B. PHÂN TÍCH TÁC PHẨM : ''NHẬT KÝ ĐẶNG
THÙY TRÂM'' Vì đây là tác phẩm
nhật ký nên phân tích tác phẩm cũng chỉ dựa trên yếu tố nhân vật
trong tác phẩm mà thôi. I. Phân tích
nhân vật và thể “ký”: 1. Phân tích nhân vật: Phân tích nhân vật
là tìm ra đặc điểm của nhân vật đó thể hiện trong cuộc đời (qua tác
phẩm), bộc lộ tất cả thuộc tính con người (yêu, thương, thù, ghét,
vui, sướng, buồn, khổ…) qua từng hoàn cảnh với thái độ phản kháng
nhất định (quyết liệt hoặc không ). Phân tích nhân vật
cũng là xem xét nhân vật đó có hay không có nét tính cách chung của thời
đại họ đang sống và nét tính cách riêng nào của họ để kết luận nhân
vật này có giá trị, ý nghĩa bài học gì để lại cho cuộc đời. Nhân vật nằm
trong những thể loại khác nhau nên mức độ đánh giá nhân vật còn tùy
thuộc vào thể loại mà nhân vật “sống, chết” trong đó. Lại nguyên Ân
trong ''Tính văn học'', ( Tự điển văn học bộ mới, nxb Thế giới, 2005),
có nhận xét: “Việc thừa nhận thuộc tính văn học của những tác phẩm
ký nhất định, đôi khi tùy thuộc vào quan niệm đương thời ở từng nền
văn học về “tính văn học.''. 2. Vài nét về thể ký: a. Ký
được hiểu dưới dạng đơn giản : Ký là một loại
thể văn học. Tính chất chung của nó là ghi chép sự kiện xảy trong cuộc
đời bao gồm sự kiện thời sự, lịch sử hay những vấn đề trong đời
sống xã hội mà nhân vật đã sống
trong đó. Ký mang nhiều sắc áo như sau : * Bút ký : ‘'Người lái đò
trên sông Đà’' của Nguyễn Tuân; ‘'Một chép chép ở bệnh viện’' của
Bùi Đức Ái… * Tùy bút : ‘'Đường chúng ta
đi’' của Nguyễn trung Thành… * Ký sự : ‘'Ký sự Cao Lạng’'
của Nguyễn huy Tưởng; ‘'Thượng kinh ký sự’' của Lê hữu Trác; ‘'Cây
Tùng trước bãi’' của Hoàng khởi Phong… * Truyện ký:‘'Người mẹ cầm
súng’' của Nguyễn Thi… * Hồi ký : ‘'Tướng về hưu’'
của Nguyễn huy Thiệp; ‘'Việt Nam nhân chứng’' của Trần văn Đôn… * Nhật ký : ‘'Nhật ký trong tù’
'của Hồ chí Minh; ‘'Nhật ký Tây hành’' của Phạm phú Thứ… Nếu ‘'Tùy bút'’
là dạng viết ngẫu hứng thì ‘'Ký sự’' ghi chép những việc mang tính
chất thời sự gần giống văn phóng sự. Nếu ‘'Bút ký’' được hiểu
như một sự sao chép thì ‘'Truyện ký’' được coi như nhân vật, sự việc
có thật và được tác giả ‘'xào nấu, nhồi nặn’' cho mặn mòi thực
đơn của mình. Chúng mang nét tổng quát là : Ghi lại những sự vật, sự
việc có thật. ‘'Hồi ký'’ và
‘'Nhật ký'’ được coi như bà con ruột thịt gần nhau hơn. b.'' Nhật ký'' và ''Hồi
ký'': -‘Hồi ký’ ghi lại
theo trí nhớ nên có thể lẫn lộn thời gian, tô thêm chi tiết. ‘Hồi ký’
viết như để người khác xem nên nhiều khi có những sự kiện, những vấn
đề mà sự thật khó kiểm soát. Những người có ''tâm sự'', người nổi
tiếng và đã lớn tuổi thường viết dạng này. Không hiểu sao, thời
đại bây giờ, ‘'Hồi ký'' lại như một phong trào: Người người đua
nhau viết. Nước nước viết đua nhau. Ví dụ như hồi ký của vợ chồng
cựu Tổng thống Bill Clinton (‘My Life’). Hồi ký “Nhớ lại và ngẫm nghĩ”
của Nguyên soái Liên Xô cũ G.K. Zhukov. Hồi
ký ''Tường trình một quân nhân'' (‘A Solder’s Reports’) viết về tham
chiến 1964-1968 của William C. Westmoreland –Tư lệnh Bộ Chỉ huy quân viện
chinh Mỹ ở VN. ''Hồi ký cách mạng'' của Hoàng văn Hoan. ''Hồi ký không
tên'' của Lý quí Chung v.v… Vai kề vai, sách kề
sách nên khi “Nhật ký Đặng thùy Trâm” được tung ra vượt trội cả
nhật ký Nguyễn văn Thà mang tên rất dễ thương ''Mãi mãi tuổi hai mươi''
thì nhật ký “Tài hoa ra trận” của Hoàng thượng Lân cũng được chắp
cánh bay. Nhật ký của những liệt sĩ chưa thời đại nào ''được mùa''
tươi tốt như thời đại này. Nhưng cơn mưa nào mà không có những mây
đen. -“Nhật ký” hầu
như phải được ghi chép mỗi ngày. Chỉ cần ngày hôm nay chép lại ngày
hôm trước là xem như dạng “Hồi ký”. Mọi sự kiện, mọi nhân vật
và từng vấn đề phải trung thực một trăm phần trăm. Nếu trong nhật ký,
ta đọc mà vẫn thấy đọng lại nhiêu dấu hỏi vì sự lý giải vấn đề
chưa rõ ràng thì người viết nhật ký đã ''thiếu trung thực”. Mục đích
của ‘nhật ký’ là viết cho bản thân và cho… một người nào là người
thân, là người yêu chớ không nghĩ đến có thể xuất bản. Đây chỉ là những
khái niệm sơ đẵng, những ví dụ chưa thật chuẩn, chỉ có tính cách
tham khảo chưa phải là một bài hoàn chỉnh về thể ''Ký'' văn học. ''Nhật ký Đặng
thùy Trâm'' nằm trong thể ký được xuất bản đàng hoàng, có tầm vóc
''dân tộc'', có giá trị ''lịch sử'', dĩ nhiên, nó được xem như một tác
phẩm văn học. Ta phân tích nhân vật
Th nằm trong tác phẩm và phân tích tác phẩm cũng theo nguyên tắc chung
phân tích một tác phẩm văn học. Th trong đời thật
là con gia đình tiểu tư sản trí thức: cha là bác sĩ ,mẹ là dược sĩ, bản
thân là một bác sĩ, liệt sĩ. Nhân vật này mang giá trị hiện thực của
đời thường bước vào tác phẩm thì thành nhân vật tác phẩm và trở ngược
ra cuộc đời với hai nét đặc trưng: Tính cách nhân vật văn học và
tính cách nhân vật hiện thực. Tuy hài hòa nhưng nó
không giống truyện ký (nhân vật thật nhưng được hư cấu thêm tình tiết
cho phép) và nhật ký đòi hỏi tính chân thật triệt để. II. Nhân vật Th:
Tổng hợp mọi đặc điểm: 1. Th: Tiếng nói trung thành
của một lý tưởng cách mạng khi được “mặt trời chân lý chiếu qua
tim”: Có ít nhất hai mươi
câu ghi lại của Th tiêu biểu cho nội dung trên. Thời đại nào,
con người ấy. Mái trường xã hội chủ nghĩa (xhcn) tất phải sản sinh ra
con người xhcn. Những con người ấy một thời dài đăng đẵng đã lấy tư
tưởng chủ nghĩa Karl Marx, Engels, Lenin làm nền và lấy “Năm điều của
Bác Hồ dạy cho thanh thiếu niên” làm phương cách để “sống, chiến đấu, lao động và học
tập theo gương Bác Hồ vĩ đại.”. Con người xhcn là thế, ít ra, có một
thời như thế. Nhân vật Th : Vai
vác lời thề với Bác, tim gan choáng ngợp lý tưởng Đảng, gạt hết mọi
thứ “tươi sáng” để lên đường. Những cuốn sách viết “Lịch sử
Việt Nam” hiện nay (lịch sử Đảng
CSVN có lẽ đúng hơn) đã miêu tả thời đó, lớp lớp thanh niên xung phong
vào vệ quốc quân, vào chiến sĩ giải phóng quân đều nô nức theo khúc
nhạc “Lên đàng” của Lưu hữu Phước. Ở miền Nam oái
ăm thay, bao lần sàn qua, lọc lại vẫn chọn “Tiếng gọi thanh niên”
làm quốc ca cho chế độ VNCH đồng tác giả mà người đương đại gọi
“nhạc sĩ việt cộng nòi”. Không biết những người lính VNCH ra trận với
hình ảnh nào, lý tưởng nào để phấn đấu, để sống và chết như “một
người anh hùng”?. Riêng những người
miền Bắc mà Th đại diện đã vì một từ rất gọn là “Đảng”. Đất
nước là Đảng. Đồng bào cũng là Đảng. Th ra đi vì đất nước, vì đồng
bào tức là vì Đảng. Không đạt được thẻ Đảng tức là sự phấn đấu
chưa có còn tệ hơn thi rớt đại học. Hiểu như vậy mới đọc nổi những
lời của Th như tuyên truyền về Đảng đến trang cuối cùng. Nếu không,
người đọc sẽ gấp sách lại từ những trang đầu. Th đã dằn vặt
vì sự phấn đấu đó. Th đau khổ nói với chị Phượng hôm chia tay: “Chị
ơi, đến hôm nay em vẫn chưa là Đảng viên, buồn đến vô cùng”. Nếu
câu này nói trong thời buổi hôm nay, chắc sẽ làm người “bái bai” Đảng
cười ra nước mắt. Nhưng thời điểm đó Đảng là mục tiêu. Thời phong
kiến có chuyện “Vinh quy bái tổ”. Thời buổi giao thời mong lấy mảnh
bằng cử nhân. Người tri thức nhắm vào học vị tiến sĩ, giáo sư…
Người đi cách mạng không nhắm vào “Đảng” thì nhắm vào cái gì “oai
phong” hơn uy dũng Đảng? Với thể loại nhật
ký, tâm lý nhân vật dù sao cũng không phức tạp so với thể tự sự (truyện
ngắn và tiểu thuyết). Thế nhưng, ta vẫn thấy nhân vật Th cứ mãi trăn
trở, bức xúc vì một từ Đảng này. Cũng như nhân vật Thạc, anh chưa là
''cảm tình Đảng'' vì lý lịch của anh. Anh gián tiếp ý này bằng câu :
''cùng là hai người không hề khác gì nhau về bản thân nhưng lý lịch
trong sạch, nhất là đỏ thực sự, là khác rồi''. Chính vì vướng mắc chỗ lý lịch
này mà "anh Thục cảm tình Đảng từ lâu rồi mà chưa được kết nạp''.
(Anh Thục là anh trai Thạc) Bao nhiêu người đã
vào Đảng, bản thân mình ai cũng cho “xứng đáng là một người Cộng sản”
mà Đảng không ghé mắt dòm cho!. Buồn ủ rũ cũng phải. Tâm lý này của
Th, của Thạc cũng là tâm lý chung của một lớp người “bất đắc chí”
nghĩa là: Thành quả của mình cũng giống như người khác, thậm chí hơn hẳn
họ nhưng kết quả “sau cuộc bình bầu”, mình vẫn là con số không. Một
trứng ngỗng như trêu gan như cười cợt. Tức ói! Nhưng Th đâu có hiểu
rằng: Tài ba là một chuyện. Cất nhắc là một chuyện khác. Nguyễn Trãi đệ
nhất công thần mà cũng không được Lê lợi cất lên cái tước “Công”
nên chỉ ở mãi tước “Hầu” và đầu rơi khỏi cổ. Tần Cối giỏi
giang gì trị nước mà cũng làm chức thừa tướng “dưới một người,
trên vạn người” đưa Nhạc nguyên soái Nhạc Phi vào tử tội ?. Lịch sử
nước nào mà không thiếu kẻ ''mượn
oai hùm để rung cây nhát khỉ''!. Những người hiểu
biết chuyện, tất bỏ cuộc. Th thì không, bám víu tới cùng, quyết tâm phải
đạt bằng được mới thôi. Th có lý lẽ riêng của Th. Hãy nghe Th chắc nịch
giải thích: “Khi đã giác ngộ quyền lợi của giai cấp của Đảng thì
suốt đời sẽ gắn bó với sự nghiệp ấy”. Quyền lợi nào mà Th đã bị
“quấn” lấy cho đến chết như vậy?. Tự mình cột chặt mình vào Đảng
rồi còn gì!. Thạc cũng đã tự bảo mình : ''sống trọn vẹn cuộc đời
mình cho Đảng, cho giai cấp...hổ thẹn với Paven, Palolux thân yêu. Mình chưa
phải là Đảng viên'' (ngày 24.12.71). Giai cấp của Th là ''tiểu tư sản'',
của Thạc là ''tiểu chủ''. Vậy, Th và Thạc đấu tranh và sống chết cho
giai cấp nào ?. Cả hai nhân vật này chưa có ai xác định rõ ràng mà đi
thì đi, chiến đấu thì chiến đấu. Lý giải chưa xong về đấu
tranh giai cấp thì bám vào Đảng mà đấu tranh vì Đảng. Th đã lý giải cho
sự ra đi của Th: “Chỉ có nhiệm vụ của Đảng, người ta mới đi xa
như vậy” nhưng Th cũng quên mất rằng: “Vô số thanh niên cùng ra trận
như Th đâu có phải hầu hết họ tự nguyện, tự trói mình vào Đảng mà
chính Đảng đã cho họ “uống thuốc bổ”, đã cột họ vào mà chỉ có
Đảng mới có thể gỡ được sợi dây trói đó thôi. Đảng có lý luận
riêng của Đảng : Quyền lợi của Đảng gắn liền với quyền lợi dân tộc.Yêu
nước mà tách mình ra khỏi Đảng tức không làm tròn bổn phận của người
công dân. Cho nên, đoàn giải phóng quân chỉ biết tiến chớ không biết
lùi là vậy. Một cách hợp thức hoá quyền lợi riêng của một nhóm thiểu
số vào quyền lợi chung tập thể được thời đại cho phép, không tách
ra được. Yêu tổ quốc có
nghĩa là…yêu Đảng. Cho nên, những trang viết về lớp người tự đến
với Đảng mà hy sinh, hầu hết tác giả
phải để cho nhân vật mình... nổ một tiếng pháo tống trong giờ phút
chót là gọi tên “Bác Hồ”, gọi tên “Đảng” với hai chữ “muôn năm”
âm vang như kéo dài vô tận!.Võ thị Sáu, Nguyễn văn Trỗi... đều như vậy
cả. Không có những câu đó, không viết được những trang về sự giác
ngộ cách mạng, giác ngộ Đảng, tác phẩm và nhân vật không được xếp
vào trang “thiên anh hùng ca ngàn năm sáng chói lưu danh đến muôn đời”. Nhân vật Th không theo lý tưởng Đảng xuyên
suốt tác phẩm, thẩm thấu qua từng trang nhật ký, ắt cuốn sổ này chỉ
có giá trị như mớ giấy lộn mà thôi!. Một con người như Th thiết tha với
Đảng như thế quả hiếm hoi cho sự trung thành này. Và làm người của một
chế độ nào thì phải trung thành với chế độ đó mới là bậc tôi
trung như quan niệm : ''Tôi trung không thờ hai chúa''. Xét về chữ ''Trung''
mà luận như thế thì thà không có chữ ''Trung'' này để cuộc đời còn
chút nhân đạo hơn. Thế nhưng, Đảng
mà Th ước ngày, mơ đêm kia xa vời quá. Tại sao Đảng như Tố Hữu miêu
tả thần thông quảng đại: “Trăm tay nghìn mắt” như Phật Quan Âm, “mình
sắt da đồng” như thần Asin vậy mà không đủ phép rọi thấu vào trái
tim của một người con gái “xứng đáng là người cộng sản” lại không
được Đảng “xoa dầu” một chút gọi là an ủi ? Nhưng Th là một người
hiểu biết lý lẽ “mặt trời bị mây mù che khuất” nên dù có “trăm
tay nghìn mắt” cũng không làm gì được. Đảng trong Th đã không còn “mẫu
mực lý tưởng”, tinh khiết một trăm
phần trăm như Th đã thần tượng nữa. Gót chân Asin của Đảng đã bị
Th điểm trúng: Đó là sự thiếu sáng suốt, thiếu công bằng!. Th viết : “Những sự thiếu công bằng vẫn
còn trong xã hội, vẫn diễn ra hằng ngày, vẫn có những con sâu, con mọt
đang gặm dần danh dự của Đảng, những con sâu mọt ấy nếu không bị
diệt đi nó sẽ đục khoét dần lòng tin yêu với Đảng. Rất buồn mình
chưa được đứng trong hàng ngũ Đảng để đấu tranh tới cùng. Có lẽ
vì thế mà những người đó chần chờ không dám kết nạp mình.” Những câu văn trên
đầy hình ảnh ẩn dụ cho ta thấy rõ ràng có một loài “sâu mọt” (những
người trong Đảng) “đục khóet, gặm dần danh sự Đảng”. Th đã có
cái nhìn vượt tầm thời đại mà sau
mấy chục năm các nhà chí sĩ đấu tranh như : Các đại công thần Võ
nguyên Giáp, Trần Độ...các nhà chính trị như Hà sĩ Phu, giáo sư Hoàng
minh Chính, bác sĩ-thạc sĩ Phạm hồng Sơn, nhà giáo Nguyễn khắc Toàn, ký
giả Vũ Bình, luật sư Lê chí Quang, giáo sư Nguyễn đình Huy, nhà thơ, văn
Nguyễn huy Thiệp, Dương thu Hương, Trần trung Đạo, đại tá nhà báo Phạm
quế Dương...cũng chỉ có chừng đấy để nói, để tranh luận!. Với cách nhìn,
cách nghĩ này nếu bây giờ có ai muốn “noi gương chị Th” thì hãy học
tập như Th: “chú ý sâu mọt” đừng “quơ hết nắm đũa mà bảo có mọt,
có sâu”. Ở đâu cũng vậy thôi. Ta nghiệm ra cách
nhìn rất thực về nguyên nhân sinh ra mọt, sâu. Nếu mọt là chuyên gia “ăn luồn”, sâu bọ thì
''chuyên nghiệp'' cắn phá. Đằng nào cũng là lũ côn trùng phá hoại, cần
tiêu diệt. Con sâu thích ăn lá xanh. Con mối thích gặm gỗ tốt. Con người
“ghen, kỵ” tài năng sinh ra mối, mọt. Té ra chỉ vậy: Ghen tị, ganh
ghét, kị tài như kiểu ''tài mệnh tương đố''. Nhưng ''tài mệnh tương
đố'' trong Truyện Kiều là tài mệnh của một thế giới vô hình có phép
màu khác với sự kỵ tài của thế giới con người không muốn cho người có tài năng, có
tri thức, có đức độ bước vào chốn “thiên đường” của họ. Chốn
thiên đường tanh mưa máu thì chỉ còn là trần gian địa ngục. Có ai
thèm đấu tranh trầy da tróc vẩy chỉ để được vào địa ngục trần
gian ?. Trong ''Nhật ký ĐTT'' cũng có cảnh địa ngục nhỏ bé mà nhân vật
Th đã nhìn ra. Giá trị hiện thực
của nhân vật nằm ở chỗ những câu kết luận rất “Đảng” này (đấu
tranh và mức độ đấu tranh của nhân vật). Th từ lò luyện “Thép đã
tôi thế đấy” mà ra. Lò luyện đó của Đảng. Lời nhận xét của Th cũng
là lời nhận xét của Đảng vậy!. Đó cũng là lời phê và tự phê “chích”
vào cái mụt ghẻ đã ung mủ. Những ung mủ đó được Th chỉ rõ là
chúng : “đang tung hoành trong đội ngũ cán bộ của bệnh xá.” Khá khen
thay, Th đã trang bị cho mình không phải bằng mắt thần chủ nghĩa bị “vô hiệu hóa” bởi những màng đen
mà mượn tạm đôi mắt thần Dương Tiễn. Đôi mắt này mới là “kính
chiếu yêu”, rọi một cái đã lòi ra... “yêu quái”. Thủ đoạn “hạ
độc thủ” nhau trong Đảng, Th đã vạch rõ giữa kẻ mánh khoé và những
người chân thật : “Dù anh có chân thật” thì cũng bị những kẻ “dùng
mánh lới khôn khéo, lừa đảo anh để giành cướp với anh từng chút uy
tín, từng chút quyền lợi có khi nhỏ nhặt như miếng ăn, đồ vật”. Lời chỉ trích như câu “kinh Người” Th
đã ném xuống một câu chắc nịch: “Đời vẫn có những người ti tiện
nhỏ nhen”. Người đọc như tỉnh cơn mê. Không nói chi đâu xa,
ngay trong những người văn nghệ sĩ “lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa”
“hạ độc thủ” bằng tuyệt chiêu “mềm mại” này. Tố Hữu cậu
vung tay… mềm mại, Phùng Quán cháu… tù mọt xương. Xuân Diệu “như yêu
mãi ngàn năm không thỏa”… yêu…Văn Cao khốn đốn cho người viết quốc
ca lừng danh này mấy năm còng số tám. Một nhóm anh em đêm “chén thù
chén tạc”, sáng mai danh sách 122 văn nghệ sĩ do thằng “anh em” cung cấp
được công an hốt trọn không chừa một tên… nối dòng.( (Theo Nguyễn vy
Khanh trong bài ''Những thăng trầm của VHVN 30 năm qua ''-Tờ báo 'Ngày
nay-Minnesota'-số 382, ngày 1/5/2005). Chao, đời không thiếu kẻ “hèn hạ,
ti tiện” như Th nói. Trong cổ tích, Lý
Thông đã mang đứa em kết nghĩa cho chằng tinh ăn thịt, đã xô Thạch Sanh
xuống hang để tranh công, đoạt lợi. Bên Tàu, Bàng Quyên… đói tài của
nguời sư đệ mà… xơi luôn hai khúc chân của Tôn Tẩn!. Th vẫn còn may mắn
hơn cả những người từ cổ chí kim và đủ phép màu nên “tai qua nạn
khỏi” hơn cả người trong cổ tích. Nhân vật này thần kỳ còn hơn hai
chữ “thần kỳ”!. Đấy mới đúng là thế giới con người.
Trong Kinh thánh (Cựu ước và Tân ước) của United Bible Societies,
trang 610, 782 có đoạn: “Ông gài bẫy các lời mình cho đến chừng nào…Thật
ánh sáng kẻ ác sẽ tắt đi. Ngọn lửa của hắn không chói nữa… Chánh
các mưu chuớc người sẽ đánh đổ người.. Cái bẫy sẽ thắt hắn nối
gót chân và dò lưới sẽ bắt nó. Ta thấy mọi công lao và moi nghề
khéo là điều gây cho người này kẻ khác ganh ghét nhau. Kẻ ngu muội
khoanh tay, ăn lấy thịt mình.''. Người khác ăn “lấy thịt mình” còn Th
thì không. Th đã nhẫn nại, tự vệ bản thân để vì một chọn lựa duy
nhất: vào Đảng. Chị Rùa chậm chạp
mà siêng năng cuối cùng đã đến đích trước chị Thỏ nhanh thoăn thoắt
mà biếng lười thêm tính “khinh thường địch thủ”. Đảng đã… hé
con mắt thần quét qua luồng mây đen u ám. Tia nhìn xéo ấy đã thấy rõ
lòng Th khao khát Đảng như cỏ khô đợi trận mưa rào. Thế thì bủn xỉn
gì nữa mà không gọi Long Vương kéo mây làm mưa thể theo ước nguyện ?. Thế nhưng, một tâm
lý kỳ lạ đã xuất hiện trong Th. Một mâu thuẫn tâm lý. Một mâu thuẫn
lương tri đã nảy sinh khi người ta đạt được cái đích ở cuối đường
đua quá mệt mỏi nên tầm thường hóa mục đích. Nhân vật Th đã
phát giác cảm nhận mình khi được “bỏ nhỏ” viết đơn xin vào Đảng:
“Viết đơn xin vào Đảng, niềm vui thì ít mà bực dọc thì nhiều''. Đó
là nét tâm lý của hầu hết những người được đoái hoài, chiếu cố
sau thiên hạ chẳng hơn mình cái gì. Mặc dù Th nhủ thầm: “Phải phấn
đấu để sống xứng đáng với cái tên “một người cộng sản” nhưng lòng Th rã rời theo một tâm sinh lý
khác. Lẽ ra, Th phải sung sướng phát khóc lên như khi Bác Hồ tìm ra “Luận
cương Lenin” mới đúng. Vậy mà Th đã nghe như thản nhiên: “Còn niềm
vui, sao quá nhỏ với ý nghĩa của ngày vui. Vì sao vậy hở Thùy? Phải chăng
hôm nào Thùy đã nói: như một đứa con khát sữa mẹ khóc đã mệt rồi,
miếng sữa nuốt vào không còn nguyên hương vị thơm ngon và cái thú vị của
nó nữa.”. Nghĩa là “Trước không thảo sau bà lão hổng thèm” đấy thôi
!. Lứa tuổi như Th
đã mấy ai viết ra nổi một câu so sánh ví von đầy hình tượng mang một
giá trị triết lý sống của cuộc đời như vậy?. Nó ứng cho
tất cả mọi người với mọi trường hợp. Niềm ao ước, nỗi khát khao,
cơn đói bụng cạn cùng, rã ruột mới nhận được sự bốt thí hay ân sủng
quá muộn màng. Lời cám ơn hầu như vô nghĩa. Trái cây ngon ăn lúc tầm vừa
chín. Khế ngọt lại ăn lúc dập bầm. Ngon lành gì nữa mà không ói mửa
hết ra, cố nuốt chi vào đến nổi không
còn cảm giác!. Nhu cầu con người
cần sự quân bình giữa cung -cầu, ứng- nhập. Cầu không có. Nhập đắn
đo. Chết rũ rượi mới gọi xe cấp cứu. Tàn nhẫn quá! Tâm sinh lý này, Th còn gặp phải
trong tình yêu của M.(người yêu của Th) một lần nữa. Trước đó, Th là
người vô tư, tin Đảng với niềm tin ngây thơ, nghĩ về Đảng như một câu
chuyện cổ: “Muôn người đã tạo nên một người mẹ hiền vĩ đại là
Đảng nhưng trong muôn người mẹ ấy có một người mẹ y hệt một bà mẹ ghẻ trong câu chuyện cốt
tích''. Ta liên tưởng: “Mấy đời bánh
đúc có xương. Mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng.” trong “Tấm Cám”,
trong “Cô bé lọ lem”. Nghĩ mà tức cười. Cuốn nhật ký này may mắn hơn
nữa là không lọt vào người “mẹ ghẻ” hay “đám sâu, mọt” sớm, nếu
không, Th sẽ bị nhốt lại trong lâu đài mà chờ hoàng tử đến giải cứu
cho mãn kiếp. Nhân vật Th tuy hờn
lẫy “món quà '' to lớn, đầy ý nghĩa của “mẹ ghẻ” nhưng vẫn hai
tay cung cúc đỡ lấy trong sự kính cẩn muôn phần. Một đạo “thánh chỉ”
ban ra, kẻ chuẩn bị nghe luận tội hay nhận ban thưởng đều buộc phải
“quỳ” xuống tiếp chỉ và tung hô “vạn tuế”!. Biết làm sao!. Nội
tâm được giải tỏa. Tâm hồn căng thẳng vì từ “Đảng” kia cũng được
“giãn” ra sau khi được kết nạp Đảng, Th
không còn dằn vặt nhiều và vì vậy, ta có thể thấy rõ những
trang nhật ký tiếp, Th đã tiêu hao khả năng nhận xét khá “chính xác”
và “bất hủ” về Đảng nữa. Tuyệt vời thay kế sách “cắt đất,
phong Vương” để xoa dịu lòng hờn lẫy hoặc nổi loạn của người dân
mà triều đại đi trước đã làm, triều
đại sau sao không thấy noi gương?. Cũng có thể, nhân vật Th khi vào hàng
ngũ Đảng rồi thì đã “phun thuốc” diệt sâu, diệt mối như Th đã từng
nhủ thầm “sẽ đấu tranh đến cùng nếu được vào Đảng” ?. Lẽ nào
có Th rồi, “mẹ ghẻ” công bằng hơn?. Hay Th khi đã được mãn nguyện,
thỏa lòng ước mơ, mục đích cá nhân “vào Đảng” đã xong xuôi thì những
gai góc trong lòng coi như được Đảng nhổ bỏ nên không buông lời oán
trách nữa?. Bằng cớ là Th đã bắt
đầu…thương “mẹ”: “phải chăng vì mình đã là người của Đảng nên
đã về sống trong lòng mẹ” (Người mẹ mà lúc chưa được kết nạp Đảng,
Th đã gọi là “mẹ ghẻ”). Tức là “đã cùng một nhà ai đi vạch áo
cho người xem lưng!”. Sự đấu tranh của nhân vật Th như chững lại khi
được vào Đảng. Nghĩ cho cùng, suy
cho cạn, Th dù sao cũng chỉ là một người con gái bình thường như những
người con gái khác. Không đòi hỏi gì thêm nữa chứng tỏ lòng không mắc
một chữ “Tham”. Không muốn tham gia đấu tố, truất phế đồng nghiệp,
đồng chí, đồng đảng, Th không vướng chữ “Sân”. Không ganh ghét, “nhỏ
mọn, ti tiện” như những người khác, Th không có chữ “Si’. “Tham,
Sân, Si” : chính là cạm bẫy con người, là thiên đường và địa ngục
của nhân loại. Thoát ra khỏi thiên đường và địa ngục, Th thoát ra cái
bẫy nhưng làm sao qua nổi cái ải làm người. Vậy thì cái ‘tôi” cá
nhân xuất hiện, sự đấu tranh bùng nổ. Nếu Th được cất nhắc, được
Đảng quan tâm, hiểu lòng thì Th biểu vui mừng ra mặt (con về với mẹ)
còn như gặp “chút va chạm ngọt ngào” giữa các đồng chí thì Th… chửi
cũng ra trò người “mẹ ghẻ” này: “Não bộ cũng có những điểm sáng
ngời thông minh đẹp đẽ, mà còn có những điểm đen sì tăm tối những
ý nghĩ đớn hèn”. Câu nói này mà lọt ra đến tai ''mẹ ghẻ'' thời ấy,
Th chỉ còn ngồi làm Tấm nhặt thóc cho hết đời. Biết chừng nào Đảng
mới ‘thanh lọc” hết “những não bộ đen sì tăm tối, đớn hèn” trả
lại sự “trong sạch” của Đảng mà Th hết lòng tôn kính đây?. Nhìn thấy được Đảng có hai mặt, hai
con người đối lập, chỉ có nhân vật Th trong ''Nhật ký Đặng thùy
Trâm'' mà thôi! Xét về phương diện
giá trị nhân vật, Tnú của Nguyên Ngọc trong “Rừng xà nu” còn thua xa
nhân vật Th về tầm nhận thức mặc dù Th gặp Đảng cũng như Tnú gặp
“người Đảng”. Tnú vui mừng nhưng Th vừa mừng vừa thấy mặt trái của
đứa con thèm sữa mẹ lâu quá, đói…xỉu!. Thời chiến tranh, Đảng và văn
học gắn liền nhau thắm thiết về nội dung chớ không tách rời hai hướng
đi như sau những ngày mưa bom, bão đạn. Một thời chiến
tranh là thời của thơ Hồ chí Minh với “Nhật ký trong tù” (còn nhiều
nghi vấn về biên tập như ''Nhật ký Đặng thùy Trâm'') và thơ Tố Hữu với
năm tập thơ “Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”,
“Việt Nam máu và hoa”. Thời kỳ đăng quang của Tố Hữu rực sáng như
ngọn đuốc sống Lê văn Tám (tiếc thay, ngọn đuốc sống này cũng chỉ là
“đuốc ma '' trong sự nghiệp sáng tạo có chỉ định từ Đảng của giáo
sư Trần huy Liệu). Nhưng công bằng mà nói: Dù hôm nay, Tố Hữu đã từ
lâu không còn được “ân sủng’ của hoàng thượng, cũng tơi tớt như
những vị “khai quốc công thần” Trần Độ, Võ nguyên Giáp, dù Tố Hữu
là kẻ gián tiếp đưa văn học Việt Nam thụt lùi tận ba mươi lăm năm với
vụ tai tiếng ''Nhân văn- Giai phẩm” thì Tố Hữu vẫn được coi là “con
chim đầu đàn” của bộ phận thơ ca chống Mỹ. Th hy sinh trước ngày Tố
Hữu thất sủng nên không thấy được “con chim đầu đàn” kia gãy
cánh, lê lếch về nguồn cội với tiếng hót cô đơn bên cây đờn cò ân
hận. Vinh quang tuổi trẻ và lận đận tuổi già đối với những ''khai quốc
công thần'' thời nào cũng như nhau. Chiếc cầu ấy rồi đây những công hầu
khanh tướng cũng phải đi qua khi ''hết thời cỡi ngựa bắn cung''. Lẽ đời
đó mà ! Th đã được nhà
trường xhcn trang bị tận chân răng, kẻ tóc về một đường lối cách mạng
tươi sáng. Cho nên, trong những va vấp với đồng nghiệp ở bệnh xá Đức
Phổ nhỏ nhoi, những tiếng ong ve với đồng chí cùng địa bàn, Th phải
bám víu vào Đảng. Người “mẹ ghẻ” xuất hiện với ...chiếc roi cá
đuối trên tay. Th lại buông phao Đảng mẹ, bám lấy phao ''tâm hồn'' cho
khỏi hết đuối!. Đó là chiếc phao văn học mà đại diện là Tố Hữu. Tố Hữu quả là
ân nhân của Th trong hoàn cảnh buồn đến nản lòng. Tiếng hót của con
chim đầu đàn Tố Hữu thời đó qủa có công lực thu hút hết những nản
lòng của con người và thổi vào tâm hồn họ luồng sinh khí cách mạng bất
tận. Th ôm lấy thơ Tố Hữu làm lá chắn: “phải đọc và hiểu sâu sắc
lời Tố Hữu mới không bi quan trước cảnh này'' ( là cảnh nào nếu
không là cảnh bom đạn, ganh tị như đêm kỵ ngày như nắng kỵ mưa ?):
Bài ''Dậy mà đi
'' của Tố Hữu, không biết ai phổ nhạc mà điệu đàng hay ghê hay gớm.
Nó như một lời khích lệ, vỗ an con người khi nản chí, chùn lòng. Nó
hay chỗ nào thì cứ hát theo chỗ ấy. Lời thơ, ý nhạc tự nó trang bị
cho nó hai đôi tay: Tay này bắt, tay kia che mắt. Không như thế, nó chết yểu
đời nào. Nếu Th còn sống
đến hôm nay, lý tưởng và niềm tin chắc nụi của Th về Đảng sẽ làm
cô “khốn đốn” mười lần vì dám khẳng định rằng: “Những người
quanh mình ghen tuông kèn cựa nhưng lại cố cho rằng họ là tốt, họ là
khiêm tốn…”. Bấy nhiêu sự “giác
ngộ” đó cũng đủ làm Th bị “đánh mòn roi da”. Nhưng chúng ta thử
nhìn lại: Trường hợp của Th đi B diễn ra suông sẻ và may mắn hơn những
kẻ “phận bạc” khác. Nhân vật chồng Nụ (“Phận bạc”-Võ Tiến
Dũng) khác Th. Chồng Nụ vì không muốn vào Đảng mà “phải chuyển xuống
lao động”. Kết quả xảy ra cho chồng chị: “Không vào Đảng thì vào
chiến trường”. Té ra, chiến trường là nơi chứa kẻ Đảng và không Đảng,
tự nguyện hay bị đẩy vào, tự giác hay không tự giác !.Hỗn độn như
thế sao không ''thanh lọc'' ?. Tiếng nói của một
tư tưởng Đảng Marx-Lenin và phát ngôn viên cho một chế độ xã hội chủ
nghĩa: “Chết mà giữ mãi cái cao quý của trái tim một người cộng sản,
một con người chân chính” đã tắt. Những người cộng sản như Th đã
hiếm hoi trong hàng ngũ Đảng hôm nay. Đó là một điều đáng tiếc. Th đã
nói nhiều về Đảng: Ca ngợi tới bến, chỉ trích đến cùng.( Đảng cho
in sách nhật ký của Th thì chính Đảng đã thừa nhận những gì mà Th đã
viết. Đây là sự ''dọn đường'' cho hươu chạy.). Th nhận xét về Đảng
như vậy còn về mình thì như thế nào ?.Th đã quan niệm: “Sống ở đời
phải biết khiêm tốn”. Th đã thực hiện quan niệm đạo đức rất chính
đáng đó trong tác phẩm ra sao?. 2. Th: Nên hay không nên tự cho điểm mình?: Nhật ký là ghi
chép mỗi ngày nhưng “Nhật ký Đ.T.T” không phải lúc nào cũng ghi đầy
đủ. Vì không giống như một thể loại truyện, tiểu thuyết hư cấu nhân
vật, giải quyết vấn đề với những xung khắc lên đỉnh điểm nên nhật
ký chỉ được phép xoay quanh nhân vật đó sống và trải qua. Trong “Nhật ký
Đ.T.T”, nhân vật Th đã nói khá nhiều về ưu điểm của mình và tự cho
điểm mình qua hai cách: a. Tự cho điểm trực
tiếp: Tức là nhân vật
Th đã đề cao cái “Tôi”. Cái “Tôi” cũng có thể hiểu có hai dạng:
Một là cái “Tôi” có tài năng. Hai là cái “Tôi” tự cho mình giỏi,
mình đúng. Khi nói về tình yêu, trách M., Th đã nói thẳng nhiều lần: “Nỗi
lòng một cô gái đầy ước mơ hy vọng mà không được đáp lại một
cách xứng đáng. Anh đâu có xứng với mình.”.
Tội danh “không xứng” của M. đã không đuợc Th nêu rõ và
“tai bay vạ gió” này không biết từ đâu mà có?. Th đã luôn luôn tự
hào mình là: “Đứa con gái giàu mơ ước yêu thương… Tại sao mình rất
xứng đáng là một Đảng viên mà chi bộ không kết nạp. Tại sao mọi người
thương mến cảm phục mà Đảng lại khắt khe hẹp hòi đối với mình?”. Nhân vật nhật ký
đã thành nhân vật ghi toàn cảm nhận tốt đẹp hoàn hảo về mình. Nhưng
“nhân vô phục hoàn”. Đâu có ai không có những khiếm khuyết. Với Th,
khuyết điểm cũng là ưu điểm. Nội cái việc Th nhắc đi, nhắc lại thành
phần xuất thân của mình là “tiểu tư sản” (ngứa mắt bọn sâu mọt)
–là trở ngại lớn trên con đường vào Đảng –mà Th không hề nghĩ tới.
Th tự hào: “Tâm tình một đứa tiểu tư sản bao giờ cũng phức tạp…
khi mình được hòa khắp trong mọi tầng lớp nhân dân”. Th nghĩ không sai. Bản thân giai cấp nào có tội
tình gì!. Đánh giá một con người phải nhìn vào đóng góp gì cho đất
nước chứ nào phải nhìn vào lý lịch xuất thân. Th vô tư trong quan niệm
giai cấp là tốt đẹp. Đúng là cái nhìn của trí thức cấp tiến so với
trí thức lỗi thời, bảo thủ. Nhưng nhân vật nằm trong thời đại. Giai
cấp nằm trong chế độ. Chế độ xhcn là chế độ: Xóa bỏ giai cấp. Cho
nên, mới có máu chảy đầu rơi với chủ trương cải cách ruộng đất giữa
thế kỷ: trí, phú, địa, hào…mới có đường lối ''sửa sai'' nhưng sửa
cái cách đánh giá con người qua lý lịch thì tới nay, Đảng không dám sửa.
Cũng như ''đổi mới'', đổi mới mọi thứ nhưng đổi kẻ chống tham
nhũng lại chỉ thay kẻ tham nhũng này bằng kẻ tham nhũng khác. Đảng cũng
...uống thuốc nhức đầu liên tục chứ sao không!. Th vào Đảng và
vì Đảng đang rất cần những con người dám xả thân như Th trên chiến
trường. Thế nhưng khi mâm cổ dọn ra, người ngồi vào phải biết tôn ti
trật tự. Người ta lại bắt đầu mở trang
lý lịch và xướng danh…Th sẽ là người thứ mấy ung dung bước
vào tiệc ''Bàn đào'' của Lê Sơn thánh mẫu ?. Tuy nhiên, bản
thân mình tốt, xấu thì tự công việc,
tự nhân cách mình nói lên được. Th hình
như đã lên tiếng khá nhiều về cái tốt của mình. Đọc nhật ký Th, có
người không chịu nổi cứ bấy nhiêu ca tụng lập đi lập lại nhàm chán
nên… úp sách. Hành động Th săn
sóc thương binh, đồng đội ,đồng nghiệp cùng lăn lê bò toài với họ, cùng nhỏ nước mắt với họ thì
người đọc tự hiểu: Th là con người rất giàu lòng nhân ái, yêu thương
lan tràn và con người rất cần sự thương yêu tràn lan đó. Cho nên, Th
không cần động bút ghi: “Mình rất giàu tình thương với tất cả mọi
người”. Câu tự bạch này đã quay lại “điểm huyệt” Th: Vậy, tại
sao Th không nghĩ rằng người đối nghịch với Th cũng “rất giàu tình thương”.
Th khóc đồng đội nhưng Th không hề biết cảm giác bên kia trận tuyến cũng
có người hết nước mắt vì bạn bè, thân thuộc. Không ai có lòng thương
người chỉ một chiều mà tự hào như vậy. Người đọc còn
nghe mãi tiếng rên rĩ của Th: “Có ai hiểu được lòng tôi không? Lòng của
một cô gái giàu lòng thương yêu, rộng lượng trong tình cảm, đồng thời
cũng rất khắc khe và đầy tự ái trong vấn đề đó.”. Đã “rộng
lượng” sao còn khắt khe?. Cách úp mở của nhân vật Th khiến người đọc
nhiều khi không hiểu nhân vật này ngoài sự hờn dỗi vào Đảng còn có cái gì nữa mà Th không
viết ra. Nhật ký chứ đâu phải là hư cấu nhân vật mà chờ gần cuối
mới bung ra cách giải quyết? Th cứ mãi kêu thầm:
“Cô gái giàu lòng yêu thương kia ơi” và “hỡi cô gái đã từng biết
xử trí một cách đúng đắn trong mọi tình huống khi mà cuộc sống tình
cảm diễn ra phức tạp.” Nhưng người đọc cũng chưa hề có vinh dự
được Th chia xẻ sự “xử trí đúng đắn” đó như thế nào trong ‘tình
huống gì?”. Những lần họp chỉnh huấn Đảng, nội cái câu nhận xét
“Chăm lo cải thiện đời sống cán bộ còn yếu” và “tính tiểu tư sản
còn” thì làm sao Th có thể hòa mình với mọi người mà thương yêu họ
như Th tự nhận xét. Bản thân Th không
rút tỉa được điều đó. Th luôn tự hào là “cô gái giàu nghị lực
và ý chí” để trở thành “cán bộ có nhiều thành tích trong công tác”?.
Từ “thành tích” mà Th dành cho cô đã vô tình hạ mục đích cao cả của
Th xuống một cấp!. Kết lại, về phương
diện nói về cái “Tôi”, nhân vật Th tuy đã cho điểm về mình hơi nhiều
nhưng ta không phủ nhận Th có nhận xét rất xác đáng về mình. Tình yêu
thương con người của Th được coi như là của một kẻ trên nhìn xuống
kẻ dưới là : “Tình thương của một
kẻ đứng trong căn phòng ấm áp nhìn một kẻ đi giữa giá lạnh” khi Th
nhìn nỗi buồn của cô gái người yêu của Thuận chớ không phải là
tình thương của một người đồng cảnh ngộ.
Đó là một nhược điểm giai cấp của một nhân vật khi ta
xét nhân vật đó với giá trị nhân đạo. Nhưng thực sự nhân vật này
đã vì lý tưởng mà hy sinh, vì mảnh đất mà mình có bổn phận bảo vệ
như một công dân mà bỏ mình chứ không vì Đảng. Đảng chỉ của một số
người chớ không phải của mọi tầng lớp nhân dân. Điều đó đã lý giải
tại sao có “đa đảng” trên thế giới. Một người con gái
như Th dĩ nhiên, ta tin chắc rất được nhiều người thương mến.( Nhân vật
nhật ký tự nâng giá trị mình lên qua lời lể của mình khác với nhân vật truyện ngắn, tiểu
thuyết qua tay tay tác giả bằng hành động nhân vật.). Th cũng đã đưa những
lời nhận xét ấy cũng là lời tự kể của mình vào nhật ký như một bằng chứng tất nhiên. b. Điểm tốt của Th qua gián tiếp:(
Có thể chấp nhận ) Trước hết qua nhân
vật Hường: “Khen ngợi, động viên mình, ca ngợi mối tình chung thủy của
mình” hay qua lời của Thuận: “Đời em chỉ thương và phục nhất về
hai người về cách sống, đó là anh Long và chị”.( Long là cán bộ cấp
trên ). Như đã nói ở phần
‘a’: Trong văn viết kiểu truyện ngắn, tiểu thuyết, tác giả là người
có quyền “cho điểm” hay “lột lon”, “giáng cấp” nhân vật mình
xây dựng (tốt, xấu, chính diện, phản diện). Trong văn nói, người nói
có quyền “tự cho điểm” mình gọi nôm na “ nói dóc, quẫy đuôi…”
cho đời thêm nụ cười rồi cũng thôi vì “lời nói gió bay”. Cái câu
“hữu xạ tự nhiên hương” là một
cách đánh giá con người. Ở Th, Th phải cần
có nhiều người khen ngợi: “Hầu như tất cả mọi người đều nói
Trâm rất xứng đáng là một người cộng sản.''. Nhưng câu khen ngợi của
Khiêm của Thuận dành cho Th xét kỹ ra là một sự cho điểm xứng đáng.
Chỗ đứng của Th trong họ Th là một người mà họ “Thương yêu cao cả
nhất cuộc đời.” Tình cảm cá nhân xây dựng trên tập thể này đáng
trân trọng dù tự cho điểm trực tiếp hay gián tiếp. Nhân vật M gián tiếp
qua Th cũng đã nói: “Th có tình yêu đắm say mãnh liệt thủy chung và nhiều
tự trọng''. Nhưng tại sao giữa họ có sự đổ vỡ thì không hiểu nổi.
Có lẽ vì ''điện từ cùng dấu'' thì đẩy nhau. Khen ngợi để như
để được tiếp sức ta nên dành cho
Th khi đọc toàn bộ nhật ký, khi nhìn lại một góc ngôi mộ khu nghĩa
trang Từ Liêm - Hà Nội- nơi yên nghĩ nghìn thu của một người con gái lắm
thương yêu nhiều thù hận . Còn lời khen muộn màng, tốt hơn là làm một
điều gì đó tốt đẹp cho đời hay im lặng. Im lặng cũng là một cách biểu
hiện một thái độ đó thôi!. Trong những lời chỉnh
huấn Đảng dành cho Th, ngoài lời khen chê chung chung dành cho ai cũng được,
có một điểm không phải ai cũng được dùng. Đó là nhận xét về trình
độ chuyên môn của Th bởi vì công tác của Th là công tác của một bác
sĩ từ Hà Nội xung phong vào Nam. Đó cũng là nội dung thứ ba khi phân tích
nhân vật Th với tư cách là một nhân vật nhật ký. 3. Th: Một bác sĩ xhcn có lương
tâm: Nhân vật Th là
bác sĩ, có nghĩa là lời tuyên thệ trước tổ sư ngành y: Hippocrate, Th đã
làm: Trọn đời cống hiến cho nghề thầy thuốc có lương tâm. Trong đời thật,
Th là bác sĩ khoa mắt. Trong tác phẩm,
Th là bác sĩ quân y không chuyên khoa nào. Những trăn trở của một vị nữ
bác sĩ mới ra trường trong điều kiện ở chiến trường : lửa đạn nhiều
hơn thuốc men và máu chảy nhiều hơn serum chảy là tất nhiên. Chỉ một
ca mổ ruột thừa không tìm ra nguyên nhân nhiễm trùng đã làm cho người bác
sĩ kia ray rứt: “Với những người như anh mà tôi không cứu chữa được
thì đó là một điều đau xót khó phai trong cuộc đời phục vụ của người
thầy thuốc.” Đó là sự đau xót chân thật, có lương tri. Th là bác sĩ và cũng
là chiến sĩ. Chữa trị và bảo vệ đi đôi với nhau. Khi Mỹ đổ bộ vào
Đồng Răm ngày 2.4.69, mọi người lo di tản.Trạm xá lại thiếu người di
chuyển thương binh nhưng Th nhất quyết: ''Không thể bỏ thương binh lại
được, phải hết sức mình khiêng thương binh, các đồng chí ạ''. Người
được Th... kéo lôi hôm ấy là Kiệm. Gặp địch không buông súng, lúc
nguy nan không bỏ chạy lấy thân, con người như thế không phải hạng
''tham sinh úy tử'' đáng cho ta khâm phục biết chừng nào ! Những tháng ngày sống
với nghề nghiệp, Th cảm thấy ngoài sự yêu nghề thì cái nghề của
mình đã mang đến cho Th “phức tạp khó khăn và cả bực dọc nữa.”
Có những trường hợp do tay nghề mà không rút ra bài học đích đáng nào
lại bị “lớp người ti tiện nhỏ nhen” nhắm vào đó để hạ Th xuống.
Đó là ca mổ ruột cancer đi vào giai đoạn cuối “không cứu được”.
Đó là “vết thương xuyên thấu bụng” mà Th tự kiểm điểm lương tâm:
“Đã theo đuôi quần chùng, bỏ qua mọi việc nên làm.”. Thêm vào cái chết của bé Nga vì sốt
không phải lỗi Th mà Th cũng bị mẹ bé ghét bỏ. Những số phận đó như
ám ảnh trong đầu óc Th. Nét nhân đạo ở
trong tính cách tiềm ẩn này của nhân vật bác sĩ Th đã có. Đấy là điểm
sáng mà người đời có thể nhìn thấy và học hỏi. Chính trong thế giới
“blouse” như mẹ hiền này, Th đã cảm
thấy cô đơn khi nhìn ra bản chất “kèn cựa”, tự trái tim biết cầm
dao “chặt”, “mổ”, “băm” không cần biết kẻ đó là bệnh nhân
hay đồng nghiệp. Trong “Luơng tâm”
(Vũ Tiến Dũng), nhân vật Bác sĩ Quân “đeo quân hàm, cầm dao mổ” đã
nghĩ về nhân vật đồng nghiệp Hải như sau: “-Không phải Hải
hay ganh ghét những thành công và uy tín của anh mà hành vi bán lương tâm
bù lương tháng của hắn''. Đến nỗi, anh thợ mộc công nhận trong sự
cám ơn mai mỉa: “Nhờ các lương y mà hôm nay thằng đói này mới có việc
làm đấy ! Xin cám ơn”. Lời cám ơn như ly nước lạnh tạt vào lương tâm
con người. Ta nghĩ cho cùng:
Không có những người bị thương, bị bệnh, nghề y coi như vứt đi và nếu
ai cũng được cứu chữa thì kẻ đóng hòm ôm lấy quan tài mà…gặm trừ
cơm!. Chao ơi! Sự thật trần văn trụi đến đau lòng!. Bs Th làm mọi cách
để cứu chữa thương bệnh binh. Bs Quân đầu hàng hoàn cảnh với cái ghẻ
lạnh của cô y tá: “Không tiền thì sống làm gì?” Kết quả: Bs Th
không sao cứu được những ca nặng trong hoàn cảnh thiếu thốn thuốc men,
không đủ phương tiện nên lương tâm ray rứt. Bs Quân không cứu được bệnh
nhân không phải vì thiếu thốn phương tiện này mà vì bệnh nhân không tiền
nên ray rứt lương tâm. Lương tâm Bs
Th tự trong lòng phát ra. Lương tâm Bs Quân từ “tiếng búa” (vừa thật,
vừa ngầm so với tòa án lương tâm) ở ngoài vọng vào: Tiếng búa của
cô vợ anh thản nhiên chặt xuống chân giò heo để “cải thiện bữa cơm
chiều” như “bủa” vào đầu anh “ngày càng rõ, càng nhức nhối”. Kết
thúc sâu sắc quá. Hiện thực của những người “luơng y như từ mẫu”
này đã được Phạm hưu Vũ đưa vào trong “Chị Cả Bống” sau đó vài
chục năm còn dễ sợ hơn thế nữa. Xét ra, Bs Th trong
nhật ký không là một mẹ ghẻ mà là một bà mẹ rất từ tâm. Một bác
sĩ ''di động'': vừa dạy cho các khóa y tá, vừa kiêm cả “cải thiện đời
sống cán bộ”, vừa chiến đấu, vừa khiêng thương binh, vừa nhào vô
xây dựng trạm xá, trèo đèo lội suối, ăn uống thất thường, thiếu thốn
quân lương, yêu thương khao khát… Cô có còn là bác sĩ “tiểu tư sản”
như Th tự hào, như Đảng chỉnh huấn ,coi đó là một “khuyết điểm”
không ?. Giai cấp tiểu tư sản của nhân vật này chỉ còn cái tên và
nhân vật Th đã lột xác chuyển đổi từ nhộng thành tầm bay lên. Bs Th đã ước mơ
về xây đắp hạnh phúc gia đình khi thống nhất và “đem lại ánh sáng
cho những đôi mắt tật nguyền” mà không đòi hỏi gì. Bs Thủy trong “Hà
Nội một thời xa” của Lê văn Ba cũng ao ước: “Anh sẽ trở thành một
thầy thuốc giỏi. Bệnh nhân đến với anh đều được cứu chữa tận tình
bất kể đó là người nghèo, ông quan hay tên cướp vì là những con người”.
Ta không cần khen ngợi, bản thân câu nói đó có thực hiện được hay không
đâu chỉ một cá nhân định đoạt. “Mãnh hổ không địch nổi quần hồ”.
Kẻ nào đi theo con đường của Bs Quân, Bs Thủy, Bs Th, kẻ ấy sẽ rớt vào “bần cố nông”. Một
đời tranh đấu, một đời khổ đau để ôm lấy “bần cố nông tay
không chẳng có” này thử hỏi có ai dám để ''lương tâm trong sạch là
liều thuốc quý nhất'' như Th nói?. Nếu nhân vật nữ
Bs Th này còn sống, một mình cô liệu có chống nổi “tiếng búa lương tâm”
đập vào bên tai hay mặc cho lời thề lương y chìm vào quên lãng ?. Có ai
chiến thắng trong sự cô đơn chỉ có lương tâm
làm bạn?. Dù vậy, đoạn
đường trở thành một'' lương y như từ mẫu'',
Bs Th chỉ mới đi một nửa trong chiến tranh nhưng đã là con người
chân chính sống không thẹn với lòng: Một bác sĩ có lương tâm nghề nghiệp. Giữa một cuộc
chiến tranh khốc liệt, một giá trị của tác phẩm nhật ký được ghi nhận
thêm đó là tình yêu thương đồng đội. 4. Th: Sống chết vì đồng đội: Trong toàn bộ hai
cuốn nhật ký ghép làm một có một số tên được ghi nhận và một số
đại từ chỉ ngôi thứ hai “Em”, “Anh” được nhắc tới như một ký
hiệu riêng tiềm ẩn, phức tạp trong tình cảm đồng đội này. Ít nhất có bốn mười
cái tên nam, nữ được nhân vật Th nhắc
đến trong thương yêu. Họ là ai? Họ là những bệnh
nhân trong chiến tranh mà Th có nhiệm vụ cứu chữa với một “tình thương
của một người thầy thuốc trước bệnh nhân”. Đó là San, Lâm, Bốn,
Tâm,Nhiều... và một số thương binh
không tên mà những trang viết về họ, Th như đang mở to cặp mắt hận thù
với khẩu súng lạnh ngắt khi đối diện với chiến tranh đã cướp lấy
sinh mạng đồng đội Th mỗi ngày. Những cái tên Hường, Thương, Thành, Xuất,
Bốn, Thìn, Lệ, Lực, Giầu, Liên, Tuấn, Hưng, Thọ, Hạnh, Tư, Khiêm, Dũng,
Sơn, Vận... người bị địch bắt, kẻ bị đạn cày, bị mảnh găm, bị
băm nát, bị dẫm mìn, bị cháy lân tinh... được Th ghi lại trong đau xót.
Đọc những dòng Th viết cho Khiêm, người đọc như cảm nhận được tiếng
khóc của Th nghẹn ngào, đau đớn, đầy căm hờn: “Vĩnh biệt Khiêm. Người bạn thân
thương đã ngã xuống trên mảnh đất anh hùng. Khiêm ơi! Thề sẽ trả thù
cho Khiêm đến hơi thở cuối cùng.”( ngày 16.8.1968. Bút tích trang 71 này không hiểu sao Th viết khác biệt so với
bút tích bìa sách và những dòng “chụp” trong bìa biên tập ?.). Thương càng nhiều
thì căm hờn càng sâu nặng trong Th. Những con người một thời sống chết
với mảnh đất Đức Phổ trong chiến tranh đầy vết đạn, đầy thương
tật như bật sống dậy qua từng trang chép tay của Th và cày vào tim Th
thêm những đường cày tình thương bật máu. Th đã nhận thức
được rằng: Chiến tranh đã làm tan rã bao hạnh phúc gia đình, tình yêu
đôi lứa như gia đình Đường: Cha, anh bị bắn chết, mẹ không còn, em bị
bắt; như anh
Giàu, anh Tám Vinh... bỏ lại vợ con. Ngoài ra còn nhiều số phận
khác không kể hết như hoàn cảnh Thuận: Lỡ
Thuận chết nữa (sau cái chết của em trai), cả nhà sẽ không còn ai để
nối dòng. Tình yêu của Hường
với Quang, của Liên với Công, của Khanh với Từ... cũng đành gởi lại
chiến trường lửa đạn. Ai đã từng có một thời sống trong chiến
tranh, đã lén mở đài miền Bắc nghe tin “sinh Bắc, tử Nam”, mà không rớt
nuớc mắt theo dòng nhạc Trịnh công Sơn khóc trên xác người : “Xác nào
là em tôi trong mưa lạnh này. Trong xác người già yếu, con ta còn thơ ngây”
hay lời ca đau đớn của Trần thiện Thanh: “Anh không chết đâu em…anh
chỉ vừa bỏ cuộc đêm qua…Trên khăn tang cô phụ còn lóng lánh dấu ái
ân...” hoà lẫn vào những ngày thực dân Pháp tàn sát những cuộc khởi
nghĩa mà Nguyễn đình Chiểu đã khóc bằng đôi mắt mù lòa nhưng lòng chẳng
mù đui vì ông đã thấy cảnh : “Đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ,
ngọn đèn khuya leo lét trong lều. Não lòng thay vợ yếu chạy tìm chồng, cơơn
bóng xế dật dờ trước ngõ…”. Chiến tranh tàn nhẫn
và từ ngàn năm trước, Đỗ Phủ cũng đã lên án tội ác chiến tranh nội
chiến trong “Binh xa hành”: ''Xe rầm
rầm ngựa hí vang. Cha mẹ vợ con theo khóc hàng hàng''. Chiến tranh là vậy.
Làm sao Th với một
tấm lòng nhân ái kia không bật khóc khi đồng đội, đồng nghiệp gục chết
thê thảm bên cạnh những thương binh mà họ có bổn phận bảo vệ, chăm
sóc?. Nhắm mắt mơ bóng
cờ độc lập. Mở mắt thấy máu đổ, đầu rơi. Một ngày trong Th là sự
đối lập giữa ước mơ và sự thật trần trụi. Cả hai cùng lớn lên đánh
phá vào tấm lòng nhân hậu của Th. Nhân vật nhật ký
sao lại có nội tâm dằn xé như vậy?. Trong tình đồng đội đầy thắm
thiết này nảy sinh trên chiến trường vì chung một lý tưởng chống giặc.
Tiến chớ không lùi. Lui là chết. Vậy thì hãy tiến mà chọn cái chết
vinh hơn như Tố Hữu trong bài ''Trăn
trối '' đã chọn dùm mà Th đã ghi vào nhật ký :
Một nửa mạng cũng dành hết cho Đảng ba
phần tư, một phần tư còn lại dành cho đồng đội, cho tình yêu, cho quê
hương?. Sao mà ít ỏi. Th đã mang chút ít ỏi ấy theo mình bên lề sự sống
cái chết. Ba năm gan lỳ bám trụ Đức Phổ, Th đã cùng đồng đội di tản
liên miên, băng rừng lội suối từ Du Quang sang Đức Phong, Th có thể đứng
trên núi Cửa nhìn thấy cả Hội An, bờ biển Mỹ Á giữa tháng mười một
mưa lũ tràn ngập cả hầm trú ẩn. Th cũng đã từng cùng đồng đội vượt
cạn đón giao thừa trên Phổ Nhơn, Phổ Cường, Phổ Kính rồi chuyển về
Đồng Răm, Hóc Bàu, Phổ Hiệp. (Tại Đồng Răm ngày 15.1.1970 Th đã viết
lại: “Giặc đã cướp của mình hai quyển nhật ký ngày 28.4.69” để lại
dấu hỏi về một sự thật: Th có mấy cuốn nhật ký ?). Tình đồng đội,
đồng chí trong “Nhật ký Đ.T.T ” thể hiện rõ nhất ở sự bảo vệ thương
binh trạm xá. Bản thân Th đã phải… lôi kéo thương binh vì cõng, vác
không nỗi. Đọc những dòng đó, người đọc làm sao không giấu nổi nụ
cười thông cảm, chua xót!. Tình đồng đội
trong Th còn là những tháng ngày bom đạn, đói rét lạnh run trong hầm ngập
nước, gói ghém trong sự bình tĩnh nuốt
từng hột cơm ướt mèm “trên đầu đạn bay chiu chít”. Tính cách nhân
vật Th trong tình đồng đội hầu như không có đỉnh điểm vì nhật ký
chỉ ghi lại những sự việc hằng ngày. Do đó, tình đồng đội trong Th
cũng là tình đồng đội của ngày qua ngày, đêm tiếp đêm để rồi bật
thành tiếng khóc đau thương khi có người nằm xuống. Tình đồng đội,
đồng chí của Th cũng đã vượt qua Đức Phổ để nghe ngóng tình hình bạn
bè ở miền Bắc, ở miền Nam, ở đỉnh Trường Sơn, coi ai còn ai mất và
dặn dò “hãy cảnh giác”. Lời ''cảnh giác'' chiến tranh hay cảnh giác
người thân chung quanh mình?. Cái cảnh giác sau sao mà nhói đau, chua chát. Trong chiến tranh,
người ta thèm khát một tình cảm con người sưởi ấm: Là những dòng thư từ hậu phương gởi ra
tiền tuyến. Chúng quý hơn vạn lần bạc tiền không biết nói năng. Nó
còn là những cái nắm tay rất bình thường mà tràn trề ý nghĩa cao cả : Sống chết có nhau chứ không phải phải
những cái bắt tay “bằng mặt không bằng lòng” sau chiến tranh. Và vì
là nhật ký nên tình đồng đội, đồng chí của nhân vật Th chỉ “phát
ra” nhiều chứ nhận lại rất ít. Tuy vậy, “Nhật
ký Đ.T.T” đã ghi lại đầy đủ những tình cảm nồng ấm của một thời
chiến tranh “tre già ngồi khóc măng non” mà người cầm súng thời đại
nào cũng đã từng đi qua và đã từng bị phản bội. Nói gì thì nói, trước
khi đi vào cõi vĩnh hằng, Th cũng một Đảng, hai Đảng, một Bác, hai Bác.
Nhưng rõ ràng, cái mà Th cần trong lúc cô đơn, lại không phải là Đảng,
là Bác, là Pa-ven của N. Ôxotơrốpki, là Áctơ Êtenlian-Voinsơ, là
Hoàng văn Thụ là Tố Hữu nữa mà chính là một ''Tình yêu''. Phan cự Đệ trong
“Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại” có viết: “Văn học Việt Nam có
truyền thống đề cao phụ nữ dân tộc, phát huy truyền thống đó, tiểu
thuyết cách mạng miền Nam đã xây dựng thành công hình tượng người phụ
nữ ‘anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang’… Tình yêu của họ lớn
hơn một tình yêu.”. “Nhật ký Đặng
thùy Trâm” không phải là tiểu thuyết. Tác giả không cần phải xây dựng
một mẫu người phụ nữ với tám chữ vàng sáng chói mà chính hiện thực
chiến tranh đã khắc lên hình ảnh con người anh hùng. Tình yêu của nhân
vật Th dành cho đồng đội, đồng chí lớn hơn cả tình yêu của Th dành
cho M. là sự thật trong nhật ký chứ không phải sự thật dựng lên trong
tiểu thuyết. Đó chính là giá trị hiện
thực lớn nhất của tác phẩm (dạng nhật ký thật sự). © Copyright 2005 giaodiem.com |
In ra @
Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com