1105-gd.gif (2402 bytes)
revised: 06/13.11.2005

  3. “Nhật ký Đ.T.T.” mở lại một thời “chủ nghĩa anh hùng cách mạng” trong lịch sử văn học:

a. Về những con người đặc biệt là phụ nữ:

Sự hy sinh của Th là một trong vô số người phụ nữ ngã xuống. Th là một bác sĩ Hà Nội cầm súng ngã xuống. Dương thị Xuân Quý là một nhà văn Hà Nội cầm súng ngã xuống. Người con gái  thanh niên xung phong không tên hồn nhiên, trong sáng, ngã xuống và đi vào thơ Lâm thị Mỹ Dạ trong “Khoảng trời hố bom” :

                      Có phải thịt da em mềm mại trắng trong
                      Đã hóa thành những làn mây trắng.
                      Và ban ngày khoảng trời ngập nắng
                   ...Hỡi mặt trời hay chính trái tim trong ngực soi cho tôi...

Đọc thơ là thưởng thức “hồn thơ”, ta không cần biết tác giả là người được thương hay ghét, thuộc tầng lớp nào, chế độ nào. Con ong hút mật có bao giờ phân biệt hoa đẹp xấu ra sao ?.  Một thời chiến tranh đã đi qua trong Nguyễn thị Hồng Ngát, Nguyễn thị Ngọc Tú, Nguyễn thị Thu Trang, và đọng lại một bài thơ đã giã từ sách giáo khoa. Đó là bài “Giấc ngủ nàng tiên dũng sĩ” của Dương hương Ly mà người viết bài thuộc lòng từ cấp hai. Nàng tiên ấy như nàng tiên Thùy Trâm sau tiếng bom rơi:

                            Em ngủ vườn trưa xanh nắng thưa
                            Gió hiu hiu hát mát thân dừa.
                            Tấm dù em đắp vương vương nắng
                            Như bướm vờn theo nhịp võng đưa.
 
                             Pháo giặc dưới tàu vẫn bắn lên
                             Trời âm vẩn đục tiếng bom rền.
                             Máy bay giặc rú như bầy thú
                             Em chợt tỉnh rồi lại ngủ yên.
 
                            Ôi tuyệt vời thay giấc ngủ hiền
                            Của người em gái đẹp như tiên.
                            Dễ thương  như nước hàn giang ấy
                             Mà tựa triều dâng giữa trận tiền.
 
                            Ai biết chiều qua trong lửa đạn
                            Em là cô gái rất hiên ngang.
                            Dẫn tổ ba người băng lửa thép
                            Đánh bật vòng vây mấy tiểu đoàn.
 
                           Giờ nằm trong võng ngủ ngon
                           Gió thơm mái tóc nắng chen mặt hồng.
 
                            Hỡi con chim nhỏ trên đồng
                            Hót lên cho đẹp giấc nồng em tôi.
                            Đêm nay vào lúc trăng tà
                            Nàng tiên dũng sĩ lại ra trận rồi.
 
                            Gió trưa ru nhè nhẹ
                            Trên miệng em mỉm cười.
                            Em đang mơ gì thế?
                            Mùa xuân về trên môi.

Bài thơ nhẹ nhàng, thanh thót êm ái như giấc ngủ của nàng tiên dũng sĩ sau khói bom. Sự hồn nhiền đó đã bị chiến tranh lấy đi không còn dấu vết. Đọc bài trên và đọc lại bài “Hai lần làm mẹ” của Trầm Hương, người đọc hình như…cắn vào môi mình rướm máu:

                            Con trở về sau cuộc chiến
                            Không chàng trai nào đưa tiễn.
                            Không còn nửa lời thề non hẹn biển
                            Mẹ là người duy nhất đón đưa con.
 
                            Ừ thì con về với mẹ
                            Ngôi nhà ta ba năm rồi đơn lẻ...
                            Mẹ hái hoa bưởi về gội tóc cho con đây.
                            Ôi mái tóc xanh dài dưới bàn tay nhăn của mẹ
 
                            Vòm ngực con vẫn còn căng tràn sức trẻ
                            Mẹ run lên khi chạm vào đôi chân ngà ngọc của con
                            Gởi lại chiến trường!
                            Sự im lặng còn đau đớn hơn ngàn tiếng nấc
                            Con ơi, làm sao mẹ quen được nỗi mất mác này.

Nỗi đau nhân loại là đấy. Tàn phế còn đau khổ hơn ăn phát đạn vào đầu. Còn  bao nhiêu cô gái, bao nhiêu người mẹ với cơn đau như muối xát lòng trên đất quê hương , trên thế giới này ?. Và những con người thức tỉnh trước mặt trời khi gặp cách mạng rồi đau thương, gian khổ và mơ ước diễn ra từng phút, từng giây trong cuộc chiến như thế nào ?.

b. Hiện thực tình cảm trong chiến tranh :

Giá trị hư cấu của thơ ca bóng bẫy, buốt lòng hơn tiểu thuyết. Thơ ca trau chuốt từ ngữ, hình tượng, ngữ nghĩa. Tự sự chuyên xây dựng hình tượng nhân vật có gút thắt và gỡ. Thơ ca sâu lắng. Tự sự dàn trãi. Người đọc cũng phải mở lòng mới thông cảm về những hạn chế do thời đại, lịch sử chi phối văn học. Ngay cả ''anh hùng'' cũng phải được chờ thánh chỉ tấn phong. Đời thật có Đảng, thơ văn lấy Đảng làm đầu. Chế lan Viên phải giã từ bóng ma Chiêm để chạy về với Đảng (người mà Th gọi mẹ hiền, mẹ ghẻ):

                         Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
                         Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.

Ẩn dụ…như thật. “Đói lòng ăn một quả sim” cũng no. Đói gặp sữa là tuyệt vời. Nhưng “chiếc nôi ngừng” cho em đang ngủ đưa đẩy làm gì cho nó hết hồn khóc thét lên?. Thơ ca thời chiến “nịnh nọt” dễ thương và quá cao cấp !.

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng có Đảng nên mọi tình cảm khác ra ngoài tình cảm cách mạng đều gát lại. Th cũng đặt Đảng và lý tưởng lên hàng đầu trong quá trình công tác. Thạc nhớ người yêu nhưng cũng chỉ hẹn đất nước thanh bình. Nhưng Xuân Diệu cả một đời không   biết có bao nhiêu mảnh tình rách vác vai mà cũng gào kêu thống thiết:

                      Làm sao sống được mà không yêu
                      Không nhớ không thương một kẻ nào?

Luật pháp có kẽ hở. Đường ống xăng dầu, nước, ga vẫn có chỗ rò rỉ. Đảng cũng có lỗ hổng ở trong nguyên tắc. Th đã nhìn ra: ''Đảng không nói rằng trái tim cộng sản chỉ biết có lý trí, biết công việc mà vẫn phải có yêu thương, hy vọng, khao khát”. Và thế là có mảng tình yêu rơi xuống cỏ hôm nào!.  Tố Hữu là đại diện của “mặt trời chân lý chói qua tim” trong ''Từ ấy'' lẫn quẩn hoài, cuối cùng cũng ...lén thả được cái câu: “Anh hôn em, hai người đồng chí”. Hôn như ...đồng chí thì ngon lành gì nhưng có còn hơn không. Mặc, miễn được “hôn” là OK rồi!.

Th trong “Nhật ký Đ.T.T” có tình đồng đội gắn bó. Thôi Hữu trong “Lên Cấm Sơn” với tình đồng đội tan nát : 

                       Cuộc đời gió bụi pha xương máu
                       Đói rét bao lần xé thịt da
                       Tặng những anh tôi từng rỉ máu
                       Đem thân xơ xác giữ sơn hà.

Những năm tháng yêu thương, đói khổ, trầy trụa như vậy mà thơ ra câu nào chết hồn người câu đấy, còn bây giờ, thơ thời buổi xe con, nhà lầu, điện thoại di động... đã có hướng đi về đâu cho đời thôi rỉ máu, cho người hết u sầu ?.

Thôi Hữu cùng Chính Hữu  với Hồng Nguyên, Quang Dũng... như “một lũ người tứ xứ, gặp nhau hồi chưa biết chữ”. Đánh đấm xong xuôi, buồn tình cái chi mà làm người anh hùng thời hòa bình hưởng phước không làm, bày đặt đi làm…liệt sĩ !. Và bài thơ về tình đồng chí được coi mẫu mực nhất, hay nhất vẫn là bài “Tình đồng chí” của Chính Hữu:

                       Áo anh rách vai
                       Quần tôi có hai miếng vá.
                       Miệng cười buốt giá chân không giầy
                       Thương nhau tay nắm bàn tay.
                       Đêm nay rừng hoang sương muối
                       Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
                       Đầu súng trăng treo.

Tình đồng chí ấy thiệt như của những... “Hồng Thất cái bang”. Áo nhà binh không chịu khoát vào ''cho xanh màu lá, cho dữ oai hùm'' như Quang Dũng mà cả đôi dép Bác Hồ cũng …quẳng ở nơi đâu ?. Mang một chữ ''nghèo'', chữ ''ngông'' khí phách vậy mà tâm hồn thật thà qúa. Có ai nhẫn tâm đi bắn ánh trăng ước vọng hòa bình. Một hòa bình bằng súng đạn cũng đâu là vĩnh cữu vì đằng sau đó là sự căm thù từ phía bên kia kẻ trúng một phát đạn vào đầu !.

Hình ảnh người lính với sự nhận thức căm thù  trong đánh giặc là chủ yếu nhưng bên cạnh đó, ta thấy thấp thoáng những con người đi vào cuộc chiến như một sự đẩy đưa của lịch sử. Bản chất hiền lương thấm cả vào lằn đạn mà họ không cách nào buông súng như trong ''Chiến tranh và tôi'' của Nguyễn bắc Sơn :

                      Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu
                       Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo.
                       Mang trong đầu ý nghĩ trong veo
                       Xem chiến cuộc như tai trời ách nước.
                       Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
                       Vì căn phần ngươi xuôi khiến đó thôi.

Ta nghĩ Th nên đọc những lời chua chát, chân thật này để yên lòng nhắm mắt. Th chỉ là người con gái ''bạc phước'' mà ''ta bắn trúng'' như muôn ngàn cô gái phận bạc mà thôi. Giữa họ và Th nào có hận thù gì. Họ lúc nào cũng là những người mong muốn có cuộc sống thanh bình, tai nghe chim ca trong nắng, mắt ngắm sóng bình minh như Thạc, như Th mà Trần trung Đạo với ''Giấc mơ nhỏ của tôi'' chỉ mơ làm ''con thoi nhỏ'' :

                        Để tôi nối hai bờ sông Bến Hải
                        Nối lòng người vời vợi cách xa nhau.

Một tấm lòng nhân bản biết bao nhiêu. Những người viết lên những lời thơ bằng máu không bao giờ có thể là kẻ bỏ quê hương. Người lính miền Nam xuất hiện chưa rõ ràng trên sách vở nhưng họ mở đầu cũng chỉ là những học sinh, cũng vì nhiệm vụ mà khoát áo chiến binh, ra chiến trường không quên mang theo lòng nhân ái mà Trần hoài Thư đã ghi lại trong ''Ta, lính miền Nam'':

                       Trong túi ta một gói thuốc chuồn
                       Bắt tù binh mời điếu thuốc thơm.
                       Để thấy miền Nam lính hiền ghê gớm.

Cung cách đối xử cao cả (''mời'') giữa người với người dù kẻ đó là tù binh (''bắt'') trên thơ ca thôi cũng đủ cho ta  thấy sự khác biệt giữa hai người lính hai miền rõ như ban ngày. Một bên hiền lành, thân thiện. Một bên thù bốc lửa và đầy sát khí ngút trời trong ''Bắn đi'' của Tố Hữu :

                      Đại bác ta sau rèm tre ngoảnh cổ
                      Trông xuống khoanh đồi nọ
                      Ngon như một dĩa thịt bò tươi
                      Ở kia chúng nó đang cười
                      Cười đi nhé các con ơi rồi chết.

 Sự xuất hiện của ''chằng tinh'' ăn thịt người ngon như ''thịt bò tươi'' trong năm câu thơ trên khiến người viết bài này như bị  điểm huyệt nhân tâm, bình thơ hết nổi !. Ta có đi tìm mỏi mắt cũng chưa  thấy một lời văn trong thể tự sự, lời thơ trong thi ca thời kháng chiến có những câu đầy lòng Thạch Sanh như bài viết về lính miền Nam. Họ giống nhau ở bản chất hiền lương nhưng ra chiến trường thì tư tưởng nào, người lính nấy. Buồn thay cảnh đất nước chia hai, tính cách con người cũng phân đôi theo đất nước !.

Th hiểu đất nước là Đảng, là Bác Hồ, là lý tưởng cách mạng là những tình cảm đồng đội và riêng tư. “Đất nước” của Nguyễn khoa Điềm là của:

                      Những người đã khuất
                      Những ai bây giờ và con cháu mai sau
                  Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn tay trong nỗi nhớ thầm.

 Cái người viết “Mặt đường khát vọng”, viết “Đất nước” của anh, của em với nỗi nhớ thầm sâu sắc qua chiếc khăn tay như thế bây giờ ở trong tổ ấm “Bộ chính trị” có nhớ lại những năm tháng sau 1954, 1975, ngọn lửa “Tần thủy Hoàng” đã thiêu trụi hết những gì là “tinh hoa” đất nước?. NTH xin được viết tiếp dòng cuối của bài ''Đất nước'' mà NKĐ hình như đã quên :

                    Đất là những bản tình ca nằm thở dài trong củi sắt
                    Nước là mùa xuân trong ánh mắt quá mỏi mòn.
                    Đất nước một đời khắc khoải Mẹ trông con
                    Đất nước mòn chân chiến tranh qua, đau thắt!
                    Đất nước phân minh: Chuyện tình nào quên đi, chuyện đời cần nhắc nhở...
                    Một chữ “thương người” nằm thoi thóp giữa trang thơ.

Trong chiến tranh, thơ như “xuất thần”, người ta viết như một tiên tri về tương lai:

                     Sống trong cát chết vùi trong cát
                     Những trái tim như ngọc sáng ngời.

Tố Hữu viết về “Mẹ Tơm”, người mẹ cơ khổ đã “dành cơm” cho cách mạng ngày nào như một sự hy sinh bất biến. Những hạt ngọc ấy bây giờ ra sao?. Ngọc thật người ta so giá. Ngọc đá người ta nâng niu. Ngọc người tia sáng cũng buồn thiu !.

Bản thân Tố Hữu sống chết cũng sẽ vùi trong cát nhưng trái tim kia có hóa thành đám mây trắng, thành hạt ngọc long lanh, sáng ngời hay không còn tùy vào bao nhiêu năm “tu luyện công đức” của mình. Lịch sử sẽ là người sàn lọc lại công sức những gì người đã sống cống hiến cho đất nước nở hoa hay héo úa!.

    Những câu ''tiên tri'' của một thời đại anh hùng nhan nhản trong thơ Chế lan Viên ca ngợi thành tựu cách mạng. Điều mà nhân vật liệt sĩ Đặng thùy Trâm suốt đời ước mong và ôm ấp:

                  Cây cay đắng đã ra mùa quả ngọt
                  Người cay đắng đã chia phần hạnh phúc.
                  Những kẻ quê mùa đã thành trí thức
                  Tăm tối cần lao nay hóa anh hùng

Quả thật, cây đắng sinh trái ngọt. Kẻ thắng trận đã xúm vào hái trái ngọt, lặt cả trái xanh và quật cả gốc cành như Tôn ngộ Không quật trốc lốc cây nhân sâm ngàn năm của Chơn nhơn đạo trưởng, mà quên mất câu :

                  Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
                  Không tao đổ máu cho mày hái đây ?.

Vậy là “trở mặt nhau” bởi phân chia đâu thể đồng đều như thời “áo rách vai, quần hai miếng vá, đắp chung chăn, nắm chặt tay” như thời đánh giặc ?

Người cay đắng đã đâu nhận '' phần hạnh phúc''  vậy là “đấu tố” lẫn nhau. Bản Trường ca thành “bản cáo trạng” dài ngút ngắt tung bay. Cay đắng đó thôi !

     Thêm những kẻ “quê mùa” nhảy lên trí thức với sự học thì ít mà công …xít cho thật nhiều để kiếm mảnh bằng củng cố chức vị. “Tăm tối cần lao hóa anh hùng” như cả một rừng người anh hùng. Vậy mà những “anh hùng trong tăm tối” cần lao ấy mãi mãi “cần” mà “lao”cho hết kiếp!. Té ra, anh hùng chưa có mề đay chỉ có giá trị trên miệng. Hy sinh như nữ bác sĩ quân y, chiến sĩ giải phóng quân Đặng thùy Trâm mà chỉ “huân chương chiến công hạng nhì” thì không biết “trạng nguyên” liệt sĩ phải là cỡ loại nào ngã xuống?. Chết mất cái mạng mà cũng chờ phân hạng mới có thể đi đầu thai thì làm sao “xóa bỏ giai cấp” như Th mong ?.

   Tầng lớp xuất thân của nhân vật Th là ''tiểu tư sản'', của Thạc là ''tiểu chủ'' còn quá nhiều may mắn so với con đường vào cách mạng của chị Tư Hậu (Một truyện chép ở bệnh viện của Bùi đức Ái), chị bị ô nhục, chồng hy sinh, con bị giặc bắt nhưng Th và Thà không may mắn bằng số phận của Mẫn ( Mẫn và tôi  -Phan Tứ ). Mẫn mười bảy tuổi là Đảng viên,  hai mươi tuổi làm Bí thư chi bộ. Trong khi hơn cái tuổi đó, Th khao khát Đảng đến lả người. Thạc thì ''mỗi lần khai lý lịch mình lại buồn''. Th với một chức “trưởng trạm y tế” cũng bị soi mói, ghen tị đến gần đứt hơi, Th mới được “mẹ hiền” cho vào bú miếng sữa cọc còi.

  Dẫu xuất thân và gia nhập Đảng, cách mạng khác nhau nhưng họ đều giống nhau căm thù dữ tợn và yêu thương mãnh liệt vì Đảng đâu nói “cấm” tình yêu. Tình yêu trong tác phẩm văn học giống như cơn mưa mùa hạ lại trở về ruộng đồng, cỏ non sau tháng ngày khô hạn vì chiến tranh, vì tội ác. Nhân vật có thật và hư cấu như trộn lẫn vào nhau, bổ sung cho nhau để sống và chiến đấu theo lý tưởng cách mạng trong tác phẩm viết về đề tài chiến tranh hay đến …bốc khói !.

 Ta thấy nào “KanLịch” trong ''KanLịch'' của Hồ Phương; “Kinh, Lữ”  trong “Dấu chân người lính” hay những nhân vật trong “Những người mở đường” của Vũ hữu Ái hoặc trong “Con đường mòn ấy” của Đào Vũ về những tháng ngày vượt Trường Sơn :

                             Trường Sơn Đông nắng, Tây mưa
                             Ai chưa đến đó như chưa rõ mình.

Hình ảnh con người chiến sĩ giải phóng quân vượt Trường Sơn -đường mòn Hồ chí Minh- để “tiến về Sài Gòn, ta quét sạch giặc thù” có giá trị “cháu chắt” của thế giới kỳ quan “Vạn lý trường thành” của Trung Quốc. Đó là một “công trình lịch sử”. Đó là “nhân chứng chiến tranh”. Đó là những giọt nước mắt động trên vành môi của những hồn ma bóng quế mà Quang Dũng nhìn ra trong “Tây tiến”:

                             Rải rác biên cương mồ viễn sứ
                             Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

Đây là những câu một thời  vang bóng biến thành cùm số tám cho tác giả .

Vượt Trường Sơn vào Nam, ta lại gặp những người phụ nữ mang tám chữ vàng thắt quanh mình che đạn : “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Chỉ một từ “anh hùng” thôi cũng “trầy da tróc vẩy” nhưng người ta chiến đấu với tình yêu đất nước là chủ yếu chứ nào phải vì những chữ vàng đó và nhiều khi khẩu hiệu làm cho mục đích chân chính kia giảm đi giá trị đáng có của một tấm lòng hy sinh. Đó là những hy sinh của chị Sứ ( Hòn Đất   -Phan Tứ ) tiếp nối những trang anh hùng ca một thời Hà Nội mà Th đã xiết bao nhớ thương. Đó là những con người sống chết bảo vệ thủ đô ngàn năm văn vật (Sống mãi với thủ đô   -Nguyễn huy Tưởng). Đó là một đoàn người đấu tranh mất  liên lạc trong ''Trước giờ nổ súng” của Lê Khâm cũng như trong ''Nhật ký ĐTT '' cũng chỉ còn lại tổ ba người phụ nữ: Th, chị Lành và chị Xăng để cuối cùng thành …người anh hùng Đặng thùy Trâm, không biết hai chị kia giờ thành cái gì rồi ?.

Đó là những trận chiến trên không bảy mươi hai ngày đêm chiến đấu chống B52 của Mỹ ở miền Bắc với ''Vùng trời '' của Hữu Mai; chủ nghĩa anh hùng cách mạng tiến về Chu Lai, vượt Trường Sơn về Trung Bộ được các tác giả ghi lại trong tác phẩm hết sức “thần thánh hóa” về những con người ra trận hy sinh. ''Trên bất cứ đất nước nào trên thế giới, điều đó được gọi là anh hùng'' (Fred). Cũng chưa có đất nước nào như nước Việt nam mà người phụ nữ Việt Nam lại “tưng bừng” ra trận nhiều như vậy !.

Quan niệm của Fred là một quan niệm về người anh hùng hết rộng mở và đầy tính nhân bản có mở mắt cho ai ?.

Đọc lịch sử Trug Quốc với “Tam quốc chí diễn nghĩa” hay ''Thủy hử” của La quán Trung, quan niệm cởi mở về người anh hùng “da ngựa bọc thây” đã có từ hàng nghìn năm trước. Đối với lịch sử Việt Nam qua tay Trần trọng Kim đã coi những người ở các triều đại khác chế độ dám chết cho xã tắc là những bậc anh hùng như: Võ Tính, Ngô tòng Châu, Trần quang Diệu, Bùi thị Xuân. Sau 1975, quan niệm anh hùng chưa được lịch sử công nhận cho phía bên VNCH. Một tầm nhìn chưa có tính chất quốc tế và cởi mở như Fred nên dưới cặp mắt của miền Bắc, anh hùng chỉ có trong lịch sử ĐCSVN. Những kẻ bên kia trận, sống chết gì cũng là “tội nhân thiên cổ”.

   Tính cách căm thù, yêu thương nhìn một chiều của Th cũng đã nói lên được cả một quan niệm phiến diện thiếu nhân bản về gốc độ dân tộc, đã đào thêm “hố bom” về phía nạn nhân cuộc chiến. Nó còn là một nhát dao rạch thêm vào vết thương thù hận những người anh em cùng ăn hạt gạo quê hương, cùng uống dòng nước cội nguồn mà lại có những niềm riêng một đời dấu kín !.

   ''Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ'' của Tô Hoài mà Th đưa vào nhật ký hay Paven, Actơ… của Nicolai cũng chìm vào biển lòng quên lãng. Người ta không hứng thú để hướng về lý tưởng cách mạng ( đổi mới ) bị tiếm dụng làm ''quà'' riêng chỉ một chế độ, một thời đại nữa. Người ta xông xáo vào hiện thực, tìm ra những hỏng hóc mà họ không có quyền lực dù dư khả năng may vá. ''Bến không chồng'' của Dương Hương lênh đênh còn “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh tồn tại ước mơ hạnh phúc ngậm ngùi nhớ lại cũng bị chiến tranh ủi đến láng bóng !. Những bà Bầm, bà Bủ của Tố Hữu hay “Bà mẹ đào hầm” của Bùi minh Quốc ''từ lúc tóc còn xanh, nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc'', đã bị sập hầm do chính mình đào ra để tìm “con đường sáng nhất” từ nơi “hầm tối” một sức mạnh Việt Nam vĩ đại! .

    Hoàng Cầm với “Bên kia sông Đuống” châm ngọn lửa nhưng lửa ''leo lét'' quá:

                             Đêm buông xuống dòng sông Đuống
                             Con là ai? Con ở đâu về.
                         …Lửa đèn leo lét soi tình mẹ
                             Khuôn mặt bừng lên như dựng giăng
                             Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể
                             Những chuyện muôn đời không nói năng.

Lịch sử sẽ nói dùm họ chuyện mà họ không bao giờ được nói. Và những “anh hùng cách mạng” ra đi với ''Giấc mơ Nguyễn Huệ'', khi trở về như một nấm mồ ma trong ''Nhà tôi'' của Yên Thao:

                              Chắc tay súng tôi mơ về Nguyễn Huệ
                              Làng tôi đấy bên trại thù quạnh quẽ
                              Trông im lìm như một nấm mồ ma
                              Có còn không? Em hỡi, mẹ tôi già?
                              Những người thân yêu khóc buổi chia xa ...

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng bừng lên trong “Dáng đứng Việt Nam” của Lê anh Xuân với hình tượng độc đáo: “máu anh phun theo với lửa đạn cầu vòng”. Nếu “Vết chân tròn trên cát” của Trần Tiến đã ''để lại một bài ca trên cát trắng bao la'' thì “Dáng đứng Việt Nam” đã tạc vào thế kỷ. Cái chết như báo trước và đã thành bất tử trong nước mắt của sự đổ vỡ một khát khao hạnh phúc -chủ đề chính của con ngưòi trên từng cây số-.

Trong ''Mãi mãi tuổi hai mươi'', Thạc đã thích bài hát "Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây'' của Hoàng Hiệp, thơ của Phạm tiến Duật  và hay chìm vào câu hỏi của Dương hương Ly về '' Hạnh phúc là gì?'' mà ''nghĩ hoài nghĩ mãi chưa ra'' bằng sự rạo rực tình yêu của mình và Như Anh thì trong ''Nhật ký ĐTT'',  Th đã nâng niu những câu thơ trích trong “Núi đôi” của Vũ Cao để nhớ về người yêu mình là M. như một tình yêu tang tóc :   

                        Ai viết tên em thành liệt sĩ
                        Bên những hàng bia trắng giữa đồng.
                        Nhớ nhau anh gọi em: đồng chí
                        Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.

Bài thơ ấy cũng như đã dành cho Th, cho những người con gái trong nhật ký là Hường là Liên và bao người con gái khác :

                        Em sống trung thành chết thủy chung
                    Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khóc.
                        Núi vẫn đôi mà anh mất em
                    Em mãi là hoa trên đỉnh núi
                        Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.

“Núi đôi” đã hòa vào “Quê hương” của Giang Nam mà khi sống, Khiêm cũng rất thích, thành tiếng nức nở, nghẹn ngào :

                         Giặc giết em rồi quăng mất xác
                         Vì em là du kích em ơi !
                         Đau xé lòng anh, chết nửa con người
                     … Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
                         Có những lần trốn học bị đòn rơi
                         Nay yêu quê hương vì trong từng nấm đất
                         Có một phần xương thịt của em tôi!

Tiếng khóc của thi ca. Tiếng khóc của quê hương tình yêu và tuổi trẻ. Ai chắc rồi tiếng khóc này không có ngày lặp lại trên quê hương?. Th có một bài thơ không tên năm 70. Thạc có một bài thơ về chiến tranh   là ''Đêm trắng'' năm 72:

                         Đêm trắng trong là đêm của em
                         Đèn thành phố và sao trời chật chội.
                         Đêm của anh xếp kín đầy bom đạn
                         Pháo sáng chập chờn trộn trạo với sao sa.    
                    ...  Đêm của anh trong tầm bom rơi
 
                         Không thể ngủ nên đêm thành đêm trắng .
                         Đêm bão thép chất chứa nhiều sâu lắng
                         Bà mẹ sinh con trai trong mờ tối căn hầm.
                         Những ban đêm thành cột mốc tháng năm
                         Đêm xanh vợi cũng trở thành đêm trắng.
                         Đêm thao thức đón chờ ánh sáng
                         Đêm của chúng ta ấp ủ những mặt trời.

Một chất thơ trí tuệ giữa hai đêm anh và đêm em. Một hiện thực và ước mơ khao khát. Xanh vàng gì cũng trắng bốc với thức thao. Chao, câu thơ liệt sĩ ''ấp ủ những mặt trời''. Một mặt trời thôi đủ rồi. Nhiều mặt trời quá, thiêu cháy ước mơ và ''quay chín'' mộng tưởng. Người đi cho thỏa chí tang bồng, để  mảnh tang lòng cho người còn ở lại. Phạm tiến Duật đã viết :

                         Dân tộc ấy có gì kỳ lạ
                         Một nước bao nhiêu là đá vọng phu.

Nhưng nhà thơ kia có biết nước mình còn lại được mấy hòn đá vọng phu?. Tượng Phật mấy ngàn năm ở Aphúhãn còn bị kéo sập huống hồ chi ba cái đá vọng phu!. Nhật ký người chết bán được sao đá không được bán ?. Bảo Ninh ở đâu mà không  cầm bút lên viết tiếp ''Nỗi buồn sau chiến tranh'' ?. Nhà văn này chỉ còn biết   nói : ''Có thể chúng ta sẽ có cuốn tiểu thuyết vĩ đại của ngày hôm nay hoặc có thể không. Còn nhà văn lớn của chúng ta có thể đang là đứa trẻ đánh giày ngoài đường ấy''. Có thể là chị bán hột vịt lộn, là em giũa móng tay ?.

Có những bài thơ dù viết cho một thời đại nhưng mất mác chung đã phát ra tiếng nghẹn ngào của dân tộc nên vượt thời gian, vượt thời đại để đi vào lòng người. Thơ ca một thời chống chiến tranh với chủ nghĩa anh hùng cách mạng là như vậy khi xét về phương diện những con người nhất là phụ nữ dám hy sinh ở tư thế đối đầu. Tất cả những con người như thế, không phân biệt thành phần, chế độ, thời đại, đất nước đều là những anh hùng. Nếu đem chính nghĩa và phi nghĩa luận anh hùng thì đâu có ai chịu nhận mình là “phi nghĩa”. Những con người phải chiến đấu cho một cuộc chiến phi nghĩa muốn khỏi ô danh chỉ còn một con đường: tự sát!. Có ai dám làm cái ''sĩ khả sát, bất khả  nhục'' này không?. “Việc mình không thể làm được thì đừng ép người ta làm” và kẻ quay đầu chưa hẳn là kẻ phản bội còn người bên hông chưa chắc lòng đã trung thành !.

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng sau chiến tranh đã trở thành những đóa hoa tàn. Mùa xuân vẫn về mỗi năm và người trong cuộc chiến, còn lại, cuối đầu nhặt cánh hoa tàn, phơi khô cất làm kỷ niệm có một thời như thế trong đời.

    4. Những dòng riêng cho ĐTT:

 Riêng Th, cô gái tiểu tư sản trí thức vô cùng may mắn được “chết đúng lúc” giữa độ tuổi mãi thanh xuân trong khi những hy sinh còn lạc loài hồn phách không nơi nương tựa trên khắp nẻo đường đất nước.

Những huân chương?.  Xin người đời cứ cất lấy làm kỷ niệm vì cuộc đời Th chỉ mong ước duy nhất là hòa bình và ước mơ hạnh phúc. Hạnh phúc về một mái ấm gia đình riêng tư đã vì cuộc chiến tranh mà vùi trong bom đạn thì hãy coi như bầu trời thương yêu này, thế giới này là ''mái ấm gia đình'', Th đã về yên nghĩ nghìn thu nơi mẹ đã ru Th những lời đầu tiên và vẫn còn ru cho đến suốt đời. Huế- Hà Nội một thời đã xa, nay đã về trong yêu thương.

    Ta chìa bàn tay xa lạ từ bên kia đại dương cho Th nắm lấy như mong ước cuối cùng của Th trước phút đi xa : “Hãy đến với mình, nắm chặt bàn tay trong lúc cô đơn, truyền cho mình tình thương và sức mạnh để vượt qua những chặng đường gian khổ trước mắt”.

   Người đời nhìn Th qua cuốn nhật ký bị cắt xén được xuất bản với con số kỷ lục thế kỷ mà ''khâm phục''. Ta nhìn vể chiều sâu cuốn nhật ký để thấy nỗi lòng và khát vọng của Th mà chia xẻ cùng Th “những nỗi niềm riêng một đời giấu kín”, có ''như rong, như rêu” thì Th cũng không đem mà “hoán vị” bằng tiền bạc phải không?.

   Khát khao được sống và được yêu làm trái tim nhân hậu của Th có lửa. Hãy biến ngọn lửa căm thù ấy thành ngọn hải đăng giữa lòng biển cả. Hãy chìa tay để nắm lấy những bàn tay cô đơn lạnh lẽo mà chuyển cho họ “hơi ấm tình thương”. Thành phố buồn không biết bạn hay thù, thành phố buồn là một cõi thiên thu mà ai cũng sẽ một lần viếng thăm và ở lại mãi mãi. Hãy nắm lấy bàn tay của những người bỏ mình trong lửa đạn, thiên tai cả những hồn ma, bóng quế không cửa không nhà. Họ chính là những người xứng đáng để được Th nắm tay vì bàn tay họ sinh ra không phải để nắm bạc tiền-thứ mà có nó, lương tâm con người trở thành tù nhân và lý trí đã bị dạt vào lãnh cung lạnh lẽo. Đừng nguyền rủa bóng tối mà hãy thắp lên ánh sáng. Đấy mới là cái đích của cuộc đời.

à đọc tiếp phần 6

© Copyright 2005 giaodiem.com

 

 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

 

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com