau thời Đệ Nhị Thế Chiến.  Tình trạng này khiến cho cả  Giáo Hội La Mã lẫn Hoa Kỳ cùng lo sợ và bắt buộc hai thế lực này liên kết với nhau thành một liên minh thực sự trong thời Chiến Tranh Lạnh.”  

Nguyên văn: ("The study of historical patterns reveals a formula which the Catholic Church has used for centuries, namely identification of her religious objectives with those of a major lay political power of a given period. As we have seen, she used this formula in Asia when she identified herself with the major powers of those days, Prortugal, Spain, and France.

in Europe the  formula was applied several times in this century. She identified herself at various intervals with France, then with the Catholic Empire of Austria-Hungry during the First World War, and with the right wing dictatorships of Italy and Germany, before and during the Second World War. She advanced her interests in the wake of these Powers by identified herself with their economic, political and war interest.

Since the end of the Second World War and the annihilation of European fascism she adopted the U.S. as her lay partner, in the absence of a Catholic superpower. This was prompted by the grim reality of the appearance of Boshevism and the growing military presence of Soviet Russia after World War II. The menacing reality of these two compelled the Vatican and the U.S. together and in due course force them into veritable alliance known as the Cold War.”) [13]

Bản văn sử trên đây cho chúng ta thấy kế sách lấn chiếm tiếm đọat quyền lực chính trị tại các quốc gia mục tiêu của Vatican là cấu kết với các đế quốc thực dân xâm lược  hay với các chế độ độc tài để củng cố quyền lực hay mở rộng vùng ảnh hưởng. Dưới đây là những bằng chứng cho sự kiện này.

1.- Khi Cách Mạng Pháp bùng nồ vào ngày 14/7/1789 và tân chính quyền dùng những biện pháp để đối phó với Giáo Hội và bọn tu sĩ Da-tô bản địa,   Vatican vận động các nước Áo, Phổ, Anh  thành lập Liên Minh Thánh thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư để đánh phá chính quyền Cách Mạng và chính quyền của Hòang Đế Napoléon I. Cuối cùng nước Pháp bị Liên Minh Thánh đánh bại, Hoàng Đế Napoléon I bị đưa đi lưu đầy ở đảo Saint Héleine, và Giáo Hội đưa người em của Louis XVI lên ngai vàng tái lập chế đọ đạo phiệt Da-tô tại Pháp. (Sẽ được trình bày đầy đủ trong Tập III.)

2.- Giữa thế kỷ 19, Giáo Hội vận động chính quyền Pháp của Hoàng Đế Napoléon III lcấu kết với Giáo Hội, thành lập Liên Minh Thánh Pháp-Vatican, xuất quân đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa.

3.- Giữa thập niên 1930, Giáo Hội cấu kết  với chính quyền Đức Quốc Xã của nhà độc tài Adolf Hitler (1889-1945)  cùng chính quyền phát xít Ý của nhà độc tài Benito Mussolini (1883-1945) nhằm đánh bại chính quyền Cách Mạng Tây Ban Nha để củng cố quyền lực của tên tay sai của Giáo Hội là Francisco Franco (1892-1975).

4.- Đầu thập niên 1940,  Giáo Hôi cấu kết với hai chính quyền Đức Quốc Xã và Phát-xít Ý trên đây để đưa tên tay sai của Giáo Hội là Ante Pavelich  về Croatia cầm quyền và thiết lập chế đọ đạo phiệt Da-tô (1941-1945) ở phần đất này.

5.- Giữa thập niên 1950, Giáo Hội cấu kết với Hoa Kỳ đưa tên tay sai của Giáo Hội là Ngô Đình Diệm về Sàigòn thiết lập chế độ đạo phiệt Da-tô ở miền Nam Việt Nam.  

6.- Cuối thập niên 1980, Giáo Hội cấu kế với Hoa Kỳ lật đổ chính quyền Cộng Sản Ba Lan và đưa tên tín đồ tay sai của Giáo Hội là Lech Walesa lên cầm quyền vào năm 1989. Vì tình hình thế giới và hoàn cảnh nước Ba Lan lúc bấy giờ không thuận tiện nên Giáo Hội chưa thể thiết lập được chế độ đạo phiệt Da-tô ở quốc gia này. Thế rồi, khi có cuộc bầu cử tự do được tổ chức vào ngày 19/11/1995 thì nhân dân Ba Lan thà chọn một ứng cử viện cựu đảng viên Cộng Sản là ông Aleksander Kwasniewski còn hơn là chọn ông Da-tô Lech Walesa, một tín đồ ngoan đạo tay sai đắc lực của Giáo Hội La Mã.

7.- Trong những năm, 1999- 2002, Giáo Hội đã cấu kết với một số cường quốc có các nhà lãnh đạo là tín đồ Thiên Chúa Giáo hỗ trợ cho nhóm tín đồ bản địa của Giáo Hội để tách rờEast Timor ra khỏi nước Indonésia và thành lập vương quốc Kitô ở đây.

8.- Năm 1994, bọn tay sai của Giáo Hội là Giám-mục Augustin Misago khai thác  sự xung đột chủng tộc tại Rwanda,  tàn sát tới 800 ngàn người thuộc nhóm chủng tộc Tutsis và những người Hutus ôn hòa.  Dưới đây là nguyên văn bản tin  nói về vụ tàn sát này viết bằng tiếng Anh lấy ra từ www.google.com, ngày 29/6/2005:

Hơn 800 ngàn người, phần lớn là người Tutsis và một số người Hutus ôn hòa, bị tàn sát vào năm 1994. Nhiều nguời sống sót đứng ra tố cáo nam nữ tu sĩ của Giáo Hội La Mã đã chủ mưu trong vụ  tàn sát này.  Giám-mục Misago là viên chức cao cấp nhất của Giáo Hội bị truy tố. Ở Rwanda,  đạo Kitô La Mã là chính.

Narcisse Musoni, quyền Tổng Thư Ký quỹ viện trợ  những người sống sót trong vụ diệt chủng này nói rằng nếu không thay đổi bản án tuyên bố vô tội của bị cáo, thì “sẽ là nguyên nhân cho mối nghi ngờ hệ thống tư pháp của chúng ta.” 

Mutagwera phàn nàn rằng “cái lối xử lý vụ án diệt chủng này làm hủy hoại hệ thống tư pháp của đất nước chúng ta.” 

Mutagwera nói rằng việc đưa ra những lá thư của giáo hoàng có thể làm cho tòa án thiên lệch và xử lý có lợi cho Giám-mục Misago. Tu sĩ Augustin Musada, Tổng Thư Ký của Hội Nghị Kitô La Mã ở Rwanda  thì nói rằng điều ngạc nhiên là nếu giáo hoàng “đã không  biểu lộ tình liên đới.”  Một hậu quả của việc xử án bất công này đã được nói rõ trong tờ New York Times:

KIGALI, Rwanda khi  800,000  Tutsis bị sát hại trong một cuộc tàn sát cách đây 10 năm vào tuần lễ này, nhiều người Rwanda không những mất niềm tin nơi chính quyền của họ mà còn mất luôn cả niềm tin  đối với tôn giáo của họ nữa. Ngày nay, ở đất nước mà phần lớn là dân theo đạo Da-tô, đạo Hồi lại là  tôn giáo phát triền mau nhất..”

Nguyên văn: “More than 800,000 people, most of them Tutsis and some moderate Hutus, were killed in fighting in 1994. Many survivors have accused priests and nuns of the Roman Catholic Church of complicity in the killing. Bishop Misago was the highest-ranking Catholic charged.  Rwanda is primarily Catholic.

Narcisse Musoni, acting general secretary of the Genocide Survivors assistance fund, said if the acquittal is not reversed, "there would be cause to doubt our judiciary."

"The manner in which the justice system is handling genocide cases is destroying our country's justice system," Mutagwera complained.

Mutagwera said the introduction of letters from the pope may have biased the court in favor of Bishop Misago. It would have been surprising if the pope "had not shown solidarity," said the Rev. Augustin Musada, general secretary of the Rwandan Catholic Episcopal Conference. One effect of this injustice has been pointed out in the New York Times:

KIGALI, Rwanda When 800,000 of their Tutsi countrymen were slaughtered in a massacre that began 10 years ago this week, many Rwandans lost faith not only in their government but also in their religion. Today, in what is still a predominantly Roman Catholic country, Islam is the fastest-growing religion.”[14]

Vụ tàn sát này cũng được tờ The New Tribune phát hành ngày Thứ Sáu 15 tháng 7 năm 2005 ghi lại nơi trang A4 ở dưới tấm hình Bà Đệ Nhất Phu Nhân Laura Bush và ái nữ Jenna Bush của bà ôm hai em bé Rwanda với đọan văn dưới đây:

Bà Laura Bush và ái nữ Jenna ẵm hai em bé Rwanda trong giờ lễ trong nhà thờ ở Kigali, Rwanda vào ngày Thứ Năm (14/7). Trong chuyến tham quan này, Bà Bush thuyết phục người  Rwanda đừng thất vọng và cố gắng hàn gắn vết thương về nạn diệt chủng ở đất nước họ. Trong năm 1994, dân quân Hutu đã sát hại tới 800 ngàn người thuộc nhóm thiểu số Tutsis và những người Hutu ôn hòa. Bà Laura Bush đã dùng thì giờ đẩy mạnh phương cách để Hoa Kỳ  giúp Rwanda trong vấn đề  chữa trị những bệnh nhân mắc bệnh sida (AIDS) và vấn đề giáo dục các trẻ em con gái.” (“Laura Bush and her daughter Jenna hold HIV-positive Rwanda children at a church service in Kigali, Rwanda, on Thurday. During her visit, the first lady urged Rwandans not to lose hope as they try to heal the pain of their country’s genecide. In 1994, Hutu militias shot and hacked to death 800.000 minority Tutsis and moderate Hutus. Laura Bush also spent time promoting ways the U.S. is helping Rwanda, such as assisting with the treatment of AIDS patients and helping girls an education.”)

V.- MÓC NỐI VÀ XÚI GỊUC NHỮNG THÀNH PHẦN
BẤT MÃN NỔI LỌAN CHỐNG CHÍNH QUYỀN

Kế sách móc nối và xúi giục những thành phần bất mãn nổi loạn chống chính quyền bất thân thiện hay không hành động thuận ý với Vatican được Giáo Hội thi hành ở Việt Nam nhiều lần:

1.- Khi vua Gia Long chọn Hoàng Tử Đảm làm Thái Tử vào tháng 5/1816 thay vì chọn  một trong những người con của Hoàng Tử Cảnh là Hoàng Tôn Đán. Nhân vụ này các nhà truyền giáo mở một chiến dịch vận động chống lại hành động này của nhà  vua, rồi quay ra chống lại triều đình Huế.

2.-  Sau đó, một trong những hành động chống lại triều đình Huế là xúi giục Lê Văn Khôi nỏi loạn vào năm 1833. Ngay từ khi khởi binh chống lại triều đình Huế cho đến khi bị bắt, giáo sĩ Joseph Marchand giữ vai trò cố vấn cho Lê Văn Khôi, luôn luôn bám sát bên cạnh Khôi ở trong thành Phiên An, và kêu gọi giáo dân tham gia cuộc nổi lọan này. Cho mãi tới năm 1835, triều đình mới dẹp yên, giáo sĩ Joseph Marchand (cố Du) bị bắt cùng với một số tội đồ khác và bị đưa về Huế xử lý.

3.- Kế đó là trong thời Vua Tự Đức (1848-1883), cũng qua các nhà truyền giáo, Giáo Hội mưu đồ can thiệp vào nội tình triều đình Huế trong vụ Hồng Bảo mưu nghịch vào năm 1851. Ấy thế mà, sau đó Giám-mục Pellerin và các ông giáo sĩ khác lại nói láo rằng, “Công Giáo không can dự vào việc chính trị, Giáo Hội triệt để cấm việc truất bỏ ngôi vua.” [15]

4.- Tiếp theo vụ Hồng Bảo, đầu thập niên 1860 các giáo sĩ Da-tô họat động tại Việt Nam bày trò phục “phục Lê”   xúi giục tín đồ Da-tô Tạ Văn Phụng đổi tên thành họ Lê nổi loạn. Các sách sử đều xác nhận là có bàn tay của các ông giáo sĩ trong vụ này.  Tiến-sĩ Cao Huy Thuần ghi nhận bàn tay của Vatican trong vụ Tạ Văn Phụng nổi loạn như sau:

Thật vậy, trong lúc ở Nam, các chiến sĩ Việt Nam tỏ ra rất có tài đánh giặc và đầy lòng dũng cảm bảo vệ xứ sở, thì ở Bắc có nhiều kẻ “đục nước buông câu”, trong đó có tên Tạ Văn Phụng, một tín đồ Da-tô, được các nhà truyền đạo Tây Ban Nha ủng hộ, y cầm đầu và xúi giục các cuộc nổi loạn chiếm hết các tỉnh phía Đông Bắc Bộ. Để đương đầu với loạn lạc này, Tự Đức buộc phải làm hòa ở Nam.”[16]

Ấy thế mà Linh-mục Phan Phát Huờn lại viết trong cuốn Việt Nam Giáo Sử rằng:

Việc Phụng nổi lọan là việc của công dân Phụng, không phải là việc của Giáo Hội Công Giáo, không một giám mục nào khuyên bảo Lê Phụng khởi nghĩa đánh triều đình cả. Nhưng dù sao Phụng là người  Công Giao nên người ta có thể nói rằng chính công giáo nổi loạn chống lại triều đình.[17]

CHƯƠNG 7
CẤU KẾT VỚI PHÁP DÙNG CHÍNH SÁCH CHIA ĐỂ TRỊ,
VÀ ĐƯA TÍN ĐỒ LÊN NẮM CHÍNH QUYỀN

Khi Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc, Nhật đầu hàng Đồng Minh vào ngày 15/8/1945,   Mặt Trận Việt Minh đã lanh tay chụp lấy cơ hội này,  phát động lệnh tổng khởi nghĩa, đưa người về các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng, đặc biệt là Hà Nội vận động nhân dân tham gia cuộc bỉểu tỉnh được tổ chức vào ngày 17/8/1945 với 20 ngàn người [18] tuân hành biểu dương ý chí cương quyết vùng lên đòi quyền độc lập cho dân tộc và chính thức cướp được chính quyền vào ngày 19/8/1945, thành lập chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, buộc vua bù nhìn Bảo Đại phải bằng lòng thoái vị vào ngày 23/8 (lễ chính thức thoái vị được tổ chức vào ngày 30/8) và công bố Bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 2/9/1945 tại Vườn Hoa Ba Đình giữa một biển người với rừng cờ đỏ sao vàng và biểu ngữ trong một cuộc mít tinh có cả năm trăm ngàn người (500.000) tham dự.[19]

Việt Nam đã độc lập. Thế nhưng Vatican và Pháp vẫn còn nuối tiếc. Ngày 16/8/1945, Tướng Jean Leclerc được chỉ định đem một đạo quân từ Pháp qua ngả Madagascar Calcutta tới Việt Nam. Ngày 17/8/1945, Pháp và Vatican đồng thuận bổ nhậm cựu Linh-mục Thierry  d’ Argenlieu thuộc dòng tu Carmelite  nắm giữ chức vụ Cao Ủy Đông Dương – High Commissioner (một danh xưng mới của chức vụ Toàn Quyền Đông Dương  (Gouverneur Général) trong những năm 1887-1945) lo việc tái chiếm Đông Dương và cũng là để khích lệ  giáo dân chống lại chính quyền của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do Mặt Trận Việt Minh lãnh đạo.

Ngày 23//8/1945, chính quyền Pháp De Gaulle bổ nhậm “Đại Tá  Cédille làm Ủy Viên Cộng Hòa Nam Kỳ (Commissaire de la République tại Nam Bộ đã nhày dù xuống Tây Ninh và được quân Nhật đưa về Sàigòn.” [20]

Ngày 12/9/1945, Tướng Anh Douglas D. Gracey chỉ huy đoàn quân Anh trong đó có 1.400 quân lính người Ấn Độ với danh nghĩa là giải giới quân Nhật, nhưng lại bao che cho 1.800 quân Pháp đổ bộ vào Saigòn. Cũng vào ngày này, tại Pháp, Tổng Thống Charles de Gaulle của chính phủ lâm thời Pháp chỉ định Tướng Mordant làm Tổng Đại Biểu Pháp tại Đông Dương trong khi chờ đợi Cao Ủy Đông Dương Thierry d’ Argenlieu sang Đông Dương nhậm chức vào ngày 31/10/1945. Đồng thời, Pháp lại  còn thiết lập Uỷ Ban hành độc Giải Phóng Đông Dương đặt dưới quyền điều động của Bộ Trương Các Thuộc Địa lúc đó là ông René Pleven.   

Ngày 23/9/1935, tại Sàigòn, được sự bao che của quân Anh, quân Pháp gây hấn tấn công Uỷ Ban Kháng Chiến Nam Bộ, mở nhà tù, thả hết những quân lính Pháp bị Nhật giam, võ trang đám lính này đi tấn chiếm Sàigòn. Lực lương kháng chiến của nhân dân ta không chống cự nổi, phải rút lui ra vùng ngoại ô và cầm cự theo chiết thuật du kích. Cuộc chiến giữa một bên là Liên Minh Thánh Pháp - Vatican Xâm Lược và một bên là nhân dân Việt Nam bùng nổ ở Miền Nam kể từ ngày này.

Tháng 10/1945, chính phủ Pháp lại chỉ định Tướng Massu, lúc đó đang trú đóng tại miền Đông nước, đem một trung đoàn sang Việt Nam  tăng cường cho thế lực Liên Minh Thánh Pháp-Vatican đã có sẵn ở đây để  chuẩn bị phóng ra những cuộc hành quân tiêu diệt các lực lượng  Kháng Chiến Việt Nam ở miền Nam.

Mới đầu cả chính quyền Pháp và Vatican đều nghĩ rằng có thể tái chiếm Đông Đương trong một thời gian ngắn khoảng chừng vài ba tháng.

Thế nhưng, thời thế đã đồi thay, hơn 80 năm nằm dưới ách thống trị bạo tàn của Liên Minh Thấn Pháp và Vatican, người dân Việt Nam đã phải triền miên kéo lê  kiếp sống điêu đứng vì bị áp bức và bóc lột đến tận xương tận tủy khiến cho hai triệu người phải rơi vào thảm họa chết đói trong mấy tháng mùa Xuân năm Ất Dậu 1945. Tất cả đã mở mắt cho người dân Việt Nam thấy rằng “không có gì quý bằng độc lập và tự do” cho nên nhân dân ta đã cương quyết “Thà chết còn hơn trở lại sống đời nô lệ cho liên minh giặc xâm lăng Pháp và Vatican”, phải quyết đoàn kết toàn dân như một và cương quyết chiến đấu cho khát vọng độc lập cho toàn dân, cho dân ta không còn rơi vào thảm cảnh chết đói như  đã xẩy ra vào mùa xuân năm Ất Dậu, không còn mang mối nhục vong quốc và bị khinh rẻ là “dân tà giáo”, “dân mọi rợ” nữa.  Sự kiện này đã làm những người chủ chiến trong hàng ngũ lãnh đạo của Liên Minh Thánh Pháp – Vatcan phải ra chỉ thỉ cho Thierry d’ Argenlieu phải triệt để thi hành chính sách chia để trị để phá tan sức mạnh đoàn kết của dân ta.

Với chức vụ Cao Ủy Đông Dương, trách nhiệm của cựu Linh-mục Thierry d’ Argenlieu đối với Liên Minh Thánh Pháp – Vatican là phải tái chiếm và ổn định Đông Dương. Nhưng đối với riêng Tòa Thánh Vatican là phải triệt để thi hành hành chính sách chia để trị để củng cố và duy trì quyền lực của Giáo Hội tại Việt Nam.[21] Cũng vì thế mà trong thời gian tại chức ở Đông Dương từ ngày 17/8/1945 cho đến ngày 15/3/1947, Thierry d’ Argenlieu đã:

 1.- Tách rời miền Nam để thành lập nước Cộng Hoa Nam Kỳ vào ngày 2/6/1946[22],

2.- Tách rời Cao Nguyên Nam Trung Bộ để thành lập nước Tây Kỳ vào đầu năm 1946.

3.- Tách rời hai tỉnh Lai Châu và một Lào Cai để thành lập nước Cộng Hòa Thái và đưa tên Đèo Văn Long lên cầm quyền.

4.- Tách rời hai tỉnh Lạng Sơn và Móng Cái để thành lập nước Cộng Hòa Nùng và Vòng Á Sáng được đưa lên cầm quyền.[23]

5.- Tách rời hai giáo khu Phát Diệm và Bùi Chu để biến hai giáo khu tự trị, chờ cơ hội thuận tiện sẽ biến hai giáo khu này thành hai vương quốc kitô nằm trong lãnh thổ Việt Nam.

6.- Thành lập đạo quân thập Việt Nam tự tại vùng Bến Tre và Mỹ Tho dưới quyền chỉ huy của Thiếu Úy Jean Leroy (sau được thăng lên cấp bậc đại tá) với quân số dần dần lên tới 6,390 người vào  năm 1951[24]  cùng với hai đạo quân thập tự tại Phát Diệm, Bùi Chu và nhiếu đạo quân khác ở trong các xóm đạo ở gần các đồn binh Pháp  rải rác trong các vùng tạm chiếm.

7.- Tuyên truyền và thuyết phục giáo dân phải đứng ngoài cuộc nổi dậy của toàn dân, cảnh cáo và hù dọa những người đi theo Việt Minh.-  Biết rằng chống lại khát vọng giải phóng đất nước của dân tộc Việc Nam là một việc làm vô cùng gay go, nhất là vào thời kỳ này, cho nên, một  mặt Toà Thánh Vatican ra lệnh cho bộ máy tuyên truyền  ca ngợi và tán dương chế độ thực dân của Liên Minh Pháp - Vatican để che giấu tội ác đã làm cho nhân dân ta khốn khổ lâm vào cảnh chết đói tới hai triệu người bằng những luận điệu:

"Chính sách thực dân, dưới mắt các nhà luật học và luân lý học vẫn là một việc hợp lý, vừa giúp ích nhân loại  vừa là hành vi nhân đạo. Chính sách thực dân giúp ích chung nhân loại mỗi khi: Một dân tộc không đủ tài lực để khai khẩn những ruộng đất, hầm mỏ, rừng rú mà giời (trời) đã ban cho. Một dân tộc không thể tự trị nổi cần phải nhờ sức bảo hộ của nước ngoài... Hơn nữa chính sách thực dân có tính cách nhân đạo ở chỗ: một cường quốc khai hóa cho một nước mà nền văn minh còn thô sơ."[25]

Bản văn trên đây cho tchúng ta hấy rõ Vatican có một cái nhìn khinh thường và miệt thị dân tộc Việt Nam ta một cách hết sức ngạo mạn và thiếu văn minh.

Sách Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 (Tập A: 1939-1946) nói rõ ý đồ của Giáo Hội La Mã qua lời tuyên bố của vị Khâm Sứ đại dịen Tòa Thánh Vatican ở Hà Nội là muốn đem Bảo Đại trở lại cầm quyên lãnh đạo khối tín đồ Gia-tô người Việt cùng với giới quan lại cũ và những thành phần thuộc giai cấp phú hào về phe với Liên Minh Thánh Pháp – Vatican đang mưu đồ tái chiếm Đông Dương. Sách này viết:

"Ngày 28/12/1945: HUẾ: Tổng Giám Mục Antoni Drapier, đại diện Roma, tuyên bố:

"Gia đình Bảo Đại là gia đình thân Pháp bậc nhất trong dân chúng Việt Nam (la plus francophile de tois les annmites) và theo ý ông ta, nên cho Bảo Đại lên ngôi như trước ngày 9/3 (À mon avis,il serait avantageux pour le calm de rétablir le Roi comme chef régulier avant le