ĐẶNG THÙY TRÂM -
BÀI THƠ GỞI LẠI Giữa một cuộc
chiến tranh có tên “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa” thời điểm
1966-1973, có những ngôi mộ không năm tháng và những bài thơ không tên lẫn
giữa “vùng trời hố bom” mãi cho đến bây giờ… A BÀI THƠ KHÔNG
TÊN:
Bài thơ với 56 câu.
Mở đầu có cấu trúc 8/7, cuối cùng kết lại 6/8. Không đề. Không thật
hay nhưng tiếng lòng khao khát ước mơ hạnh phúc thì ngập tràn cay đắng
trải dài trong một bố cục tương đối chặt chẽ. Bài thơ đó nằm
trong cuốn sách “có số phận kỳ lạ”: ''Nhật Ký Đặng thùy Trâm''. ''Nhật ký Đặng
thùy Trâm'' còn nhiều nghi vấn những cốt lõi là “tiếng lòng” của một
cô gái hy sinh trong chiến tranh có tên để lại một bài thơ không tên. Thay vì thắp một
cây nhang, đặt một vòng hoa, tôi chỉ xin được làm người chia sẻ nỗi
khát khao yêu thương, những hoài bão ấp ủ mà cuốn nhật ký của Th đã
nói lên một ''tiếng lòng'' với những niềm riêng không thể nào lý giải
như một bài thơ chưa khai sinh nổi một cái tên. I. '' Bài thơ không
tên''( dạng phân tích ) : Có thể chia ba khổ: 1. Đoạn một : 6 câu đầu: Hoàn cảnh thực tại
của người viết :
Một bối cảnh:
Núi rừng, mưa gió trùm kín khổ đầu. Rừng đây, núi đó mênh mông làm
con người vốn bé nhỏ trước thiên nhiên càng như nhỏ bé hơn trong cơn
mưa dày, mưa xối xả, mưa hối hả không kịp vuốt mặt. Mưa đã “dày”
còn thêm “gió mùa đông bắc” tai ác kéo về,
đưa sự giá lạnh gởi vào hồn người bé nhỏ kia cô đơn thêm
trong gió rét.Vậy mà, con người nhỏ bé ấy đã như vượt qua nỗi buồn
rét mướt, dám đương đầu với thực tại: Đối với con người can trường
đó, núi rừng vẫn “lộng gió”!. “Tôi đứng đây” ngang nhiên hứng
chịu sự khắc nghiệt, không thụ động để lẫn núp những cơn giông
bão của cuộc đời. Câu đầu tiên đã chuyển tải đầy đủ nội dung trên.
Nhưng con người ấy dù cảm giác có
“gió lộng” bao quanh phía ngoài thì từ trong sâu lắng nhất, nỗi buồn
như có cánh, từ từ đi ra, bay lên. Nói cách khác: Chui ra, gậm nhấm…Đó là nỗi niềm tâm sự
gì của người ở núi rừng cần người đọc chia xẻ?. Chính là “nỗi nhớ
thương da diết”. Nếu chẳng phải là một kẻ xa quê, làm thân ly khách
thì sẽ không bao giờ có nỗi niềm thương
nhớ sâu sắc ấy trỗi dậy, vượt qua rét mướt để như được về với
một thời chưa có nỗi giá lạnh giữa rừng núi bạt ngàn . Hai câu sau giúp ta
giải tỏa thắc mắc: Có một người đã đi xa, lên tận núi rừng sâu thẳm
để đêm nghe gió hú, ngày súng bom…ru. Người ấy đang đội mưa, đội
gió, chịu rét để cho nỗi nhớ thương bay về
với “nhưng người thân yêu ở nơi xa.” Người hiện diện ở rừng núi bạt ngàn
đó đang nghĩ gì trong “giá lạnh chiều
nay” ở khổ giữa? 2. Đoạn hai : 33 câu giữa được chia tạm ra
ba khổ nhỏ: Những nỗi nhớ mênh
mông đó được tác giả phân ra rõ ràng có chủ đích qua những trạng từ
“chiều nay” ngắt đoạn đột ngột như “giật áo” ta quay lại cùng
người viết với suy ngẫm…. a. Tác giả nghĩ về MB -Viết
dùm tâm trạng người nơi ấy trong 9 câu tiếp:
( xem bài thơ từ đầu ).
Câu thơ chững lại
hai từ và năm từ rồi thả ra như không
ghìm “vó ngựa” nhớ thương được nữa. Chúng như một lời thầm thì…
Một hình ảnh ẩn dụ xuất hiện “trái tim tổ quốc” cho ta liên tưởng
về Hà Nội lộng gió từng chiều với một con người bí ẩn lẫn vào đại
danh từ chung “Ai” đang một mình đi giữa hàng cây và cùng đang nghĩ về
miền Nam qua hình ảnh ẩn dụ nữa: “bóng dừa”. Lạ quá! Buổi chiều
còn bóng dừa là buổi chiều hoàng hôn mất rồi!. Liên tưởng ban đầu
“thần giao cách cảm” đã ảm đạm
hoàng hôn như một điềm báo gở?! “Bóng dừa” giữa
công viên Thống Nhất - Hà Nội gợi lên một “Dáng đứng Bến Tre”- quê
hương xứ dừa ngọt ngào trĩu quả. Một sức sống mạnh mẽ lại vươn lên
trong hoàng hôn giống như hình ảnh của
một kẻ đầu sông nhớ người cuối bãi giữa đôi bờ khát vọng!. Một
tình cảm quê hương che chắn tình cảm riêng tư kín đáo vô cùng!. Một
tình yêu mang chất cách mạng mất rồi. Một tình yêu Tố Hữu rành rành
chưa ráo mực:
Để “em yêu” chớ
không phải “anh yêu”. Dè sẻn đến mức tội nghiệp! Liên tưởng người
(Ai) nghĩ đến ta (Miền Nam). Cái riêng ẩn dưới cái chung. Tự mình viết
kịch bản và kiêm diễn viên với hai phân vai trái ngược hoàn cảnh, trái
ngược thuộc tính và trái luôn khí chất. b. Lời tự đáp: 4 câu tiếp:
Đoạn thơ như chỉ
là tiếng lòng nghĩ sao nói vậy. Từ không trau chuốt. Mạch tải chạy
luôn chẳng ngừng như để cùng kịp đón mùa xuân. Đó chính là lòng “tha
thiết yêu thương” của kẻ cô đơn giữa núi rừng lạnh lẽo “cảm nhận”
tình cảm từ “trái tim tổ quốc” ở trên. Tha thiết đó và tha thiết
đây: Hai người ở hai nơi đã nghĩ về nhau, nhập về với kỷ niệm đẹp
như một thuở chưa từng có chiến tranh, chưa cảm nhận chiến tranh là
nguyên nhân của sự xa cách:
Câu thơ như rung lên
vì cánh gió đã mang hơi xuân về ấm áp làm cho nỗi niềm thầm kín kia đã
như quên hết những gì gọi là “cái chung” và để mặc cho chút tình cảm
riêng trở về đánh động bằng kỷ niệm một đêm nào êm đềm biết
bao: “Vai kề vai vui đón xuân sang”. Người ở núi rừng
đã hé mở cho người đọc “tiếng lòng” của mình tiềm ẩn trong cái lớn
lao đất nước chợt bừng lóe lên. Thà một lần được gào trong gió,
thét trong mưa. Gió mưa dĩ nhiên “im như thóc” không kể lễ nỗi lòng
ghìm nén của người giữa núi rừng gió lộng cho ai nghe. Có như vậy, lòng
người ở núi xa mới thấy dễ chịu hơn vì tình cảm không thể dối lừa
nếu đã không yêu thương sao có thể viết bừa lên trang giấy?. Một thứ “tình
đồng chí” tha thiết của Chính Hữu đem vào hoàn cảnh này hóa ra gượng
ép để phủ nhận một tình cảm thiêng liêng còn dữ dội hơn tình đồng
chí. Và vượt lên tất cả. Đó là Tình Yêu . Người đó là ai
?. Ở đâu ?. Trạng từ ''Chiều nay '' thứ hai đưa ta tìm người cùng tác
giả . * Người đó là
''người ra trận'':
Bốn câu trên đã
gọi đích danh, cung cấp cho ta một địa điểm: Trường Sơn; một con nguời : Giải phóng quân; một nhiệm vụ: Ra trận. Hình ảnh người
''giải phóng quân một lần ra đi. Nào có sá chi đâu ngày trở về'' là mục tiêu, lý tưởng của lớp thanh niên
thời loạn. Đó cũng là hình ảnh đại diện cho một tầng lớp trẻ miền
Bắc dám ra đi theo tiếng gọi non sông mà trong ''Bài ca xuân 68'', Tố Hữu
đã hết lòng ca ngợi :
Thương yêu một mẫu người được
coi ''đẹp nhất'' thời bấy giờ quả là niềm tự hào cho những cô gái. Từng câu chữ lại
tuôn ra cho ''người thương mến'' từ khi anh mãi mê thả hồn về miền Nam
giữa công viên Thống Nhất -Hà Nội cho đến khi anh vượt Trường Sơn.
''Trên đỉnh Trường Sơn ta hát ngàn lời ca'' đó, anh sẽ nhớ về hình
ảnh ''dãy núi phương Nam'' với '' bóng dừa xỏa tóc. Em dang tay gỡ rối
tuổi học trò''?. Giữa mênh mông rừng núi trập trùng, biết tìm em nơi đâu
?. May thay, tác giả đã mở lối: Nỗi nhớ mênh mông đó đã được gom tụ lại bằng một nỗi nhớ dễ bề định
hướng. Đó là ''nỗi nhớ Sa Huỳnh'':
Ta thấy từ Bắc
vào Nam có lắm sông nhiều biển và có biết bao con sóng: Sóng bạc đầu
Qui Nhơn thương nhớ về triền sóng gọi Nha Trang. Sóng tràn cát trắng Cam
Ranh chạy về ghành Phan Rang, Phan Thiết. Sao người viết bài thơ chọn sóng
ở Sa Huỳnh ?. Thì ra cái ''người
thương mến'' đó đã bám trụ Sa Huỳnh-Quảng Ngãi, nơi xứ sở của muối biển trắng tinh như câu
ca dao ngày nao :
Một người ''chín
nhớ mười thương'' không ở xứ dừa mà ở ngay giữa miền đất nước.
Thật kỳ lạ, tình cảm đậm đà,
chung thủy đầy chất lân tinh của muối ấy đang nhảy múa trong một bầu
trời chung như chưa từng bị chia cắt nên tràn trề hy vọng tương lai :
Nhưng hỡi ơi ! Con
sóng tình yêu của Xuân Quỳnh da diết biết bao :
đã dạt vào bờ một
quy ước mà bàn tay chỉ có thể chạm
vào giấc mơ và có khi chui vào mơ cũng không bắt nổi: Chờ anh lập chiến
công, chờ đất nước yên vui rồi mình mới được hưởng chút ''dư
hương'' còn sót lại!. Điềm báo trước đã không hy vọng mất rồi vì sự
thuỷ chung chỉ riêng em thì làm sao giữ nổi con thuyền tình anh chỉ thích
lênh đênh kia, cập bến!. Vì vậy, ước mơ
“vai kề vai” như hôm nào, khát khao “tay trong tay” như dạo nọ đã
thành bọt biển mù khơi!. Sao mà nghiệt ngã thế?. Cũng một mùa xuân mà
mùa xuân trước đã đi vào kỷ niệm, mùa xuân sau lại chưa chín tới!. Cũng
một con người mà mỗi khát khao đời thường vẫn còn như ở hai bờ đại
dương. Người đó là ai sao dường như cố nén tiếng thở dài trong niềm
vui tự tạo. Khát khao “anh hôn em, hai người đồng chí” thôi cũng ở tận
phương nào!. Một trạng từ “chiều
nay” thứ ba xuất hiện cho biết người sẽ chịu nhiều thiệt thòi ấy là ai .
Nếu đại từ “Ai”
(đại từ phiếm chỉ) đoạn đầu là hình ảnh người con trai trong bộ đồ
chiến sĩ giải phóng quân thì đại từ “Ai” trên đây không thể khác hơn
ký âm riêng của một người con gái đang ở Sa Huỳnh bình thường như bao
người con gái khác. Cô gái kia được miêu
tả đang ở một địa điểm ‘'thôn xóm quen thuộc’' chứ không phải
là cô gái thành thị và tự nói với mình cũng là một cách nhắn gởi ý
nhị đến cho một người. Sợi tơ nhện hồ
hỡi giăng qua cõi lòng lúc đầu đã chùn lại với thời gian. Ai
nghĩ gì mà đôi mắt long lanh. Mắt “long lanh”
hầu như dùng đặc biệt cho tuổi thơ, cho người con gái tràn đầy sức sống,
tràn đầy tình yêu. Một tình yêu đã xa quá, đã vượt khỏi tầm tay mà
vẫn cố giữ, cố nhớ thương. Bởi vì, tình yêu ấy thật diệu kỳ thổi
vào lòng cô gái thôn dã kia một sức mạnh tinh thần chống chọi lại với
nỗi vất vã cuộc đời. Thành ngữ “mưa nắng dãi dầu” như “một nắng
hai sương” mang “chín nhớ mười thương” đã không làm quặn đôi vai
nhỏ bé mà ác nghiệt hơn lại đi qua “mái tóc còn xanh” !. Vô tình hay cố
ý mà lời thơ với từng câu chữ như cứa vào tim người: Tuổi xuân đó
sẽ vì một thứ tình yêu (bao gồm đất nước và riêng tư) mà vùi chôn vĩnh
viễn với thời gian (nắng mưa). Một hiện thực đau xót vô vàn: Tình yêu
không có trẻ, già nhưng con người làm sao không tới thời bạc tóc?. Hình như, người
con gái này đã linh cảm “một lần đi biết bao giờ gặp lại, một lần
xa biết bao nữa quay về” nên cố nhớ về một kỷ niệm cuối :
Thì ra đó là kỷ
niệm một lần chia tay, một lần đưa tiễn. Tiễn đưa ai và chia tay ai?. Cô gái đã tiễn
đưa một người vào miền Nam làm giải phóng quân!. Hiện tại không có
gì, quá trống trãi thì đành phải mượn quá khứ để tự an ủi mình.
Quá khứ càng đẹp đẽ bao nhiêu thì hiện tại sẽ xa xót bấy nhiêu. Với
cô gái này, yêu nhiều trong quá khứ sẽ đau khổ với hiện tại. Đơn giản
thôi, cái người mình yêu đã không thể cùng mình đi bước cuối cùng. Cô đơn từ đó. Đọc lại hai câu
thơ song song:
ta cứ tưởng người
con gái này chỉ một lần tiễn đưa và đưa một người. Nhưng không, hai
câu, hai ý tách biệt hẳn hòi: Câu đầu: “ta đã tiễn đưa” nghĩa là
cô gái “tiễn đưa” một người. Từ “tiễn đưa” dùng chính xác tương
ứng với mức độ tình cảm đã có của hai người trước đó. “Tiễn
đưa” cũng là “tiễn” cả người đi lẫn “đưa” lòng mình theo người.
Một buổi tiễn đưa ngập tiếng sóng trong lòng, đầy hoàng hôn trong mắt
của Thâm Tâm cách ba mươi ba năm về trước đó. Câu hai: Người con gái “chia tay” với người
trong gia đình. “Chia tay” là từ lấp lửng hai ý: về và không về. Hai
câu thơ, tác giả dùng hai từ tiễn biệt khác nhau ‘tiễn đưa” và “chia
tay” để dành cho hai đối tượng một người yêu, một gia đình. Cấu
trúc đặc biệt này đã phá vỡ cấu trúc thường của thơ với hai câu:
Câu trên mở. Câu dưới kết. Câu trên mở ''ta đã tiễn đưa” nhưng không
kết được vì đối tượng tiễn không được nói đến. Câu dưới nhập lại
cả hai cùng mở: “Những buổi chia tay” đã kết lại được đối tượng
chia tay “nặng tình ruột thịt”. Dẫu có chút kỳ
quặc như thế nhưng tác giả chưa đủ sức sử dụng ngòi bút huyền hoặc,
cực kỳ tinh thông như Thâm Tâm để đẩy nhân vật đến chỗ không ai hiểu
thấu như trong “Tống biệt hành”. Thành thử, người đọc dễ dàng nhận
ra ai là người đưa, ai là người đi : Người yêu ra đi và đến lượt mình
đi. Anh đi trước. Em cũng tiếp bước theo sau. Mức độ tình cảm lẫn
vào nhiệm vụ qua câu thơ đã đưa họ
lên bực ngang hàng. Không ai dám coi thường đối phương. Yêu một người
có tầm cỡ thì người yêu kia cũng phải có cỡ nào!. Nhưng liệu sự chạy
đua này có giúp cuộc tình kia trong chiến tranh đạt đến một giá trị
được hưởng hay không: Có hạnh phúc khi cả hai
“vẫn không phai tình thương” vẫn ''giữ lòng chung thuỷ ''
hay không?. Bốn câu thơ sau của
đoạn thứ hai đã bộc bạch một tâm trạng trước sau như một:
Đại từ “Ai”
trở lại như nói cho mọi người mà thật ra nói riêng cho ‘người ấy”
như một lời'' trăn trối ''cuối cùng, hiên ngang đầy khí phách. Không
được đào tạo dưới một “mái trường xã hội chủ nghĩa”, người con gái này không thể có một ý
chí sắt đá khiến ta liên tưởng đến những “bài học thuộc lòng”
mà không học sinh nào dám quên. Một bài làm văn muốn “sống” phải tìm
hết cách đem hình ảnh Đảng và lãnh tụ vào. Cuối bài phải gân cổ hô
khẩu hiệu: “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” hay “Xung phong bất cứ
nơi đâu khi tổ quốc cần”. Trò viết hoài cũng ngán mà thầy đọc hoài
cũng ớn đến mang tai. Biết làm sao hơn!. Cho nên, nhìn chữ
“chết” cho “đất nước tự do” trong bài thơ không tên này, ta chỉ
có thể nghĩ “chết” cho đất nước không có ngoại bang xâm lược còn
“tự do” thật sự như cô gái kia mong mỏi, chao!. Vẫn “bóng chim tăm cá”!.
Cho dù là vậy, từ “chết” kia không ẩn núp dưới những từ đồng
nghĩa khác âm sao siêu hơn như : ra đi, về cõi vĩnh hằng, sang bên kia thế
giới, hy sinh, bỏ mình, khuất núi… mà vẫn dội vào lòng ta tiếng sóng
Sa Huỳnh xót xa là vì lẽ nào?. Vì con người
xác định ''dù ta có chết'' ấy khi sống đã có lý tưởng hẳn
hòi là “vì đất nước tự do” là vì “tình thương chung thủy”. Con
người sống không là người tầm thường thì nên chọn cái chết không ra
ngoài từ “cao cả”. Những câu thơ cứ
chạy đi, chạy mãi không dấu chấm, dấu hỏi, ngắt, dừng, đổ lại lúc
nào cũng chẳng biết như một lời tuyên thệ của một người con gái nơi
“thôn cùng xóm vắng” ở biển Sa Huỳnh. Nàng là ai?. Làm gì ở đó
trong cuộc chiến?. 3. Đoạn ba: Sức mạnh và niềm tin tuyệt đối
trong đoạn có trạng từ thời gian “chiều nay” cuối cùng: a. Sức mạnh nào?.
“Ai” ở đây lại
trở thành thằng đại từ rắc rối. Ai trên đã rõ. Ai giữa đã tường.
Vậy thì “Ai” cuối đoạn thơ thì là ai?. Tại sao giữa một đoạn toàn
“Ai” đầu câu bỗng xen vào “Ta” và “Một”. Giả sử năm câu trên
mở đầu bằng loạt đại từ “Ai”, ta dễ dàng nhận ra: Tác giả chỉ
chung tất cả. Những câu hỏi thiếu dấu để hỏi làm cho ta có cảm tưởng:
Người làm thơ chưa rành rọt về thơ mà cũng dám làm, đã là một can đảm.
Người làm thơ đặt câu hỏi mà không cần câu trả lời thì chính là “Ta”
hỏi để'' Ta'' trả lời. “Trong nghìn suy
nghĩ’ của tác giả, ta lại gặp những câu “động não” khá lý thú. Nếu
“Ta” là “Ai” ở câu một, hai và bốn là người con gái thì ''Ai''
trong “Ai lo cho đồng bào anh em đồng chí” chẳng thể nào là của cô
ta?. Nhiệm vụ, trách nhiệm này to tát quá làm sao cô gái nhỏ bé không quyền
cao, chức trọng kia gánh vác cho nổi hai từ “đồng bào”?. Cho nên đại
từ “Ai” ở đây như một câu hỏi
tu từ bỏ ngõ.
“Đôi mắt đen”
này của ai?. Tạm thời, ta hiểu theo văn bản là của một người. (Vì chỉ
có một đôi mắt). “Đôi mắt long lanh” ngày nao qua chiến tranh và nỗi
chờ mong đã thành “đôi mắt đen thâm quầng mất ngủ” (còn chưa nghỉ).
Đôi mắt ấy chính là của người bám biển Sa Huỳnh. Nhưng bài thơ không
tên giữa cuộc chiến có tên đặt trong cuốn sách mới đặt tên ''Nhật
ký Đặng thùy Trâm'' khiến người viết không thể bỏ qua chi tiết nhỏ
xíu dễ thương này trong bài thơ. Nếu bài này chưa
biết tác giả thì chỉ cần căn cứ vào văn bản vài từ là biết ngay là
bài thơ ai làm, làm cho ai, viết ở đâu?. Bài thơ ghi rõ: Sa
Huỳnh tức là ở Quảng Ngãi. Có một
người con gái tên Thùy Trâm( Th) đã xung phong vào chiến trường Đức Phổ-
Quảng Ngãi. Người yêu Th là M. giải phóng quân. Người Th thương quặn lòng
lại là Thuận –người em kết nghĩa đồng nghiệp- đồng chí. Trước bài
thơ này là những trang viết của Th dành cho M. Dứt khoát bài thơ này, Th
viết cho mình và cho riêng M. Nhưng đến đoạn cuối bài thơ, tình cảm của
M. đã không đủ sức cho Th viết tiếp câu cuối cùng. Nỗi nhớ về người
khác lại hiện ra hướng ngòi viết tác giả chạy theo tiếng lòng chân thật. Toàn bộ cuốn nhật
ký, Th chỉ dùng ''đôi mắt đen ''một lần cho M.trong câu: ''M. đứng nhìn
theo Th đi không ngoảnh lại biết rằng một
đôi mắt đen đang dõi theo Th'' (ngày 5.5.68 trang 45 sách in và trang 14 viết
tay). Một lần cho Khánh-thương binh bị lân tinh đốt: ''Đôi mắt đen vui
cười hôm nay chỉ còn là hai hốc nhỏ mi mắt đã chín vàng'' ( ngày
29.7.69 trang 184 bản tay, 175 sách in). Một
lần dùng cho Khiêm, người bạn thân thiết: ''Khiêm chết rồi, đôi mắt
đen dịu hiền giờ đây mở trừng căm giận" (ngày 16.8.69 trang 72).
Còn lại, Th chỉ dùng riêng cho Thuận : “Tạm biệt em, nhất định sẽ còn gặp lại em, sẽ hôn
lên đôi mắt đen thân yêu của em” (7.2.70 trang 222). Chính đôi mắt ấy
đã làm sáng bầu trời : “Đêm tối, mà bầu trời vẫn rực sáng! Vì
ánh chớp, vì ánh lửa… hay vì một đôi mắt đen rực sáng tình thương”
(17.6.68 trang 159). Trong giờ chia tay, Th cũng đã viết: “Giây phút chia tay
mình nhìn thấy trong đôi mắt đen ngời ấy một nỗi nhớ thương kỳ lạ”
(3.12.69 trang 200) và “Đôi mắt đen ngời sáng nhìn mình lo âu tha thiết”
(5.3.70 trang 232). Đây cũng là ánh mắt của Thuận mà Th được nhìn lần
cuối cùng!. Phân tích những
bài thơ khó hiểu nhiều khi phải cần những cứu tinh (cuộc đời tác giả,
tác phẩm) để giúp ta tránh hiểu xa rời cách hiểu căn bản của bài thơ.
Vậy thì đây nên hiểu là ánh mắt của ai ? Câu hỏi này cũng
chỉ để hỏi cũng như Th đã từng tự hỏi. Tự hỏi lòng để như được tiếp sức. Những từ quen thuộc như “đồng
bào”, “đồng chí” đã đi vào máu thịt của những người sống trong
một thời lửa đạn. Thời ấy, tình cảm con người trên chiến trận
dành cho đồng đội còn nhiều nét “thật” hơn thời hòa bình vì cuộc
sống của họ đã gắn chặt nhau trên từng cây số. Trong chiến đấu, họ
không có giàu, nghèo mà chỉ có “chết” hoặc “sống”. Những hy sinh
thời ly loạn không tính ''lời, lỗ '' như bây giờ. Một từ “hy sinh”
vì đất nước ngày nay đã không còn ai can đảm ôm vào lòng như '' một lý
tưởng'' của một thời kỳ chiến tranh có tên bất diệt với một khát vọng
đời thường : b. Niềm tin tuyệt đối và khát
vọng yêu thương:
Trạng từ “chiều
nay”ở đầu mỗi đoạn với ba chấm lửng biến mất. “Chiều nay” với
những hồi ức đã biến vào câu thơ cho ước mơ hôm nay nhưng đã vĩnh viễn
không bao giờ thực hiện khi người con gái này còn sống. Từ “bay”
trong ''bay về sum họp'' đã trở thành nghĩa “đi mây về gió”. Chỉ
cách đó, nguời ta mới có thể thực hiện mơ ước và khát vọng của
mình khi đã “về bên kia thế giới”!. Khi người làm thơ
trở về tình cảm thật của lòng thì những
từ xưng hô “Ai đó”, “Ai đây, hoặc “Ta” đầy khí phách cũng rơi rụng tuốt
luốt. Cái “tôi” trở về với người thân, với gia đình, với người
yêu có gì mà khách sáo mà giữ vẻ?. Tôi hôn. Tôi khóc. Tôi yêu. Từ lâu
nay, những tình cảm thiêng liêng này như là những “triện son” đóng
vào cuộc đời của những người chân chính với những khát vọng yêu thương. Nhưng khát vọng
yêu thương của người con gái trong thơ lại nằm trong niềm tin tuyệt đối.
Nhịp thơ tự do dàn
trải nỗi niềm tâm sự bỗng như được sức mạnh tự tạo mà chuyển đổi
đột ngột, cứng cáp hẳn lên:
Thể 6/8 thường
“được lòng” người đọc ở cách gieo vần êm dịu. Ở đây, vần êm
dịu được cô gái sử dụng để chuyển tải nội dung của một người
đầy quyết tâm từ nút “đi” và nút “đến”. Tình cảm đã trào ra hết
ở trên. Tiếng lòng đã thố lộ được nên cơ thể cũng như trạng thái
tâm lý từ dạng căng như sợi dây đàn đã được thư giãn, quân bình.
Cái “tôi” của người trong cô đơn tột cùng vừa bộc phát biến mất
sau một trận bão lòng để nhường chỗ cho một lý tưởng bất di, bất dịch
xuyên suốt bài thơ. Đó là lý tưởng: “Chẳng kẻ thù nào ngăn được
bước ta đi”, “mắt nhìn vẫn một hướng về ngày mai”. Và, đã đến
lúc như Nguyễn đình Thi trong ''Đất nước'' quyết lòng:
“Mắt nhìn một hướng”
của người con gái nối tiếp “chí lớn chưa về bàn tay không” của
Thâm Tâm cộng thêm nét cương quyết, dứt lòng “đầu không ngoảnh lại”
của Nguyễn đình Thi đã thêm vào văn học chống Pháp, chống Mỹ một nội
dung về tinh thần cách mạng ở thế tiến công: Người không quay đầu
nhưng lịch sử sẽ quay mắt nhìn bốn hướng để thẩm luận về những
hy sinh vì không có sự hy sinh nào mà vô nghĩa . Hoán dụ quen thuộc
“bàn chân” đi với cụm từ như ngạn ngữ “lội suối băng ngàn” đã
chắp cánh ước mơ về một ngày mai tự do, hạnh phúc của người con gái
trong thơ thành tiếng nói khát vọng chung của một dân tộc có quá nhiều
chiến tranh chính nghĩa và tương tàn anh em. Không ai tin, chẳng
ai ngờ những lời lẽ mang đức tin, tự hào về “quân xanh màu lá”, “đôi
dép bác Hồ” cứng cáp, kiên cường như thế, rất “Đảng” như thế lại
phát ra từ một cô gái tuổi đời vừa mới hai bảy? Bài thơ với những
câu thơ đơn giản giống một khúc hát trên đường hành quân của một
loài hoa rừng bách nhật, như hoa hướng dương luôn hướng về phía mặt
trời. Tiếc thay, “mặt trời chân lý” ở quá cao và quá nóng. Cuối
cùng sự nóng bỏng của chiến tranh làm trái tim con người khô queo tình thương
nên trái tim ấy lại tìm về một “năng lượng” khác:
Từ “Ai” đã
dành trọn cho một người. Tôi nghĩ rằng con người ấy không phải là người
mà Th –người con gái chung thuỷ đã yêu.Tình yêu riêng tư lại phải tìm về nơi ẩn náu ''tình thương''
chung chung của đất nước. Ở trong mái che ấy, tình yêu mới sống nổi
trong một thời kỳ chiến tranh mà tất cả phải dành cho Đảng, cho cách mạng. Nói đi, dằn lại,
vẫn có một “tình thương” kỳ lạ phát ra sức mạnh đủ quật ngã
gió mưa, rét mướt, gian nan. Không có chút “tình thương” bé nhỏ đó
mà tác giả cố tình lánh né, cho nó “núp bóng từ bi” thì bài thơ này
trở thành bài văn ca ngợi chung chung, lên gân, nắn cốt nằm chết trong
cô đơn vì ảo tưởng về ngày mai: Đất nước tự do. Nhưng dẫu ngày mai
đất nước tự do mà không còn bóng dáng tình yêu thì tự do còn gì ý nghĩa! II. Tổng kết: Bài thơ 56 câu,
không tên giữa cuộc chiến tranh có tên đã đi vào đời . Xuyên suốt bài
thơ là những trăn trở về con người với tình thương, với ước mơ, với
một ý chí sắt đá, sống chết hết mình vì lý tưởng đã chọn. Bài thơ
không thật hay về nghệ thuật nhưng nội dung của nó là vấn đề mà hôm
nay chúng ta cần trăn trở: Có một sự hy sinh như thế giữa cuộc đời
chiến tranh như thế để người sau ăn trái
thì ăn, đừng bẻ cả cành, quật tan tành gốc rễ tình thương mà người nằm xuống
một đời ôm ấp! . Tưởng tượng lại
có những người đã dám sống như thế, ta có cảm giác kẻ sinh sau hình
như đã đánh mất đi một ý niệm về tình yêu và dân tộc. Đất nước
trọn niềm vui hay niềm đau còn đang đong đầy vẫn còn là câu hỏi xoáy
vào tâm can của những người “giữ nước”. Bài thơ kết cấu
tự do, bố cục chặc chẽ, mang tình cảm,
lời nói thiết tha thả trôi, thả nổi để rồi đột ngột kết lại ở
thể 6/8 mang theo một lý tưởng vừa có đất nước vừa có tình yêu đi
trong hoàng hôn ( năm trạng từ ''chiều nay'') như một điềm báo trước: Lý
tưởng ràng buộc, còn tình yêu tự do đã không thể mang người ta vào
khát vọng hạnh phúc. ''Bài thơ không
tên'' mộc mạc không phải của một nhà thơ nhưng chất giọng chân thành,
yêu thương như chắp cánh làm người đọc quên đi những ngôn từ trùng lập,
vần điệu, chuyển ngữ chưa nhịp nhàng và người viết sử dụng phép tu
từ chưa thành thạo. Thêm vào đó, sống
trong thời đại chiến tranh, tình yêu không thể tự do bộc lộ mà không dựa
trên lý tưởng cách mạng, đất nước nên bài thơ bị trộn lẫn tình thương
và tình yêu. Tác giả muốn nói về tình yêu lại phải cứ núp bóng dưới
hình ảnh “chiến công, đất nước, đồng bào, đồng chí.”. Điều đó
làm giảm đi giá trị tự nhiên của thơ. Đây cũng là nhược điểm toàn
bộ thơ ca chiến tranh viết về đề tài tình yêu trong tình đất nước. Trần đình Sử nhận
xét về tình yêu của văn học thời kháng chiến: “Trong cuộc đấu tranh
cứu nước gian khổ, ác liệt, tình yêu khó mà có vị trí hàng đầu trong
đời sống tình cảm”. Câu nhận xét trên chỉ đúng một nửa. Nó “khó”
vì chiến tranh không biết ai mất, ai còn nhưng tình yêu muôn đời là mãnh
lực vô song. Ngó yếu mềm mà cuồn cuộn như nước. Ngó mát mẻ mà như bão
như giông. Cái nào cũng có hai mặt phải trái. Trên chiến trường không
vì tình yêu này, cái gì đủ sức mạnh để người ta chịu hứng trọn viên
đạn từ giữa hai chiến tuyến?. Xét về chất thơ,
“bài thơ không tên” có hạn chế nhưng về mặt chiến tranh tâm lý thì
đây là bài thơ đạt mức độ hoàn chỉnh. Nó
góp một cơn gió vào cơn bão là bộ phận thơ ca chống Mỹ mà
Tố Hữu đứng đầu, thổi lên những
luồng bão tư tưởng hun đúc một sức mạnh tinh thần cho những người ra
trận lao mình vào cuộc chiến tranh có tên kia đi dẫn đến sự kiện Mỹ
rút quân kéo theo sự sụp đổ tất yếu của chế độ Cộng hòa. Người
giải phóng quân truớc khi chết có thể tung hô: “Đảng Cộng sản Việt
Nam muôn năm”, “Bác Hồ muôn năm” nhưng người lính cộng hòa khó có
thể tụng: “Đảng Cộng hòa muôn năm” hay “Nguyễn văn Thiệu muôn năm”.
Khẩu hiệu và ngón đòn tâm lý chiến tranh vẫn là kế sách đầu tiên cho
một cuộc chiến tranh dưới bất kỳ hình thức nào từ thô sơ đến mức
tinh vi nhất. Đằng sau giá trị
tác phẩm“Bài thơ không tên” là một nhân vật có tên trong một cuốn
sách có tên và giữa cuộc chiến tranh có tên: ''Nhật ký Đặng thùy
Trâm'', bác sĩ, liệt sĩ hy sinh ngày 22/6/1970 trong cuộc chiến tranh chống
“chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa” của Mỹ. © Copyright 2005 giaodiem.com |
In ra @
Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com