1105-gd.gif (2402 bytes)
posted: 03.11.2005

Nguyyễn mạnh Quang

CHƯƠNG 9
 
     CHỦ ĐÍCH VÀ NHỮNG VIỆC LÀM GIAN ÁC
     CỦA GIÁO HỘI LÃ MÃ TẠI VIỆT NAM

Chủ đích của Giáo Hội La Mã trong việc  cấu kết với Pháp trong thời kỳ “Trăm năm nô lệ giặc Tây” cũng như trong việc cấu kết với Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-75 là dựa vào sức mạnh của Pháp và của Hoa Kỳ để lần lần tiến hành ba sách lược một cách triệt để:

1.- Tiêu diệt hết tất cả những người Việt Nam yêu nước với hy vọng để cho dân Việt Nam không còn khả năng chống đối khi Giáo Hội tiến hành thiết lập chế độ đạo phiệt tại Việt Nam.

2.- Khi có hoàn cảnh, Giáo Hội sẽ thực thi “chính sách chia để trị” rồi đưa tín đồ Da-tô bản địa lên nắm chính quyền, thiết lập chế độ đạo phiệt Da-tô và sử dụng bạo lực và tất cả các phương tiện khác của nhà nước để tiến hành kế hoạch Kitô hóa nhân dân. Tùy theo thời thế và hoàn cảnh của từng địa phương, chế độ đạo phiệt trong thời kỳ chuyển tiếp (transitional period)  được mang những danh xưng khác nhau. Trong những năm 1946-1948, chính phủ Nam Kỳ được gọi là “Cộng Hòa Nam Kỳ” (được thành lập vào ngày 1 tháng 6 năm 1946 với nhóm Việt gian Nam Kỳ  mang  quốc tịch Pháp và quốc tịch Vatican như Nguyến Văn Thinh, Lê Văn Họach, Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu), vùng Cao Nguyên Nam Trung Phần gọi là "Cộng Hòa Tây Nguyên" (được thành lập vào khoảng cuối tháng 5 năm 1946),   vùng Tây Bắc Bắc Kỳ được gọi là "Cộng Hòa Thái"  hay  "Liên Bang Thái Tự Trị" (nằm trong tỉnh Lai Châu được thành lập vào ngày 15 tháng 3 năm 1948 với Đèo Văn Long làm thủ lãnh – Moreover, in March, 1948, the French established an “autonomous federation of the Thai peoples in the North overwhich the Xuan government had not authority either.[1]), chính quyền bù nhìn Bảo Đại trong thời gian 5/6/1948-23/10/1955 được gọi là chính quyền quốc gia, các chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm (1954-1963) và quân phiệt  Da-tô Nguyễn Văn Thiệu (1967-1975) ở miền Nam Việt Nam được gọi là Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa, gọi tắt là Việt Nam Cộng Hòa.

3.- Song song với hai sách lược trên đây, Giáo Hội cho tiến hành chiến dịch tuyền truyền đại quy mô theo sách lược “cả vú lập miệng em” và “Tăng Sâm giết người” với chủ đề:

A.-  dùng cụm từ “những người   quốc gia yêu nước chân chính” để tôn vinh:

a.- tất cả những tín đồ Da-tô thuộc loại “Thà mất nước nước, chứ không thà mất Chúa”,

b.- tất cả những người Việt đã từng cộng tác với Liên Minh Pháp – Vatican trong thời “Trăm Năm nô lệ giặc Tây” và trong thời Kháng Chiến 1945-1954,

c.- tất cả những người làm việc trong chính quyền và quân đội miền Nam trong những năm 1954-1975 thuộc loại “Nhất Chúa, nhì cha, thứ ba Ngô Tổng Thống”,

B.- dùng những cụm “cộng sàn” “phản loạn”, “Công Sản nằm vùng”, “làm tay sai cho Cộng Sảnv “Việt gian” để  gán cho:

a.-  tất cả những người đã từng chiến đấu trong lực lượng kháng chiến dưới quyền lãnh đạo của Mặt Trận Việt Minh trong những năm 1945-1954,

b.- những  chiến sĩ quốc gia  chiến đấu chống lại Liên Minh Thánh Pháp Vatican  nhưng không nằm dưới quyền lãnh đạo của Mặt Trận Việt Minh (Cao Đài, Hoà Hảo, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt, nhóm nhân sĩ trí thức tiến bộ ký tên trong bản Tuyên Ngôn Caravelle đề ngày 26/4/1960, những sĩ quan tham dự chính biến 11/11/1960, những sĩ quan, quân nhân,  những người tham dự và những người ủng hộ cụoc Cách Mạng 11,11,1963), 

c.- tất cả những người không chịu khuất phục hai chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm   và Nguyền Văn Thiệu, và 

d.- tất cả những người Việt khác chống lại những việc làm bất chính của Giáo Hội và chính quyền đạo phiệt tay sai của Vatican tại Việt Nam.

4.- Triệt để thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ để kìm hãm tín đồ và nhân dân dưới quyền sẽ mãi mãi ở trong tình trạng ngu dốt, lạc hậu, giống như những người tiền sử hoặc ít ra cũng giống như người dân Do Thái trong thời ông Moses và ông Jesus cách đây hơn hai ngàn năm. (Trong Tập 2, người viết sẽ dành một Phần gồm nhiều chương sách để trình bày đầy đủ chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ ở miền Nam trong những nàm 1954-1975.)

HẬU QUẢ của chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ: Chính sách này đã làm cho hầu hết những thế hệ sinh ra, lớn lên và đã học qua chương trình trung học ở miền Nam Việt Nam trước tháng 4/1975:

1.- Hầu như không hiều biết gì về lịch sử thế giới và lịch sử Giáo Hội La Mã.

2.- Lầm tưởng rằng chủ đích chính của các giáo sĩ Da-tô đến Việt Nam là lo việc nhà truyền giáo, mà không biết chủ công việc chính của họ là hoạt động gian điệp và tìm cách can thiệp chính quyền Việt Nam khi hoàn cảnh cho phép..

3.- Hiểu biết sai lạc về lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại.

4.- Không có khả năng viết những tác phẩm có liên hệ đến lịch sử.  Vì thế mà khi viết những bài viết hay ấn phẩm có liên quan đến lịch sử Việt Nam và lịch sử Giáo Hội La Mã hay lịch sử thế giới, họ rơi vào tình trạng lạng quạng và chủ quan, để rồi chỉ có thể viết những  bài cung văn xưng tụng Giáo Hội La Mã cũng như các cá nhân hay thế lực làm tay sai cho Giáo Hội, và mạt sát tất cả cá nhân và thế lực nào không chịu khuất phục Vatican.    

5.- Không biết sử dụng lý trí để tìm hiểu sự vật. Vì thế cho nên họ không  biết sự khác nhau giữa chính, giữa lẽ phải và những điều sai trái, giữa người yêu nướcViệt gian, và chỉ biết nhắc lại những gì người khác (mà phần lớn là cán bộ tuyền truyền của Giáo Hội hay chính quyền tay sai của Giáo Hội) đã nói giống như con vẹt.

6.- Không biết phân biệt sự khác biệt giữa ý kiến (opinions) và sự kiện (facts).

7.- Không có khả năng viết một bài viết lịch sử theo phương pháp khảo luận.

8.- Không tôn trọng quyền tự do ngôn luận của những người bất đồng chính kiến với họ. Tệ hơn nữa, họ còn chụp mũ cho những người bất đồng chính kiến với họ là “Cộng Sản”, “Cộng Sản nằm vùng”, “tay sai của Cộng sản”, v.v…, rồi dùng những lời lẽ thiếu văn minh rất Da-tô” để mạt sát, miệt thị và chửi bới đối tượng.

9.- Không thích nghi được với xã hội dân chủ tự do như ở các nước ở Bắc Mỹ hay Tây Âu.

10.- Vẫn tiếp tục sống theo nếp sống trong các  “Xóm Đạo” hay thời chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm (1954-1963) ở miền Nam Việt Nam.

11.- Rơi vào tình trạng u mê ngu dốt, mế tín dị đoan cả tin vào những trò ảo thuật lừa bịp của bọn lưu manh buôn thần bán thánh chủ mưu như chuyện mới xẩy ra ở Sài gòn vào ngày 29/10/2005 và đươc các cơ quan truyền thông loan tin như sau:

TƯỢNG ĐỨC MẸ NHÀ THỜ ĐỨC BÀ KHÓC... NƯỚC MẮT CHO THẾ NHÂN:Hàng chục ngàn người đang bao quanh nhà thờ Đức Bà để xem một hiện tượng chấn động... Đức Mẹ Khóc - Giòng lệ chảy bắt đầu từ lúc 4 giờ chiều ngày 29 tháng 10 - 2005 và tiếp tục lăn trên má. Số người đổ xô về ngày một đông, phái viên điện báo Take2Tango đã thu được đoạn phim hình ảnh sống động đó.” [2]

Tình trạng  này đã khiến cho những người bị ảnh hưởng trực tiếp của chính sách ngu dân, trong đó có cả những thành phần tự phong là “những người quốc gia chân chính yêu nước”, trong đó có cả những người đã tốt nghiệp đại học trường Lụật, Quốc Gia Hành Chánh, v.v… cũng không có khả năng sử dụng lý trí để phân biệt được sự khác biệt giữa chính, giữa lẽ phảinhững điều sai trái, giữa những lời nóiviệc làm, giữa bản chấtdanh xưng, chỉ biết xét ngườikhông xét việc: Khi xét người nào, thì chỉ xét về phương diện tôn giáo, địa vị, chức tước, nghề nghiệp, giầu nghèo, học vấn, bằng cấpkhông xét đến tư cách và những việc làm của người đó. Những ấn phẩm hay lời tuyên bố của họ nói lên sự kiện này. Dưới đây là những bằng chứng:

1.- Sau năm 1975, chúng ta đã từng thấy Giáo-sư Vũ Quốc Thúc viết một bài viết với luận cứ đòi phải thi hành Thỏa Hiệp Genève 1954, nghĩa là đòi tái lập tình trạng   Việt Nam bị chia đôi như thời 1954-1975. Sự kiện này chứng tỏ ông Thạc sĩ Vũ Quốc Thúc dù là có bằng cấp đại học về ngành luật và kinh tế, nhưng lại không hiều gì về lịch sử, không hiểu gì về dòng sinh mệnh và tình tự của dân tộc và quê hương, nghĩa là ông Thạc-sĩ này không biết  sự khác biệt giữa chính.

2.- Rồi tới tháng 7 năm 2003, một nhóm trí thức gồm các ông Nguyễn Bá Cẩn (tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh khoá 1 và là cựu thủ tướng chính quyền Sàigòn trong mấy ngày chót), ông Nguyễn Văn Canh (giáo sư trường Luật Sàigòn), Bác-sĩ Nguyễn Xuân Vinh, cựu Tướng Lý Tòng Bá, v.v…, thành lập cái gọi là “Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation”, rồi họp nhau, viết thư gửi ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc thỉnh cầu dùng áp lực tái lập tình trạng  Việt Nam  chia đôi như thời những năm 1954-1975 để phục hồi chế độ Việt Nam Cộng Hòa giống như luận điệu của ông Thạc-sĩ Vũ Quốc Thúc ở trên. Sự kiện này chứng tỏ những người này dù là có bằng cấp đại học và đã từng nắm giữ những chức vụ quan trọng trong một hay cả hai chế độ Việt Nam Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa cũng giống như tình trạng ông Thạc-sĩ Vũ Quốc Thúc hay còn tệ hơn. Tệ hơn ở chỗ   là họ viết lá thư phản quốc đề ngày 20/7/2004 gửi ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc.

Hành động viết lá thư trên đây của những người này khiến cho họ trở thành những người lưu xú vạn niên:

Sống chỉ mặt, chết chỉ mồ,
Xương dù chôn nát, mặt mo hãy còn. (Ca dao) 

3.- Ông Giáo-sư Nguyễn Văn Trung đặt vấn đề lvới người viết  (Nguyễn Mạnh Quang) là lấy tư cách gì để viết “Lá thư gửi Gíao Hoàng John Paul II” đề ngày 19/9/1999 khi ông đến tận nhà của người viết để đòi được nói chuyện trực tiếp với hai vợ chồng người viết vào trưa ngày Chủ Nhật 11/11/2004? Lá thư này đã được in trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hoà Toàn Thư 1954-1963 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000, tr   547-558.) Việc nêu lên vấn đề này nói lên sự kiện ông Giáo-sư Nguyễn Văn Trung chỉ chú ý đến địa vị trong xã hội của người viết hơn là chú ý đến việc làm của người viết. Nó cũng cho chúng ta thấy rằng ông ta cho rằng phải  có một chức vụ quan trọng của một thế lực nào đó thì mới có tư cách viết thư cho Giáo Hoàng John Paul II nói về tội ác của Giáo Hội La Mã chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam từ  giũa thập niên 1780 cho đến ngày 30/4/1975. Điều này chứng tỏ rằng, ông Giáo-sư Nguyễn Văn Trung, người đã tốt nghiệp trường Đại Học Louvain Da-tô của nước Bỉ với bằng Tiến Sĩ Thần Học và đã từng là giáo sư giảng dạy môn triết tại trường Đại Học Văn Khoa Sàigòn từ năm 1956 cho đến ngày 30/4/1975 mà vẫn không hiểu được tâm tư của người dân Đông Phương chịu ảnh hưởng sâu nặng của Nho giáo qua lời dạy “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách.” Sự kiện này cho chúng ta thấy rõ  cái hậu quả của chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã  đã thể hiện ra rõ rệt nhất ở vảo trường hợp này.

Vì ở trong tình trạng như trên, những người này trở nên nhẹ dạ, cả tin vào những lời nói hơn là tìm hiểu những việc làm của những kẻ có bằng cấp hay những người đã từng nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền Bảo Đại hay trong các chính quyền của miền Nam Việt Nam trong thời kỳ 1954-1975 để biết rõ bộ mặt thật của  những người này. Họ cả tin vào những “danh xưng tốt đẹp” của các tôn giáo hay của tổ chức, đoàn thể, thế lực, hoặc cá nhân, v.v… mà không biết sử dụng lý trí  để tìm hiểu  xem  bản chất của cái tôn giáo hay tổ chức, đoàn thể, thế lực hay cá nhân đó như thế nào. Họ cũng không cần biết tôn giáo hay thế lực hoặc tổ chức và những cá nhân đó đã từng có những thành tích bịp bợm,  lường gạt, bạo ngược, bán nước hại dân hay làm tay sai cho quân cướp ngoại thù của dân tộc hay không. Cũng vì thế họ mới lẫn lộn, gọi những thằng Việt gian chính tông là “chí sĩ yêu nước”, là “những người quốc gia chân chính yêu nước” và gọi những người thực sự yêu nước đã hành động theo lương tâm  vì nước vì dân là “kẻ gian”, là “Việt gian”. Họ vẫn thường nói như con vẹt câu nói “Đừng tín những gì người ta nói, hãy nhìn kỹ những gì người ta làm”, nhưng lại không chịu tìm hiểu để biết rõ bộ mặt thật của cái tôn giáo hay thế lực, tổ chức và những cá nhân mà họ đang vinh danh và tôn sùng. Thực trạng này cũng đã được thể hiện qua lời tâm sự trong bài viết “Nghề Thày” của nhà giáo Tôn Thất Tuệ và được Văn Hùng vanhung@sbcglobal.net ghi lại với nguyên văn như sau: 

“Thầy chỉ xót xa đau lòng khi biết được một học trò nào đó có những hành vi bất xứng, không  phân biệt rõ thiện ác, chính tà ...chỉ vì chút danh lợi phù du mà có thể bán rẻ lương tâm,  coi nhẹ nhân cách, a  tòng tiếp tay với kẻ tàn ác, bạo ngược  rồi cam tâm trở thành một  “tiểu nhân phù thịnh.”[3]

Nói về tình trạng nông cạn không biết sử dụng lý trí (động não) để phân biệt “danh xưng” và “bản chất”, chúng ta hãy lấy cái tổ chức  danh xưngĐại Hội Toàn Quân” của cựu Tướng Lê Minh Đảo và Giáo-sư Tiến-sĩ  Nguyễn Xuân Vinh làm thí dụ. Về cái tổ chức này, những người biết sử dụng lý trí để tìm hiểu bản chất của nó thì thấy rằng thực chất của nó không phải là một tổ chức của toàn thể  quân đội miền Nam Việt Nam gồm từ binh nhì (cấp bậc thấp nhất) lên đến cấp đại tướng (cấp bậc cao nhất). Trong thực tế, nó chỉ là tổ chức của các ông sĩ quan trong quân đội miền Nam Việt Nam trước kia mà hầu hết là cấp tá trở lên. Hầu như không có ai thuộc hàng hạ sĩ quan (cấp bậc thượng sĩ I  trở xuống đến trung sĩ),  và đặc biệt là hàng binh sĩ (từ cấp bậc hạ sĩ I trở xuống) thì tất nhiên lại càng không có ở trong tổ chức này. Thành thử ra,  cái “Đại Hội Toàn Quân” này trong thực tế là “Đại Hội Toàn Quan Lớn” mà thôi!

Thử hỏi trong số gần một triệu quân ở miền Nam trước ngày 30/4/1975, có được bao nhiêu sĩ quan từ  đại úy trở lên? Và có bao nhiêu người từ cấp trung uý xuống tới binh nhì? Ấy là chưa nó tới những ông cấp tá trở lên đều là những người đã ở vào lứa tuổi trên 60 tuổi, trong đó có tơi hơn một nửa đã ngoài 70 tuổi rồi.  Đây là một gánh tuồng mãi võ Sơn Đông. Đồng bào ở trong nước cũng như ở hải ngoại sẽ có dịp chứng kiến xem họ diễn được cái trò gì! 

Sử dụng danh xưng như vậy thì quả thực là “loạn ngôn” nếu không phải là nói láo, đại xạo hay bịp hay là thuộc loại “mập mờ đánh lận con đen”. Ấy là chưa xét đến những việc làm của tổ chức này.

Tương tự như vậy, xét về “danh xưng”,  Giáo Hội La Mã   hay đạo Thiên Chúa La Mã là “một tôn giáo”, nhưng xét về bản chất và những thành tích của những việc làm trong gần hai ngàn năm qua, thì  văn hào Voltaire gọi nó là “cái tôn giáo ác ôn”, học giả Da-tô Henri Guillemin gọi là “Cái Giáo Hội Khốn Nạn (Malleureuse Église)” và học giả Charlie Nguyễn gọi là “đạo bịp”, “đạo máu”. Người viết gọi là “đạo Hà Bá” vì rằng cái mánh mung làm tiền (kinh tài) cũng như phương cách củng cố quyền lực và bành trướng ảnh hưởng của cái đạo này là dùng những chuyện hoang đường như Tội Tổ Tông, Chúa Cứu Thế, thuyết cứu rỗi, Đức Mẹ Đồng Trinh, thiên đường, địa ngục, lò luyện ngục, phép mầu, phép lạ, các phép bí tích, v.v… để lừa bịp người đời và dựa vào bạo lực của nhà nước đề cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải tin theo. Sự kiện này giống y như chuyện bọn đồng bóng và thày cúng ở trên ven sông Chương Hà  bịa đặt ra chuyện thần Hà Bá ở khúc sông này đòi phải cưới vợ mỗi năm một lần, rồi cấu kết với bọn cường hào ác bá địa phương để cưỡng bách nhân dân trong vùng hàng năm phải đóng góp tiền bạc cho chúng tổ chức lễ cưới cho ông thần Hà Bá này. Đây cũng là cơ hội cho chúng moi tiền những gia đình khá giả có con gái đến tuổi cặp kê. Những gia đình này, nếu không “biết điều”, thì con gái của họ sẽ  bị cưỡng bách phải làm cô dâu của ông thần Hà Bá của khúc sông này[4]. 

Chúng ta có thể kiểm chứng tình trạng lẫn lộn, không biết phân biệt sự khác nhau giữa chính và tà, giữa lẽ phải và những điều sai trái, giữa danh xưng và bản chất,…. bằng cách:

A.- Đọc những tác phẩm   có liên hệ đến lịch sử Việt Nam như Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan (1991) của Linh-mục Vũ Đình Hoạt, Việt Nam Chính Sử (1992) của cựu luật-sư Nguyễn Văn Chức, Những Bí Ẩn Đàng Sau Các Cuộc Thánh Chiến Tại Việt Nam (1994) và Những Bí Ẩn Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt Nam (1999) của Lữ Giang, Bên Giòng Lịch Sử của Linh-mục Cao Văn Luận, Việt Nam Huyết Lệ Sử (1996) của Cao Thế Dung, Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm (1996) của Hoàng Ngọc Thành và Thân Thị Nhân Đức, Những Huyền Thoại & Sự Thật Về Chế Độ Ngô Đình Diệm (1998) của Vĩnh Phúc, Ngô Đình Diệm: Nỗ Lực Hòa Bình Dang Dở (1989) của Nguyễn Văn Châu, Việt Nam Giáo Sử của Linh-mục Phan Phát Huồn (1965), Việt Nam: Cuộc Chiến Tranh Quốc Gia - Cộng Sản - Tập I (2002) của nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử Dương Diên Nghị, Nguyễn Châu, Lương Văn Toàn, Lê Hữu Phú và Hoàng Đức Phương, Tổ Quốc Ăn Năn (2001) của Nguyễn Gia Kiểng, Ngô Đình Diệm Lời Khen Tiếng Chê (1998) của Minh Võ, Việt Nam Mất Lỗi Tại Ai? (1993) của Nguyễn Đức Chiểu, Việt Nam 1945-1995 -Tập I (2004) của Lê Xuân Khoa, Khi Đồng Minh Tháo Chạy (2005) của Tiến-sĩ Nguyễn Tiến Hưng, v.v…

B.- Theo dõi những bài viết có liên hệ đến lịch sử Việt Nam hay liên hệ với Giáo Hội La Mã đăng trong các báo chí Việt Nam tại hải ngoại.

C.- Theo dõi những lời lẽ và luận cứ trong các bài viết hay trong các E-mail (điện thư) khi họ trình bày quan điểm hay tranh luận giữa những người Việt hải ngoại tự nhận là “những người Việt quốc gia” hay “những người quốc gia chân chính yêu nước  Thường thường, họ không biết và không thể đưa ra  những luận cứ có khả năng thuyết phục, và rơi vào thế bí đối với những sự thật nói về tội ác của Giáo Hội La Mã và của tín đồ Da-tô trong việc cấu kết với đế quốc thực dân Pháp đánh chiếm và thống trị Việt Nam từ năm 1858 cho đến 1945 cũng như trong thời Kháng Chiến 1945-1954, cũng như đối với sự thật về cái quá khứ là Việt gian và tội ác trong những năm cầm quyền ở miền Nam của ông Da-tô  Ngô Đình Diệm. Khi ở vào tình trạng này, họi quay ra dùng thủ đoạn chụp mũ cho đối phương là “cộng sản”, “Cộng sản nằm vùng” “làm tay sai cho Cộng sản” và bới móc đời tư của đối phương ra để hạ nhục.

CHƯƠNG 10
 
NHIỆM VỤ CỦA CHINH QUYỀN  QUỐC GIA
VIỆT NAM CỘNG HÒA ĐỐI VỚI VATICAN

Nhiệm vụ chính của các chính quyền quốc gia bù nhìn này là phải tuyệt đối tin tưởng vào Vatican, phải thi hành nghiêm chỉnh tất cả những chỉ thị hay lệnh truyền của Vatican, giống như tín đồ Da-tô ngoan đạo phải tuyệt đối vâng lời và triệt để tuân hành những lệnh truyền của các đấng bề trên trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã. Sự kiện này được thể hiện ra qua lời tuyên bố của ông Ngô Đình Diệm rằng “ông tin tưởng vào quyền lực của Vatican và ông chống cộng một cách cực lực” khi ông ta được các nhân viên cao cấp trong Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thăm dò lập trường chính trị và trình độ kiến thức của ông. Chuyện này xẩy ra vào tháng 10/1950 trong một bữa cơm chiều được tổ chức tại Khách Sạn Mayflower ở Washington D.C.[5]

Cũng nên biết là đối với Vatican, trong những năm 1948-1954, việc đối phó với lực lượng kháng chiến do  Mặt Trận Việt   Việt Minh lãnh đạo là để mặc cho quân đội Viễn Chinh Pháp lo liệu, tín đồ Da-tô bản địa của Giáo Hội chỉ đóng vai trọ phụ làm tay sai cho quân Đội Pháp. Chủ đích chính của Vatican là nắm chặt lấy chính quyền bù nhìn do Pháp và Vatican dựng nên, để sau này, khi có hoàn cảnh thuận lợi thì chính quyền Việt gian bù nhìn này sẽ thừa thắng xông lên thiết lập chế độ đạo phiệt Da-tô rồi biến Việt Nam thành vương quốc theo đạo Da-tô.

Sau này, trong những năm 1954-1975 ở miền Nam Việt Nam, chủ đích này của Vatican cũng không thay đổi. Trong thời gian này, việc đối phó với miền Bắc hay các vùng nằm trong lãnh thổ miền Nam thuộc mặt Trận Giải Phóng Miền Nam kiểm soát, Vatican chủ trương để mặc cho Hoa Kỳ lo liệu, muốn làm gì thì làm. Mục đích chính của Vatican là phải nắm chặt lấy chính quyền tay sai này để tiến hành chính sách Kitô hoá miền Nam bằng mọi cách và bằng mọi giá, nhưng phải hết sưc khôn khéo để qua mặt các nhà báo ngoại quốc, đặc biệt là đối với các nhà báo Hoa Kỳ.

Vì chủ tâm nắm chặt lấy chính quyền bù nhìn này, cho nên, suốt trong thời kỳ từ tháng 6 1948 cho đến ngày 30/4/1975, những nhân vật Da-tô nắm quyền lãnh đạo như anh em ông Ngô Đình Diệm và những nhân vật ở hậu trường chính quyền Nguyễn Văn Thỉệu cũng như tất các tín đồ Da-tô điều khiển hay chỉ huy các tổ chức công an, mật vụ, an ninh quân đội trong các chính quyền Việt gian này đều chủ trương dồn nỗ lực vào việc truy lùng, thủ tiêu và sát hại hay cô lập những người quốc gia đối lập với chính quyền, đặc biệt là những thành phần có uy tín đối với nhân dân và quốc tế, nhất là những người đã có thành tích kháng chiến, đã từng chiến đấu chống lại Liên Minh Pháp – Vatican từ đầu hay giữa thập niên 1930 và trong thời Kháng Chiến 1945-1954. Những người như các ông Ba Cụt Lê Quang Vinh, Trình Minh Thế, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Tường Tam, Phan Quang Đán, Phan Khắc Sửu, Vũ Tam Anh, Hồ Hán Sơn, Nguyễn Thành Vinh, Phan Bá Cầm, Nguyễn Xuân Chữ, Nguyễn Liệu, Đinh Xuân Quảng,  Nghiêm Xuân Thiện, Nguyễn Tiến Hỷ, Phạm Lợi, Trương Bảo Sơn, v.v, hàng  ngàn chiến sĩ  trong lực  lượng Đại Việt tại căn cứ Ba Lòng (Quảng Trị), và hơn một ngàn chiến sĩ trong lực lượng Quốc Dân Đảng tại các căn cử trong các tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, tất cả đều ở vào trường hợp này.

Dưới đây là những bằng chứng rõ ràng nói lên:

A.- chủ trương của Vaitcan bám chặt lấy chính quyền,

B.- tính cách làm tay sai cho Vatican của các chính quyền Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, và

C.- Vatican chủ trương tiêu diệt những thành phần quốc gia đối lập là ưu tiên số 1.

1.- Từ ngày 5/6/1948 cho đến ngày 30/4/1975, ngoại trừ một khoảng thời gian ngắn từ 1/11/1963- 119/6/1966 và 20/4-30/4/1975, các chính quyền Việt gian này đều nằm trong tay mấy ông tín đồ Da-tô tin cần của Vatican. Đó là ba ông Bảo Đại, Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu. Sự kiện này chứng tỏ Vatican bám chặt lấy chính quyền.

2.- Việc chính quyền Da-tô Bảo Đại ban hành dụ số 10 vào ngày 6/8/1950 để hợp thức hóa việc chuyển nhượng  khối bất động sản khổng lồ tại Việt Nam của Giáo Hội La Mã do các giáo sĩ Da-tô người Âu Châu đứng tên, chuyển sang cho các tu sĩ Da-tô nguời Việt Pháp đứng tên để phòng hờ NẾU chính quyền kháng chiến do Mặt Trận Việt Minh lãnh đạo đại thắng giành được chủ quyền độc lập cho Việt Nam và NẾU chính quyền này ban hành lệnh tịch thu tài sản của những cá nhân hay thế lực ngoại quốc có liên hệ với chính quyền bảo hộ Pháp – Vatican trong thời “trăm năm nô lệ giặc Tây”, THÌ khối tài sản này đã là của người Việt Nam làm chủ rồi. Sự kiện này chứng tỏ chính quyền Bảo Đại làm tay sai cho Vatican.

3.- Việc chính quyền Ngô Đình Diệm tổ chức ngày đại lễ vô cùng long trọng vào tháng 2 năm 1959 để dâng nước Việt Nam cho Vatican với danh nghĩa  dâng cho “Đức Mẹ Vô Nhiễm”[6]. Sự kiện này chứng tỏ chính quyền Ngô Đình Diệm là tay sai của Vatican.

4.- Việc chính quyền Ngô Đình Diệm Kitô hoá chinh quyền, đặc biệt nhất là những chức vụ quan trọng trong các bộ như quốc phòng, nội vụ, tài chánh, tự pháp, công dân vụ và các tổ chức công an, mật vụ đều nằm trong những tín đồ Da-tô như Trần Trung Dung, Lâm Lễ Trinh, Ngô Trọng Hiếu, v.v.. cùng với những hung thần như Trần Kim Tuyến, Trần Khắc Kinh, Trần Khắc Nghiêm, Lê Quang Tung, Lê Quang Triệu, Ngô Thế Linh, Dương Văn Hiếu, Phan Quang Đông, Nguyễn Văn Hay, Nguyễn Văn Y, Nguyễn Khắc Bình, Nguyễn Tư Thái (Thái Đen), Khưu Văn Hai, Trần Thiện Giai, v.v… Sự kiện này chứng tỏ Vatican chủ trương Kitô hóa chính quyền Ngô Đình Diệm để tiến đến thiết lập chế độ đạo phiệt Da-tô ở miền Nam.

5.-  Việc chính quyền Ngô Đình Diệm ám sát, thủ tiêu  và sát hại những   người quốc gia thực sự như các ông Nguyễn Hữu Trí, Trình Minh Thế, Hồ Hán Sơn, Ba Cụt Lê Quang Vinh, Nguyễn Bảo Toàn, Phạm Xuân Gia, Tạ Chí Diệp (Nguyễn Phan Châu), Nguyễn Xuân Nhẫn, Hoàng Thụy Năm,  Vũ tam Anh,  Vương Quang Nhường v.v…, bức tử nhà văn Nguyễn Tường Tam vào đầu tháng 7/1963. Sự kiện này chứng tỏ Vatican chủ trương dùng người Việt theo đạo Da-tô tiêu diệt những người Việt quốc gia yêu nước thuộc các tôn giáo khác.

6.- Việc chính quyền Ngô Đình Đình tiêu diệt lực lượng Đại Việt vào khoảng trên dưới hai ngàn người tại căn cứ Ba Lòng (Quang Trị) và hơn một ngàn chiến sĩ Quốc Dân Đảng tại các căn cứ ở Quang Nam  và Quang Ngãi trong thời gian 1955-1960. Sự kiện này chứng tỏ chính quyền Việt gian Da-tô Ngô Đình Diệm dựa thế Hoa Kỳ tiếu diệt các chiến sĩ quốc gia yêu nước.

7.- Việc chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam  hoặc cho mật vụ theo dõi các nhân vật chính trị thuộc các thành phần đối lập chính trị ở miền Nam trong những năm 1954-1963 trong đó có các ông Hồ Hữu Tường, Trần Văn Văn, 18 nhân sĩ trong nhóm Tự Do Tiến bộ ký tên trong bản Tuyên Ngôn Caravelle công bố vào ngày 26/4/1960. 18 nhân sĩ này là các ông Trần Văn Văn, Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Nguyễn Lưu Viên, Huỳnh Kim Hữu, Phan Huy Quát, Trần Văn  Lý, Nguyễn Tiến Hỷ, Trần Văn Đỗ, Lê Ngọc Chấn, Nguyễn Tăng Nguyên, Phạm Hữu Chương, Tạ Chương Phùng, Trần Văn Tuyên, Trần Lê Chất, và trăm ngàn những người quốc gia yêu nước khác bị sát hại, hàng  nửa triệu nạn nhân bị bắt, bị tra tấn, và  bị giam cầm hết sức dã man.[7] Sự kiện này chứng tỏ chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm là một chế độ chính trị bạo ngược nhất trong lịch sử Việt Nam.

8.- Chính quyên Ngô Đình Diệm phát động chiến dịch đàn áp Phật Giáo vào đầu tháng 5/1963  và các chiến dịch tổng cản truy lùng tăng ni Phật từ, tổng cản lùng bắt học sinh sinh viên trong mấy tháng mùa hè năm 1963. Sự kiện này chứng tỏ chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm có chủ trương bách hại Phật Giáo và những thành phần thuộc các tôn giáo khác.

9.- Việc bức tử nhà văn Nhất Linh vào đầu tháng 7 năm 1963. Sự kiện này chứng tỏ chế độ đạo phiệt Da-tô nhắm vào những thành phần có uy tín với nhân dân miền Nam và nhân dân thế giới để tiêu diệt với dã tâm lạc dẫn người đời lầm tưởng rằng ở miền Nam chỉ có Ngô Đình Diệm mới là có uy tín lớn nhất và mới đáng suy tôn.

NHỮNG NGUỜI QUỐC YÊU NƯỚC
VÀ NHƯNG TÊN VIỆT GIAN BÁN NƯỚC

Trong giai đoạn lịch sử từ 1858 cho đến ngày 30/4/1975, những người quốc gia chân chính hay thực sự yêu nước, những người đã hy sinh thân thế, quyết tâm liều chết chiến đấu chống lại quân cướp xâm lăng Vatican và Pháp để đòi là quyền độc lập cho dân tộc. Ngược lại, những tên Việt gian là những người Việt đã chiến đấu trong hàng ngũi Liên Minh Thánh Pháp – Vatican chống lai tổ quốc và nhân dân ta  từ năm 1858 cho đến tháng 7 năm 1954 và chiến đấu  để duy trì và củng cố quyền lực của Vatican ở miền Nam  Việt Nam trong những năm 1954-1975.

Để  cho độc giả dễ dàng nhìn ra  những ai là những người Việt Nam chân chính yêu nuớc và những ai là những tên Việt gian bán nước cho Vatican, cho Pháp và cho Hoa Kỳ trong thời kỳ từ năm 1858 đến ngày 30/4/1975, người viết xin sắp xếp hai nhóm người đối nghịch nhau thành hai nhóm A và B dưới đây, và xin độc giả lên tiếng cho biết nhóm nào được dân tộc Việt Nam công nhận và vinh danh những người  Việt Nam chân chính yêu nước và nhóm nào đã bị dân tộc phỉ nhổ là những tên Việt gian phản quốc và sách sử sử đã ghi nhận như vậy.

NHÓM A: Trương Công Định, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Trung Trực,   Lâm Quang Ky,  Võ Duy Dương. Nguyễn Hữu Huân, Mai Xuân Thưởng, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, Cao Thắng, Đinh Công Tráng, Trương Văn Thám tức Hoàng Hoa Thám, Lương Ngọc Quyến, Trịnh Văn Cấn, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thái Học, Phan Chu Trinh, Phan Bội Chau, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Huỳnh Thúc Kháng,… Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Từong Tam, tất cả các chiến sĩ chiến đấu dưới quyền lãnh đạo của các nhân vật trên đây, toàn bộ Mặt Trận Việt Minh từ nhân vật lãnh đạo cao cấp nhất cho đến thành viên bạch đinh thấp nhấp và tất cả những người chiến đấu trong cuộc kháng chiến 1945-1954 (khiến cho Liên Quân Pháp – Vatican đại bại tại Điện Biên Phủ, khiến cho người Pháp phải rút lui khỏi Việt Nam), Ba Cụt Lê Quang Vinh, Trịnh Minh Thế, Hồ Hán Sơn, Tạ Chí Diệp, Nguyễn Bảo Toàn, Phạm Xuân Gia, Nguyễn Chánh Thi, Nguyễn Văn Lực, Phạm Phú Quốc, Trịnh Công Sơn, Nguyễn Văn Cử, Phan Quang Đán, Phan Khắc Sửu, Hồ Hữu Tường, trên dưới hai ngàn chiến sĩ Đại Việt và trên dưới một ngàn chiến sĩ Quốc Dân Đảng bị chính quyền đạo biệt Da-tô  sát hại tại căn cứ Ba Lòng thuộc tỉnh Quảng Trị và nhiều căn cứ trong hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Nghĩa,  Hoà Thượng Thích Quảng Đức, tất cả các nhà sư, tất cả những Phật tử đã hy sinh và tự thiêu trong từ ngảy 8/5/1963 cho đến ngày 1/11/1963, và tất cả những chiến sĩ đã chiến đấu cho đại cuộc thống nhất đất nước được hoàn thành vào ngày 30/4/1975.

Nhóm B.- Đồng Khánh, Thành Thái, Khải Định, Bảo Đại, Trần Bá Lộc, Huỳnh Công Tấn, Đỗ Hữu Phương, Lê Phát Đạt (Huyện Sĩ), Pétrus Trương Vĩnh KÝ, Ngô Đình Khả,  Nguyễn Thân, Nguyễn Hữu Bài, Lê Hoan, Nguyễn Trường Tộ, Hoàng Cao Khải, Hoàng Gia Mô, Giám Mục Nguyễn Bá Tòng, Giám Mục Ngô Đình Thục, Giám Mục Lê Hữu Từ, Giám-mục Nguyễn Văn Thuận, các Linh-mục Trần Lục,   Hoàng Quỳnh, Mai Ngọc Khuê, Nguyễn Lạc Hóa, Nguyễn Bá Lộc, Tô Đình Sơn, Đinh Xuân Hải, và những nhân vật thế tục như Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Nguyễn Duy Hàn, Cung Đình Vận, Vi Văn Định, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Lê Văn Viễn, Phan Văn Giáo, Nguyễn Đệ, Trần Trung Dung, Trần Chánh Thành, Ngô Đình Cẩn, Nguyễn Văn Thiệu, Lâm Lễ Trinh, Tôn Thất Thiện, Đỗ Cao Trí, Hoàng Xuân Lãm,  Nguyễn Văn Toàn, Ngô Du, Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn Quang, Lâm Văn Phát,  Phạm Quốc Thuần, Trần Kim Tuyến, Lê Quang Tung, Lê Quang Triệu, Trần Khắc Kính, Trần Khắc Nghiêm, Nguyễn Thiện Giai, Dương Văn Hiếu, Nguyễn Văn Hay, Phan Quang Đông, tất cả tín đồ Da-tô thuộc loại “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” hay “Nhất Chúa, nhì Cha, thứ ba Ngô Tổng Thống”, những quan lại trong chính quyền bảo hộ Liên Minh Pháp – Vatican trong thời 1858-1954, những người nhờ thế lực đạo Da-tô và những người nắm giữ những chức vụ chỉ huy trong chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm và những người bỏ tiền ra mua để được nắm giũa những chức vụ chỉ huy trong chế độ quân phiệt Da-tô Nguyễn VănThiệu, v. v…  

Cũng nên biết sách sử đều ghi nhận trong nhóm B có:

1.- Trần Bá Lộc và Huỳnh Công Tấn là hai tên Da-tô Việt gian khét tiếng ở miền Nam, chỉ huy lính đạo Da-tô trong các chiến dịch tổng càn và tiệu điệt các lực lượng nghĩa quân kháng chiến của các nhà ái quốc miền Nam và ở miền Nam Trung Bộ như các ông Nguyễn Trung Trực (tháng 10/1868), Lâm Quang Ky, Nguyễn Hũu Huân (1863),  Võ Duy Dương (chết bệnh vào năm 1865), Mai Xuân Thưởng (1885-1887).

2.- Nguyễn Thân và Ngô Đình Khả chỉ huy đạo quân thập tự Việt Nam trong các cuộc hành quân truy lùng và tiêu diệt lực lượng nghĩa quân kháng chiến dưới quyền chỉ huy của cụ Phan Đình Phùng, nhưng không thành công. Cho mãi tới sau khi cụ Phan qua đời vì bệnh kiết lỵ vào ngày 28/12/1893 (13/11/ Ất Mùi) một thời gian, bọn Nguyễn Thân và Ngô Đình Khả  mới dám đem quân tiến vào căn cứ Ngàn Trươi,  cho người đào mả cụ Phan (án táng ở Núi Quạt), lấy hài cốt đốt thành tro, lấy tro trộn và thuốc súng, rồi bắn xuống sống Lam Giang làm cho tiêu tan hài cốt của cụ để trả thù cho những thất bại trước đó của chúng.

3.- Linh-mục Trần Lục đã   dẫn một lực lượng vào khoảng 5 ngàn tín đồ Da-tô  đi tiếp sức cho lực lượng Liên Quân Pháp – Vatican dưới quyền chỉ huy của Trung-tá Metzinger và Đại Úy Joffre trong chiến dịch tiêu diệt lực lượng nghĩa quân của cụ Đinh Công Tráng tại căn cứ Ba Đình (Thanh Hóa). Nhờ có đạo quân thập tự  này của Linh-mục Trần Lục mà đạo quân Liên Minh Pháp-Vatican mới tiêu diệt được chiến khu Ba Đình của cụ Đinh Công Tráng vào năm 1887. Nói đến người anh hùng Đinh Công Tráng là nhân dân ta nhớ đến chiến lũy Ba Đình và cũng là nhớ đến tội ác làm Việt gian của tên Linh-mục Trần Lục và đạo quân thập tự Phát Diệm nói riêng và vai trò chủ động đánh chiếm Việt Nam của Giáo Hội Lã Mã khiến cho nước ta phải rơi vào cái thảm họa “Trăm năm nô lệ giặc Tây.” Đây cũng là lý do TẠI SAO, ngày nay ở hải ngoại, bọn người “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa  luôn luôn tìm cách sỉ nhục và miệt thị hai chữ “Ba Đình” với dã tâm xoá nhòa cái tội ác Việt gian trên đây của đạo quân thập tự Phát Diệm này. 

4.- Khi mới được bổ nhậm ra làm tri huyện Hải Lăng (Quảng Trị) và Hòa Đa (Phan Thiết) trong những năm đầu thập niên 1920, Ngô Đình Diệm nổi tiếng về phương cách bắt trói các nhà ái quốc (chẳng may bị bắt) vào một cái ghế có khoét lỗ ở giữa chỗ ngồi, rồi lấy nến (đèn cày) đốt ở dưới để hơ nóng (sấy) hậu môn khiến cho nạn nhân không thể chịu nổi, phải khai ra những tin tức của tổ chức, rồi hắn lấy tin tức đó tâng công với quan thày[8].

Tìm đọc lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại, độc giả sẽ  thấy rõ nhóm nào trong hai nhóm A và B trên đây là những người quốc gia chân chính yêu nước và nhóm nào là những tên Việt gian phản quốc bán nước cho Vatican, cho Pháp và  cho Hoa Kỳ. Hai nhóm này loại trừ lẫn nhau.

Trong Chương 8, người viết đã trình bầy với những dẫn chứng đầy đủ cho thấy rằng tất cả chính quyền quốc gia được Liên Minh Pháp – Vatican cho ra đời vào ngày 5/6/1948 cho đến khi rã ngũ tan hàng vào ngày 30/4/1975  thực sự chỉ là giữ vai trò tay sai cho Vatican (cấu kết với đế thực dân Pháp trong thời 1858-1954 và cấu kết với Hoa Kỳ trong những năm 1954-1975.) và được giao phó cho ba ông Da-tô Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy tức Bảo Đại, Da-tô Ngô Đình Diệm và Da-tô Nguyễn Văn Thiệu  đóng vai trò lãnh đạo giống như một tên quản lý làm tay sai cho Vatican. Hầu hết những người được ba ông Da-tô Việt gian này giao cho nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền này đều là những người Việt mang quốc tịch Vatican hay quốc tịch Pháp hay đã từng là những quan lại của chính quyền bảo hộ Pháp - Vatican trong thời “trăm năm nô lệ giặc Tây.” Thực sự, họ là những tên Việt gian bán nước cho Vatican và được Vatican đánh bóng dán cho cái nhãn hiệu là “những người quốc gia chân chính yêu nước”.

Những bằng chứng trên đây cũng cho chúng ta thấy rõ chính những tên Việt gian Da-tô như anh em Ngô Đình Diệm, băng đảng Cần Lao Công Giáo, những tu sĩ Da-tô cấu kết chặt chẽ với chế độ Quốc Trưởng Bảo Đại, với chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm và chế độ quân phiệt Da-tô Nguyễn Văn Thiệu, những người nắm giữ những chức vụ chỉ huy trong các chế độ trên đây, và những người  nhờ  có thế lực đạo Da-tô hay mất tiền mua mới được nắm giữ những chức vụ chỉ huy trong chính quyền và trong quân đội của các chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm hay quân phiệt Da-tô  Nguyễn Văn Thiệu đều là những tên Việt gian chính tông bán nước cho Vatican, cho Pháp và cho Hoa Kỳ. Chính những tên Việt gian này đã hoặc là chủ động, hoặc là tích cực tham gia, hoặc là đã thụ động thi hành những việc việc ám sát, thủ tiêu, bức tử những “người  quốc gia yêu nước thực sự” (như đã nói ở trên) và tàn sát hơn 300 ngàn nạn nhân ở Liên Khu V trong những năm 1955-1963 với mục đích củng cố quyền lực của Vatican ở Việt Nam. Và chính những nạn nhân bị bọn Việt gian chính tông này sát hại mới là những người đã thực sự hy sinh thân thế để tranh đấu cho quyền lợi tối thượng của dân tộc. Tất cả những nạn nhân này đều bị bọn Việt gian chính tông  trên đây gán cho là “phản loạn”, là “Cộng Sản”, là “Cộng Sản nằm vùng” và là “tiếp tay cho Cộng Sản”.

Ấy thế mà từ cuối năm 1975, có một số người Việt hải ngoại thường lớn tiếng tự xưng là “người Việt quốc gia” và tôn vinh  ông Da-tô Ngô Đình Diệm như là một nhà ái quốc đã chết vì dân mà không cần biết ông ta xuất thân từ một gia đình có tới bốn đời nối tiếp nhau làm Việt gian bán nước cho Vatican, cho Pháp, cho Nhật, cho Hoa Kỳ và chính bản thân ông ta là một “tội nhân thiên cổ” đối với dân tộc và đất nước Việt Nam. Phải chăng những người “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” này đang diễn trò “tung hỏa mù” để “mập mờ đánh lận con đen” hầu đánh lừa hậu thế? Rõ ràng là:

    Quân bất chính lại to mồm chính nghĩa
    Phường vong ân lại lớn họng ân công.

Thế nhưng, nhân dân ta rất sáng suốt đều nhìn thấy  rõ sự thật của lịch sử, và biết rõ những hạng người “vừa ăn cướp vừa la làng!” 

Vấn đề đặt ra là:

NẾU chúng ta gọi ông Da-tô Ngô Đình Diệm và những người đồng đạo của ông ta và những người đã triệt để tuân lệnh Vativan tiếp tay cho giặc Pháp đánh phá tổ quốc Việt Nam suốt trong chiều dài lịch sử từ năm 1858 cho đến ngày 30/4/1975 là “những người quốc gia chân chính yêu nước”, THÌ chúng ta phải gọi những người quốc gia yêu nước thực sự đã bị chính quyền ông Ngô Đình Diệm sát hại như đã nói ở trên là Việt gian hay sao?

 Để có thể trả lời thỏa đáng cho câu hỏi trên đây,  chúng ta hãy tìm hiểu những người Việt hải ngoại tự phong là “những người Việt quốc gia” là những người như thế nào!

Tìm hiểu những người hải ngoại tự phong là “những người quốc gia”, chúng ta thấy rằng, gần như hầu hết, họ đều là những thuộc trong một trong hai trường hợp dưới đây:

1.- tín đồ Da-tô thuộc loại “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” hay “Nhất Chúa, nhì Cha, thứ ba Ngô Tổng Thống”.

2.-  Tuy không phải là tín đô Da-tô nhưng vì mang căn bệnh xu thời, háo danh, thèm khát quyền lực mà liên kết với các ông Da-tô với hy vọng được các công đồng Da-tô ở hải ngoại ủng hộ cho nắm giữ một chức vụ nào đó (dù là một thứ chức vụ hão huyền) trong các hội đồng chuột tại địa phương hay trong một tổ chức khác để họ có thể lăng xăng ti toe được nhầy lên bàn độc  đọc diến văn vào những khi có buổi họp mặt với nhau hay với đồng hương tại địa phương của họ.

VÀI LỜI VỀ NHỮNG HÀNH ĐỘNG
CỦA VATICAN VÀ TÍN ĐỒ DA-TÔ NGƯỜI VIỆT

Những sự kiện được nêu lên trong các Chuơng 5, 6, 7 và 8 chỉ là một số trong muôn ngàn vụ mà Vatican đã từng can thiệp trắng trợn vào nội bộ các quốc gia bị Vatican chiếu cố. Việt Nam cũng chỉ là một   trong những quốc gia nạn nhân của Vatican mà thôi..

Có một điều vô cùng trơ trẽn và hết sức trâng tráo là trong tất cả các hành động can thiệp thô bạo vào nội bộ các quốc gia bị chiếu cố, Tòa Thánh Vatican để sử dụng đám cán bộ tay sai là các đám tu sĩ và khối tín đồ bản địa làm đạo quân thư 5 và lực lượng xung kích, đều lấy chiêu bàii đòi tự do tôn giáo, đòi được tự do truyền đạo, đòi được đối xử bình đằng về tôn giáo. Thế nhưng, trong suốt chiều dài lịch sử từ ngày 20/5/325 cho tới ngày nay, chưa bao giờ Giáo Hội La Mã công nhận các quyền tự do này của các tôn giáo khác. Việc thiết lập các cơ chế Inquisitons (các Tòa Án Xử Dị Giáo) trong thời Trung Cổ; việc Giáo Hội chủ trương thiết lập chế độ đạo phiệt Da-tô tại các quốc gia đã nắm được chính quyền, rồi dung bạo lực của nhà nước để cưỡng bách hay chèn ép người dân dưới quyền phải theo đạo; việc đòi hỏi những người thuộc các tôn giáo khác muốn thành hôn với người yêu là tín đồ của Giáo Hội phải từ bỏ tôn giáo cổ truyền của gia đình, phải theo học lớp giáo lý Ki-tô, phải làm lễ rửa tội rồi mới được thành hôn, cho đến ngày nay, tình trạng này vẫn như vậy; v.v… là những bằng chứng rõ ràng nhất nói lên sự kiện này.

Chuyện xẩy ra gần  đây nhất là vào tháng 8/2001 do chính Giáo Hòang John Paul II chủ động và trực tiếp hành động. Chuyện như sau: Giám-mục Emmanuel Milingo 71 tuổi, nguyên gốc là người nước Zambia (Châu Phi). Ngày 27/5/2001, ông giám mục này  đã thành hôn với bà Maria Sung 43 tuổi, một y sĩ người Nam Hàn. Họ đã thành vợ chồng có hôn phối và đã làm phép cưới tại một nhà thờ Thiên Chúa Giáo (thuộc một hệ phái khác) tại New York do tu sĩ Sun Myung Moon làm chủ lễ. Khi được tin này, Tòa Thánh Vatican cho người tiếp xúc với Giám-mục Milingo và đòi ông phải đến gặp Giáo Hoàng vào ngày Thứ Ba trong tuần đầu tháng 8/2001. Khi đến gặp Giáo Hoàng John Paul II, Giám Mục Milingo bị cưỡng bách phải bỏ rơi  bà vợ yêu quý của ông trước ngày 20/8/2001, nếu không thì sẽ bị rút phép thông công. Sự kiện này được tờ The News Tribune (Tacoma) loan tin như sau:

"Tòa Thánh Vatican đe dọa sẽ phạt vạ tuyệt thông  ông Milingo nếu ông không bỏ rơi người vợ cúa ông vào ngày 20/8; ra lệnh cho ông phải cắt đứt mối liện hệ với giáo phái của mục sư Moon, phải công khai hứa sống đời độc thân, "phải biểu lộ lòng tuân phục đối với Giáo Hòang" (“The Vatican had threatened to excommunicate Milingo if he didn’t leave his wife by August 20, sever his ties with Moon’s movement, publicly promise to remain celibate and “manifest his obedience to the Supreme Pontiff." [9]

Trong khi chính Vatican  với chế độ giáo hoàng  (papacy) và cơ chế chính trị của quốc gia Vatican  lại là một chế độ tăng lữ quân chủ trung ương tập quyền toàn trị cực kỳ phong kiến (monarchical sacerdotal) và  từ bao nhiêu thế kỷ nay chế độ toàn trị siêu phong kiến phản tiến hóa này vẫn không chịu cải cách hay dân chủ hóa chính quyền một chút nào cả, trong khi ngay cả những người lãnh đạo của Giáo Hội đã đã công khai phá nát hạnh phúc vợ chồng của ông Giám mục Emmanuel  Miingo – Maria Sung như vậy,  thì cả Vartican cũng như những tu sĩ và tín đồ Da-tô người Việt vẫn ra rả lớn tiếng rêu rao tranh đấu đòi tự do dân chủ cho Việt Nam đòi chính quyền Việt Nam hiện nay dân chủ hóa chính quyền, phải tôn trọng nhân quyền và quyền tự do tôn giáo của người dân mà không biết ngượng mồm.  Thiết tưởng chỉ có hạng người vô liêm sỉ đến cùng mức vô liêm sỉ mới có thể  hành động trơ trẽn và trắng trọn như vậy! 

Vấn đề đặt ra là chính bản thân   Vatican nắm quyền lãnh đạo một thế lực phản dân chủ, cực kỳ chuyên chế, cực kỳ phong kiến, không hề tôn trọng các quyền tự do của người dân dưới quyền và cũng không hề tôn trọng quyền tự do tôn giáo của những thành phần thuộc các tôn giáo khác, thì Giáo Hội La Mã  cũng như tu sĩ và tín đồ Da-tô, đặc biệt là tín tu sĩ và tín đồ Da-tô người Việt, lấy tư cách gì để đòi quyền tự do dân chủ và tự do tôn giáo cho Việt Nam?

Đó là nói về Giáo Hội La Mã và giới giáo sĩ Da-tô nói chung. Còn riêng về giới tu sĩ và tín đồ Da-tô người Việt thì còn có nhiều điều khác nữa cần phải nói để cho mọi người biết rõ.  

Trong suốt chiều dài lịch sử  từ khi đạo Da-tô được du nhập vào Việt Nam vào năm 1533, Giáo Hội La Mã luôn luôn có những họat động chống lại tổ quốc Việt Nam, chống lại nền văn hóa cổ truyền của đất nước và chống lại dân tộc Việt Nam. Giáo Hội đã dùng thủ đoạn khơi động lòng tham lam ích kỷ của con người và nuôi dưỡng nó bằng cách sử dụng miếng mồi vật chất để dụ khi những người nghèo khổ tham lợi “theo đạo lấy gạo mà ăn”, dùng những bánh vẽ thiên đường, hồng ân Thiên Chúa, phép lạ, phép mầu để phỉnh gạt những người ngu dốt ít học theo đạo với hy vọng sẽ được “Chúa đền ơn”, ”Chúa trả công”…, dùng miếng mồi chức vụ trong chính quyền và địa vị ngòai xã hội để câu nhử những phường háo danh, hám lợi và thèm khát quyền lực “theo đạo để  tạo danh đời.”

Do việc sử dụng những mánh mung đê tiện trên đây, ở Việt Nam, con số tín đồ người Việt tăng theo quyền lực của Giáo Hội. Hậu quả là tín đồ Da-tô người Việt  gồm tòan những phường hạ lưu đê tiện (không kể những người bị chèn ép phải theo đạo vì hôn nhân hay vì sự an tòan của mạng sống như ở Liên Khu V trong những năm 1954-1963 và con cháu họ). Những hạng người này đã mất hết lương tính và lương tâm của con người. Bằng cớ là  trong suốt chiều dài lịch sử, nhất là từ khi liên quân Pháp – Vatican tiến vào đánh chiếm và thống trị Việt Nam,  ngọai trừ một số ít người,  tất cả những tu sĩ và tín đồ Da-tô người Việt thuộc loại “ngoan đạo hay “sống đạo theo đức tin Kitô” luôn luôn sát cánh với thực dân xâm lược Pháp và sau đó là siêu cường Hoa Kỳ để chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam. Thái độ sống và những hành động trên đây của họ đã được thể hiện rõ ràng qua khẩu hiệu  do chính họ nêu lên “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” và “Nhất Chúa, nhì Cha, thứ ba Ngô tổng thống.”

Tìm hiểu đặc tính của những tu sĩ và tín đồ Da-tô cuồng tín ở nước Pháp, người viết nhận thấy họ cũng có đặc tính vong bản phản quốc “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”  như giới tu sĩ và khối tín đồ Da-tô người Việt. Sự kiện này được sách Cách Mạng và Hành Động ghi nhận như sau:

“Sau cuộc lẩn trốn của nhà vua (Louis XVI) tới Varennes, các nước Âu Châu lại sôi nổi. Lần này, Louis XVI cam tâm chấp nhận những điều kiện can thiệp của các nước Âu Châu. Do đó, nước Áo và nước Phổ bắt đầu động binh tới biên giới Pháp - Ở trong nước, nhiều địa phương trung thành với Giáo Hội và nhà vua cũng bắt đầu nổi loạn. Nhất là miền Bretagne, Normandie, Vendée vốn là những miền sùng đạo, cũng võ trang nổi lọan để bênh vực các tu sĩ không chịu tuyên thệ với cách mạng – Tình trạng Pháp quốc lúc đó hết sức lung lay. Tại Ba-lê , dân chúng sống trong bầu không khí lo sợ bồng bột như lên cơn sốt…”[10]

Kể từ ngày Cách Mạng Pháp bùng nổ vào ngày 14/7/1789, tu sĩ và tín đồ Da-tô “sùng đạo” người Pháp luôn luôn nổi loạn chống lại tổ quốc và nhân dân Pháp. Tình trạng này vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay.

Cũng may là nhờ có ánh sáng  khoa học và lý trí, con số tín đồ Da-tô người Pháp tỉnh thức và bỏ nhà thờ kể từ thời Cách Mạng 1789 mõi ngày một nhiều hơn. Nhiều nguồn tài liệu cho biết rằng con số tín đồ sùng đạo còn tin tưởng vào tín lý Kitô  càng ngày càng giảm đi rất nhiều. Sự kiện này được hai tác giả Julian Pettifer và Richard Bradley nói rõ trong cuốn Missionairies và được Giáo-sư Trần Chung Ngọc ghi lại trong cuốn Kitô Giáo Kế Hoạch   Cải Đạo Á Châu với nguyên văn như sau:

“Ở Anh… Trong cuộc kiểm tra về ngày chủ nhật năm 1851, vào khoảng 40% dân chúng đi lễ nhà thờ. Một thế kỷ sau (1951), số người đi lễ nhà thờ vào ngày chủ nhật khoảng gần 10%.

Các thông kê tranh cãi nhau về số tín đồ Kitô thuần thành ở Anh thấp như thế nào. Một số người cho rằng số người thường xuyên đi lễ nhà thờ chỉ là 4%. Tới năm 1986 1/5  trong số 2870 nhà thờ Tin Lành ở Luân Đôn chỉ có cộng đồng tín đồ dưới 25 tín đồ; ¾ dưới 100 tín đồ… Nhà thờ trên khắp nước Anh bị bỏ hoang vắng. Đặc biệt là ở Luân Đôn, sự biến cải nhà thờ thành một cơ sở khác là một dịch vụ kiếm lời lớn. Những đèn nhấp nháy Disco soi sáng những khung cửa kính mầu của một nhà thờ chính ở Luân Đôn, nhà thờ này được đặt tên là Hộp Đêm Ánh Sáng; ở Barnsbury, Bromley-by-Bow, Ealing và Highgate, những nhà phát triển địa ốc đã biến những nhà thờ thời Victoria thành những căn nhà ở cho thuê; ở  Wales, giáo phái Trưởng Lão Tin Lành (Presbyterian) biến cải 300 nhà thờ thành những nhà ở cho những cặp vợ chồng trẻ đang trong cảnh khó khăn để mua được một căn nhà đầu tiên. Ở nhiều nơi, nhà thờ được dùng làm kho bán hạ giá bàn, ghế, tủ, giường, thảm và làm tiệm ăn.

Tuy nhiên sự quan tâm về tình trạng suy sụp tâm linh ở Anh chẳng có nghĩa lý gì khi so sánh với Pháp. Theo nhà truyền giáo (Tin Lành) Mỹ David Barnes, mặc dù Pháp có một nền văn hóa phong phú, dân Pháp cũng không biết đến Thượng Đế như những thổ dân thiếu văn minh ở trong những lục địa tối tăm nhất trên thế giới.”  Trong số 54 triệu dân, chỉ có 0.22% theo Tin Lành. Tuy rằng 94% dân chúng được rửa tội theo Ca-tô giáo, chỉ có 2% là thường đi lễ nhà thờ vào ngày chủ nhật. Dù rằng Pháp chịu ảnh hưởng rất lớn của Ca-tô giáo, Hội Truyền Giáo Đến Các Nơi Chúa Biết Đến Phúc Âm tuyên bố Pháp là miền đất phải được truyền giáo.”

(In Bitain: … On  census Sunday in 1851, some 40% of the population went to church. A centrury later, in 1951 it was nearer 10%.

The statisticians quible about how just low the figures are for practicing Christians in Britain. Some argue that consistent church attendance  is as low as 4%. By 1986 a fifth of London’s 2870 Protestant churches had congregations of less than 25; ¾ had less than 100 members. Churches all over Britain lie abandoned and direlict. In London particularly, church conversion has become big business. Disco lights illuminate the stained-glass windows of one central London church, remained the Limelight Nighclub; in Barsbury, Bromley-by-Bow, Ealing and Highgate, developers have turned Victorian churches into exclusive apartments; in Wales, the Presbyterian Church is converting 300 churches into homes for young married couples struggling to buy a first house. Elsewhere, churches are being used as furniture warehouse, carpet discount stores and restaurants.

But concerns over Britain’s spiritual welfare is nothing compared to that over France. According to the American  missionary David Barnes, despite the richness of their culture, the French “are as ignorant of the things of God as the uncivilsed natives of one of the world’s darkest continents.” A mere 0.22% of France ’s 54 million population are evangelical Protestants. Although 94% are baptised Catholics, a mere 2% regularly attend the church. Despite the huge influence of the Catholic Church, the Unevangelised Field Mission (UFM) have declared France a mission field.”[11]   

Trong thực tế, Giáo Hội đã thành công trong việc biến tất cả các tu sĩ và tín đồ Da-tô ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới thành những hạng người “sùng đạo  hay “ngoan đạo” có  bản chất “vong phản, phản dân tộc và phản quốc” với những suy tư, thái độ và hành động giống như những  tu sĩ và tín đồ Da-tô “sùng đạo” ở Pháp và ở Việt Nam. Có thể vì tình trạng này mà văn hào Voltaire mới gọi đạo Thiên Chúa La Mã là “cái tôn giáo ác ôn[12], học giả Henri Guillemin gọi Giáo Hội La Mã là “Cái Giáo Hội Khốn Nạn” (Malheureuse Église)[13] , học giả Charlie Nguyễn gọi là “đạo máu  và “đạo bịp[14], người viết gọi là “đạo Hà Bá”, và nhà báo Long Ân đã nhận xét về “cái tôn giáo ác ôn” bằng những lời lẽ chua xót rằng Giáo Hội La Mã “đã phản lại tôn giáo, đã chặt đứt cây cầu đưa đến cuộc tìm kiếm chính mình, đã cúi đầu đi trên bốn chân để từ con người trở về với nguồn gốc của con người súc sinh.”   (Xem lại Chương 3, chú thích 66).

CHÚ THÍCH:


[1] Joseph Buttinger, Vietnam: A Political History (New York: Frederick A. Praeger, 1967), p. 307.

[2] www.Take2Tango.com.   Ngày 30/10/2005.

[3] Văn Hung “Vui buồn nghề Thầy "gođautre".(trích bai của TTT).”  vanhung@sbcglobal.net.  Ngày 14/10/2005) 

[4] Mộng Bình Son, Đông Châu Liệt Quốc, Quyển 3 (Fort Smith, AR: Sống Mới, 1980?), tr  972-974.

[5] Lê Hữu Dản, Sự Thạt  - Ðặc San Xuân Đinh Sửu  1997 (Fremont, CA: TXB, 1997), tr. 23.

[6] Trần Tam Tỉnh, d., tr 126-127.

[7] Nguyễn Mạnh Quang, Nói Chuyện Với TCVNCH Foundation  (Houston: Đa Nguyên, 2004), tr. 124-131.

[8]  Lê Hữu Dản,Tài Liệu Soi Sáng Lịệu Sử - Tập Hai (Wesminster, CA: Van Nghệ, 1996), tr 326-327..

[9] Nicole winfield. “Archbishop’s wife pleads with Vatican.”The News Tribune[Tacoma, WA] August 12, 2001: A5.

[10] Nghiêm Xuân Hồng, Sdd., tr. 46.

[11] Nhiều tác giả, Kitô Giáo Kế Hoạch Cải Đạo Á Châu (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2005), tr.. 201-3.

[12]  Bùi Ðức Sinh, Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo - Phần Nhì  (Sàigòn: Chân Lý, 1972), tr 165.

[13] Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội Và Xin Lỗi? (Garden  Grove, CA: Giao Đi?m , 2000), tr 92.

[14] Charlie Nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (Garden  Grove, CA: Giao Đi?m , 2000), tr  228 va 272. 

© Copyright 2005 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home