Nguyễn mạnh Quang
Tìm hiểu về đạo Thiên Chúa La Mã và lịch sử thế
giới, các nhà sử học đều ghi nhận rằng, từ khi được Hoàng Đế
Constantine cho ra đời thay thế đạo Ki-tô đạo Thái (Jewish Christianity) vào
đầu thế kỷ 4, Giáo Hôi La Mã mà cơ quan đầu não là Tòa Thánh Vatican tự
phong là một thế lực duy nhất đại diện của Thiên Chúa (gọi tắt là
Chúa) ở trên trái đất này. Kể từ đó, trài qua gần hai ngàn năm, bất cứ việc gì, khi phát
ngôn cũng như khi hành động, Khi Giáo Hội cấu kết chặt chẽ với các đế quốc
Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp đem quân đi chinh phục đất đai các lục
địa ở ngoài Âu Châu làm thuộc địa, các dân tộc bản địa không biết
ông Chúa của Giáo Hội là cái gì cả, cho nên Giáo Hội không thể dùng chiêu bài “nhân danh Chúa” đối với họ. Sau một
thời gian điều nghiên, Giáo Hội quay ra sử dụng chiêu bài “nhân danh văn minh đến khai hóa các dân tộc bản địa”. Việt Trong thời Kháng Chiến 1945-1954, Giáo Hội cũng đã
cố gắng tiếp tục cao rao và sử dụng chiêu bài “Nhân danh văn minh để khai hóa người Việt
Nam” như trong bản văn đã được nêu lên ở trong Chương 7, xin ghi
lại đây một lần nữa để độc giả dễ dàng nhận thấy: "Chính sách thực
dân, dưới mắt các nhà luật học và luân lý học vẫn là một việc hợp
lý, vừa giúp ích nhân loại vừa là
hành vi nhân đạo. Chính sách thực dân giúp ích chung nhân loại mỗi khi: Một
dân tộc không đủ tài lực để khai khẩn những ruộng đất, hầm mỏ, rừng
rú mà giời (trời) đã ban cho. Một dân tộc không thể tự trị nổi cần
phải nhờ sức bảo hộ của nước ngoài... Hơn nữa chính sách thực
dân có tính cách nhân đạo ở chỗ: một cường quốc khai hóa cho một nước
mà nền văn minh còn thô sơ.” Thế nhưng, vào
thời điểm này, chiêu bài “nhân danh văn minh khai hóa người dân Việt
Nam” cũng không còn giá trị đối với ngay cả số đồng tín đồ
Da-tô người Việt. Vì thế, Giáo Hội và Liên Minh Pháp - Giải Pháp Bảo Đại do người của Giáo Hội
là cựu Linh-mục Georges Thierry d’ Argenlieu
đề xuất trước khi rời Sàigòn trở về Pháp vào ngày 15/3/1947 để giao chức vụ này cho ông Émile Bollaert Sử dụng Giải Pháp Bảo Đại có nghĩa là
dùng ông Bảo Đại “thuộc dòng chính thống
của nhà Nguyễn” làm lãnh tụ và dùng những người Việt có uy tín
nhưng bất mãn với Mặt Trận Việt Minh để thành lập một chính quyền
làm tay sai cho cả Vatican và Pháp. Đề nghị này được đưa ra vào tháng 1/1947[1].
Nó phải trải qua một thời kỳ bàn luận giữa Vatican và Pháp và thời kỳ
cho người đi móc nối với ông Da-tô Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy (Bảo Đại) lúc
bấy giờ đang lưu trú ở Hông Kông. Sau một thời gian cò cưa giữa sứ giả
Cousseau của Liên Minh Thánh Pháp – Vatican và Bảo Đại, tới cuối tháng 5
năm 1948, thì mọi việc coi như đã xong xuôi. Tuy là đã xong xuôi, nhưng Liên
Minh Thánh Pháp – Cũng vì biết rõ bộ mặt thật của cái “chính
quyền quốc gia”, biết rõ những người tham gia cái chính phủ này và biết
rõ những người tự nhận là “những người quốc gia chân chính yêu nước”,
cho nên, vào những năm 1948-1953, có rất nhiều người từ vùng Kháng Chiến
“dinh tề” (bỏ Kháng Chiến, vào vùng tề do Pháp kiểm soát), nhưng
“thà sống trong nghèo khổ, chứ nhất định không ra làm việc
cho chính quyền này. Lý do: Họ sợ sẽ mang tiếng với hậu thế là “Việt gian phản quốc.” Những người
này bị bộ máy tuyên truyền của Nhìn vào thành phần trong cái chính phủ quốc gia do
Liên Minh Thánh Vatican - Pháp Vatcian nặn
ra này và bản chất làm tay sai cho Vatican của nó, các nhà sử học thấy
nó giống y như chính phủ của
Vua Louis XVIII (1814-1824) được Liên Minh Thánh Vatican – Anh – Nga – Á - Phổ
nặn ra vào năm 1814 khi chính quyền của Hoàng Đế Napoléon I (1802-1814) bị
Liên Minh Thánh này đánh bại. Kể từ đó (ngày 5/6/1948) cho đến ngày 30/4/1975, nhờ
đã cấu kết chặt chẽ với Pháp và với Hoa Kỳ, Giáo Hội La Mã đưa mấy
tín đồ Da-tô đáng tin cậy nhất lên nắm quyền lãnh đạo chính quyền
bù nhìn này và chọn Sàigòn làm thủ đô. Để
lạc dẫn nhân dân Việt Nam cũng như
nhân dân thế giới và cũng là để trút bỏ được cái gánh nặng mặc cảm tội
ác “làm Việt gian bán nước cho
Vatican và cho Pháp” trong tâm tư tín đồ Da-tô người Việt thuộc
loại Tôn Thọ Tường, Vatican ra lệnh cho bộ máy tuyên truyền sử dụng tất
cả mọi phương tiện truyền thông (đài
phát thanh, báo chí, truyền đơn và rỉ tai trong xóm đạo) rầm rộ mở chiến
dịch đại quy mô để đánh bóng, dán
cho chính quyền bù nhìn này là “chính quyền quốc gia” và dán cho những
tên Da-tô Việt gian này cái nhãn hiệu “những
người quốc gia yêu nước chân chính”. Tiếp theo đó, Linh-mục Trần Hữu Thanh được lệnh chế
ra (họa kiểu) lá cờ vàng ba sọc đỏ để làm tiêu biểu cho “chính nghĩa quốc gia”, rồi “cuỗm”
bài “Tiếng Gọi Thanh Niên” của
nhạc sĩ Lưu Hữu Phước làm quốc ca.
Giải pháp này là chủ trương của Giáo Hội La Mã.
Đây là một chiến công lớn trong chính sách chia để trị của Vatican và
cũng là một đối sách với mục đích
lấn át chính quyền Pháp để Vatican giành lấy thế ưu thắng trên sân khấu
chính trị tại Việt Thế nhưng, phe thực dân Pháp cũng không vừa. Biết
rằng “Giải Pháp Bảo Đại” là một kế sách của Vatican để lấn chiếm,
vơ vào và tăng cường quyền lực chính trị cho Vatican và gây bất lợi
cho Pháp, người Pháp bèn đưa ra quyết định chỉ cho Việt Nam ăn bánh vẽ độc lập và khăng khăng nhấn
mạnh rằng các quốc gia Đông Dương phải nằm trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp. Cái bánh vẽ độc lập cho Việt “Đại cương Thỏa Ước 8/3/1949: Pháp thừa
nhận Việt Nam có tổ chức hành chánh riêng, Tư Pháp riêng, Tài Chánh
riêng , Quân Đội riêng, và có quyền liêc lạc ngoại giao với các Đông
Nam Á. Pháp sẽ ủng hộ Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc. Việt Nam hứa sẽ
tôn trọng quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp cho Pháp sử dụng các
căn cứ quân sự; Việt Nam thuân tổ chức những cơ quan chung với các Quốc
Gia Liên Kết Mên, Lào; cử đại diện vào Hội Nghị Liên Hiệp Pháp và Thượng
Hội Đồng Liên Hiệp Pháp. Cao Ủy Pháp tại Đông
Dương sẽ đóng vai trọng tài giữa các Quốc Gia Liên Kết (États
Associés). Nam Kỳ sẽ định đoạt số phận nêu muốn gia nhập Việt Nam.”[2] Chính vì lời hứa rỗng tuếch trên đây mà các
nhà viết sử mới ghi nhận Pháp đã cho chính quyền quốc gia của ong Bảo
Đại ăn bánh về độc lập bằng cái
Thỏa Ước Élysée 8/3/1949. Cũng chính vì nó là bánh vẽ, cho nên ngay sau
khi quân đội Liên Minh Pháp- Vatican bị đại bại tại Điên Phủ vào ngày
7/5/1954, Pháp phải yêu cầu Hoa Kỳ can thiệp vào Đông Dương nhờ đó
Pháp có thể thương thuyết với chính quyền Kháng Chiến Việt Nam để triệt
thoái khỏi Việt Nam trong danh dự. Thừa cơ hội này, Hoa Kỳ mới ép Pháp phải trao trả độc lập
thực sự cho Việt Nam, và Pháp đã đồng ý với Hoa Kỳ. Vì thế mới
có Thoả Ước 4/6/1954.[3] Trở lại chuyện Việt “Khi nhà học giả
Trần Trọng Kim xách chiếc va ly từ “Lúc tôi tới
nhà hàng “Ngài” trọ, hỏi được số phòng ngài ở, tôi vội vã leo
thang chân lên lầu, vì thang máy đông người đợi. Ngài đương đánh “mặt
chược” ở phòng bên, mình trần trùng trục. Ngài thấy tôi, liếc mắt
ra hiệu, bảo cứ vào ngồi đợi trong phòng ngài. Ý hẳn ngài không muốn
cho ai biết hành tung chăng?” Có người bào
ông Bảo Đại đánh “mặt chược” cao lắm, nên khi ở Hương Cảng “hoạnh
tài” giúp ông đỡ túng. Điều đó không biết có thực không, nhưng tôi
được biết ông Bảo Đại đã có lúc phải cầm cố, bán chác cả đồ dùng
để lấy tiền ăn. Một số người “tòng vong” lẻ tẻ như các ông Đặng
Văn Sung, Đỗ Đình Đạo, Bùi Diễm, v.v… đều bữa nhịn, bữa ăn.. Đến cuối năm 1947, thời cuộc xoay chuyển, thực dân
Pháp lại dùng ông Bảo Đại làm một con cờ! Tại Bắc Việt, một viên
quan cai trị cũ, tên Cousseau được thực dân giao phó chức vụ điều động
các chính khách và chính đảng để tôn ông Bảo Đại làm Quốc Trưởng.
Ông Mao Trach Đông đánh ông Tưởng Giới Thạch càng mạnh, thì thực dân
Pháp càng hoạt động dữ, để mau mau nắm trọn quyền điều động Việt
Nam, kẻo lỡ ra Việt Minh được Cộng Sản Tàu giúp thì thêm khó - một
khi đảng này làm chủ lục địa Trung Quốc. Vì thế, Cousseau luôn luôn tiếp
xúc với Hoàng Đế lưu vong Bảo Đại tại Hương Cảng. Các chính khách
Việt Nam “đánh hơi” thấy mùi, liền đổ xô tới. Giữa Việt Nam và Hương
Cảng thuộc địa của Anh, phi cơ và tầu thủy chở các chánh khách Việt Một chánh phủ lâm thời được thành lập
vào năm 1948. Thủ Tướng là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân, một võ quan
pháo binh kỳ tài, người Việt, quốc tịch Pháp. Chức Thủ Hiến Trung Phần
và Nam Phần lọt vào tay hai ông Phan Văn
Giáo và Trần Văn Hữu, còn chức Tổng Trấn Bắc Phần vào tay ông Nghiêm
Xuân Thiện. Ông Bảo Đại được tháo khoán. Nhưng có lẽ số tiền
Pháp thực dân tháo khoán cho ông Bảo Đại không được rộng rãi lắm,
thành thử các vị cao cấp trong chính phủ trung ương tạm thời tháng
tháng trích một số tiền ở quỹ đen ra gửi cho ông Bảo Đại như sau:
Còn Thủ Hiến Phan Văn Giáo bao nhiêu không biết.
“Thị Trường” bán quan mua tước tại Việt Ông Bảo Đại nằm tại Hồng Kông, cho nguyên
Thủ Tướng Trần Trọng Kim về tiếp xúc với Cao Ủy Pháp tại Sàigòn. Cụ
Kim kể lại đoạn này với tôi, lúc tôi từ Hà Nội vào thăm cụ ở Nam
Vang, đường Lasana số 4: “Tôi trở về nước có nhiệm vụ dọ dẫm xem
Pháp có thật tình không, nghĩa là có cho Việt Nam tự do, độc lập thật
sự như trong khối thịnh vượng chung của Anh không? (commonwealth). Tôi gặp
ông Cao Ủy ở Sàigòn. Sau một giờ chuyện trò, tôi biết rõ cái dã tâm của
thực dân! Liên Hiệp Pháp chỉ là một thứ cái cũi chó mạ vàng!
Ông Cao Ủy, lúc tiễn tôi ra cửa, có nhã ý, muốn nhân danh chính phủ
Pháp giúp tôi một số tiền mở nhà in, để theo đuổi con đường văn hóa.
Tôi cảm ơn, không nhận! Cũng tiền của dân Việt Nam, chứ tiền đâu của
Pháp! Hồi Nhật đầu hàng Đồng Minh, các cố vấn Nhật biếu tôi một
lúc cả 50 triệu để làm vốn mở mang văn hóa, tôi cũng kiếu, huống hồ
của thực dân.”[4]
Bản văn trên đây cho chúng
ta cái nhìn chính xác về thực chất của “chính quyền quốc gia” và nhân vật lãnh đạo đầu tiên của chính
quyền này là ông Da-tô Vĩnh Thụy tức cựu “Hoàng Bào Đại. Nhân vật thứ hai lãnh đạo chính quyền quốc gia
này là ông Da-tô Ngô Đình Diệm.
Nhân vật này được Giáo Hội La Mã và tín đồ Da-tô người Việt thuộc
loại “thà mất nước, chứ không thà mất
Chúa” đán h bóng kỹ nhất. Bằng chứng rõ ràng nhất là trong thời
ông này còn cầm quyền (1954-1963), tín đồ Da-tô người Việt được nhồi
sọ bằng khẩu hiệu “Nhất Chúa, nhì cha,
thứ ba Ngô Tổng Thống.”[5] Sau khi Ngô
Đình Diệm đền tội vào sáng ngày 2/11/1953,
và khi đưa được ông Da-tô Nguyễn Văn Thiệu lên nắm quyền
thiết lập “chế độ Diệm không Diệm” vào năm 1967, bộ máy tuyên truyền
của Giáo Hội La Mã và các văn nô, sử nô Da-tô lớn tiếng tôn vinh ông
Da-tô này là “nhà ái quốc Ngô Đình Diệm
đã hy sinh vì nước” và cho ra đời
cái gọi là “Phong Trào Phục
Hưng Tinh Thần Ngô Đình Diệm.” Kể
từ đó, những cụm từ quái đản này liên tục được phổ biến theo sách
lược “Tăng Sâm giết người” và “Cả vú lấp miệng em” ở miền Nam Việt
Nam cho đến cuối tháng 4/1975 và ở hải ngoại từ mùa hè năm 1975 cho đến
ngày nay. Vì lý do này, thiết nghĩ rằng
chúng ta cần phải tìm hiểu tiểu sử và thành tích của nhân vật Da-tô họ
Ngô này cho đến nơi đến chốn. Vể tiểu sử hay cuộc đời
của ông Da-tô Ngô Đình Diệm từ thuở mới chào đời cho đến khi được
Vatican và Hoa Kỳ đưa về cầmn quyền ở Việt Nam, theo người viết thì
các cuốn sách sau đây đều có ghi rõ đầy
đủ: 1.- Việt Nam: A Dragon
Embatllled của sử gia Joseph Buttinger
(New York: Frederick A. Praeger, 1967), nơi các trang 1253-1257 nói về tiểu sử,
các trang 846-851 nói về việc Vatican đưa ông ta sang Mỹ trao cho Hồng Y
Spellman vận động chính giới Hoa Kỳ đưa ông ta về Việt Nam cầm quyền,
và các trang 934-935 nói về con người và bản
chất ưa thích sử dụng bạo lực của ông ta. 2.- Fire In The Lake của sử
gia Frances FitzGerald (New York: Vintage Books, 1972), nơi các trang 123-127 nói về
cái bản chất cuồng tín đuợc Giáo Hội La Mã rèn luyện và tinh thân hăng
hái thi hành những chỉ thị của Hoa Kỳ.
3.- The Two Vietnams của gia Bernard B. Fall (New York : Frederick A.
Praeger, 1964), nơi các trang 235-257 nói về thân thế, đặc tính cuồng tín, quan niệm về chính
quyền và cung cách hành xử việc nước của ông Ngô Đình Diệm. 4.- Việt Nam Niên Biểu Nhân
Vật Chí của sử gia Vũ Ngự Chiêu dưới bút hiệu là Chính Đạo (Houston,
TX: Văn Hóa, 1997) nơi các trang 262-306, nói rõ đầy đủ những chi tiết về
cuộc đời của ông Da-tô này từ thuở ông này mới chào đến ngày chiều
tối ngày 1/11/1963. 5.- Bài viết “Ngô Đình Diệm là ai?” của Chính
Đạo viết ngày đăng trong www.chuyenluan.com
tháng 11/2004. 6.- Bài viết “Xin Bạn Đồng
Nghiệp Thận Trọng Ngòi Bút” của cụ An Khê Nguyễn Bính Thinh viết vào
tháng 8/1994, đăng lại nơi các trang 325-334 trong cuốn Tài Liệu Soi Sáng Sự
Thật Tập Hai của cụ Lê Hữu Dản
(Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1996) 7.- Việt Nam Máu Lửa Quê Hương
Tôi của Cụ Đỗ Mậu (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1993), nơi các trang 87-95,
nói rõ lộ trình của Ngô Đình Diệm được ông Giám-mục Ngô Đình Thục
trình diện các nhân vật có thế lực của Giáo hội La Mã và của Hoa Kỳ
từ tháng 8/1950 cho đến ngày 26/6/1954 được đưa lên máy nay bay về
Saigòn chuẩn bị nhận chức thủ trường chính phủ quốc gia dưới quyền
lãnh đạo của ông Da-tô Bảo Đại. Ở đây, người viết xin ghi
nhận, riêng về ông Bảo Đại, sử
gia Joseph Buttinger gọi ông này là một “playboy”
với nguyên văn như sau: “Đòi hỏi của Bảo Đại làm cho người Pháp
ngạc nhiên. Họ coi họ chỉ là một tên ăn chơi đàng điếm.” “Bao Dai’s demands came as a surprise to the Frenchmen
who looked upon him as nothing but a playboy.”[6]
Theo các chứng nhân cho biết
và các sách sử đều ghi nhận rằng ông Ngô Đình Diệm vốn là con một
gia đình đã có tới ba đời nối tiếp nhau làm Việt gian bán nước cho cả
Vatican lẫn Pháp, và chính bản thân ông ta còn có thành tích bán nước, làm
tay sai cho cả Vatican, cho Pháp và mưu toan làm tay sai cho Nhật nữa. Năm
1954, ông ta được Hoa Kỳ và Vatican đưa về Việt “Ngày 30/11/1961, Tổng
Thống John F. Kennedy phê chuẩn cho quân đội Mỹ tiến hành chiến dịch
khai quang đồng cỏ Việt Còn ông Da-tô Nguyễn Văn Thiệu,
vì là người “theo đạo để tạo danh đời”,
ta có thể nói là ông ta thông minh và khôn hơn hai ông Da-tô Bảo Đại và
Ngô Đình Diệm, nhưng về bản chất vong bản, phản quốc và phản dân tộc
thì cũng giống như hai ông Da-tô Bảo Đại và Ngô Đình Diệm. Để làm sáng tỏ
vấn đề này, độc giả hãy tìm đọc tiểu sử của ba nhân vật Da-tô
lãnh đạo lâu dài nhất cái “chính
quyền quốc gia” này từ khi được
thế lực ngoại cường cho ra đời cho đến ngày rã đám để biết: 1.- Con người của họ sinh
ra, lớn lên, được nuôi dưỡng như
thế nào? 2.- Thế lực nào đã ra công
rèn luyện họ và rèn luyện họ như thế nào? 3.- Những thành tích của họ
đối với nhân dân, đất nước và dân tộc Việt Nam (a) trong thời trong
thời nước ta nằm dưới ách thống trị bạo tàn của Liên Minh Đế Quốc
Thực Dân Phá- - Vatican, (b), trong thời Kháng Chiến 1945-1954, và (c) trong thời
họ lãnh đạo cái “chính quyền quốc gia”
này? Trở lại việc ông Tổng Thống
Da-tô Ngô Đình Diệm ủng hộ nhiệt liệt việc quân đội Mỹ tiến hành
chiến dịch khai quang, hậu quả của việc làm tàn ác dã man này thật là
vô cùng ghê gớm! Cho đến ngày nay, chiến tranh đã kết thúc hơn 30 (ba
mươi) năm rồi, mà trong những vùng bị ảnh hưởng, rừng cây còn trụi
lá, ruộng cày và đất trồng còn nhiễm
độc, con số trẻ em sinh ra mang tật
nguyền ngay từ khi mới chào đời lên tới không biết bao nhiêu ngàn. Chưa kể tội
ác làm Việt gian bán nước cho Vatican và Pháp trong thời “Trăm năm nô lệ giặc Tây”, trong đó,
lúc làm tri phủ ở Hoa Đa, ông ta hăng hái truy lùng tìm bắt các nhà ái quốc,
trói cột nạn nhân ngồi vào một cái ghế có khoét lỗ ở ngay chỗ hậu
môn rồi đốt đèn cầy (nến) ở dưới, tra
khảo nạn nhân phải cung khai để tâng công với quan thày, chưa kể việc tổ chức đại lễ vào tháng 2 năm 1959 để dâng nước Việt
Nam cho Vatican với danh xưng là “Đức Mẹ Vô Nhiễm”, chưa kể việc phát động những chiến dịch
“làm sáng danh Chúa” với danh xưng
là “những chiến dịch Tố Cộng” với tội ác đã thủ tiêu và tàn sát tới hơn ba trăm ngàn người, và hàng rừng
những tội ác khác, chỉ riêng cái tội để cho quân đội Mỷ “rải 77 triệu lít chất độc da cam xuống
miền Nam và Trung Việt Nam, gây ảnh hưởng và tác hại đến môi truờng của
2,630,000 mẫu Tây và gần 5 triệu người sống trong 35,585 thôn ấp”[8] cũng đủ cho lịch sử lên án tên “tam tứ đại Việt gian” họ Ngô
này là “thiên cổ tội nhân” đối
với dân tộc Việt Nam. Mấy năm gần đây, chính quyền
Việt Nam nộp đơn kiện lên tòa án chính phủ liên bang Hoa Kỳ yêu cầu cứu
xét và đòi chính quyền Hoà Kỳ phải chịu trách nhiệm trong việc làm
này và phải bồi thường thiệt hại cho Việt Nam và cho những nạn nhân bị
tật nguyền do chất độc da cam gây ra. Đáng lý ra, là người Việt, dù
là ở hải ngoại hay ở trong nước, họ cũng phải hết lòng và triệt để
ủng hộ việc làm này của chính quyền Việt Khi đạo quân xâm lăng Pháp
rút khỏi miền Bắc Việt Nam vào tháng 7 năm 1954 để rồi rút lui khỏi Việt Nam, cái “cũi chó mạ vàng” trên đây được
Hòa Kỳ hứng lấy nuôi dưỡng bằng đồng tiền viện trợ Mỹ do Mỹ trực
tiếp chi ra từng tháng, từng ngày. Chính vì sự kiện này, nhân dân thế giới
và các nhà viết sử mới gọi các
chính quyền miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 là tay sai cho Mỹ và
quân đội miền Nam Việt Nam là quân đội đánh thuê. Tới đầu năm 1975, thấy rằng
không thể tiếp tục nuôi dưỡng lũ ăn hại này nữa, Hoa Kỳ đình chỉ
viện trợ, toàn bộ Tòa Thánh Vatican cùng với lũ con đẻ của “cái tôn giáo ác ôn” này tại Việt
Nam là chính quyền quốc gia, chính nghĩa quốc gia và lá cờ vàng ba sọc cũng
phải cuốn gói ra đi theo người Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam.
Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới cũng
đề cỏ quốc kỳ và quốc ca. Quốc ky và quốc ca gần như là một cặp song sinh hay như là
bóng với hình. Nhìn thấy quốc kỳ là người ta nhớ đến quốc ca, và người nghe thấy quốc
ca là người ta hình dung đến lá quốc kỳ. Thông thường quốc kỳ có
trước rồi mới có quốc ca. Thế nhưng, quốc kỳ và quốc ca của chính quyền
quốc gia Việt Nam thoát thai từ Giải Pháp Bảo Đại do Liên Minh Thánh
Pháp – Vatican cho ra đời vào ngày 5/6/1948 lại ở vào trường hợp nghịch thường,
nghĩa là bài quốc ca đã có trước lá quốc kỳ hơn sáu năm, giống như tính cách nghịch thường của chính quyền
Bảo Đai và chính quyền Ngô Đình Diệm cũng như các chính quyền khác ở
miền Nam cho đến ngày 30/4/1975. Những thành phần lãnh đạo, các viên chức
cao cấp và nhân viên thừa hành, các bộ, quân đội và các tổ chức phụ
thuộc của các chính phủ này đều do các thế lực ngoại bang nặn ra,
được nuôi dưỡng, trả lương và trang bị bằng đồng tiền của người ngoại bang, được bảo vệ bằng
quân đội của người ngoại bang để thi hành lệnh truyền và phục vụ
cho quyền lợi của người ngoại bang. Ấy thế mà chính quyền này lại được gọi là
“chính quyền quốc gia”! Những người lãnh đạo chính quyền này là những
tên Da-tô Việt gian mang quốc tịch
của đế quốc Vatican “tuyệt đối tin
tưởng vào Vatican” đã “đem nước
Việt Nam dâng cho Vatican trong một buổi lễ được tổ chức hết sức long
trọng vào tháng 2/1959”[9]
lại được gọi là “các nhà chí sĩ yêu
nước” là “các nhà ái quốc”
. Rồi tới khi thế lực nặn ra cái
chính quyền quốc gia này triệt thoái, rút ra khỏi đất nước thì toàn bộ
các nhà lãnh đạo và nhân viên cao cấp của cái chính quyền nghịch thường
này cũng cuốn gói ra đi chạy theo chân
quan thày ra nước ngoài sống lưu vong nuối tiếc cái thời oanh liệt và hè nhau mưu đồ bơi ngược dòng lịch
sử “rước con voi Vatican về giầy mả
tổ Việt Nam” như ông cha họ đã làm hồi thế kỷ 19. 1.- VỀ BÀI HÁT TIẾNG GỌI THANH NIÊN Quốc ca của chính quyền quốc gia do Lỉên Minh
Thánh Pháp – “Bản quốc
ca của chúng ta hiện nay có một lịch sử đặc biệt. Người sáng tác bản
nhạc là Lưu Hữu Phước, một cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký
và cựu sinh viên Viện Ðại Học Hà Nội. Nếu tôi không lầm thì bản nhạc
này đã được soạn ra lúc Lưu Hữu Phước còn học ở trường Pétrus
Ký. Năm 1942, anh ta là sinh viên của Viện Ðại Học Hà Nội. Thời Thế
Chiến II, Viện Ðại Học này là Viện Ðại Học duy nhứt của các nước
Ðông Dương. Nó có khoảng 800 sinh viên trong đó phân nửa là người Việt
Nam, còn lại là người Khmer, người Lào, người Pháp và ngay cả người một
số nước láng giềng như Trung Quốc và các nước Ðông Nam Á Châu. Vì là Viện Ðại
Học duy nhứt của Ðông Dương nên Viện Ðại Học Hà Nội đã họp tập tất cả sinh viên Việt Chiều
ngày 15 tháng 3 năm 1942, Tổng Hội Sinh Viên Ðông Dương (THSVÐD) đã tổ chức
tại Ðại Giảng Ðường của Viện Ðại Học Hà Nội một buổi hát để
lấy tiền giúp các bịnh nhơn nghèo của các bịnh viện được dùng làm nơi
thực tập cho các sinh viên Khoa Y Dược. Các sinh viên Việt Nam đóng vai tuồng
chủ động trong Tổng Hội đã quyết định nhơn cơ hội này tung ra một bản
nhạc đặc biệt là Sinh Viên Hành Khúc, tên Pháp là Marche des Étudiants. Anh
Nguyễn Tôn Hoàn được ủy nhiệm chọn bản nhạc dùng vào công việc đó.
Lúc ấy, Lưu Hữu Phước đã đưa cho anh một số bài nhạc do anh ta soạn.
Anh Nguyễn Tôn Hoàn nhận thấy rằng trong tất cả các dự thảo của Lưu
Hữu Phước, bản nhạc mà chúng ta hiện dùng làm quốc thiều có tánh
cách khích động tinh thần tranh đau hơn hết nên đã chọn nó làm nhạc
cho Sinh Viên Hành Khúc. Sau đó, một ủy ban soạn lời ca cho bản nhạc này
đã được thành lập với Ðặng Ngọc Tốt, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng,
Phan Thanh Hòa, Hoàng Xuân Nhị. “Buổi hát chiều
ngày 15 tháng 3 năm 1942 đã đưa đến những kết quả mỹ mãn và bản Sinh
Viên Hành Khúc tên Pháp là Marche des Étudiants đã được chánh thức công
nhận là bản nhạc của THSVÐD. Mùa hè năm đó, Tổng Hội này lại tổ chức
một buổi lễ mãn khoá tại Nhà Hát Lớn Hà Nội. Lần này, có Toàn Quyền
Ðông Dương và nhiều viên chức cao cap Pháp khác đến dự. Bản Sinh Viên
Hành Khúc được dàn nhạc của Hải Quân Pháp trình tấu. Âm điệu hùng hồn
của nó đã làm mọi ngưoi khích động và khi nó được trổi lên, tất cả
mọi ngưoi tham dự lễ mãn khoá năm 1942 của Viện Ðại Học Hà Nội, kể
cả các viên chức cao cấp Pháp, đều đã nghiêm chỉnh đứng dậy để chào
nó. Sau đó, nó được phổ biến khắp nơi. Các sinh viên Pháp, Khmer và
Lào dĩ nhiên là theo lời ca Pháp. Về phía Việt Nói về bài hát Tiếng Gọi Thanh Niên này, ông Nguyễn Quang Minh nói rằng: “Nhạc sĩ Lưu Hữu
Phước làm bài hát này là để đánh Tây, đuổi Mỹ, chớ đâu để cho
người miền 2.- VỀ LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ Nói về tác giả hay thế lực nào đã hoạ kiểu
hay chế ra lá cờ vàng ba sọc đỏ, chúng tôi xin ghi lại một tài liệu
nói về lá cờ này trong cuốn Tâm Thư của cụ
Đỗ Mậu với nguyên văn như sau: “Ai là tác giả lá cờ vàng ba sọc đỏ? Đọc trong cuốn Việt Nam Nhân Chứng của Tướng Trần
Văn Đôn, ở trang 74, ông có cho biết ông đã đề nghị thay lá cờ chữ Ly của chính phủ Trần Trọng Kim ra
lá cờ vàng ba sọc đỏ. Nhưng ai đã vẽ ra lá cờ đó? Tình cờ tôi đọc được trong quyển: Giải Phóng:
The Fall and Liberation of With LeMaitre gone,
relations improved between the new authorities and the Church, even the official one.
Archbishop Nguyen Van Binh gave his support to Father Thi’s group and to the magazine
Cong Giao va Dan Toc (“Catholics and People”), and participated along with 250 other
prelates in a meeting organized at Doc Lap where members of the PRG explained their policy
and reaassured the Catholics. Binh tried to bring
Monseigneur Thuan along to the meeting, but the palace told him that his presence was not
needed. When I left Saigon, Thuan was rumored to be negotiating his resignation in
exchange for permission to leave As a first concession
to the new authorities the Church agreed to participate in a joint committee that quietly began studying the
possibility of changing the wording of prayers. “I don’t see what
there is to change. Thousands of Vietnamese have gone to heaven with those prayers,” Father Tran Huu Thanh said acidly.
Father Thanh had stayed in Of all the parish
priests who had fled from the North in 1954, he had been one of the most influential. An
ideologue and adviser to Diem, it was who designed the “three banded” flag that
flew over “The three red
stripes represent the three regions of Vietnam – Tonkin, Annam, and Cochin-China
– but also the Trinity,” he once explained to me. (tr, 261).” Tạm dịch: Với sự
ra đi của Khâm-sứ LeMaitre, sự liên hệ giữa chính quyền mới và Nhà Thờ
sẽ tốt hơn ngay cả với giới lãnh đạo. Được sự hậu thuẫn của nhóm
Linh-mục Thi và tờ báo Công Giáo và Dân Tộc, Tổng Giám Mục Nguyễn Văn
Bình cùng với 250 tu sĩ cao cấp khác đến tham dự buổi họp với các
thành viên của Ủy Ban Quân Quản Sàigon tại Dinh Độc Lập để họ giải
thích chính sách của họ và để trấn an những người Thiên Chúa giáo. Đức Cha Bình cố
gắng đưa Đức Cha Thuận đi theo tới chỗ họp, nhưng Ủy Ban Quân Quản
Sàigon bảo rằng sự hiện diện của Đức Cha Thuận là không cần thiết.
Khi tôi rời Sàigon, có tin đồn rằng Đức Cha Thuận đã thương lượng
xin từ chức để đổi lấy sự ra đi khỏi Việt Sự nhượng bộ
đầu tiên với chính quyền mới là Nhà Thờ đã đồng ý cộng tác với
chính quyền để xem chỗ nào có thể thay đổi được trong những lời cầu
nguyện. Linh-mục Trần Hữu
Thanh chua chát nói: “Tôi không thấy cần phải thay đổi điều gì. Hàng
ngàn người Việt Linh-mục Thanh ở
lại Sàigon. Ông ta không chịu làm lãnh tụ nhóm Da-tô vũ trang chống chính
phủ, và ông cũng không bị bộ đội bắt bỏ tù như tin đồn sau Giải Phóng.
Ngay cả ông ta, một trong những biểu tượng của Da-tô giáo chống Cộng
mãnh liệt nhất, vẫn có thể tiếp tục cuộc sống trong Nhà Thờ Dòng
Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng. Tôi đến gặp
Linh-mục Thanh vào một ngày Chủ Nhật trong Tháng 6 (1975) khi ông vừa làm lễ
xong. Nhà thờ đầy người tới xưng tội hay xin ý kiến, và ở trước tượng
Đức Mẹ là đám đông đàn bà thường
hay đến đó cầu nguyện và có những người ăn mày chìa tay ra xin. Trong số các linh
mục di cư từ Bắc vào Nam năm 1954, Linh-mục Thanh là một trong số những
linh mục có nhiều ảnh hưởng nhất. Vừa là một người có ý thức hệ
cực đoan vừa là cố vấn cho ông Diệm, chính ông là người vẽ ra lá
cờ “ba sọc” bay phất phới tại Sàigon cho đến ngày Giải Phóng. Ba
sọc đó tượng trưng cho ba miền của Việt Nam: Bắc, Trung, Nam – nhưng cũng là “Ba Ngôi” (Trinity, tam vị nhất thể, chúa
cha, chúa con và Thánh thần), ông đã có lần giải nghĩa cho tôi nghe như vậy.”[12] Dưới đây là lời nhận xét của cụ Đỗ Mậu: “Một linh mục
đã nói ra tôi tin ông không nói dối và trong giai đoạn đó nói dối được
cái gì. Linh-mục Thanh còn sống. Tác giả Terzani còn sống, chúng ta có thể
kiểm chứng được. Như vậy, người vẽ ra lá cờ vàng ba sọc đỏ là
Linh-mục dòng Tên Trần Hữu Thanh, người chấp nhận là Quốc Trưởng Bảo
Đại, ông ta là con nuôi của Khâm-sứ Jean Charles. Bảo Đại sang Pháp đi học
đã ở nhà bố nuôi từ năm 1922 đến năm 1932 (Bảo Đại còn sống có
thể kiểm chứng). Người ký “Pháp Qui Tạm Thời” cho thi hành treo Quốc
Kỳ vàng ba sọc đỏ và bài Quốc Ca của Lưu Hữu Phước vào ngày 1/6/1948
tức là ngày 24/4 năm Mậu Tý là Thủ Tướng dân Tây Nguyễn Văn Xuân có vợ
đầm, có Đổng Lý Văn Phòng Phủ Thủ Tướng là ông Tây André Bauvais - Người
đề nghị lấy lá cờ vàng ba sọc đỏ thay cho cờ quẻ Ly là André Trần
Văn Đôn, từng xách cặp, tức “Aide de camp” của ông Xuân. (Lại có tin ông Nguyễn
Văn Tâm, Hùm Xám Cai Lậy, cũng tự nhận là tác giả lá cờ vàng ba sọc
đỏ. Lịch sự hình thành lá cờ vàng ba sọc đỏ là như thế.).” [13] Phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy rõ “lá cờ
vàng ba soc” do chính Giáo Hội
La Mã chủ động họa kiểu đưa ra với mục đích làm biểu tượng cho quyền lực của Vatican và
được ngụy tạo là biểu tượng cho “chính
nghĩa quốc gia” của “những
người Việt quốc gia” để vừa làm bức bình phong che đậy cái
bản chất làm tay sai cho Pháp và Vatican của cái chính quyền quốc gia này,
vừa giúp cho những tên Việt gian trong hàng ngũ quan lại trong thời
“trăm năm nô lệ giặc Tây”
trút được cái gánh nặng mặc cảm tội ác làm Việt gian của họ, vừa
lạc dẫn (đánh lừa) những người đương thời nhằm lôi cuốn họ
theo phe Liên Minh Thánh Xâm Lược Pháp
– Vatican mà họ tin rằng sẽ không sợ bị mang tiếng là Việt gian phản
quốc, nhất là đối với những thị dân ngây thơ và ít học.
Là một đế quốc thực dân với kinh nghiệm nắm
quyền chuyên chính toàn trị cả thần quyền lẫn thế quyền trong gần hai
ngàn năm qua, Vatican có một bộ máy tuyên truyền hết sức tinh vi với kỹ
thuật hết sức siêu việt và dư thừa những phương tiện để cổ võ,
vinh danh và suy tôn bất cứ việc làm, tổ chức hay nhân vật nào do Vatican
chủ động tạo nên, và hạ giá hay miệt thị tất cả những thế lực,
việc làm hay cá nhân mà Vatican không
ưa hay thù ghét. Kỹ thuật tuyên truyền siêu việt này của Vatican này được
học giả Da-tô ghi nhận trong bài viết "Mea
Culpa Bài 3 - Giáo Hội Công Giáo Roma La Tinh Cáo Thú Tội Lỗi Ngàn Năm"
với nguyên văn như sau: LỜI BẢY: Hàng ngàn năm, để bưng bít và che
dấu 7 chương tội đối ngọai và 1 chương tội đối nội là tám, nghệ thuật tuyên truyền của Giáo Hội
Roma phải đạt đến chõ cực kỳ ảo diệu, thiên biến vạn hóa, một nghệ
thuật tuyên truyền thần thánh, một nghệ thuật tuyên truyền nhồi sọ
tuyệt vời: Giáo Hội là Thánh, Giáo Hội là Mầu Nhiệm, Giáo Hội là Bí
Tích, Giáo Hội là Hiền Thê của Đức Giê-su, Giáo Hội là Duy Nhất,
Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền, Giáo Hội là Vương Quốc của Thiên
Chúa... Giáo Hội tự nhận cho mình hết tất cả những khái niệm cao cả
thánh thiện, vừa linh thiêng siêu hình, vừa hữu hình thế tục, chẳng bỏ
sót một phạm trù nào! Ngòai nghệ thuật tuyên truyền, Giáo Hội vẫn phải
xây "vạn lý trường thành đức tin" và buông bức "màn
sắt thần học" lên đầu đoàn chiên. Mỗi tòa giảng là một cái
loa tuyên truyền, dựa vào khoa thần học phù phép, ảo thuật làm cho "núi
tội thành con chuột", "kẻ cướp mặc áo thày tu" và "quỷ Satan có diện mạo
ông thánh". “LỜI TÁM: …. Thử
tưởng tượng từ ngày Giám-mục Pierre Cauchon (đồng âm với con heo) thiêu
sống Bà Thánh Jeanne d’ Arc, cho đến ngày Bà được phong thánh là hơn 400
năm, các tòa giảng của Giáo Hội trên khắp cõi Âu Châu phải ăn gian nói
dối và vu oan giá họa cho Bà bao nhiều lần? Giết bà cũng một
tay Giáo Hội, phong thánh cho Bà cũng một tay Giáo Hội, nhưng có mấy ai
được may mắn như Bà. Hầu hết các trọng tội mà Giáo hội phạm tại
các “Tòa Điều Tra Dị Giáo” là tội
đẻ ra tội theo cấp số cộng và cấp số nhân.” [14]
Tài nghệ tuyên truyền và bóp méo sự thật, nhất
là những sự thật lịch sử của Giáo Hội La Mã quả thật là vô cùng
siêu việt. Nhờ có các nhà thờ ở khắp mọi nơi có tín đồ, Giáo Hội
đã có thể biến các tòa giảng thành “những cái loa tuyên truyền”. Nhờ có
khả năng hiểu biết về những khu rừng chuyện hoang đường trong khoa thần
học phù phép, Giáo Hội đã có thể diễn trò ảo thuật làm cho những
rặng núi tội ác của Giáo Hội trở thành nhỏ bé như con chuột, đã có
thể biến hóao những kẻ cướp mặc áo thày tu và lũ quỷ Satan trở thành
những ông thánh.
Trong lịch sử, Giáo Hội La Mã cũng đã từng biến
hóa người thiếu nữ anh hùng dân tộc của nước Pháp là bà Joan of Arc (1412-1431) thành một con mụ phù
thủy kinh tởm ghê gớm để cho có LÝ DO xử thiêu bà, rồi gần 5 thế kỷ
sau cũng lại chính Giáo Hội lại biến hóa người thiếu nữ nạn nhân
này thành một thánh nữ của
Giáo Hội. Nhìn những việc làm trong quá khứ, người ta có
thê luận ra những việc làm trong tương lai. Với những kinh nghiệm và khả
năng về ảo thuật biến hóa mà Giáo Hội đã làm như trên, với những phương
tiện và nguồn nhân lực sẵn có, tất nhiên lả ở Việt Nam vào thời kỳ
từ sau năm 1945 trờ về sau, Giáo Hội có dư thừa khả năng này để biến
hóa lá cờ vàng ba sọc đỏ do chính Giáo Hội nặn ra thành một
lá cờ chính nghĩa biểu tượng cho chính nghĩa quốc gia của người Việt
Nam theo đạo Da-tô, và biến hóa
những tín đồ Da-tô vong bản phản quốc
người Việt thành “những người
Việt quốc gia chân chính yêu nước”.
Bài viết “Lá cờ chính nghĩa tung bay trong Đại Hội Thế Giới Trẻ XX tại LÁ CỜ CHÍNH NGHĨA TUNG BAY TRONG (21.08.2005) Vì bận mục vụ, tôi không thể tham dự thánh lễ bế mạc Ðại Hội Giới Trẻ XX, được tổ chức trên sân cỏ Marienfeld ở Köln tại Đức Quốc, mà gần 800.000 thanh thiếu niên trên toàn thế giới tham dự. Nhưng không vì vậy mà tôi bỏ lỡ cơ hội mở Tivi theo dõi Thánh Lễ. Ồ kìa! Lá cờ chính nghĩa quốc gia, cờ vàng ba sọc đỏ, tung bay sau Vương Cung Thánh đường trên đền thánh. Tôi
rất vui mừng xúc động, khi nhìn thấy lá cờ này tung bay nơi đền thánh.
Lá cờ thật lớn, tung bay phất phới sau bàn thờ, nơi Ðức Thánh Cha
Bênêđicto XVI cử hành Thánh Lễ. Cờ vàng tung bay đúng vị trí chính nghĩa
của nó: Cờ vàng ba sọc đỏ tượng trưng cho chính nghĩa, vì cờ vàng ba
sọc đỏ tượng trưng cho sự việc bảo vệ nhân quyền, nhân phẩn và
gía trị của con người Việt Nam; Cờ vàng ba sọc đỏ biểu tượng cho tình
thương và tha thứ. Ðúng
vậy! Cờ vàng ba sọc đỏ có chỗ đứng chính đáng của nó nơi Vương
Cung Thánh đường, nơi thánh thiện, nơi biểu tượng sự yêu thương và sự
hiến dâng. Bỗng tôi chợt nghĩ: Giả sử cờ đỏ sao vàng tung bay nơi này
có ý nghĩa gì? Cũng may mà cờ đỏ sao vàng không được tung bay tại đây!
Vì cờ đở sao vàng tượng trưng cho sự gian ác, giả dối, lường gạt.
Những người đứng sau biểu tượng này, họ tuyên truyền sự hận thù
oán ghét, và cướp bóc. Vì thế, cờ đỏ sao vàng sẽ thật rất sống sượng
và thật không xứng đáng để tung bay nơi thánh đường. Bên
lề đại hội: Có người gọi điện thoại nói cho
tôi biết: Có "vài thằng nhãi con của đại sứ quán Việt Cộng
ở Ðức thỉnh thoảng đứng trước nhà thờ chánh tòa Köln, phất cờ đỏ
sao vàng. Sau đó lại rút lui. Kiểu đánh du kích mà trước Việt Cộng thường
áp dụng khi còn ở trong rừng, để khủng bố hăm dọa người dân." Có
người đến hỏi mấy "nhãi con" đánh kiểu du kích này, tại sao họ
làm những điều trái ngược và ngạo ngược như vậỵ? Thì họ trả lời:
"Chúng tôi cũng tin Chúa". Nếu
thật sự họ tin Chúa, thì không thể nào họ ngu xuẩn đến độ dùng cờ
đỏ sao vàng làm biểu tượng cho sự hận thù, gian ác và gian dối! Thiên
Chúa đâu dạy cho họ những điều này! Nếu họ tin vào Thiên Chúa, thì tại
sao họ lại hãnh diện và lá cờ này?! Bản chất của người Cộng sản
luôn là như thế! Họ luôn giả dối và lường gạt. Họ tự lường gạt
và giả dối với chính mình, điều mà chính họ tự gây ra để mọi người
khinh bỉ họ. Lm Nguyễn Văn Lý mới đây, cũng khẳng
định sự kiện quốc nạn thứ ba này, đó là dối trá xảo quyệt và lường
gạt. Họ nói dối không ngượng tai, nói dối không còn biết liêm xỉ là
gì. Họ nói dối từ trong ra ngoài, từ nội địa ra hải ngoại, từ trên
xuống dưới, từ nhỏ đến lớn. Quốc nạn thứ ba này, do tâp thể những
người Cộng sản gây ra, mà biểu tượng của họ là cờ đỏ sao vàng.
Tôi cũng cám ơn các bạn trẻ đã dũng cảm làm chứng nhân cho sự thật,
cho sự công chính. Ðức Chúa Giê-su có nói: Hãy chứng minh cho sự thật, mọi
sự giả dối là của ma qủi! Không lẽ cờ "qủi" lại tung bay nơi
vưong cung thánh đưòng thánh thiện?! Tôi
mượn lời của Thiên Chúa để nói với các bạn trẻ, khi Ngài nói cùng
thánh Phê-rô, khi các môn đệ ra khơi: "Phêrô, con đừng
sợ hãi. Thầy đây mà!" Và sau đó, Ðức Chúa Giê-su đã ra
quyền uy của mình làm sóng biển yên lặng. Các
bạn trẻ hãy nhớ lời này của Thiên Chúa! Ngài luôn cùng đồng hành với
chúng ta. Và chúng ta cũng hãy nhớ đến quyền năng của Ngài! Tôi tin chắc
rằng: Thiên Chúa chưa muốn thôi. Chứ nếu Ngài muốn, thì việc gì Ngài
không làm được!? Với quyền năng của Ngài, Ngài có thể làm thay đổi
chế độ chính tri độc ác gian xảo ở Việt Trong
kinh Magnifikat, chính Ðức Me Maria, đã ca ngợi và xác quyết quyền uy này của
Thiên Chúa: "Ngài truất phế kẻ
quyền uy cao ngạo. Và nâng cao những người khiêm nhượng biết kính sợ
Ngài." (Luca 1, 46-55) Người
Cộng Sản là người vô thần. Họ cao ngạo tự kiêu tự phụ. Họ không
còn biết là quyền thế của họ còn tùy thuộc vào Ðấng Tối cao. Sự
ác độc không bao giờ chiến thắng sự tốt lành! Quy định bất di bất dịch
này, chính Ðức Chúa Cha đã mặc khải trong sách Sáng Thế: "Một người
phụ nữ, sẽ đạp đầu con rắn!" Và
lời Mạc Khải này cũng đã ứng nghiệm tại nhiều nước trên thế giới,
trong thời cận đại của chúng ta, mà chính Ðức Mẹ vào ngày 13.05.1917 đã
hiện ra tại Fatima, mà hứa rằng: "Trái tim Mẹ sẽ thắng." Các bạn
trẻ có tin lời hứa này của Thiên Chúa không? “Ðức tin sẽ cứu
con!“ Tuy
thế: “Làm bởi bay, cho bởi Ta!” Chúng ta hãy làm tất cả những gì
chúng ta có thể làm được. Ðiều mà tất cả chúng ta làm được là lời
cầu nguyện, ăn chay và sám hối. Tôi
tin chắc, nếu nhiều người trong chúng ta thực hiện điều này, thì Thiên
Chúa sẽ “cho” những kẻ vô thần gian ác xảo trá, đứng sau lá cờ đỏ
sao vàng, khỏi ngụy quyền độc ác giả dối của họ. Hãy tin, thì sẽ được chiến
thắng! Lm J.
Ðinh Xuân Minh Trên đây là bài viết của Linh-mục Đinh Xuân Minh
hô hào tín đồ Da-tô người Việt tiến lên trương cao lá cờ vàng ba sọc
đỏ để bảo vệ chính nghĩa quốc gia của tín đồ Da-tô người Việt mà
Vatican đã cho ra đời đầu tháng 6/1948. Bản chất và hành động của lời
kêu gọi này giống y như bản chất lời hô hào “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”
của Linh-mục Hoàng Quỳnh hô hào giáo dân ở Sàigòn vào mùa hè năm 1964[16].
Hình thức tuy có khác nhưng nội dung vẫn là một. Bình mới rượu cũ đó
thôi.
Chính sách nhồi sọ của Giáo Hội La Mã là phải
làm thế nào cho tín đồ có những đức tính: 1.- Tuyệt đối tin tưởng vào Giáo Hội 2.- Triệt để vâng lời và thi hành lệnh truyền của
các đấng bề trên, hay là phải hăng say, mau lẹ và nhiệt liệt đáp ứng
những lời hô hào của đấng chủ chiên. Lời hô hào của Linh-mục Đinh Xuân Minh trên đây
là lời hô hào công khai được viết ra thành giấy trắng mực đen (văn
bia), được phổ biến công khai và rộng rãi trên khắp năm châu bốn bể.
Thực ra, lời hô hào trên đây là do Dưới đây là một số những việc làm hay trường
hợp tín đồ Da-tô người Việt đáp lời kêu gọi của các đấng bề trên
của họ mang cờ vàng ba sọc đỏ đi “bảo vệ chính nghĩa quốc gia” của
họ: 1.- Sự hiện diện của họ trong hàng ngũ Liên Minh Thánh Pháp – 2.- Việc họ triệt để tuân hành những lệnh truyền
của Dinh Độc Lập trong thời hai ông Tổng Thống Da-tô tay sai đắc lực của
3.- Việc họ tổ
chức và hăng say tham dự các cuộc biểu
tình chống lại chính quyền Sàigòn trong thời các ông: a.- Dương Văn Minh (2/11/1963 – 30/1/1964), b.- Nguyễn Khánh (30/1964 – 19/1965 – Khi ông Nguyễn
Khánh lật đổ chính quyền Cách Mang 11/1/1963, thì họ hoan hô và triệt để
ủng hộ. Nhưng từ khi ông Ngô Đình Cẩn bị xử bắn vào ngày 9/5/1964,
thì họ quay ra chống phá và đòi lật đổ ông Khánh. (Chính thời gian này
đã nẩy sinh ra khẩu hiệu “Thà mất nước,
chứ không thà mất Chúa.”), c.- Phan Khắc Sửu và ông Phan Huy Quát (19/2/1965 –
19/6/1966). 4.- Sự kiện họ rất sợ Vatican[17],
không dám nói đến những rặng núi tội ác mà Vatican đã chống lại dân
tộc và tổ quốc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử từ giữa thập
niên 1780 cho đến ngày nay. 5.- Sự kiện từ ngày ra hải ngoại sinh sống, họ
không bao giờ nghĩ đến danh dự và quyền lợi của dân tộc và tổ quốc
Việt 6.- Việc họ chủ trương đánh phá chính quyền Việt
Nam hiên nay theo sách lược “không được
ăn thì đạp đổ” và “quậy cho ao
nước Việt Nam đục ngầu lên” để cho Vatican có cơ hội nhẩy vào
thả câu. 7.- Sự kiện họ chống phá chính quyền hiện nay với mục đích là để phục hồi chế độ
đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm được ngụy tạo bằng danh xưng “Việt Nam Cộng Hòa”, chứ không phải để thiết lập một chế
độ dân chủ tự do thực sự như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Canada và các nước
khác ở Âu Châu với điều khoản “Phải
tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền”. 8.- Sự kiện họ lớn tiếng đòi Việt 9.- Sự kiện họ lớn tiếng đòi tự do tôn giáo
cho Việt 10.- Sự kiện hằng năm, họ tổ chức lễ giỗ linh
đình ông Da-tô Ngô Đình Diệm, và bất cứ cuộc họp mặt nào, họ cũng
trưng bày la liệt cờ vàng ba sọc đỏ (do Vatican sáng chế ra) ở khắp mọi
nơi họ họp mặt, nhưng lại lên án, chửi bới, hạ nhục và tổ chức biểu
tình để khủng bố ông Trần Trường
khi ông này trưng bày hình ông Hồ Chí Minh và lá cờ đỏ sao vàng dù là
chỉ trưng bày ở trong căn phòng giao dịch buôn bán của ông ta. 11 .- Sự kiện họ đòi phải phục hồi cho Giáo Hội
La Mã quyền làm chủ khối bất động sản kếch sù mà Giáo Hội đã ăn
cướp của dân tộc ta trên toàn lãnh thổ từ năm 1885 cho đến năm 1945, và
riêng ở miền Nam Việt Nam từ năm 1862 cho đến ngày 30/4/1975. Khối tài
sàn này sẽ được trình bày ở Chương 14 trong Phần III ở sau. 12.- Sự kiện
vào năm 1995, họ cố gắng phá thối
buổi ra mắt cuốn sách Đối Thoại Với Giáo Hoàng John Paul II do
anh em trong nhóm Giao Điểm tổ chức ở Westminster, California vào ngày
19/8/1995. 13.- Sự kiện một nhóm tín đồ Gia-tô do các ông
Bùi Bỉnh Bân, Đòan Thế Cường và Vạn Võ Hành Khuyên dẫn đầu một nhóm
tín đồ Da-tô đến chùa Việt Nam vào thượng tuần tháng 6 năm 1996
để hạch sách thày Pháp Châu về điều mà họ cho rằng nhà sư này có
“thái độ thân Cộng”. 14.- Sự kiện một nhóm tín đồ Giâ-tô mưu đồ biểu
tình và phá thối buổi hội thảo văn hóa của anh em văn nghệ sị Bắc Mỹ
do Tiến-sĩ Vũ Ngự Chiêu và người viết tổ chức tại Seattle, Washington vào
ngày 20/12/1997. 15.- Sự kiện một nhóm tín đồ Da-tô tổ chức biểu tình và bao vây ngôi chùa Đức
Viên ở San Jose khởi đầu vào buổi chiều ngày 18/5/1998 và kéo dài
trong nhiều ngày, khi Đại Lão Hòa Thượng Thích Dũng từ Việt Nam qua
Hoa Kỳ tham quan và lưu trú tại đây. 16.- Sự kiện họ chủ động tổ chức những cuộc
biểu tình thị uy và khủng bố tinh thần ông Trần Trường chủ tiệm cho
muớn băng Video tại thành phố Westminster, Califirnia trong nhiều ngày vào năm
1998 (?) khi ông này trưng hình ông Hồ Chí Minh và lá cờ đỏ sao vàng ở
trong cửa tiệm của ông ta. Trong khi đó, hàng năm cứ đến ngày 1/11, tín
đồ Gia-tô người Việt tại các địa phương ở Bắc Mỹ tổ chức lễ
giỗ ông Da-tô Ngô Đình Diệm vô cùng rầm rộ thì chẳng có ai nói gì cả. 17.- Sự kiện vào Tháng 7
năm 2001, Bà Minh Anh Hodge, Giám đốc Chương Trình ESL, Ngoại Ngữ và Tiểu
Học tại Nha Học Chánh Tacoma, Washington cũng trở thành nạn nhân của
chúng chỉ vì, khi được mời thuyết trình về đề tài Người Việt
Tị Nạn Ở Washington vào cuối tháng 4/2000 tại Tacoma Community College (kỷ
niệm 25 năm của nguời Việt tị nạn), bà đã cho trình chiếu nhiều
tấm hình về cuộc chiến Việt Nam trong đó có tấm hình Hòa Thượng Thích
Quảng Đức tự thiêu, hình Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan đang nhắm bắn một
tù nhân hai tay bị trói ké quặt lại sau lưng và hình em bé Kim Phúc bị
cháy phỏng bởi bom lửa với thân hình trần truồng vừa chạy vừa khóc
trong kinh hoàng. (Độc giả có thể kiểm chứng sự kiện này bằng cách tiếp
xúc với bà Minh Anh Hodge hay các nhân viên trong ban giảng huấn ESL hay nhân
viên văn phòng ESL và Ngoại Ngữ tại Sở Học Chánh Tacoma). 18.- Sự kiện ông Da-tô Nguyễn
Xuân Tùng hai lần chỉ huy đoàn người đồng đạo mà họ gọi là Diến
Đàn Kitô Hữu đến bao vây ngôi Chùa Việt Nam ở Garden Grove để khủng bố
tinh thần thày Thích Pháp Châu vì rằng nhà sư này vừa là chủ bút tạp
chí Hoa Sen vừa là trường ban điều hành Đài Phát Thanh Quê Hương Việt
Nam: Lần thứ nhất xẩy ra vào 27/10/2002, lần thứ hai xẩy ra vào ngày 24/4/2004 và kéo dài tới ngày
31/5/2004 (tất cả là 55 ngày), trong đó có ngày đại lễ Phật Đản vào
ngày 30 5/2004. (Độc giả có thể kiểm chứng sự kiện này bằng các tiếp
xúc với thày Pháp Châu ở ngôi chùa này). 19.-
Sự kiện một số tín đồ Da-tô
biểu tình, khủng bố và mưu đồ phá thối buổi ra mắt cuốn
sách Trả Ta Sông Núi của Cựu Đại Tá Phạm V. Liễu được tổ
chức ở San Jose, California vào tháng 7 năm 2003. 20.- Sự kiện họ chửi bới
và hạ nhục những văn nghệ sĩ trình diễn những bản nhạc hay những người
sản xuất những băng nhạc mà họ cho rằng tuyên truyền cho Cộng Sản, rồi
gièm pha và chửi bới cả những người ái mộ những nhạc sĩ và ca sĩ đã
bị họ lên án. Từ khi cuốn băng Thúy Nga Paris 40 được phát hành vào năm
1996, nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, MC Nguyễn Cao Kỳ Duyên, các ca sĩ như
Hương Lan, Ái Vân, Băng Kiều, Thanh Tuyền, Thanh Lan, Ngọc Huyền, Hồng
Nhung, Trần Thu Hà, Thu Phương, Lam Trường, Phương Thanh, v.v... cũng đã trở
thành nạn nhân của bọn người cuồng nô vô tổ quốc này. Tệ hại hơn
nữa, cả những người ái mộ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng bị chúng
ghét cay ghét đắng và bị chụp mũ là thân Cộng hay Cộng Sản nằm vùng. 21.- Sự kiện họ chửi bới và hạ nh |