1105-gd.gif (2402 bytes)
posted: 03.11.2005

Nguyễn mạnh Quang

CHƯƠNG 8
 
    GIẢI PHÁP BAO ĐẠI
    VÀ LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ

Tìm hiểu về đạo Thiên Chúa La Mã và lịch sử thế giới, các nhà sử học đều ghi nhận rằng, từ khi được Hoàng Đế Constantine cho ra đời thay thế đạo Ki-tô đạo Thái (Jewish Christianity) vào đầu thế kỷ 4, Giáo Hôi La Mã mà cơ quan đầu não là Tòa Thánh Vatican tự phong là một thế lực duy nhất đại diện của Thiên Chúa (gọi tắt là Chúa) ở trên trái đất này. Kể từ đó, trài qua gần  hai ngàn năm, bất cứ việc gì, khi phát ngôn cũng như khi hành động, Vatican cũng đều sử dụng chiêu bàinhân danh Chúa”. Thực vậy, kiểm điểm lại, chúng ta thấy rằng tất cả những truyền thống Ki-tô (các tín lý do Giáo Hội đặt ra từ ngày 20/5/325) cũng như việc phát động các cuộc chiến thập tự (crusades), việc thiết   lập các Toà Án Dị Giáo (Inquisitions), việc ban hành Sắc Chỉ Romanus Pontifex vào ngày 8/1/1454, v.v…, đều được Giáo Hội sử dụng  chiêu bàinhân danh Chúa” mà hành động. Hậu quả của vệc sử dụng chiêu bàinhân danh Chúa” kiểu này đã khiến cho Âu Châu (đúng ra là chỉ có Tây Âu và các vùng ven Biển Địa Trung Hải) rơi vào thảm cảnh mà các nhà viết sử gọi là Thời Kỳ Đen Tối (Dark Ages).

Khi Giáo Hội cấu kết chặt chẽ với các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp đem quân đi chinh phục đất đai các lục địa ở ngoài Âu Châu làm thuộc địa, các dân tộc bản địa không biết ông Chúa của Giáo Hội là cái gì cả, cho nên Giáo Hội không thể dùng chiêu bàinhân danh Chúa” đối với họ. Sau một thời gian điều nghiên, Giáo Hội quay ra sử dụng chiêu bàinhân danh văn minh đến khai hóa  các dân tộc bản địa”. Việt Nam là một trong những quốc gia bị Giáo Hội và Liên Minh Thánh Pháp – Vatican dùng chiêu bài này để cưỡng chiếm làm thuộc địa, khiến cho dân ta rơi vào thảm họa “Trăm năm nô lệ giặc Tây”. Nét  hằn nhục nhã nhất và sâu đậm nhất  của thời kỳ còn ghi sâu trong lòng người dân Việt là hai triệu người chết đói trong mấy tháng mùa xuân năm Ất Dậu 1945.

Trong thời Kháng Chiến 1945-1954, Giáo Hội cũng đã cố gắng tiếp tục cao rao và sử dụng chiêu bàiNhân danh văn minh để khai hóa người Việt Nam” như trong bản văn đã được nêu lên ở trong Chương 7, xin ghi lại đây một lần nữa để độc giả dễ dàng nhận thấy:

"Chính sách thực dân, dưới mắt các nhà luật học và luân lý học vẫn là một việc hợp lý, vừa giúp ích nhân loại  vừa là hành vi nhân đạo. Chính sách thực dân giúp ích chung nhân loại mỗi khi: Một dân tộc không đủ tài lực để khai khẩn những ruộng đất, hầm mỏ, rừng rú mà giời (trời) đã ban cho. Một dân tộc không thể tự trị nổi cần phải nhờ sức bảo hộ của nước ngoài... Hơn nữa chính sách thực dân có tính cách nhân đạo ở chỗ: một cường quốc khai hóa cho một nước mà nền văn minh còn thô sơ.”

 Thế nhưng, vào thời điểm này, chiêu bài “nhân danh văn minh khai hóa người dân Việt Nam” cũng không còn giá trị đối với ngay cả số đồng tín đồ Da-tô người Việt. Vì thế, Giáo Hội và Liên Minh  Pháp - Vatican mới quay ra sử dụng một chiếu bài khác. Chiêu bài này đước các nhà viết sử gọi là “Giải Pháp Bảo Đại” (The Bao Dai Solution). 

 Giải  Pháp Bảo Đại do người của Giáo Hội là cựu Linh-mục Georges Thierry d’ Argenlieu đề xuất trước khi rời Sàigòn trở về Pháp vào ngày 15/3/1947 để  giao chức vụ này cho ông Émile Bollaert  Sử dụng Giải Pháp Bảo Đại có nghĩa là dùng ông Bảo Đại “thuộc dòng chính thống của nhà Nguyễn” làm lãnh tụ và dùng những người Việt có uy tín nhưng bất mãn với Mặt Trận Việt Minh để thành lập một chính quyền làm tay sai cho cả Vatican và Pháp. 

Đề nghị này được đưa ra vào tháng 1/1947[1]. Nó phải trải qua một thời kỳ bàn luận giữa Vatican và Pháp và thời kỳ cho người đi móc nối với ông Da-tô Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy (Bảo Đại) lúc bấy giờ đang lưu trú ở Hông Kông. Sau một thời gian cò cưa giữa sứ giả Cousseau của Liên Minh Thánh Pháp – Vatican và Bảo Đại, tới cuối tháng 5 năm 1948, thì mọi việc coi như đã xong xuôi. Tuy là đã xong xuôi, nhưng Liên Minh Thánh  Pháp – Vatican cũng vẫn không thể lối cuốn được những người có uy tín với nhân dân và bất mãn với Mặt Trận Việt Minh để thành lập mộti chính quyền cho Giải Pháp Bảo Đại này. Những người có uy tín hay có thành tích cách mạng chống Liên Minh Thánh Pháp – Vatican trước tháng 8/1945 như các ông Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Nhượng Tống, Nguyễn Tiến Hỷ,  v.v…  đều lánh xa, không tham dự. Trong khi đó, tình hình chiến sự ở Đông Dương càng ngày càng trở nên bất lợi cho Liên Minh Thánh Xâm Lăng.   tình huống này, Vatican và Pháp mới hối hả đồng thuận biến chính phủ “Cộng Hòa Nam Kỳ   thànhchính phủ quốc gia” với toàn bộ nội các gồm toàn những người hoặc là mang quốc tịch Pháp, hoặc là mang quốc tịch Vatican, hoặc là trong giới quan lại trong thời “Trăm năm nô lệ giặc Tây” (như các ông Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Phan Văn Giáo, Nghiêm Xuân Thiện, Nguyễn Hữu Trí, Đặng Văn Trí, v.v… ) và  cho ra mắt vào ngày 5/6/1948.

Cũng vì biết rõ bộ mặt thật của cái “chính quyền quốc gia”, biết rõ những người tham gia cái chính phủ này và biết rõ những người tự nhận là “những người quốc gia chân chính yêu nước”, cho nên, vào những năm 1948-1953, có rất nhiều người từ vùng Kháng Chiến “dinh tề” (bỏ Kháng Chiến, vào vùng tề do Pháp kiểm soát), nhưng “thà sống trong nghèo khổ, chứ nhất định không ra làm việc cho chính quyền này. Lý do: Họ sợ sẽ mang tiếng với hậu thế là “Việt gian phản quốc.” Những người này bị bộ máy tuyên truyền của Vatican gọi là những người “trùm chăn” hèn nhát.

Nhìn vào thành phần trong cái chính phủ quốc gia do Liên Minh Thánh  Vatican - Pháp Vatcian nặn ra này và bản chất làm tay sai cho Vatican của nó, các nhà sử học thấy nó giống y như   chính phủ của Vua Louis XVIII (1814-1824) được Liên Minh Thánh Vatican – Anh – Nga – Á - Phổ nặn ra vào năm 1814 khi chính quyền của Hoàng Đế Napoléon I (1802-1814) bị Liên Minh Thánh này đánh bại.

Kể từ đó (ngày 5/6/1948) cho đến ngày 30/4/1975, nhờ đã cấu kết chặt chẽ với Pháp và với Hoa Kỳ, Giáo Hội La Mã đưa mấy tín đồ Da-tô đáng tin cậy nhất lên nắm quyền lãnh đạo chính quyền bù nhìn này và chọn Sàigòn làm thủ đô.  Để lạc dẫn nhân dân Việt Nam  cũng như nhân dân thế giới và cũng là để  trút bỏ được cái gánh nặng mặc cảm tội áclàm Việt gian bán nước cho Vatican và cho Pháp” trong tâm tư tín đồ Da-tô người Việt thuộc loại Tôn Thọ Tường, Vatican ra lệnh cho bộ máy tuyên truyền sử dụng tất cả mọi phương tiện truyền thông  (đài phát thanh, báo chí, truyền đơn và rỉ tai trong xóm đạo) rầm rộ mở chiến dịch  đại quy mô để đánh bóng, dán cho chính quyền bù nhìn này là “chính quyền quốc gia” và dán cho những tên Da-tô Việt gian này cái nhãn hiệu “những người quốc gia yêu nước chân chính”. Tiếp theo đó, Linh-mục Trần Hữu Thanh được lệnh chế ra (họa kiểu) lá cờ vàng ba sọc đỏ để làm tiêu biểu cho “chính nghĩa quốc gia”, rồi “cuỗm” bài “Tiếng Gọi Thanh Niên của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước làm quốc ca.

CHÍNH QUYỀN QUỐC GIA VÀ
CÁC NHÂN VẬT LÃNH ĐẠO CHÍNH QUYỀN NÀY

Giải pháp này là chủ trương của Giáo Hội La Mã. Đây là một chiến công lớn trong chính sách chia để trị của Vatican và cũng là một đối sách với mục đích lấn át chính quyền Pháp để Vatican giành lấy thế ưu thắng trên sân khấu chính trị tại Việt Nam.

Thế nhưng, phe thực dân Pháp cũng không vừa. Biết rằng “Giải Pháp Bảo Đại” là một kế sách của Vatican để lấn chiếm, vơ vào và tăng cường quyền lực chính trị cho Vatican và gây bất lợi cho Pháp, người Pháp bèn đưa ra quyết định chỉ cho Việt Nam ăn bánh vẽ độc lập và khăng khăng nhấn mạnh rằng các quốc gia Đông Dương phải nằm trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp.

Cái bánh vẽ độc lập cho Việt Nam là Thỏa Ước Elysée được ký vào ngày 8/3/1949 mà thực chất của nó chỉ là lời HỨA rỗng tuếch. Nội dung của bản thỏa ước này được cụ Đoàn Thêm ghi lại như sau:

Đại cương Thỏa Ước 8/3/1949: Pháp thừa nhận Việt Nam có tổ chức hành chánh riêng, Tư Pháp riêng, Tài Chánh riêng , Quân Đội riêng, và có quyền liêc lạc ngoại giao với các Đông Nam Á. Pháp sẽ ủng hộ Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc.

Việt Nam hứa sẽ tôn trọng quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp cho Pháp sử dụng các căn cứ quân sự; Việt Nam thuân tổ chức những cơ quan chung với các Quốc Gia Liên Kết Mên, Lào; cử đại diện vào Hội Nghị Liên Hiệp Pháp và Thượng Hội Đồng Liên Hiệp Pháp.

Cao Ủy Pháp tại Đông Dương sẽ đóng vai trọng tài giữa các Quốc Gia Liên Kết (États Associés). Nam Kỳ sẽ định đoạt số phận nêu muốn gia nhập Việt Nam.”[2]

Chính vì lời hứa rỗng tuếch trên đây mà các nhà viết sử mới ghi nhận Pháp đã cho chính quyền quốc gia của ong Bảo Đại ăn bánh về độc lập bằng cái Thỏa Ước Élysée 8/3/1949. Cũng chính vì nó là bánh vẽ, cho nên ngay sau khi quân đội Liên Minh Pháp- Vatican bị đại bại tại Điên Phủ vào ngày 7/5/1954, Pháp phải yêu cầu Hoa Kỳ can thiệp vào Đông Dương nhờ đó Pháp có thể thương thuyết với chính quyền Kháng Chiến Việt Nam để triệt thoái khỏi Việt Nam trong danh dự. Thừa cơ hội này, Hoa Kỳ mới ép Pháp phải trao trả độc lập thực sự cho Việt Nam, và Pháp đã đồng ý với Hoa Kỳ. Vì thế mới có Thoả Ước 4/6/1954.[3]

Trở lại chuyện Việt Nam phải nằm trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp,  cái khuôn khổ này được sử gia Trần Trọng Kim gọi là “một thứ cũi chó nạm vàng!”  Cái “cũi chó mạ vàng” này và bộ mặt thật của “những quốc gia yêu nước chân chính  tiên phong nêu cao cái mà họ gọi là “chính nghĩa quốc gia” và  lá cờ vàng ba sọc đỏ” được ông Bùi Nhung nói rõ cho người đời biết trong cuốn Thối Nát với nguyên văn như sau:

“Khi nhà học giả Trần Trọng Kim xách chiếc va ly từ Nam Kinh trở về Hương Cảng, thì ông Bảo Đại đương hồi “ba đào”. Học giả   Trần Trọng Kim kể lại rằng:

“Lúc tôi tới nhà hàng “Ngài” trọ, hỏi được số phòng ngài ở, tôi vội vã leo thang chân lên lầu, vì thang máy đông người đợi. Ngài đương đánh “mặt chược” ở phòng bên, mình trần trùng trục. Ngài thấy tôi, liếc mắt ra hiệu, bảo cứ vào ngồi đợi trong phòng ngài. Ý hẳn ngài không muốn cho ai biết hành tung chăng?”

Có người bào ông Bảo Đại đánh “mặt chược” cao lắm, nên khi ở Hương Cảng “hoạnh tài” giúp ông đỡ túng. Điều đó không biết có thực không, nhưng tôi được biết ông Bảo Đại đã có lúc phải cầm cố, bán chác cả đồ dùng để lấy tiền ăn. Một số người “tòng vong” lẻ tẻ như các ông Đặng Văn Sung, Đỗ Đình Đạo, Bùi Diễm, v.v… đều bữa nhịn, bữa ăn..

Đến cuối năm 1947, thời cuộc xoay chuyển, thực dân Pháp lại dùng ông Bảo Đại làm một con cờ! Tại Bắc Việt, một viên quan cai trị cũ, tên Cousseau được thực dân giao phó chức vụ điều động các chính khách và chính đảng để tôn ông Bảo Đại làm Quốc Trưởng. Ông Mao Trach Đông đánh ông Tưởng Giới Thạch càng mạnh, thì thực dân Pháp càng hoạt động dữ, để mau mau nắm trọn quyền điều động Việt Nam, kẻo lỡ ra Việt Minh được Cộng Sản Tàu giúp thì thêm khó - một khi đảng này làm chủ lục địa Trung Quốc. Vì thế, Cousseau luôn luôn tiếp xúc với Hoàng Đế lưu vong Bảo Đại tại Hương Cảng. Các chính khách Việt Nam “đánh hơi” thấy mùi, liền đổ xô tới. Giữa Việt Nam và Hương Cảng thuộc địa của Anh, phi cơ và tầu thủy chở các chánh khách Việt Nam đi lại như mắc cửi! Béo bở quá! Các chánh khách đăng tiền cho “ngài” tiêu xài! Các ông ấy tranh nhau lối buôn bán của Lữ Bất Vi và vô số kẻ đã thành công.

Một chánh phủ lâm thời được thành lập vào năm 1948. Thủ Tướng là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân, một võ quan pháo binh kỳ tài, người Việt, quốc tịch Pháp. Chức Thủ Hiến Trung Phần và  Nam Phần lọt vào tay hai ông Phan Văn Giáo và Trần Văn Hữu, còn chức Tổng Trấn Bắc Phần vào tay ông Nghiêm Xuân Thiện. Ông Bảo Đại được tháo khoán. Nhưng có lẽ số tiền Pháp thực dân tháo khoán cho ông Bảo Đại không được rộng rãi lắm, thành thử các vị cao cấp trong chính phủ trung ương tạm thời tháng tháng trích một số tiền ở quỹ đen ra gửi cho ông Bảo Đại như sau:

   Thủ Tướng Xuân 50 ngàn đồng.
   Thủ Tướng Trần Văn Hữu 50 ngàn đồng.
   Tổng Trấn Nghiêm Xuân Thiện 30 ngàn đồng.

Còn Thủ Hiến Phan Văn Giáo bao nhiêu không biết. “Thị Trường” bán quan mua tước tại Việt Nam trong giai đọan này càng nhộn nhịp lắm. Năm 1948, tôi vớ được ba bản danh sách chánh quyền, chi chít những tên tuổi. Cả ba bản, tên một ông luật sư người Việt, vợ đầm, những vẫn Việt tịch bị ông Bảo Đại gạch ở chức vụ Bộ Trưởng Kinh Tế!, Một chức vụ bở nhất, hái ra tiền! Không phải ông Bảo Đại ghét gì ông luật sư đâu, nhưng cái chức đó  khi đem “bán đấu giá” ngầm, có nhiều kẻ tranh giành quá! Ông luật sư mua hụt….

Ông Bảo Đại nằm tại Hồng Kông, cho nguyên Thủ Tướng Trần Trọng Kim về tiếp xúc với Cao Ủy Pháp tại Sàigòn. Cụ Kim kể lại đoạn này với tôi, lúc tôi từ Hà Nội vào thăm cụ ở Nam Vang, đường Lasana số 4: “Tôi trở về nước có nhiệm vụ dọ dẫm xem Pháp có thật tình không, nghĩa là có cho Việt Nam tự do, độc lập thật sự như trong khối thịnh vượng chung của Anh không? (commonwealth). Tôi gặp ông Cao Ủy ở Sàigòn. Sau một giờ chuyện trò, tôi biết rõ cái dã tâm của thực dân! Liên Hiệp Pháp chỉ là một thứ cái cũi chó mạ vàng! Ông Cao Ủy, lúc tiễn tôi ra cửa, có nhã ý, muốn nhân danh chính phủ Pháp giúp tôi một số tiền mở nhà in, để theo đuổi con đường văn hóa. Tôi cảm ơn, không nhận! Cũng tiền của dân Việt Nam, chứ tiền đâu của Pháp! Hồi Nhật đầu hàng Đồng Minh, các cố vấn Nhật biếu tôi một lúc cả 50 triệu để làm vốn mở mang văn hóa, tôi cũng kiếu, huống hồ của thực dân.”[4]

Bản văn trên đây cho chúng ta cái nhìn chính xác về thực chất của “chính quyền quốc gia” và nhân vật lãnh đạo đầu tiên của chính quyền này là ông Da-tô Vĩnh Thụy tức cựu “Hoàng Bào Đại.

Nhân vật thứ hai lãnh đạo chính quyền quốc gia này là ông Da-tô Ngô Đình Diệm. Nhân vật này được Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô người Việt thuộc loại “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” đán h bóng kỹ nhất. Bằng chứng rõ ràng nhất là trong thời ông này còn cầm quyền (1954-1963), tín đồ Da-tô người Việt được nhồi sọ bằng khẩu hiệu “Nhất Chúa, nhì cha, thứ ba Ngô Tổng Thống.”[5]  Sau khi  Ngô Đình Diệm đền tội vào sáng ngày 2/11/1953,   và khi đưa được ông Da-tô Nguyễn Văn Thiệu lên nắm quyền thiết lập “chế độ Diệm không Diệm” vào năm 1967, bộ máy tuyên truyền của Giáo Hội La Mã và các văn nô, sử nô Da-tô lớn tiếng tôn vinh ông Da-tô này là “nhà ái quốc Ngô Đình Diệm đã hy sinh vì nước” và cho ra đời   cái gọi là “Phong Trào Phục Hưng Tinh Thần Ngô Đình Diệm.  Kể từ đó, những cụm từ quái đản này liên tục được phổ biến theo sách lược “Tăng Sâm giết người” và “Cả vú lấp miệng em” ở miền Nam Việt Nam cho đến cuối tháng 4/1975 và ở hải ngoại từ mùa hè năm 1975 cho đến ngày nay.

Vì lý do này, thiết nghĩ rằng chúng ta cần phải tìm hiểu tiểu sử và thành tích của nhân vật Da-tô họ Ngô này cho đến nơi đến chốn.

Vể tiểu sử hay cuộc đời của ông Da-tô Ngô Đình Diệm từ thuở mới chào đời cho đến khi được Vatican và Hoa Kỳ đưa về cầmn quyền ở Việt Nam, theo người viết thì các cuốn sách sau đây đều có ghi rõ  đầy đủ:

1.- Việt Nam: A Dragon Embatllled  của sử gia Joseph Buttinger (New York: Frederick A. Praeger, 1967), nơi các trang 1253-1257 nói về tiểu sử, các trang 846-851 nói về việc Vatican đưa ông ta sang Mỹ trao cho Hồng Y Spellman vận động chính giới Hoa Kỳ đưa ông ta về Việt Nam cầm quyền, và các trang 934-935 nói về con người và  bản chất ưa thích sử dụng bạo lực của ông ta.

2.- Fire In The Lake của sử gia Frances FitzGerald (New York: Vintage Books, 1972), nơi các trang 123-127 nói về cái bản chất cuồng tín đuợc Giáo Hội La Mã rèn luyện và tinh thân hăng hái thi hành những chỉ thị của Hoa Kỳ.     

3.- The Two Vietnams của  gia Bernard B. Fall (New York : Frederick A. Praeger, 1964), nơi các trang 235-257 nói về thân thế,  đặc tính cuồng tín, quan niệm về chính quyền và cung cách hành xử việc nước của ông Ngô Đình Diệm.

4.- Việt Nam Niên Biểu Nhân Vật Chí của sử gia Vũ Ngự Chiêu dưới bút hiệu là Chính Đạo (Houston, TX: Văn Hóa, 1997) nơi các trang 262-306, nói rõ đầy đủ những chi tiết về cuộc đời của ông Da-tô này từ thuở ông này mới chào đến ngày chiều tối ngày 1/11/1963.

5.- Bài viết “Ngô Đình Diệm là ai?” của Chính Đạo viết ngày đăng trong  www.chuyenluan.com   tháng 11/2004.

6.- Bài viết “Xin Bạn Đồng Nghiệp Thận Trọng Ngòi Bút” của cụ An Khê Nguyễn Bính Thinh viết vào tháng 8/1994, đăng lại nơi các trang 325-334 trong cuốn Tài Liệu Soi Sáng Sự Thật Tập Hai  của cụ Lê Hữu Dản (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1996) 

7.- Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của Cụ Đỗ Mậu (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1993), nơi các trang 87-95, nói rõ lộ trình của Ngô Đình Diệm được ông Giám-mục Ngô Đình Thục trình diện các nhân vật có thế lực của Giáo hội La Mã và của Hoa Kỳ từ tháng 8/1950 cho đến ngày 26/6/1954 được đưa lên máy nay bay về Saigòn chuẩn bị nhận chức thủ trường chính phủ quốc gia dưới quyền lãnh đạo của ông Da-tô Bảo Đại.

Ở đây, người viết xin ghi nhận, riêng về ông  Bảo Đại, sử gia Joseph Buttinger gọi ông này là một playboy” với nguyên văn như sau: Đòi hỏi của Bảo Đại làm cho người Pháp ngạc nhiên. Họ coi họ chỉ là một tên ăn chơi đàng điếm.” “Bao Dai’s demands came as a surprise to the Frenchmen who looked upon him as nothing but a playboy.”[6]

Theo các chứng nhân cho biết và các sách sử đều ghi nhận rằng ông Ngô Đình Diệm vốn  là con  một gia đình đã có tới ba đời nối tiếp nhau làm Việt gian bán nước cho cả Vatican lẫn Pháp, và chính bản thân ông ta còn có thành tích bán nước, làm tay sai cho cả Vatican, cho Pháp và mưu toan làm tay sai cho Nhật nữa. Năm 1954, ông ta được Hoa Kỳ và Vatican đưa về Việt Nam cho cầm quyền làm tay sai cho cả hai thế lực này. Một trong những hành động làm tay sai cho Hoa Kỳ một cách cực kỳ dã man được sách sử ghi nhận như sau:

Ngày 30/11/1961,  Tổng Thống John F. Kennedy phê chuẩn cho quân đội Mỹ tiến hành chiến dịch khai quang đồng cỏ Việt Nam. Quyết định này được Ngô Đình Diệm, lúc đó là Tổng Thống nam Việt Nam ủng hộ nhiệt liệt. Diệm cho rằng ông ta “biết cộng sản ở đâu”, và tin rằng chiến dịch này sẽ thành công mĩ mãn.” [7]

Còn ông Da-tô Nguyễn Văn Thiệu, vì là người “theo đạo để tạo danh đời”, ta có thể nói là ông ta thông minh và khôn hơn hai ông Da-tô Bảo Đại và Ngô Đình Diệm, nhưng về bản chất vong bản, phản quốc và phản dân tộc thì cũng giống như hai ông Da-tô Bảo Đại và Ngô Đình Diệm.

 Để làm sáng tỏ vấn đề này, độc giả hãy tìm đọc tiểu sử của ba nhân vật Da-tô lãnh đạo lâu dài nhất  cái “chính quyền quốc gia” này  từ khi được thế lực ngoại cường cho ra đời cho đến ngày rã đám để biết:

1.- Con người của họ sinh ra, lớn lên, được nuôi dưỡng  như thế nào?

2.- Thế lực nào đã ra công rèn luyện họ và rèn luyện họ như thế nào?

3.- Những thành tích của họ đối với nhân dân, đất nước và dân tộc Việt Nam (a) trong thời trong thời nước ta nằm dưới ách thống trị bạo tàn của Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Phá- - Vatican, (b), trong thời Kháng Chiến 1945-1954, và (c) trong thời họ lãnh đạo cái “chính quyền quốc gia” này?

Trở lại việc ông Tổng Thống Da-tô Ngô Đình Diệm ủng hộ nhiệt liệt việc quân đội Mỹ tiến hành chiến dịch khai quang, hậu quả của việc làm tàn ác dã man này thật là vô cùng ghê gớm! Cho đến ngày nay, chiến tranh đã kết thúc hơn 30 (ba mươi) năm rồi, mà trong những vùng bị ảnh hưởng, rừng cây còn trụi lá, ruộng cày  và đất trồng còn nhiễm độc, con số  trẻ em sinh ra mang tật nguyền ngay từ khi mới chào đời lên tới không biết bao nhiêu ngàn. Chưa kể  tội ác làm Việt gian bán nước cho Vatican và Pháp trong thời “Trăm năm nô lệ giặc Tây”, trong đó, lúc làm tri phủ ở Hoa Đa, ông ta hăng hái truy lùng tìm bắt các nhà ái quốc, trói cột nạn nhân ngồi vào một cái ghế có khoét lỗ ở ngay chỗ hậu môn rồi đốt đèn cầy (nến) ở dưới,  tra khảo nạn nhân phải cung khai để tâng công với quan thày, chưa kể việc tổ chức đại lễ  vào tháng 2 năm 1959 để dâng nước Việt Nam cho Vatican với danh xưng là “Đức Mẹ Vô Nhiễm”, chưa kể việc phát động những chiến dịch “làm sáng danh Chúa” với danh xưng là “những chiến dịch Tố Cộng”  với tội ác đã thủ tiêu và tàn sát  tới hơn ba trăm ngàn người, và hàng rừng những tội ác khác, chỉ riêng  cái tội để cho quân đội Mỷ “rải 77 triệu lít chất độc da cam xuống miền Nam và Trung Việt Nam, gây ảnh hưởng và tác hại đến môi truờng của 2,630,000 mẫu Tây và gần 5 triệu người sống trong 35,585 thôn ấp[8]  cũng đủ cho lịch sử lên án tên “tam tứ đại Việt gian” họ Ngô này là “thiên cổ tội nhân” đối với dân tộc Việt Nam.

Mấy năm gần đây, chính quyền Việt Nam nộp đơn kiện lên tòa án chính phủ liên bang Hoa Kỳ yêu cầu cứu xét và đòi chính quyền Hoà Kỳ phải chịu trách nhiệm trong việc làm này và phải bồi thường thiệt hại cho Việt Nam và cho những nạn nhân bị tật nguyền do chất độc da cam gây ra. Đáng lý ra, là người Việt, dù là ở hải ngoại hay ở trong nước, họ cũng phải hết lòng và triệt để ủng hộ việc làm này của chính quyền Việt Nam. Thế nhưng, các cơ quan truyền thông và các hội đoàn tại các địa phương của những người tự nhận là “những người quốc gia yêu nước” lại lớn tiếng hô hào phản bác việc làm này của chính quyền Việt Nam để bảo vệ “chính nghĩa quốc gia” của họ. Rồi khi hay tin chính phủ tòa án liên bang Hoa Kỳ bác đơn kiện của chính quyền Việt Nam thì họ lại có thái độ hí hửng giống y như hồi năm 1979 khi họ hay tin 600 ngàn quân Trung Hoa vượt biên giới tràn vào lãnh thổ Việt Nam để dạy cho chính quyền Việt Nam một bài học. Thì ra “những người quốc gia chân chính yêu nước” là như vậy!

Khi đạo quân xâm lăng Pháp rút khỏi miền Bắc Việt Nam vào tháng 7 năm 1954 để rồi rút lui khỏi Việt Nam, cái “cũi chó mạ vàng” trên đây được Hòa Kỳ hứng lấy nuôi dưỡng bằng đồng tiền viện trợ Mỹ do Mỹ trực tiếp chi ra từng  tháng, từng ngày. Chính vì sự kiện này, nhân dân thế giới và các nhà viết sử mới gọi các chính quyền miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 là tay sai cho Mỹ và quân đội miền Nam Việt Nam là quân đội đánh thuê.

Tới đầu năm 1975, thấy rằng không thể tiếp tục nuôi dưỡng lũ ăn hại này nữa, Hoa Kỳ đình chỉ viện trợ, toàn bộ Tòa Thánh Vatican cùng với lũ con đẻ của “cái tôn giáo ác ôn” này tại Việt Nam là chính quyền quốc gia, chính nghĩa quốc gia và lá cờ vàng ba sọc cũng phải cuốn gói ra đi theo người Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam.

LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ
VÀ BÀI HÁT TIẾNG GỌI THANH NIÊN

Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới cũng đề cỏ quốc kỳ và quốc ca. Quốc ky và quốc ca  gần như là một cặp song sinh hay như là bóng với hình. Nhìn thấy quốc kỳ là người ta nhớ  đến quốc ca, và người nghe thấy quốc ca là người ta hình dung đến lá quốc kỳ. Thông thường quốc kỳ có trước rồi mới có quốc ca.

Thế nhưng, quốc kỳ và quốc ca của chính quyền quốc gia Việt Nam thoát thai từ Giải Pháp Bảo Đại do Liên Minh Thánh Pháp – Vatican cho ra đời vào ngày 5/6/1948 lại ở vào trường hợp  nghịch thường, nghĩa là bài quốc ca đã có trước lá quốc kỳ hơn sáu năm, giống như tính cách nghịch thường của chính quyền Bảo Đai và chính quyền Ngô Đình Diệm cũng như các chính quyền khác ở miền Nam cho đến ngày 30/4/1975. Những thành phần lãnh đạo, các viên chức cao cấp và nhân viên thừa hành, các bộ, quân đội và các tổ chức phụ thuộc của các chính phủ này đều do các thế lực ngoại bang nặn ra, được nuôi dưỡng, trả lương và trang bị bằng đồng tiền của  người ngoại bang, được bảo vệ bằng quân đội của người ngoại bang để thi hành lệnh truyền và phục vụ cho quyền lợi của người ngoại bang.

Ấy thế mà chính quyền này lại được gọi là “chính quyền quốc gia”!

Những người lãnh đạo chính quyền này là những tên Da-tô Việt gian mang quốc tịch của đế quốc Vatican “tuyệt đối tin tưởng vào Vatican” đã “đem nước Việt Nam dâng cho Vatican trong một buổi lễ được tổ chức hết sức long trọng vào tháng 2/1959[9] lại được gọi là “các nhà chí sĩ yêu nước” là “các nhà ái quốc” .  Rồi tới khi thế lực nặn ra cái chính quyền quốc gia này triệt thoái, rút ra khỏi đất nước thì toàn bộ các nhà lãnh đạo và nhân viên cao cấp của cái chính quyền nghịch thường này cũng cuốn gói ra đi chạy theo  chân quan thày ra nước ngoài sống lưu vong nuối tiếc cái thời oanh liệt  và hè nhau mưu đồ bơi ngược dòng lịch sử “rước con voi Vatican về giầy mả tổ Việt Nam” như ông cha họ đã làm hồi thế kỷ 19.

1.- VỀ BÀI HÁT TIẾNG GỌI THANH NIÊN

Quốc ca của chính quyền quốc gia do Lỉên Minh Thánh Pháp – Vatican cho ra đời là bài Tiếng gọi Thanh Niên của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sáng tác vào đầu năm 1942. Về bài hát này, ông Nguyễn Ngọc Huy ghi nhận như sau:

Bản quốc ca của chúng ta hiện nay có một lịch sử đặc biệt. Người sáng tác bản nhạc là Lưu Hữu Phước, một cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký và cựu sinh viên Viện Ðại Học Hà Nội. Nếu tôi không lầm thì bản nhạc này đã được soạn ra lúc Lưu Hữu Phước còn học ở trường Pétrus Ký. Năm 1942, anh ta là sinh viên của Viện Ðại Học Hà Nội. Thời Thế Chiến II, Viện Ðại Học này là Viện Ðại Học duy nhứt của các nước Ðông Dương. Nó có khoảng 800 sinh viên trong đó phân nửa là người Việt Nam, còn lại là người Khmer, người Lào, người Pháp và ngay cả người một số nước láng giềng như Trung Quốc và các nước Ðông Nam Á Châu.

Vì là Viện Ðại Học duy nhứt của Ðông Dương nên Viện Ðại Học Hà Nội đã họp tập tất cả sinh viên Việt Nam thời đó. Các sinh viên ái quốc gia nhập các chánh đảng cách mạng tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam đã tổ chức những tổ bí mật tại đó. Ðặc biệt Ðại Việt Quốc Dân Ðảng có đảng trưởng Trương Tử Anh và một cán bộ nồng cốt là Anh Nguyễn Tôn Hoàn học tại Viện Ðại Học Hà Nội thời Thế Chiến II. Anh Nguyễn Tôn Hoàn là người giỏi về nhạc nên được bầu làm Trưởng Ban Âm Nhạc của Tổng Hội Sinh Viên Ðông Dương (Association Générale des Eùtudiants Indochinois) và anh đã lãnh nhiệm vụ bí mật hướng dẫn các sinh viên hoạt động về văn hóa theo chiều hướng tranh đấu chống thực dân.

Chiều ngày 15 tháng 3 năm 1942, Tổng Hội Sinh Viên Ðông Dương (THSVÐD) đã tổ chức tại Ðại Giảng Ðường của Viện Ðại Học Hà Nội một buổi hát để lấy tiền giúp các bịnh nhơn nghèo của các bịnh viện được dùng làm nơi thực tập cho các sinh viên Khoa Y Dược. Các sinh viên Việt Nam đóng vai tuồng chủ động trong Tổng Hội đã quyết định nhơn cơ hội này tung ra một bản nhạc đặc biệt là Sinh Viên Hành Khúc, tên Pháp là Marche des Étudiants. Anh Nguyễn Tôn Hoàn được ủy nhiệm chọn bản nhạc dùng vào công việc đó. Lúc ấy, Lưu Hữu Phước đã đưa cho anh một số bài nhạc do anh ta soạn. Anh Nguyễn Tôn Hoàn nhận thấy rằng trong tất cả các dự thảo của Lưu Hữu Phước, bản nhạc mà chúng ta hiện dùng làm quốc thiều có tánh cách khích động tinh thần tranh đau hơn hết nên đã chọn nó làm nhạc cho Sinh Viên Hành Khúc. Sau đó, một ủy ban soạn lời ca cho bản nhạc này đã được thành lập với Ðặng Ngọc Tốt, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Phan Thanh Hòa, Hoàng Xuân Nhị.

Buổi hát chiều ngày 15 tháng 3 năm 1942 đã đưa đến những kết quả mỹ mãn và bản Sinh Viên Hành Khúc tên Pháp là Marche des Étudiants đã được chánh thức công nhận là bản nhạc của THSVÐD. Mùa hè năm đó, Tổng Hội này lại tổ chức một buổi lễ mãn khoá tại Nhà Hát Lớn Hà Nội. Lần này, có Toàn Quyền Ðông Dương và nhiều viên chức cao cap Pháp khác đến dự. Bản Sinh Viên Hành Khúc được dàn nhạc của Hải Quân Pháp trình tấu. Âm điệu hùng hồn của nó đã làm mọi ngưoi khích động và khi nó được trổi lên, tất cả mọi ngưoi tham dự lễ mãn khoá năm 1942 của Viện Ðại Học Hà Nội, kể cả các viên chức cao cấp Pháp, đều đã nghiêm chỉnh đứng dậy để chào nó. Sau đó, nó được phổ biến khắp nơi. Các sinh viên Pháp, Khmer và Lào dĩ nhiên là theo lời ca Pháp. Về phía Việt Nam thì các sinh viên chỉ lo đi học chớ không có nhiệt tâm tranh đấu chánh trị cũng chỉ biết có lời ca Pháp. Phần các sinh viên Việt Nam có nhiệt tâm tranh đấu cho nền độc lập của dân tộc thì đem ra phổ biến ở khắp cả ba kỳ trong kỳ nghỉ hè năm đó với lời ca tiếng Việt, nhứt là đoạn I nói trên đây. Vì thế, từ năm 1943, bài Sinh Viên Hành Khúc đã được người Việt Nam ở cả ba kỳ biết.”[10]

Nói về bài hát Tiếng Gọi Thanh Niên này,  ông Nguyễn Quang Minh nói rằng:

Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước làm bài hát này là để đánh Tây, đuổi Mỹ, chớ đâu để cho người miền Nam hát như con vẹt.” [11] .

2.- VỀ LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ

Nói về tác giả hay thế lực nào đã hoạ kiểu hay chế ra lá cờ vàng ba sọc đỏ, chúng tôi xin ghi lại một tài liệu nói về lá cờ này trong cuốn Tâm Thư của  cụ Đỗ Mậu với nguyên văn như sau:

“Ai là tác giả lá cờ vàng ba sọc đỏ?

Đọc trong cuốn Việt Nam Nhân Chứng của Tướng Trần Văn Đôn, ở trang 74, ông có cho biết ông đã đề nghị thay lá cờ  chữ Ly của chính phủ Trần Trọng Kim ra lá cờ vàng ba sọc đỏ.

Nhưng ai đã vẽ ra lá cờ đó?

Tình cờ tôi đọc được trong quyển: Giải Phóng: The Fall and Liberation of Saigon của Tiziano Terzani (St. Martin’s Press, New York, 1976), viết như sau:

With LeMaitre gone, relations improved between the new authorities and the Church, even the official one. Archbishop Nguyen Van Binh gave his support to Father Thi’s group and to the magazine Cong Giao va Dan Toc (“Catholics and People”), and participated along with 250 other prelates in a meeting organized at Doc Lap where members of the PRG explained their policy and reaassured the Catholics.

Binh tried to bring Monseigneur Thuan along to the meeting, but the palace told him that his presence was not needed. When I left Saigon, Thuan was rumored to be negotiating his resignation in exchange for permission to leave Vietnam.

As a first concession to the new authorities the Church agreed to participate in a joint  committee that quietly began studying the possibility of changing the wording of prayers.

“I don’t see what there is to change. Thousands of Vietnamese have gone to heaven with those prayers,” Father Tran Huu Thanh said acidly. Father Thanh had stayed in Saigon. He had not placed himself at the head of an armed band of Catholic resisters and he had not been imprisoned by the bo doi, as it was rumored after the liberation. Even he, one of the symbols of the most deepseated Catholic anti-Communism, was able to carry on with his life in the Redemptorist church on Ky Dong street. When I went to see him one Sunday in June he had just finished saying mass. The sacristy was full of people coming to confess or to ask advice, and in front of the gaudy Madonna there was the usual crowd of women praying and beggars holding out their hands.

Of all the parish priests who had fled from the North in 1954, he had been one of the most influential. An ideologue and adviser to Diem, it was who designed the “three banded” flag that flew over Saigon until the Liberation.

The three red stripes represent the three regions of Vietnam – Tonkin, Annam, and Cochin-China – but also the Trinity,” he once explained to me. (tr, 261).”

Tạm dịch:  Với sự ra đi của Khâm-sứ LeMaitre, sự liên hệ giữa chính quyền mới và Nhà Thờ sẽ tốt hơn ngay cả với giới lãnh đạo. Được sự hậu thuẫn của nhóm Linh-mục Thi và tờ báo Công Giáo và Dân Tộc, Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình cùng với 250 tu sĩ cao cấp khác đến tham dự buổi họp với các thành viên của Ủy Ban Quân Quản Sàigon tại Dinh Độc Lập để họ giải thích chính sách của họ và để trấn an những người Thiên Chúa giáo.

Đức Cha Bình cố gắng đưa Đức Cha Thuận đi theo tới chỗ họp, nhưng Ủy Ban Quân Quản Sàigon bảo rằng sự hiện diện của Đức Cha Thuận là không cần thiết. Khi tôi rời Sàigon, có tin đồn rằng Đức Cha Thuận đã thương lượng xin từ chức để đổi lấy sự ra đi khỏi Việt Nam.

Sự nhượng bộ đầu tiên với chính quyền mới là Nhà Thờ đã đồng ý cộng tác với chính quyền để xem chỗ nào có thể thay đổi được trong những lời cầu nguyện.

Linh-mục Trần Hữu Thanh chua chát nói: “Tôi không thấy cần phải thay đổi điều gì. Hàng ngàn người Việt Nam đã lên thiên đường với những lời cầu nguyện đó.”

Linh-mục Thanh ở lại Sàigon. Ông ta không chịu làm lãnh tụ nhóm Da-tô vũ trang chống chính phủ, và ông cũng không bị bộ đội bắt bỏ tù như tin đồn sau Giải Phóng. Ngay cả ông ta, một trong những biểu tượng của Da-tô giáo chống Cộng mãnh liệt nhất, vẫn có thể tiếp tục cuộc sống trong Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng.

Tôi đến gặp Linh-mục Thanh vào một ngày Chủ Nhật trong Tháng 6 (1975) khi ông vừa làm lễ xong. Nhà thờ đầy người tới xưng tội hay xin ý kiến, và ở trước tượng Đức Mẹ là đám  đông đàn bà thường hay đến đó cầu nguyện và có những người ăn mày chìa tay ra xin.

Trong số các linh mục di cư từ Bắc vào Nam năm 1954, Linh-mục Thanh là một trong số những linh mục có nhiều ảnh hưởng nhất. Vừa là một người có ý thức hệ cực đoan vừa là cố vấn cho ông Diệm, chính ông là người vẽ ra lá cờ “ba sọc” bay phất phới tại Sàigon cho đến ngày Giải Phóng. Ba sọc đó tượng trưng cho ba miền của Việt Nam: Bắc, Trung, Nam – nhưng cũng là “Ba  Ngôi” (Trinity, tam vị nhất thể, chúa cha, chúa con và Thánh thần), ông đã có lần giải nghĩa cho tôi nghe như vậy.”[12]

Dưới đây là lời nhận xét của cụ Đỗ Mậu:

“Một linh mục đã nói ra tôi tin ông không nói dối và trong giai đoạn đó nói dối được cái gì. Linh-mục Thanh còn sống. Tác giả Terzani còn sống, chúng ta có thể kiểm chứng được. Như vậy, người vẽ ra lá cờ vàng ba sọc đỏ là Linh-mục dòng Tên Trần Hữu Thanh, người chấp nhận là Quốc Trưởng Bảo Đại, ông ta là con nuôi của Khâm-sứ Jean Charles. Bảo Đại sang Pháp đi học đã ở nhà bố nuôi từ năm 1922 đến năm 1932 (Bảo Đại còn sống có thể kiểm chứng). Người ký “Pháp Qui Tạm Thời” cho thi hành treo Quốc Kỳ vàng ba sọc đỏ và bài Quốc Ca của Lưu Hữu Phước vào ngày 1/6/1948 tức là ngày 24/4 năm Mậu Tý là Thủ Tướng dân Tây Nguyễn Văn Xuân có vợ đầm, có Đổng Lý Văn Phòng Phủ Thủ Tướng là ông Tây André Bauvais - Người đề nghị lấy lá cờ vàng ba sọc đỏ thay cho cờ quẻ Ly là André Trần Văn Đôn, từng xách cặp, tức “Aide de camp” của ông Xuân.

(Lại có tin ông Nguyễn Văn Tâm, Hùm Xám Cai Lậy, cũng tự nhận là tác giả lá cờ vàng ba sọc đỏ. Lịch sự hình thành lá cờ vàng ba sọc đỏ là như thế.).” [13]

Phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy rõlá cờ vàng ba soc do chính Giáo Hội La Mã chủ động họa kiểu đưa ra với mục đích làm biểu tượng cho quyền lực của Vatican và được ngụy tạo là biểu tượng cho chính nghĩa quốc gia của “những người Việt quốc gia” để vừa làm bức bình phong che đậy cái bản chất làm tay sai cho Pháp và Vatican của cái chính quyền quốc gia này, vừa giúp cho những tên Việt gian trong hàng ngũ quan lại trong thời “trăm năm nô lệ giặc Tây” trút được cái gánh nặng mặc cảm tội ác làm Việt gian của họ, vừa lạc dẫn (đánh lừa) những người đương thời nhằm lôi cuốn họ theo phe Liên Minh Thánh Xâm Lược  Pháp – Vatican mà họ tin rằng sẽ không sợ bị mang tiếng là Việt gian phản quốc, nhất là đối với những thị dân ngây thơ và ít học.

3.- VINH DANH, BẢO VỆ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ
VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA TÍN ĐỒ DA TÔ
NHÂN DANH LÀ NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA

Là một đế quốc thực dân với kinh nghiệm nắm quyền chuyên chính toàn trị cả thần quyền lẫn thế quyền trong gần hai ngàn năm qua, Vatican có một bộ máy tuyên truyền hết sức tinh vi với kỹ thuật hết sức siêu việt và dư thừa những phương tiện để cổ võ, vinh danh và suy tôn bất cứ việc làm, tổ chức hay nhân vật nào do Vatican chủ động tạo nên, và hạ giá hay miệt thị tất cả những thế lực, việc làm hay cá nhân mà  Vatican không ưa hay thù ghét. Kỹ thuật tuyên truyền siêu việt này của Vatican này được học giả Da-tô ghi nhận trong bài viết "Mea Culpa Bài 3 - Giáo Hội Công Giáo Roma La Tinh Cáo Thú Tội Lỗi Ngàn Năm" với nguyên văn như sau:

 LỜI BẢY: Hàng ngàn năm, để bưng bít và che dấu 7 chương tội đối ngọai và 1 chương tội đối nội là tám,  nghệ thuật tuyên truyền của Giáo Hội Roma phải đạt đến chõ cực kỳ ảo diệu, thiên biến vạn hóa, một nghệ thuật tuyên truyền thần thánh, một nghệ thuật tuyên truyền nhồi sọ tuyệt vời: Giáo Hội là Thánh, Giáo Hội là Mầu Nhiệm, Giáo Hội là Bí Tích, Giáo Hội là Hiền Thê của Đức Giê-su, Giáo Hội là Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền, Giáo Hội là Vương Quốc của Thiên Chúa... Giáo Hội tự nhận cho mình hết tất cả những khái niệm cao cả thánh thiện, vừa linh thiêng siêu hình, vừa hữu hình thế tục, chẳng bỏ sót một phạm trù nào! Ngòai nghệ thuật tuyên truyền, Giáo Hội vẫn phải xây "vạn lý trường thành đức tin" và buông bức "màn sắt thần học" lên đầu đoàn chiên. Mỗi tòa giảng là một cái loa tuyên truyền, dựa vào khoa thần học phù phép, ảo thuật làm cho "núi tội thành con chuột", "kẻ cướp mặc áo thày tu" và "quỷ Satan có diện mạo ông thánh".

“LỜI TÁM: …. Thử tưởng tượng từ ngày Giám-mục Pierre Cauchon (đồng âm với con heo) thiêu sống Bà Thánh Jeanne d’ Arc, cho đến ngày Bà được phong thánh là hơn 400 năm, các tòa giảng của Giáo Hội trên khắp cõi Âu Châu phải ăn gian nói dối và vu oan giá họa cho Bà bao nhiều lần? Giết bà cũng một tay Giáo Hội, phong thánh cho Bà cũng một tay Giáo Hội, nhưng có mấy ai được may mắn như Bà. Hầu hết các trọng tội mà Giáo hội phạm tại các “Tòa  Điều Tra Dị Giáo” là tội đẻ ra tội theo cấp số cộng và cấp số nhân.” [14]     

Tài nghệ tuyên truyền và bóp méo sự thật, nhất là những sự thật lịch sử của Giáo Hội La Mã quả thật là vô cùng siêu việt. Nhờ có các nhà thờ ở khắp mọi nơi có tín đồ, Giáo Hội đã có thể biến các tòa giảng thành “những cái loa tuyên truyền”. Nhờ có khả năng hiểu biết về những khu rừng chuyện hoang đường trong khoa thần học phù phép, Giáo Hội  đã  có thể diễn trò ảo thuật làm cho những rặng núi tội ác của Giáo Hội trở thành nhỏ bé như con chuột, đã có thể biến hóao những kẻ cướp mặc áo thày tu và lũ quỷ Satan trở thành những ông thánh.  

Trong lịch sử, Giáo Hội La Mã cũng đã từng biến hóa người thiếu nữ anh hùng dân tộc của nước Pháp là bà Joan of  Arc (1412-1431) thành một con mụ phù thủy kinh tởm ghê gớm để cho có LÝ DO xử thiêu bà, rồi gần 5 thế kỷ sau cũng lại chính Giáo Hội lại biến hóa người thiếu nữ nạn nhân này thành một thánh nữ  của Giáo Hội.

Nhìn những việc làm trong quá khứ, người ta có thê luận ra những việc làm trong tương lai. Với những kinh nghiệm và khả năng về ảo thuật biến hóa mà Giáo Hội đã làm như trên, với những phương tiện và nguồn nhân lực sẵn có, tất nhiên lả ở Việt Nam vào thời kỳ từ sau năm 1945 trờ về sau, Giáo Hội có dư thừa khả năng này để biến hóa lá cờ vàng ba sọc đỏ do chính Giáo Hội nặn ra thành một lá cờ chính nghĩa biểu tượng cho chính nghĩa quốc gia của người Việt Nam theo đạo Da-tô, và  biến hóa những tín đồ Da-tô vong bản phản quốc   người Việt thành “những người Việt quốc gia chân chính yêu nước”. Bài viết “Lá cờ chính nghĩa tung bay trong Đại Hội Thế Giới Trẻ XX tại Koln, Đức Quốc 2005của Linh-mục J. Đinh Xuân Minh đề ngày 21/8/ 2005  dưới đây là bằng chúng rõ ràng nhất cho sự kiện này. Dưới đây là nguyên văn của bài viết này:

 LÁ CỜ CHÍNH NGHĨA TUNG BAY TRONG
 ÐẠI HỘI GIỚI TRẺ XX TẠI KÖLN, ÐỨC QUỐC 2005

(21.08.2005) Vì bận mục vụ, tôi không thể tham dự thánh lễ bế mạc Ðại Hội Giới Trẻ XX, được tổ chức trên sân cỏ Marienfeld ở Köln tại Đức Quốc, mà gần 800.000 thanh thiếu niên trên toàn thế giới tham dự.  Nhưng không vì vậy mà tôi bỏ lỡ cơ hội mở Tivi theo dõi Thánh Lễ. Ồ kìa!  Lá cờ chính nghĩa quốc gia, cờ vàng ba sọc đỏ, tung bay sau Vương Cung Thánh đường trên đền thánh.

Tôi rất vui mừng xúc động, khi nhìn thấy lá cờ này tung bay nơi đền thánh. Lá cờ thật lớn, tung bay phất phới sau bàn thờ, nơi Ðức Thánh Cha Bênêđicto XVI cử hành Thánh Lễ. Cờ vàng tung bay đúng vị trí chính nghĩa của nó: Cờ vàng ba sọc đỏ tượng trưng cho chính nghĩa, vì cờ vàng ba sọc đỏ tượng trưng cho sự việc bảo vệ nhân quyền, nhân phẩn và gía trị của con người Việt Nam; Cờ vàng ba sọc đỏ biểu tượng cho tình thương và tha thứ.

Ðúng vậy! Cờ vàng ba sọc đỏ có chỗ đứng chính đáng của nó nơi Vương Cung Thánh đường, nơi thánh thiện, nơi biểu tượng sự yêu thương và sự hiến dâng. Bỗng tôi chợt nghĩ: Giả sử cờ đỏ sao vàng tung bay nơi này có ý nghĩa gì? Cũng may mà cờ đỏ sao vàng không được tung bay tại đây! Vì cờ đở sao vàng tượng trưng cho sự gian ác, giả dối, lường gạt. Những người đứng sau biểu tượng này, họ tuyên truyền sự hận thù oán ghét, và cướp bóc. Vì thế, cờ đỏ sao vàng sẽ thật rất sống sượng và thật không xứng đáng để tung bay nơi thánh đường.

Bên lề đại hội:  Có người gọi điện thoại nói cho tôi biết: Có "vài thằng nhãi con của đại sứ quán Việt Cộng ở Ðức thỉnh thoảng đứng trước nhà thờ chánh tòa Köln, phất cờ đỏ sao vàng. Sau đó lại rút lui. Kiểu đánh du kích mà trước Việt Cộng thường áp dụng khi còn ở trong rừng, để khủng bố hăm dọa người dân."

Có người đến hỏi mấy "nhãi con" đánh kiểu du kích này, tại sao họ làm những điều trái ngược và ngạo ngược như vậỵ? Thì họ trả lời: "Chúng tôi cũng tin Chúa".

Nếu thật sự họ tin Chúa, thì không thể nào họ ngu xuẩn đến độ dùng cờ đỏ sao vàng làm biểu tượng cho sự hận thù, gian ác và gian dối! Thiên Chúa đâu dạy cho họ những điều này! Nếu họ tin vào Thiên Chúa, thì tại sao họ lại hãnh diện và lá cờ này?! Bản chất của người Cộng sản luôn là như thế! Họ luôn giả dối và lường gạt. Họ tự lường gạt và giả dối với chính mình, điều mà chính họ tự gây ra để mọi người khinh bỉ họ.

Lm Nguyễn Văn Lý mới đây, cũng khẳng định sự kiện quốc nạn thứ ba này, đó là dối trá xảo quyệt và lường gạt. Họ nói dối không ngượng tai, nói dối không còn biết liêm xỉ là gì. Họ nói dối từ trong ra ngoài, từ nội địa ra hải ngoại, từ trên xuống dưới, từ nhỏ đến lớn. Quốc nạn thứ ba này, do tâp thể những người Cộng sản gây ra, mà biểu tượng của họ là cờ đỏ sao vàng. Tôi cũng cám ơn các bạn trẻ đã dũng cảm làm chứng nhân cho sự thật, cho sự công chính. Ðức Chúa Giê-su có nói: Hãy chứng minh cho sự thật, mọi sự giả dối là của ma qủi! Không lẽ cờ "qủi" lại tung bay nơi vưong cung thánh đưòng thánh thiện?!

Tôi mượn lời của Thiên Chúa để nói với các bạn trẻ, khi Ngài nói cùng thánh Phê-rô, khi các môn đệ ra khơi: "Phêrô, con đừng sợ hãi. Thầy đây mà!" Và sau đó, Ðức Chúa Giê-su đã ra quyền uy của mình làm sóng biển yên lặng.

Các bạn trẻ hãy nhớ lời này của Thiên Chúa! Ngài luôn cùng đồng hành với chúng ta. Và chúng ta cũng hãy nhớ đến quyền năng của Ngài! Tôi tin chắc rằng: Thiên Chúa chưa muốn thôi. Chứ nếu Ngài muốn, thì việc gì Ngài không làm được!? Với quyền năng của Ngài, Ngài có thể làm thay đổi chế độ chính tri độc ác gian xảo ở Việt Nam hiện nay.

Trong kinh Magnifikat, chính Ðức Me Maria, đã ca ngợi và xác quyết quyền uy này của Thiên Chúa: "Ngài truất phế kẻ quyền uy cao ngạo. Và nâng cao những người khiêm nhượng biết kính sợ Ngài." (Luca 1, 46-55)

Người Cộng Sản là người vô thần. Họ cao ngạo tự kiêu tự phụ. Họ không còn biết là quyền thế của họ còn tùy thuộc vào Ðấng Tối cao. Sự ác độc không bao giờ chiến thắng sự tốt lành! Quy định bất di bất dịch này, chính Ðức Chúa Cha đã mặc khải trong sách Sáng Thế: "Một người phụ nữ, sẽ đạp đầu con rắn!"

Và lời Mạc Khải này cũng đã ứng nghiệm tại nhiều nước trên thế giới, trong thời cận đại của chúng ta, mà chính Ðức Mẹ vào ngày 13.05.1917 đã hiện ra tại Fatima, mà hứa rằng: "Trái tim Mẹ sẽ thắng." Các bạn trẻ có tin lời hứa này của Thiên Chúa không? “Ðức tin sẽ cứu con!“

Tuy thế: “Làm bởi bay, cho bởi Ta!” Chúng ta hãy làm tất cả những gì chúng ta có thể làm được. Ðiều mà tất cả chúng ta làm được là lời cầu nguyện, ăn chay và sám hối.

Tôi tin chắc, nếu nhiều người trong chúng ta thực hiện điều này, thì Thiên Chúa sẽ “cho” những kẻ vô thần gian ác xảo trá, đứng sau lá cờ đỏ sao vàng, khỏi ngụy quyền độc ác giả dối của họ.

Hãy tin, thì sẽ được chiến thắng!

Lm J. Ðinh Xuân Minh
Chúa Nhật, ngày 21. 08. 2005
Nhân Thánh lễ bế mạc Ðại Hội Giới Trẻ XX, tại Köln, Ðức Quốc.
[15]

Trên đây là bài viết của Linh-mục Đinh Xuân Minh hô hào tín đồ Da-tô người Việt tiến lên trương cao lá cờ vàng ba sọc đỏ để bảo vệ chính nghĩa quốc gia của tín đồ Da-tô người Việt mà Vatican đã cho ra đời đầu tháng 6/1948. Bản chất và hành động của lời kêu gọi này giống y như bản chất lời hô hào “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” của Linh-mục Hoàng Quỳnh hô hào giáo dân ở Sàigòn vào mùa hè năm 1964[16]. Hình thức tuy có khác nhưng nội dung vẫn là một. Bình mới rượu cũ đó thôi.

   TRIỆT ĐỂ TUÂN HÀNH LỆNH TRUYỀN
   CỦA CÁC ĐẤNG BỀ TRÊN

Chính sách nhồi sọ của Giáo Hội La Mã là phải làm thế nào cho tín đồ có những đức tính:

1.- Tuyệt đối tin tưởng vào Giáo Hội

2.- Triệt để vâng lời và thi hành lệnh truyền của các đấng bề trên, hay là phải hăng say, mau lẹ và nhiệt liệt đáp ứng những lời hô hào của đấng chủ chiên.

Lời hô hào của Linh-mục Đinh Xuân Minh trên đây là lời hô hào công khai được viết ra thành giấy trắng mực đen (văn bia), được phổ biến công khai và rộng rãi trên khắp năm châu bốn bể. Thực ra, lời hô hào trên đây là do Vatican chủ trương. Nó đã có từ khi Giáo Hội La Mã cho ra đời  chính quyền quốc gia  này và lá cờ vàng ba sọc đỏ này từ đầu tháng 6/1948. Vốn sẵn có đức tính “Phải hăng say, mau lẹ và nhiệt liệt đáp ứng những lời hô hào của đấng chủ chiên”, tất nhiên là tín đồ Da-tô người Việt ở hải ngoại cũng đã đáp ứng lời hô hào trên đây của Giáo Hội giống như những thế hệ ông cha của họ ở trong các chế độ đạo phiệt Da-tô đã hăng say tình nguyện gia nhập các đạo quân thập tự đi “mở mang nước Chúa” tại các vùng của các nhóm dân thuộc các tôn giáo hay nền văn hóa khác.

Dưới đây là một số những việc làm hay trường hợp tín đồ Da-tô người Việt đáp lời kêu gọi của các đấng bề trên của họ mang cờ vàng ba sọc đỏ đi “bảo vệ chính nghĩa quốc gia” của họ:

1.- Sự hiện diện của họ trong hàng ngũ Liên  Minh Thánh Pháp – Vatican chống lại cuộc giải phóng dân tộc trong thời Kháng Chiến 1945-1954. Sự hiện diện này của họ giống y hệt như sự hiện diện của tín đồ Da-tô người Pháp trong hàng ngũ các Liên Minh Thánh Anh – Nga – Á- - Phổ - Vatican trong thời Cách Mạng Pháp 1789 vào những năm 1792-1815.

2.- Việc họ triệt để tuân hành những lệnh truyền của Dinh Độc Lập trong thời hai ông Tổng Thống Da-tô tay sai đắc lực của Vatican  Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu.

3.-  Việc họ tổ chức và hăng say tham dự các cuộc  biểu tình chống lại chính quyền Sàigòn trong thời các ông:

a.- Dương Văn Minh (2/11/1963 – 30/1/1964),

b.- Nguyễn Khánh (30/1964 – 19/1965 – Khi ông Nguyễn Khánh lật đổ chính quyền Cách Mang 11/1/1963, thì họ hoan hô và triệt để ủng hộ. Nhưng từ khi ông Ngô Đình Cẩn bị xử bắn vào ngày 9/5/1964, thì họ quay ra chống phá và đòi lật đổ ông Khánh. (Chính thời gian này đã nẩy sinh ra khẩu hiệu “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa.”),

c.- Phan Khắc Sửu và ông Phan Huy Quát (19/2/1965 – 19/6/1966).

4.- Sự kiện họ rất sợ Vatican[17], không dám nói đến những rặng núi tội ác mà Vatican đã chống lại dân tộc và tổ quốc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử từ giữa thập niên 1780 cho đến ngày nay.

5.- Sự kiện từ ngày ra hải ngoại sinh sống, họ không bao giờ nghĩ đến danh dự và quyền lợi của dân tộc và tổ quốc Việt Nam mà chỉ nghĩ đến những quyền lợi của họ đã mất đi khi đất nước đuợc thống nhất vào ngày 30/4/1975.

6.- Việc họ chủ trương đánh phá chính quyền Việt Nam hiên nay theo sách lược “không được ăn thì đạp đổ  và “quậy cho  ao nước Việt Nam đục ngầu lên” để cho Vatican có cơ hội nhẩy vào thả câu.

7.- Sự kiện họ chống phá chính quyền hiện nay với mục đích là để phục hồi chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm được ngụy tạo bằng danh xưng “Việt Nam Cộng Hòa”, chứ không phải để thiết lập một chế độ dân chủ tự do thực sự như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Canada và các nước khác ở Âu Châu với điều khoản “Phải tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền”.

8.- Sự kiện họ lớn tiếng đòi Việt Nam phải có tự dân chủ tự do nhưng ở ngay Hoa Kỳ và Cannada Bắc Mỹ này, họ lại không tôn trọng quyền tự do dân chủ của những người Viêt bất đồng chính kiến với họ. Họ chửi bới và hạ nhục những văn nghệ sĩ từ trong nước ra hải ngoại trình diễn, chửi bới và hạ nhục những ca nhạc sĩ từ hải ngoại về nước  trình diễn và sinh sống. Họ chửi bới và hạ nhục tất cả tác giả nào có tác phẩm nói lên sự thật của lịch sử có liên hệ   tới Vatican, liên hệ tới các chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm và quân phiệt Da-tô Nguyễn Văn Thiệu.

9.- Sự kiện họ lớn tiếng đòi tự do tôn giáo cho Việt Nam, nhưng lại không tôn trọng tự do tôn giáo của những người khác. Khi có người khác tôn giáo muốn thành hôn với người yêu là con em của họ, thì họ đòi hỏi đương sự phải từ bỏ tôn giáo cổ truyền của  gia đình, phải theo học lớp giáo lý Da-tô và phải làm lễ rửa tội theo đạo rồi mới được làm lễ  thành hôn.

10.- Sự kiện hằng năm, họ tổ chức lễ giỗ linh đình ông Da-tô Ngô Đình Diệm, và bất cứ cuộc họp mặt nào, họ cũng trưng bày la liệt cờ vàng ba sọc đỏ (do Vatican sáng chế ra) ở khắp mọi nơi họ họp mặt, nhưng lại lên án, chửi bới, hạ nhục và tổ chức biểu tình để  khủng bố ông Trần Trường khi ông này trưng bày hình ông Hồ Chí Minh và lá cờ đỏ sao vàng dù là chỉ trưng bày ở trong căn phòng giao dịch buôn bán của ông ta.

11 .- Sự kiện họ đòi phải phục hồi cho Giáo Hội La Mã quyền làm chủ khối bất động sản kếch sù mà Giáo Hội đã ăn cướp của dân tộc ta trên toàn lãnh thổ từ năm 1885 cho đến năm 1945, và riêng ở miền Nam Việt Nam từ năm 1862 cho đến ngày 30/4/1975. Khối tài sàn này sẽ được trình bày ở Chương 14 trong Phần III ở sau.

12.-  Sự kiện vào năm 1995, họ  cố gắng phá thối buổi ra mắt cuốn sách Đối Thoại Với Giáo Hoàng John Paul II do anh em trong nhóm Giao Điểm tổ chức ở Westminster, California vào ngày 19/8/1995.

13.- Sự kiện một nhóm tín đồ Gia-tô do các ông Bùi Bỉnh Bân, Đòan Thế Cường và Vạn Võ Hành Khuyên dẫn đầu một nhóm tín đồ Da-tô đến chùa Việt Nam vào thượng tuần tháng 6 năm 1996 để hạch sách thày Pháp Châu về điều mà họ cho rằng nhà sư này có “thái độ thân Cộng”.

14.- Sự kiện một nhóm tín đồ Giâ-tô mưu đồ biểu tình và phá thối buổi hội thảo văn hóa của anh em văn nghệ sị Bắc Mỹ do Tiến-sĩ Vũ Ngự Chiêu và người viết tổ chức tại Seattle, Washington vào ngày 20/12/1997.

15.- Sự kiện một nhóm tín đồ Da-tô tổ  chức biểu tình và bao vây ngôi chùa Đức Viên ở San Jose khởi đầu vào buổi chiều ngày 18/5/1998 và kéo dài trong nhiều ngày, khi Đại Lão Hòa Thượng Thích Dũng từ Việt Nam qua Hoa Kỳ tham quan và lưu trú tại đây.

16.- Sự kiện họ chủ động tổ chức những cuộc biểu tình thị uy và khủng bố tinh thần ông Trần Trường chủ tiệm cho muớn băng Video tại thành phố Westminster, Califirnia trong nhiều ngày vào năm 1998 (?) khi ông này trưng hình ông Hồ Chí Minh và lá cờ đỏ sao vàng ở trong cửa tiệm của ông ta. Trong khi đó, hàng năm cứ đến ngày 1/11, tín đồ Gia-tô người Việt tại các địa phương ở Bắc Mỹ tổ chức lễ giỗ ông Da-tô Ngô Đình Diệm vô cùng rầm rộ thì chẳng có ai nói gì cả.

17.- Sự kiện vào Tháng 7 năm 2001, Bà Minh Anh Hodge, Giám đốc Chương Trình ESL, Ngoại Ngữ và Tiểu Học tại Nha Học Chánh Tacoma, Washington cũng trở thành nạn nhân của chúng chỉ vì, khi được mời thuyết trình về đề tài Người Việt Tị Nạn Ở Washington vào cuối tháng 4/2000 tại Tacoma Community College (kỷ niệm 25 năm của nguời Việt tị nạn), bà đã cho trình chiếu nhiều tấm hình về cuộc chiến Việt Nam trong đó có tấm hình Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, hình Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan đang nhắm bắn một tù nhân hai tay bị trói ké quặt lại sau lưng và hình em bé Kim Phúc bị cháy phỏng bởi bom lửa với thân hình trần truồng vừa chạy vừa khóc trong kinh hoàng. (Độc giả có thể kiểm chứng sự kiện này bằng cách tiếp xúc với bà Minh Anh Hodge hay các nhân viên trong ban giảng huấn ESL hay nhân viên văn phòng ESL và Ngoại Ngữ tại Sở Học Chánh Tacoma).

18.- Sự kiện ông Da-tô Nguyễn Xuân Tùng hai lần chỉ huy đoàn người đồng đạo mà họ gọi là Diến Đàn Kitô Hữu đến bao vây ngôi Chùa Việt Nam ở Garden Grove để khủng bố tinh thần thày Thích Pháp Châu vì rằng nhà sư này vừa là chủ bút tạp chí Hoa Sen vừa là trường ban điều hành Đài Phát Thanh Quê Hương Việt Nam: Lần thứ nhất xẩy ra vào 27/10/2002,  lần thứ hai xẩy ra vào  ngày 24/4/2004 và kéo dài tới ngày 31/5/2004 (tất cả là 55 ngày), trong đó có ngày đại lễ Phật Đản vào ngày 30 5/2004. (Độc giả có thể kiểm chứng sự kiện này bằng các tiếp xúc với thày Pháp Châu ở ngôi chùa này).

19.-   Sự kiện một số tín đồ Da-tô   biểu tình, khủng bố và mưu đồ phá thối buổi ra mắt cuốn sách Trả Ta Sông Núi của Cựu Đại Tá Phạm V. Liễu được tổ chức ở San Jose, California vào tháng 7 năm 2003.

20.- Sự kiện họ chửi bới và hạ nhục những văn nghệ sĩ trình diễn những bản nhạc hay những người sản xuất những băng nhạc mà họ cho rằng tuyên truyền cho Cộng Sản, rồi gièm pha và chửi bới cả những người ái mộ những nhạc sĩ và ca sĩ đã bị họ lên án. Từ khi cuốn băng Thúy Nga Paris 40 được phát hành vào năm 1996, nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, MC Nguyễn Cao Kỳ Duyên, các ca sĩ như Hương Lan, Ái Vân, Băng Kiều, Thanh Tuyền, Thanh Lan, Ngọc Huyền, Hồng Nhung, Trần Thu Hà, Thu Phương, Lam Trường, Phương Thanh, v.v... cũng đã trở thành nạn nhân của bọn người cuồng nô vô tổ quốc này. Tệ hại hơn nữa, cả những người ái mộ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng bị chúng ghét cay ghét đắng và bị chụp mũ là thân Cộng hay Cộng Sản nằm vùng.

21.-  Sự kiện họ chửi bới và hạ nh