1105-gd.gif (2402 bytes)
revised: 06/13.11.2005

III. ''Nhật ký Đặng thùy Trâm'': chủ nghĩa anh hùng cách mạng và ngọn lửa căm thù:

1. Những năm tháng không thể nào quên:

Nhật ký thiên về ghi chép sự kiện nên vì thế có một số sự kiện lịch sử quan trọng được Th đưa vào.

Nếu “Mẫn và tôi” của Phan Tứ được đánh giá “như một cuốn sử thi từ Quảng Ngãi đến Bình Định” theo Phan cự Đệ ( Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại ) thì “Nhật ký ĐTT” chỉ ghi lại một vài sự kiện lịch sử nhưng tầm vóc có liên quan thế giới.

Th đã ghi lại cụ thể: “ngày 12.5.1968 Hội nghị Paris” trong nỗi vui như “những ngày tháng năm 1954 đấy chăng” để mong hòa bình vì “nuớc mắt chúng ta chảy nhiều rồi, xương máu cũng đổ nhiều rồi”. Những thống kê của những nhà viết sử ( Lê xuân Khoa, Lê mậu Hãn ) có cùng con số tương tự tử vong của cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968: 5000 quân giải phóng bị giết so với 384 lính cộng hòa chết và 1.830 bị thương trong khi lính Mỹ bị bắn 216 và 1354 bị thương. Mồ chôn tập thể các phần tử chung là 2.810 người không kể hàng nghìn người khác bị mất tích.

Dẫu Hà Nội không thắng lợi trong cuộc tổng tấn công 1968 đó nhưng có quá nhiều thương vong đã dẫn đến sự lung lay nền chính trị Mỹ. Tổng thống Johnson không dám ra tranh cử nhiệm kỳ hai. Nixon dễ dàng bước kên '‘ngai vàng’' kế vị và chịu cùng Hà Nội đàm phán hòa bình không phải ngày 12.5.68 như Th viết mà từ ngày 10.5.68 đến chính thức có “bốn bên” là ngày 25.1.69.  (Mỹ: Henry Cabot Lodge; VNCH: Phạm đăng Lưu; Hà Nội: Xuân Thủy; MTGPMN: Nguyễn thị Bình thay cho Trần bửu Kiếm). Hiệp định Paris chính thức ký ngày 27.1.1973 mà Th không còn được nghe. Th còn ghi lại mốc 10.10.68 là ngày kỷ niệm mười bốn năm giải phóng thủ đô Hà Nội tức là 10.10.1954.

 Mốc 1954 gợi lại cho ta một Điện biên Phủ với bài “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” của Tố Hữu kịp thời có mặt trên tầng cây số nóng hổi của lịch sử. Công lao của Đại tướng Võ nguyên Giáp trên chiến trận cũng như “thừa tướng” Tố Hữu trên mặt trận văn hóa tư tưởng có thể xem ngang hàng “nhất phẩm” và rồi cũng sẽ như Đặng Dung ôm cái “anh hùng di hận kỷ niệm niên niên” vào lòng để làm quà sang bên kia thế giới cùng vui với hồn ma bóng quế. Xưa nay công thần nào mà chẳng có lúc thất thế sa chân!. Công lao hạng mã ngày xưa chỉ là nỗi buồn đầu bạc cuối đời. Ngao ngán đấy.

Cuộc cách mạng ở miền Bắc hiển nhiên được công nhận “chính nghĩa” vì chống Pháp và sau đó là chống Mỹ ( thời điểm 1973). Những mốc thời gian Th ghi tương đối khá chính xác dù vắn tắt nhưng nếu không phải là người yêu đất nước, sợ cảnh máu đổ, xương tàn thì không ai lụm cụm ngồi viết những cái mốc lịch sử như vậy trong nhật ký riêng cá nhân. Nhật ký Thạc là những trang viết về đời thường. Nhật ký Th là những trang viết về lịch sử. Đời thường cho ta cách sống. Lịch sử cho ta lương tri. Th đã ghi :

- 30.11.1968 miền Bắc hòa bình

- 11.6.1969 chính phủ lâm thời

- 1.11.1969 Hồ Chủ Tịch đọc chúc Tết

- 3.9.1969 lúc 9’47’’ Bác Hồ mất (nét chữ chụp đoạn này là bút tích duy nhất giống nét chữ bản chép tay ).

Th đã khóc Bác vào ngày 3.9.69 nhưng hỡi ơi lịch sử Đảng CSVN không thật với ngay cả dân miền Bắc -cái nôi của cách mạng-. Bởi vì ngày Bác Hồ của Th mất là ngày 2.9 trùng ngày Quốc khánh của VNDCCH (phân biệt với VNCH). Vậy thì niềm vui và niềm đau trộn lại, Th hãy “vừa khóc, vừa cười'' mỗi năm cũng không muộn màng gì.

Trái tim mà Th từng mong “hòa được khắp trong tầng lớp nhân dân” nay đuợc thủ tướng đương đại Phan văn Khải “nâng cấp” lên “hòa đồng cả mọi dân tộc trên thế giới”. Đó là vì cái gì nếu không là sự dám hy sinh để bảo vệ một chế độ mà chế độ đó đang nắm vận mệnh đất nước. Còn những người hy sinh khác, tàn phế khác trong những năm tháng đã từng bị lãng quên này, họ có được người ta coi trọng như Th, nâng cấp hy sinh lên một mức ''thế giới'' như Th ?.

Thế nhưng, “những năm tháng không thể nào quên” của Th được ghi dấu bằng “lửa căm hờn” mà chính trung sĩ phiên dịch tiếng Anh, Nguyễn trung Hiếu đã với Fred: “Fred, đừng đốt cuốn sổ này. Bản thân trong đó đã có lửa rồi” (theo ''Câu chuyện về những tấm lòng''- Đặng kim Trâm- trong ''Nhật ký ĐTT'').

Lửa của Th., một thứ lửa căm hờn của Tnú. Một thứ lửa chiến tranh. Ngọn lửa này đã làm đôi mắt thần chủ nghĩa của Th rực cháy và Th đã ghi vào trang đầu : ''Những ngày rực lửa. Vui, buồn đọng giữa tim ta''.

    2. Lửa căm thù cháy thiêu lòng nhân ái:

“Nhân chi sơ tánh bổn thiện''. Con người sinh ra vốn lương thiện nhưng đều có sự phản kháng để tự vệ khi bị tấn công. Điều đó, ta thấy bất thình lình, ta bị những con rắn, rít, bò cạp, chó mèo… táp, chích, đớp cho chạy nọc khi vô tình dậm phải chúng. Một phản xạ vô điều kiện trong sinh học. Với con người, động vật cấp cao hơn đã biết phản xạ có điều kiện mà lịch sử nhân loại, lịch sử dân tộc phản ánh rất đầy đủ qua những cuộc chiến tranh thế giới, chiến tranh tự vệ (nội chiến, tương tàn). Có chiến tranh tất có chết chóc. Có đổ máu tất có căm thù.

    a. “Nhật ký ĐTT.”: Tràn đầy lửa căm thù:

Có những giấc mơ đâu chỉ toàn là ác mộng. Bản thân con người sinh ra không cười mà lại khóc mếu đó sao?. Tiếng khóc sinh lý đó đem lại cho người niềm vui còn tiếng khóc tâm lý mới đưa con người vào hận thù không khi nào chấm dứt.

Thái độ căm thù chỉ bộc phát khi con người bị mất mát, bị tấn công, bị cướp giật quyền sống, bị đối xử tàn ác …là căm thù mang tâm lý cá nhân. Căm thù mang tính dân tộc là khi một nước này bị một nước kia  xua quân xâm lấn.

“Nhật ký Đ.T.T” mang cả hai căm thù cá nhân và căm thù dân tộc. Nhân vật Th cũng đã chiến đấu vì lòng căm thù ấy. Nhưng nói cho cùng, Th không bị ai tướt đoạt cái gì, chẳng bị đối xử tàn ác mà trái lại, Th “được cưng chìu”. Th căm thù khi đồng đội ngã xuống. Nét căm thù cá nhân đã nằm trong “căm thù” chung của miền Bắc. Nét căm thù này xuất phát từ lòng nhân đạo -cội nguồn của giữ gìn đất nước.

Trong “Nhật ký Đ.T.T”, mỗi một đồng đội hy sinh đều nâng mức căm thù trong Th. Ví dụ, chỉ một “đồng chí bộ đội” ngã xuống trong túi là tờ thư “Đợi anh về” của người yêu, Th đã giận dữ kết án: “Tội ác kẻ giết người là đế quốc Mỹ”. Thấy cảnh bệnh xá nghi ngút cháy, Th đã hạ quyết tâm: “Đánh cho không còn một tên đế quốc Mỹ nào”. Trên chiến trường, Th không là cô bé “Sulico” mơ màng nghe những bản vọng cổ, nghe tiếng mưa rơi, nhìn tia nắng ấm, ôm ấp thương yêu mà là một người chiến sĩ. Bom tiếp bom. Đạn tiếp đạn. Thù tiếp thù. Th mượn ngày San về lại Bắc để truyền hận thù: “Hết giặc Mỹ mới thực sự có cuộc sống mà thôi.”.

Ý thức dân tộc từ cánh tay “Sát Thát” (giết Mổng Cổ) của quân binh nhà Trần đã được Th triệt để sử dụng vào công cuộc chống Mỹ. Hình ảnh ''đống xương vô định còn cao bằng đầu'' của thời xưa để nói cái ý “Nhất đái công thành vạn cốt khô” cũng là “Xương dày nuối chí hờn căm” biến trái tim con người thành đá căm hờn. Th trút hết căm thù vào Mỹ và nhìn Mỹ như một kẻ khát máu khi  thấy mẹ con chị Hương (đồng nghiệp) bị thương nặng: “Đáng ghê tởm vô cùng bọn Mỹ khát máu”. Cuối cùng Th kết luận: “Xương máu đã chất cao như ngọn núi căm thù sừng sững trước mắt chúng ta. Bao lâu đuổi hết lũ quân uống máu người không tanh ấy?”.

Một trăm năm bị Tàu đô hộ, dân tộc Việt Nam sống dở, chết dở vì sự thống trị tàn bạo của những tên thái thú Tô Định, Nhâm Diên. Tội ác kẻ thù  qua các triều đại đô hộ đã được Nguyễn Trãi kể rõ trong “Bình ngô đại cáo” : “Cuồng Minh tử khích, nhân dĩ độc ngã dân; ác đảng hôn gian, cách dĩ mại ngã quốc. Phiến thương sinh ư ngược diệm, hãm xích tử ư họa khanh. Khí thiên võng dân, quỷ kế cái thiên vạn trạng… Bại nghĩa thương nhân, càn khôn có hồ dục tức, trong khoa hậu liễm, sơn trách mỹ hữu kiết di…”

              “Cuồng Minh mượn cớ nhiễu nhương.
               Gian tà bán nuớc, một phường cầu vinh.
               Lửa hung tàn nuớng dân tình
               Hầm giam con đỏ bỏ mình tai ương.                 
               Dối trời, lừa đất khôn lường
               Hai mươi năm kế kiếm đường hại dân.
               Càn khôn nát nghĩa bại nhân
               Núi non thuế má vét gần lộ xương
               Đào mỏ núi, lam chướng thừa
               Xuống biển mò ngọc chưa vừa túi tham...''
                                                                  (Người viết chuyển thể)

Tội ác như thế, ai không căm hận?.  Một ngàn năm qua đi. Một trăm năm lại tới. Lính “commăngđô” khét tiếng chặt đầu, lột da, dìm hết những cuộc khởi nghĩa chống Pháp vào thế kỷ 18 vào biển máu mà Nguyễn đình Chiểu trong bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” ( Tế lính Trương Định) nêu rõ : “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp muốn tới ăn gan. Ngày xem ống khói chạy đen xì muốn ra cắn cổ.”.   Căm thù cỡ đó đủ biết giặc Pháp ác đến bực nào. Bài Văn tế thống thiết như thế, đậm đà tình yêu nuớc, thương nòi như thế, được xếp trong một phép đối đầy biện pháp tu từ như thế mà nhìn không ra “cái hay, cái đẹp anh hùng'' của những người nằm xuống, quả thật tâm hồn con người đã đến lúc rêu phong !.

Một trăm năm cũng qua. “Hai mươi năm nội chiến từng ngày” lại đến!. Mỹ theo chân Pháp không đúng thời cơ vô tình “ẳm” trọn sự căm hờn  hơn bốn ngàn năm   của dân tộc Việt Nam. Mỹ hiện diện trong “Bà má Hậu Giang” của Tố Hữu không phải là con người nữa:

                  Một thằng Mỹ mắt xanh, mũi lõ
                  Mắt diều hâu mũi chó, râu dê
                  Súng trường nhọn hoắt lưỡi lê
                  Khét nồng khí chết, tanh dề máu oan…

So với bọn giặc cuồng Minh của Nguyễn Trãi: “Thằng há miệng, đứa nhe răng máu mỡ bấy no nê chưa chán'' cùng một nòi  loài  động vật hai chân ăn thịt người. Kinh khiếp thay cho trí tưởng tượng văn học. Tội nghiệp, ngay cả chàng binh nhì thông tin có tiếng ''văn võ song toàn'' Nguyễn văn Thạc mà ra trận cũng không hình dung nổi Mỹ là gì ?. ''nó là cái gì mơ hồ thế?...hẳn đó là cũng khuôn mặt người bị bóp méo xộc xệch. Hẳn đó là bộ mặt nhăn nhúm trước ánh sáng mặt trời'' ( ''Mãi mãi tuổi hai mươi'' ngày 15.11.71). Không biết Mỹ sao lại căm thù Mỹ dữ thế đến độ một mất một còn trong Thạc "cánh tay này sẽ bóp nghẹt cổ quân thù''. Căm thù kinh khủng cho cánh tay... ''Sát Mỹ''.

Th và Thạc có nhìn Mỹ dưới góc độ con thú cũng không sao. Nhưng xét cho kỹ về mặt nhân đạo: Người Tàu, người Pháp, người Mỹ đâu phải ai sinh ra cũng muốn đi làm ma cà rồng hút máu người. Ngay cả những lứa tuổi thi hành nghĩa vụ quân sự của lớp trẻ miền Bắc dù được trang bị kỹ tư tưởng đánh Mỹ mà vẫn bỏ trận, đào ngũ, ''đánh nhau, cãi nhau, đánh cắp của nhau. Ba phần tư số xoang quân dụng bị mất rồi quân trang, quân dụng mất lung tung! Tệ quá '' mà Nguyễn văn Thạc đã ghi lại trên trang giấy bằng ''những câu văn vội vàng, bụi bặm''. Xâm lược chỉ là lý tưởng của một bộ phận đang nắm guồng máy chính trị của một dân tộc. Nhân dân nằm trên guồng máy đó. Lịch sử dân tộc nào chẳng có một lần bị coi là xâm lược. Việt Nam ta đâu phải không có. Chế lan Viên không phải đã từng để tang cho dân tộc Hời trong ''Điêu tàn'' hay sao?. Và đâu bỗng nhiên mà có một ''Hận Đồ Bàn'' trên Tây Sơn đất đỏ, trên Phan Thiết cát khô?. “Mạnh được, yếu thua” là lẽ tất nhiên của “được” và “mất”. Dân tộc nào cũng biết xót xa khi mất mát và đau đớn khi chia lìa, hận thù khi chết chóc. Đâu chỉ mình dân tộc Việt Nam biết đau?. Đâu phải chỉ mình Th biết xót !

Quân mình chết, mình đau. Lính người chết, mình vui. Có cái gì mâu thuẫn lương tâm quá!. Trong “Nhật ký ĐT.T.”, hình ảnh nhân vật Th reo vui trước thành tích của những em bé mà Th ca ngợi: “Các em đã anh hùng từ trứng nước.” Th ghi: “Em Hùng 14 tuổi giết 6 lính Mỹ …Em An phổ Nhơn lấy 5  súng, 2 cối cá nhân, 1 đài RC.”.  Lời tự hào sao như bản án tử hình dân tộc đã đến. Mới nức mắt đã yêu căm thù, yêu giết giặc hơn yêu lời ru của mẹ. Những hình ảnh đó tràn đầy trên chiến trường Trung Đông hiện nay đã thật sự gây kinh hoàng, bất nhẫn trong những trái tim yêu hòa bình với tấm chân tình nhân đạo mà người ta chẳng  hề nghĩ đến tuổi thơ?.

Tội ác đã mò đến tuổi thơ như con sâu ăn hết đọt mầm xanh đất nước. Th có nhìn ra không?. Th vui mừng khi “kiểm điểm binh mã” với sự “hao binh tổn tướng”: Về phía mình: “1du kích hy sinh, 2 bị thương” để lấy: “14 tăng, 1HU-1A, 15 xe nhà binh, diệt 150 Mỹ”. Thiện xạ vô cùng nhưng xem lại: 1 anh hùng của giải phóng quân (1 hy sinh) đối lập 150 anh hùng của Mỹ (150 bị diệt). Vô tình, đồng đội Th đã tạo ra cho dân tộc Mỹ nhiều anh hùng như vậy!. Không phải những ai chết trên chiến trường đều là anh hùng hay sao?

Th vẫn lao vào lửa căm hờn đó cho tới chết. Th đã đưa ngôn từ hết sức nặng nề khi nghe tin Nixon mở cuộc chiến vào Đông Dương và miền Bắc cũng đã điều thêm quân vào “chiến trường đi chẳng tiếc máu xương” qua đường mòn Hồ chí Minh.  Ngày 5.5.70 trang 241, Th viết : “Thằng chó đểu Nixơn đã  liều lĩnh điên cuồng mở rộng thêm cuộc chiến. Chúng ta sẽ phải đương đầu với một khó khăn ghê tởm hơn nữa đây. Nhưng tao đã thề cùng các đồng chí của tao rồi, dù có chết cũng quyết đánh đến cùng…Ôi! Căm thù đến bầm gan tím ruột”. Hình ảnh cô gái ôm đàn guitar hát những bài tình ca biến thành bài ca thù hận. “Mỹ” đẹp đẽ đã thành “quân khát máu”, “quân chó đểu”, “quỷ cướp nước” mà Th căm ghét đến tận xương tủy. “Ăn gan, cắn cổ” tới nơi rồi còn gì!

Cuốn Nhật ký... khạc ra “lửa” là vậy.

Nhưng quanh đi quẩn lại, Th chưa mở lòng ra  nghĩ tới người nào không có cha, có mẹ, có vợ, có chồng, có anh em, bạn bè, người yêu và có cái lớn lao hơn là tổ quốc?.  “Ăn cơm chúa phải múa tối ngày”, “Ăn lộc Vua sao không cày trả nợ”?.  Tuổi thanh niên ở Mỹ hay bất cứ nơi đâu không đi lính khi tổ quốc cần thì đi đâu?.   Trường huấn luyện nào mà không có mục tiêu (“target”)  buộc học viên phải nhắm cho đúng và bắn cho trúng?.  Kẻ thả bom phải thả cho chính xác. Bắn không trúng. Bom ném trật. Có mạng mà trở về trình diện với thủ trưởng là phước bảy đời.

Trên chiến trường không có tình cảm riêng. Nếu mảnh pháo có mắt, chúng đã không chém đứt hai bắp đùi của Thạc vào ngày 30.7.72 và họng súng kia sẽ quay hướng khi nhắm vào trán của Th ngày 22.6.70 ?. Nếu súng đạn có mắt, còn ai trở thành anh hùng trên chiến trận?.  Hóa ra những thợ khắc Huân chương chiến công, Bắc đẩu bội tinh… đói chết trơ xương vì chẳng có ai “đặt hàng” (“order”) gì cả.

Chết vì nghĩa khí, vì Chúa, vì Vua, vì đất nước mình sống, đều là cái chết đáng lưu sử xanh. Quan Công bị Tháo  bắt, thà chịu chém chứ không đầu Tào. Trần bình Trọng thà làm quỷ nước Nam. Toa Đô thua trận ở Tây Kết mà bị cắt thủ cấp, Trần hưng Đạo cảm kích cởi ngự bào đắp cho như tôn kính kẻ anh hùng. Sầm nghi Đống cùng đường phải thắt cổ ở gò Đống Đa thà chịu chết. Võ Tánh, Ngô tùng Châu người tự thiêu, người uống thuốc độc vì thọ ơn Nguyễn Ánh… Người liêm sĩ, kẻ anh hùng xưa nay đều tỏ khí tiết vậy cả.

Không ai yêu thích chiến tranh. Th cũng biết: “Chiến tranh không bao giờ mang lại hạnh phúc cho hai lớp người đối đầu giữa hai trận tuyến nhưng chiến tranh giúp con người giải quyết vấn đề độc lập tự do hay nô lệ một cách triệt để''. Những người trên chiến trận đâu phải hoàn toàn là những người tự nguyện?. Trong “Phận bạc”,  Vũ tiến Dũng đã để nhân vật mình phát biểu: “Xông lên thì chết vì đạn địch mà không xông thì chết vì đạn ta. Sau mỗi đợt xung phong lại thấy thiếu mất vài người… Chiến tranh là cái mà người dân lành không muốn.”.

Th cũng không hề biết chính những người dân lành ở Mỹ, họ ghét chiến tranh và hầu hết khi có cuộc chiến với nước nào, họ vẫn biểu tình (đây là quyền tự do ở một nước tự do). Tờ Người Việt số 6720 ngày 1/5/2004 có đăng: “Rất nhiều cuộc biểu tình quy tụ hàng trăm ngàn người, cả sinh viên đại học và dân chúng trên cả nước Mỹ liên tục những năm 1968-1970, vừa làm suy yếu tinh thần quân đội, vừa tạo ảnh hưởng trực tiếp đến chính tình Mỹ vốn tùy thuộc hoàn toàn vào lá phiếu trực tiếp của dân.”.

 Nếu không có những cuộc biểu tình đó như “góp một bàn tay bẻ giò chính phủ Mỹ” thì Quốc hội Mỹ không cắt viện trợ cho VNCH và rút lui để ra đi trong “danh dự” thì cuộc Nam tiến của miền Bắc đâu thể nào thắng VNCH dễ dàng như vậy?. Mất tinh thần. Mất tự tin. Mất viện trợ. Mất những kẻ như ĐTT, như NVT... ở chiến trường. Mất trắng!.  Th cũng đâu có biết, số phận liệt sĩ cũng lắm gian truân. Trên con đường từ Bắc vào Nam  qua đường mòn Hồ chí Minh “rải rác biên cương mồ viễn xứ”, đâu phải cái nào cũng được về “nơi an nghỉ cuối cùng” như Th. Kẻ hy sinh trong thất bại càng thê thảm hơn:

               Bóng ngày qua, bóng ngày qua
               Giờ đây người lính đã ra đi rồi
               Bóng chiều rơi, bóng chiều rơi
               Nghĩa trang lạnh lẽo, nơi nơi hoang tàn
.
               Đồi xanh mộ chí ai ơi
               Không người thăm viếng, không người trông nom
               Nhà quàn lạnh lẽo sớm hôm
               Chim non chíp chíp gọi đàn về đây…

(Thăm nghĩa trang Quân đội Biên Hòa –Tô Sơn, báo Người Việt số 7128 ngày 13/6/2005)

Ngọn lửa căm hờn của Th ngày nào tận ba mươi lăm năm trước rực trong đôi mắt mộng mơ khi đọc những câu này có chút nào dịu xuống?. Th đã không phải tâm sự với em mình “chị sẽ đem lại ánh sáng cho những đôi mắt tật nguyền” sao?. Biết hận thù đúng mức và dừng lại đúng lúc thì cuộc đời không còn “những đôi mắt tật nguyền” với “con tim mù lòa” lòng nhân ái, là đá tảng với thương đau.

“Còn thằng Mỹ thì không ai hạnh phúc nổi” mà Th nhắc trong nhật ký không phải của liệt sĩ Nguyễn văn Trỗi ''Chín phút ra pháp trường'' sao? Giờ không còn “thằng Mỹ” nên Th yên lòng nhắm mắt vì  “ai ai cũng hạnh phúc cả rồi”. Người đứng đầu chính phủ đương đại đã vỗ về linh hồn Th và Thạc trên báo Tuổi trẻ ngày 4.8.05 : ''hãy yên nghĩ...hành trình của các em đang được tiếp nối ngày càng xứng đáng, lý tưởng của các em nhất định sẽ được thực hiện thành công''. Cứ nghĩ như vậy đi như ba mươi lăm năm về trước, Th đã nghĩ miền Nam nghèo khổ, thương đau cần… giải phóng !!.

b. Thực tế về cái nhìn miền Bắc đối với miền Nam:

Không biết căn cứ vì đâu hoặc vì đòn “chiến tranh tâm lý” mà miền Nam trong tầm mắt miền Bắc anh em là “nghèo khổ, bom đạn” chính là mục tiêu “giải phóng miền Nam” sau 1973, Mỹ cuốn cờ kéo về nước. Nam tiến sau 1973 thành cuộc chiến huynh đệ tương tàn không khác gì thời Bắc-Nam, Trịnh-Nguyễn hoặc Vua Lê (Bắc), Nguyễn Huệ (Trung) và Nguyễn Nhạc (Nam) phân tranh suốt bốn mươi lăm  năm ròng rã…

Cuộc Bắc tiến hay Nam tiến (nếu có) sau 1973 thì cũng làm một cái việc “thống nhất đất nước” như Nguyễn Ánh đã làm. Hiệp định Paris không quy định cấm Bắc tiến nên Bắc cứ tiến. Miền Nam lúc đó có ai xâm lược đâu mà vào giải phóng?. Nước mắt Th nhỏ xuống cho đồng đội vì bom đạn Mỹ mà hy sinh, có còn giọt nào để cho người ngã xuống không vì bom đạn Mỹ mà cũng hy sinh vì súng đạn của Nga sô,  Trung Cộng ?.  Miền Nam trước đây có vựa lúa khổng lồ Đồng Tháp Mười quanh năm dư thừa nuôi sống mười bốn triệu dân miền Nam lúc đó. Bây giờ, nguồn xuất khẩu nhì, ba gạo của Việt Nam trên thế giới không phải là vựa lúa miền Nam sao?. Hòn ngọc Viễn Đông- Sài Gòn -thời đó cũng lộng lẫy bậc nhất nhì Đông Nam Á, không nghèo nàn như sau 1975 khi “xóa bỏ chế độ người bóc lột người” từ Bắc trùm lên miền Nam.

Tiếc thay, Th cũng chỉ là người được học về miền Nam trên sách vở. Nếu bây giờ, có ai còn nói miền Nam thời đó như Th nghĩ: Nghèo khổ, đói rách, bom đạn, không tự do, ta nghĩ chắc lịch sử đã đến giờ khóa sổ. Dù sao, Th cũng được gọi là “anh hùng” ngang hàng với những “anh hùng” trên thế giới. Công nhận “anh hùng” cho Th mà “phủ nhận” tính cách anh hùng của những người lính bám trụ miền Nam sau ngày 27.1.73 và những người lính chết vì Trường Sa là một sai sót, không công bằng của lịch sử. Có ba Th: Một Th ngã xuống vì đạn Mỹ năm 1970, một Th ngã xuống vì pháo Mỹ năm 1972 và một Th ngã xuống vì pháo Trung Cộng ở Hoàng Sa năm 1974. Thế nhưng, hai Th là anh hùng còn một Th là con ma lang thang... ( Thượng tá Ngụy văn Thà hạm trưởng HQ10 cùng Lê văn Tây, Đinh hoàng Mai, Lê anh Dũng chết theo tàu HQ10 đã bị Trung Quốc bắn chìm ngày 27.1.74 tại đảo Hoàng Sa). Có ai đó đã viết những lời thơ tang thương mà Hoàng xuân Bái trong đặc san ''Lướt sóng 2002'' đã ghi lại:

          ... Tôi biết mùa xuân chưa đến bao giờ
              Ngực đảo còn đau ngàn bàn chân lạ.
              Hoàng Sa, xa vời ơi Hoàng Sa
              Tên người ngân buồn như bản thánh ca.

Bài thơ không tác giả nhưng có một tấm lòng đáng để ngợi ca về những con người sinh ra, chiến đấu với số phận nghiệt ngã mà không ai mong muốn.

Đời không thiếu kẻ anh hùng. Nhưng có ai  đi cầu cạnh một chữ anh hùng cho có vị đâu. Vấn đề ở đây tức là ''đánh giá, công nhận giá trị hy sinh'' của những người bỏ mình vì đất nước. Điều này cần những người viết sử có trái tim là tiếng nói của công lý thì may ra. Tìm một người viết sử Tư mã Thiên hay Trần trọng Kim như “mò kim đáy biển”. Nhưng cứ tin rằng: ''Sương mù dày cỡ nào cũng đến lúc rời xa đỉnh núi. Sự thật đánh lừa, lịch sử cũng phanh phui''.

 Những người chủ trương “phục quốc” với mục đích cá nhân dẫu so tài lý thuyết cũng chẳng thể nào chịu nổi một ''chiêu'' của các nhà “đại ảo thuật gia” dầy dạn kinh nghiệm trên chiến trường chính trị !. Có đương đầu bằng súng đạn, bom mìn tân tiến cũng không có một “anh hùng mũ đỏ tên Đương”, '' anh hùng Hải quân áo trắng tên Tuấn'' và một tướng Phú, tướng Nam, thứ hai!.  Chủ trương “tự mình” cứu mình của Phan chu Trinh hay  “nhờ người cứu mình” của Phan bội Châu hoặc tiếng bom Sa Diện Phạm hồng Thái cũng không còn “hậu duệ”!. Thời đại đã khác xưa rồi. Lịch sử đang đi bằng hai chân lại phải đi thêm hai chân nữa thì loài người trở lại thời nguyên thủy vì mọi thứ đã bị: phá hết, giết hết, đốt hết.

Ta đã thấy một hiện thực lịch sử đi qua đôi mắt :

Miền Bắc không giỏi gan lỳ sao họ có thể kiên trì trong ''Chín năm làm một Điện Biên. Nên nhành hoa đỏ, nên thiên sử vàng'' đánh bại Thiếu tướng De Castries làm nên Điện Biên Phủ buộc Pháp ký hiệp định Giơneovơ ngày 21.7.1954 chia đôi đất nước?.  Miền Bắc không lanh mưu, lắm chước so có thể buộc chân Mỹ vào hội nghị Paris ngày 21.1.1973 dẫn đến sự truất phế tổng thống được coi “có máu mặt” của VNCH là Thiệu đưa đến sự cáo chung của chế độ VNCH ngày 30.4.75 -Cái ngày mà Nguyễn văn Thạc đã tiên tri hẹn cùng Như Anh nối câu ân tình nhưng chỉ mình Như Anh trở lại!. Cái ngày mà Th mơ ước thanh bình để về gặp ba má cũng chỉ còn mỗi má ba-. Kẻ thắng trận cũng tan tác mà người thua cuộc càng nát tan hơn !.

             Ai chiến thắng mà không hề chiến bại
             Ai nên khôn không khốn một lần.

Câu thơ của Tố Hữu mà Th đã ghi vào nhật ký nó có tính chất biện luận cho sự thắng bại, tồn vong… là lẽ tất nhiên của một thời đại, một chế độ, một quốc gia.

Thêm một bước nữa, Đảng CSVN không khéo léo sao có thể đẩy lùi được sự xâm lược ồ ạt của Trung Quốc trong những năm 1979 vào sáu tỉnh biên giới phía Bắc ngày 17.2 – 4.3.1979. Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử chống ngoại xâm. Ba mươi năm hòa bình cũng chưa phải là con số “thọ”. Người anh em “môi hở răng lạnh” kia nóng, lạnh, sổ mũi bất thường. Những người bạn láng giềng cũng đâu có nguôi “hận Đồ Bàn, bạo tàn Pônpốt ?”. Và nếu họ bất thình lình quay ngược mũi súng hướng về tổ quốc Việt Nam trên công xuống, dưới kích lên, kẻ “đứng mũi chịu sào” vẫn là Đảng CSVN và quân đội, nhân dân của họ chớ nào phải những kẻ ở bên kia bờ đại dương?. Lúc này, đất nước lâm nguy, có ai xứng đáng làm Trần hưng  Đạo ''vì nước quên thù nhà'' hay không ?. Những kẻ ''cõng rắn cắn gà nhà'' đã bị lịch sử nguyền rủa đời đời, nhân dân khinh ghét kiếp kiếp. Nếu hôm nay, người ta chưa nhìn thấy thì ngày mai, lịch sử sẽ nhìn ra kẻ đó là ai ?.

Mỹ chỉ có hai đảng: Dân chủ và Cộng hòa trên tổng hai trăm rưỡi triệu dân. Di dân Việt Nam chỉ hơn một triệu ở Mỹ trên tổng số hai triệu tám ở hải ngoại mà có biết bao là đảng phái?. Nội công việc bầu chọn một ‘thủ lĩnh’ thôi, sự  tranh chấp sẽ thành: ''Máu anh em nhuộm đỏ Thái bình dương tanh hôi ngàn năm không sao sạch. Xương cốt nhục phủ trắng Đại tây dương dơ bẩn vạn kiếp chẳng phai mờ''. Một bài học của những cuộc khởi nghĩa không liên kết thời thực dân Pháp dù cho ba mươi  năm đấu tranh của Hoàng hoa Thám được coi là cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại nhất cũng chỉ còn: “Máu nhuộm đỏ lá rừng Yên Thế. Xương trắng đồng nức nở chiến khu.”. Trịnh công Sơn chết rồi, người kế vị chưa có,  lấy ai viết lên những ca khúc phản chiến ngậm ngùi !.

Không ai muốn đẩy con em mình vào vòng lửa đạn vô vọng như vậy cả. Đặng thùy Trâm, Nguyễn văn Thạc, Hoàng thượng Lân ...và những người ngã xuống phía bên kia, ai cũng mong có người viết tiếp trang nhật ký hòa bình chớ nào viết tiếp trang máu đổ ''mẹ già khóc trẻ'' vì chiến tranh   là giải pháp cuối cùng chỉ có thể xảy ra khi người ta buộc phải dùng vũ lực để chọn: Tự do hay nô lệ.   Chúng ta không phải là dân nô lệ. Chúng ta chỉ đang thiết tha mong muốn chữ ''tự do'' cũng như Th, như Thạc mong ước. Sự đòi hỏi này ai sẽ là kẻ chịu trách nhiệm phát ban?. Nhân vật Th đã ghi lại lời mẹ Thiện (đứa con trai duy nhất theo cách mạng, xin phép ba lần về thăm mẹ mà không được) ''tự do'' mắng vào cấp trên của Thiện: “Anh không xứng là đồng hương vì anh không có chút tình quê hương. Anh xứng là thủ trưởng vì anh không có tình đồng đội”. Câu chửi thật… hay. Đúng là câu mắng mỏ ra trò của lịch sử.  Nếu có “đập” ĐTT hay “đập” Ban biên tập không cắt câu này thì hãy “đập” NTH  trước vậy.

Một sự kiện cần nói thêm trước vong linh Đ.T.T : Miền Nam không nghèo như trong mắt người miền Bắc nhưng miền Nam sợ một từ  mà Th chưa bao giờ được nếm mùi là  mọi giai cấp, mọi thành phần, giới tính, tuổi tác đều sợ từ “Việt cộng” hơn sợ “ngáo ộp”. Thanh niên sợ bắt lính một nhưng sợ bắt đi lên núi mười. Đó là sự thật. ''Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi ...dẹp lép''. Giữa hai trận tuyến, súng đối súng còn dễ thở hơn con người sống trong hãi hùng cũng một phần vì ''trâu bò'' húc nhau này.

Đã ba mươi năm rồi mà cảm giác sợ hãi  tâm lý vẫn còn nặng nề trong tâm hồn những người sống qua hai thế hệ. Chiến tranh qua rồi thì “trung ngôn nghịch nhĩ”, “công thần chết oan”. Lịch sử nào, triều đại nào mà không tránh khỏi “điểu tận cung tàn”!. “Giữ chùa ăn oản chùa”, đó là lời sấm ký  của Trạng Trình Nguyễn bỉnh Khiêm cũng là sấm ký của lịch sử. Lịch sử không bao giờ đi thụt lùi nên chúng ta đừng bao giờ đẩy lùi lịch sử bằng đôi tay thô bạo và súng đạn.

Trên con đường lịch sử đã đi, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của thời chống Pháp, chống Mỹ ở miền Bắc nói chung và của Th nói riêng đều mang tính tất yếu của lịch sử.

à đọc tiếp phần 5

© Copyright 2005 giaodiem.com

 

 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

 

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com