3. “Nhật ký Đ.T.T.” mở lại một thời
“chủ nghĩa anh hùng cách mạng” trong lịch sử văn học: a. Về những con người đặc biệt là phụ
nữ: Sự hy sinh của Th
là một trong vô số người phụ nữ ngã xuống. Th là một bác sĩ Hà Nội
cầm súng ngã xuống. Dương thị Xuân Quý là một nhà văn Hà Nội cầm
súng ngã xuống. Người con gái thanh
niên xung phong không tên hồn nhiên, trong sáng, ngã xuống và đi vào thơ Lâm
thị Mỹ Dạ trong “Khoảng trời hố bom” :
Đọc thơ là thưởng
thức “hồn thơ”, ta không cần biết tác giả là người được thương
hay ghét, thuộc tầng lớp nào, chế độ nào. Con ong hút mật có bao giờ
phân biệt hoa đẹp xấu ra sao ?. Một thời chiến tranh đã đi qua
trong Nguyễn thị Hồng Ngát, Nguyễn thị Ngọc Tú, Nguyễn thị Thu Trang,
và đọng lại một bài thơ đã giã từ sách giáo khoa. Đó là bài “Giấc
ngủ nàng tiên dũng sĩ” của Dương hương Ly mà người viết bài thuộc
lòng từ cấp hai. Nàng tiên ấy như nàng tiên Thùy Trâm sau tiếng bom rơi:
Bài thơ nhẹ nhàng,
thanh thót êm ái như giấc ngủ của nàng tiên dũng sĩ sau khói bom. Sự hồn
nhiền đó đã bị chiến tranh lấy đi không còn dấu vết. Đọc bài trên
và đọc lại bài “Hai lần làm mẹ” của Trầm Hương, người đọc hình
như…cắn vào môi mình rướm máu:
Nỗi đau nhân loại
là đấy. Tàn phế còn đau khổ hơn ăn phát đạn vào đầu. Còn bao nhiêu cô gái, bao nhiêu người mẹ với
cơn đau như muối xát lòng trên đất quê hương , trên thế giới này ?.
Và những con người thức tỉnh trước mặt trời khi gặp cách mạng rồi
đau thương, gian khổ và mơ ước diễn ra từng phút, từng giây trong cuộc
chiến như thế nào ?. b. Hiện thực tình cảm trong chiến tranh : Giá trị hư cấu của
thơ ca bóng bẫy, buốt lòng hơn tiểu thuyết. Thơ ca trau chuốt từ ngữ, hình
tượng, ngữ nghĩa. Tự sự chuyên xây dựng hình tượng nhân vật có gút
thắt và gỡ. Thơ ca sâu lắng. Tự sự dàn trãi. Người đọc cũng phải mở
lòng mới thông cảm về những hạn chế do thời đại, lịch sử chi phối
văn học. Ngay cả ''anh hùng'' cũng phải được chờ thánh chỉ tấn phong.
Đời thật có Đảng, thơ văn lấy Đảng làm đầu. Chế lan Viên phải
giã từ bóng ma Chiêm để chạy về với Đảng (người mà Th gọi mẹ hiền,
mẹ ghẻ):
Ẩn dụ…như thật.
“Đói lòng ăn một quả sim” cũng no. Đói gặp sữa là tuyệt vời. Nhưng
“chiếc nôi ngừng” cho em đang ngủ đưa đẩy làm gì cho nó hết hồn
khóc thét lên?. Thơ ca thời chiến “nịnh nọt” dễ thương và quá cao cấp
!. Chủ nghĩa anh hùng
cách mạng có Đảng nên mọi tình cảm khác ra ngoài tình cảm cách mạng
đều gát lại. Th cũng đặt Đảng và lý tưởng lên hàng đầu trong quá
trình công tác. Thạc nhớ người yêu nhưng cũng chỉ hẹn đất nước
thanh bình. Nhưng Xuân Diệu cả một đời không
biết có bao nhiêu mảnh tình rách vác vai mà cũng gào kêu thống
thiết:
Luật pháp có kẽ hở.
Đường ống xăng dầu, nước, ga vẫn có chỗ rò rỉ. Đảng cũng có lỗ
hổng ở trong nguyên tắc. Th đã nhìn ra: ''Đảng không nói rằng trái tim cộng
sản chỉ biết có lý trí, biết công việc mà vẫn phải có yêu thương,
hy vọng, khao khát”. Và thế là có mảng tình yêu rơi xuống cỏ hôm
nào!. Tố Hữu là đại diện của “mặt
trời chân lý chói qua tim” trong ''Từ ấy'' lẫn quẩn hoài, cuối cùng cũng
...lén thả được cái câu: “Anh hôn em, hai người đồng chí”. Hôn như
...đồng chí thì ngon lành gì nhưng có còn hơn không. Mặc, miễn được
“hôn” là OK rồi!. Th trong “Nhật ký
Đ.T.T” có tình đồng đội gắn bó. Thôi Hữu trong “Lên Cấm Sơn” với
tình đồng đội tan nát :
Những năm tháng yêu
thương, đói khổ, trầy trụa như vậy mà thơ ra câu nào chết hồn người
câu đấy, còn bây giờ, thơ thời buổi xe con, nhà lầu, điện thoại di động...
đã có hướng đi về đâu cho đời thôi rỉ máu, cho người hết u sầu ?. Thôi Hữu cùng Chính
Hữu với Hồng Nguyên, Quang Dũng...
như “một lũ người tứ xứ, gặp nhau hồi chưa biết chữ”. Đánh đấm
xong xuôi, buồn tình cái chi mà làm người anh hùng thời hòa bình hưởng
phước không làm, bày đặt đi làm…liệt sĩ !. Và bài thơ về tình đồng
chí được coi mẫu mực nhất, hay nhất vẫn là bài “Tình đồng chí” của
Chính Hữu:
Tình đồng chí ấy
thiệt như của những... “Hồng Thất cái bang”. Áo nhà binh không chịu
khoát vào ''cho xanh màu lá, cho dữ oai hùm'' như Quang Dũng mà cả đôi dép
Bác Hồ cũng …quẳng ở nơi đâu ?. Mang một chữ ''nghèo'', chữ ''ngông''
khí phách vậy mà tâm hồn thật thà qúa. Có ai nhẫn tâm đi bắn ánh trăng
ước vọng hòa bình. Một hòa bình bằng súng đạn cũng đâu là vĩnh cữu
vì đằng sau đó là sự căm thù từ phía bên kia kẻ trúng một phát đạn
vào đầu !. Hình ảnh người lính
với sự nhận thức căm thù trong đánh
giặc là chủ yếu nhưng bên cạnh đó, ta thấy thấp thoáng những con người
đi vào cuộc chiến như một sự đẩy đưa của lịch sử. Bản chất hiền
lương thấm cả vào lằn đạn mà họ không cách nào buông súng như trong
''Chiến tranh và tôi'' của Nguyễn bắc Sơn :
Ta nghĩ Th nên đọc
những lời chua chát, chân thật này để yên lòng nhắm mắt. Th chỉ là người
con gái ''bạc phước'' mà ''ta bắn trúng'' như muôn ngàn cô gái phận bạc
mà thôi. Giữa họ và Th nào có hận thù gì. Họ lúc nào cũng là những người
mong muốn có cuộc sống thanh bình, tai nghe chim ca trong nắng, mắt ngắm
sóng bình minh như Thạc, như Th mà Trần trung Đạo với ''Giấc mơ nhỏ của
tôi'' chỉ mơ làm ''con thoi nhỏ'' :
Một tấm lòng
nhân bản biết bao nhiêu. Những người viết lên những lời thơ bằng máu
không bao giờ có thể là kẻ bỏ quê hương. Người lính miền Nam xuất hiện
chưa rõ ràng trên sách vở nhưng họ mở đầu cũng chỉ là những học
sinh, cũng vì nhiệm vụ mà khoát áo chiến binh, ra chiến trường không
quên mang theo lòng nhân ái mà Trần hoài Thư đã ghi lại trong ''Ta, lính miền
Nam'':
Cung cách đối xử
cao cả (''mời'') giữa người với người dù kẻ đó là tù binh (''bắt'')
trên thơ ca thôi cũng đủ cho ta thấy
sự khác biệt giữa hai người lính hai miền rõ như ban ngày. Một bên hiền
lành, thân thiện. Một bên thù bốc lửa và đầy sát khí ngút trời trong
''Bắn đi'' của Tố Hữu :
Sự xuất hiện của ''chằng tinh'' ăn thịt
người ngon như ''thịt bò tươi'' trong năm câu thơ trên khiến người viết
bài này như bị điểm huyệt nhân
tâm, bình thơ hết nổi !. Ta có đi tìm mỏi mắt cũng chưa thấy một lời văn trong thể tự sự, lời
thơ trong thi ca thời kháng chiến có những câu đầy lòng Thạch Sanh như bài
viết về lính miền Nam. Họ giống nhau ở bản chất hiền lương nhưng ra
chiến trường thì tư tưởng nào, người lính nấy. Buồn thay cảnh đất
nước chia hai, tính cách con người cũng phân đôi theo đất nước !. Th hiểu đất nước
là Đảng, là Bác Hồ, là lý tưởng cách mạng là những tình cảm đồng
đội và riêng tư. “Đất nước” của Nguyễn khoa Điềm là của:
Cái người viết “Mặt đường khát vọng”,
viết “Đất nước” của anh, của em với nỗi nhớ thầm sâu sắc qua
chiếc khăn tay như thế bây giờ ở trong tổ ấm “Bộ chính trị” có nhớ
lại những năm tháng sau 1954, 1975, ngọn lửa “Tần thủy Hoàng” đã
thiêu trụi hết những gì là “tinh hoa” đất nước?. NTH xin được viết
tiếp dòng cuối của bài ''Đất nước'' mà NKĐ hình như đã quên :
Trong chiến tranh,
thơ như “xuất thần”, người ta viết như một tiên tri về tương lai:
Tố Hữu viết về
“Mẹ Tơm”, người mẹ cơ khổ đã “dành cơm” cho cách mạng ngày nào
như một sự hy sinh bất biến. Những hạt ngọc ấy bây giờ ra sao?. Ngọc
thật người ta so giá. Ngọc đá người ta nâng niu. Ngọc người tia sáng cũng
buồn thiu !. Bản thân Tố Hữu
sống chết cũng sẽ vùi trong cát nhưng trái tim kia có hóa thành đám mây
trắng, thành hạt ngọc long lanh, sáng ngời hay không còn tùy vào bao nhiêu
năm “tu luyện công đức” của mình. Lịch sử sẽ là người sàn lọc lại
công sức những gì người đã sống cống hiến cho đất nước nở hoa hay
héo úa!. Những câu ''tiên tri'' của một
thời đại anh hùng nhan nhản trong thơ Chế lan Viên ca ngợi thành tựu
cách mạng. Điều mà nhân vật liệt sĩ Đặng thùy Trâm suốt đời ước
mong và ôm ấp:
Quả thật, cây đắng
sinh trái ngọt. Kẻ thắng trận đã xúm vào hái trái ngọt, lặt cả trái
xanh và quật cả gốc cành như Tôn ngộ Không quật trốc lốc cây nhân
sâm ngàn năm của Chơn nhơn đạo trưởng, mà quên mất câu :
Vậy là “trở mặt
nhau” bởi phân chia đâu thể đồng đều như thời “áo rách vai, quần
hai miếng vá, đắp chung chăn, nắm chặt tay” như thời đánh giặc ? Người cay đắng
đã đâu nhận '' phần hạnh phúc'' vậy
là “đấu tố” lẫn nhau. Bản Trường ca thành “bản cáo trạng” dài
ngút ngắt tung bay. Cay đắng đó thôi ! Thêm những kẻ “quê mùa”
nhảy lên trí thức với sự học thì ít mà công …xít cho thật nhiều để
kiếm mảnh bằng củng cố chức vị. “Tăm tối cần lao hóa anh hùng” như
cả một rừng người anh hùng. Vậy mà những “anh hùng trong tăm tối” cần
lao ấy mãi mãi “cần” mà “lao”cho hết kiếp!. Té ra, anh hùng chưa có
mề đay chỉ có giá trị trên miệng. Hy sinh như nữ bác sĩ quân y, chiến
sĩ giải phóng quân Đặng thùy Trâm mà chỉ “huân chương chiến công hạng
nhì” thì không biết “trạng nguyên” liệt sĩ phải là cỡ loại nào
ngã xuống?. Chết mất cái mạng mà cũng chờ phân hạng mới có thể đi
đầu thai thì làm sao “xóa bỏ giai cấp” như Th mong ?. Tầng lớp xuất thân của nhân vật
Th là ''tiểu tư sản'', của Thạc là ''tiểu chủ'' còn quá nhiều may mắn
so với con đường vào cách mạng của chị Tư Hậu (Một truyện chép
ở bệnh viện của Bùi đức Ái), chị bị ô nhục, chồng hy sinh, con bị
giặc bắt nhưng Th và Thà không may mắn bằng số phận của Mẫn ( Mẫn
và tôi -Phan Tứ ). Mẫn mười bảy tuổi là Đảng viên, hai mươi tuổi làm Bí thư chi bộ. Trong khi
hơn cái tuổi đó, Th khao khát Đảng đến lả người. Thạc thì ''mỗi lần
khai lý lịch mình lại buồn''. Th với một chức “trưởng trạm y tế”
cũng bị soi mói, ghen tị đến gần đứt hơi, Th mới được “mẹ hiền”
cho vào bú miếng sữa cọc còi. Dẫu xuất thân và gia nhập Đảng, cách mạng
khác nhau nhưng họ đều giống nhau căm thù dữ tợn và yêu thương mãnh liệt
vì Đảng đâu nói “cấm” tình yêu. Tình yêu trong tác phẩm văn học giống
như cơn mưa mùa hạ lại trở về ruộng đồng, cỏ non sau tháng ngày khô
hạn vì chiến tranh, vì tội ác. Nhân vật có thật và hư cấu như trộn lẫn
vào nhau, bổ sung cho nhau để sống và chiến đấu theo lý tưởng cách mạng
trong tác phẩm viết về đề tài chiến tranh hay đến …bốc khói !. Ta thấy nào “KanLịch” trong ''KanLịch'' của
Hồ Phương; “Kinh, Lữ” trong “Dấu
chân người lính” hay những nhân vật trong “Những người mở đường”
của Vũ hữu Ái hoặc trong “Con đường mòn ấy” của Đào Vũ về những
tháng ngày vượt Trường Sơn :
Hình ảnh con người
chiến sĩ giải phóng quân vượt Trường Sơn -đường mòn Hồ chí Minh- để
“tiến về Sài Gòn, ta quét sạch giặc thù” có giá trị “cháu chắt”
của thế giới kỳ quan “Vạn lý trường thành” của Trung Quốc. Đó là
một “công trình lịch sử”. Đó là “nhân chứng chiến tranh”. Đó là
những giọt nước mắt động trên vành môi của những hồn ma bóng quế
mà Quang Dũng nhìn ra trong “Tây tiến”:
Đây là những câu
một thời vang bóng biến thành cùm số
tám cho tác giả . Vượt Trường Sơn
vào Nam, ta lại gặp những người phụ nữ mang tám chữ vàng thắt quanh
mình che đạn : “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Chỉ một
từ “anh hùng” thôi cũng “trầy da tróc vẩy” nhưng người ta chiến đấu
với tình yêu đất nước là chủ yếu chứ nào phải vì những chữ vàng
đó và nhiều khi khẩu hiệu làm cho mục đích chân chính kia giảm đi giá
trị đáng có của một tấm lòng hy sinh. Đó là những hy sinh của chị Sứ
( Hòn Đất -Phan Tứ ) tiếp nối những trang anh hùng ca một
thời Hà Nội mà Th đã xiết bao nhớ thương. Đó là những con người sống
chết bảo vệ thủ đô ngàn năm văn vật (Sống mãi với thủ đô
-Nguyễn huy Tưởng). Đó là một đoàn người đấu tranh mất liên lạc trong ''Trước giờ nổ súng” của
Lê Khâm cũng như trong ''Nhật ký ĐTT '' cũng chỉ còn lại tổ ba người phụ
nữ: Th, chị Lành và chị Xăng để cuối cùng thành …người anh hùng Đặng
thùy Trâm, không biết hai chị kia giờ thành cái gì rồi ?. Đó là những trận
chiến trên không bảy mươi hai ngày đêm chiến đấu chống B52 của Mỹ
ở miền Bắc với ''Vùng trời '' của Hữu Mai; chủ nghĩa anh hùng cách mạng
tiến về Chu Lai, vượt Trường Sơn về Trung Bộ được các tác giả ghi lại
trong tác phẩm hết sức “thần thánh hóa” về những con người ra trận
hy sinh. ''Trên bất cứ đất nước nào trên thế giới, điều đó được
gọi là anh hùng'' (Fred). Cũng chưa có đất nước nào như nước Việt nam
mà người phụ nữ Việt Nam lại “tưng bừng” ra trận nhiều như vậy
!. Quan niệm của Fred
là một quan niệm về người anh hùng hết rộng mở và đầy tính nhân bản
có mở mắt cho ai ?. Đọc lịch sử
Trug Quốc với “Tam quốc chí diễn nghĩa” hay ''Thủy hử” của La quán
Trung, quan niệm cởi mở về người anh hùng “da ngựa bọc thây” đã có
từ hàng nghìn năm trước. Đối với lịch sử Việt Nam qua tay Trần trọng
Kim đã coi những người ở các triều đại khác chế độ dám chết cho
xã tắc là những bậc anh hùng như: Võ Tính, Ngô tòng Châu, Trần quang Diệu,
Bùi thị Xuân. Sau 1975, quan niệm anh hùng chưa được lịch sử công nhận
cho phía bên VNCH. Một tầm nhìn chưa có tính chất quốc tế và cởi mở
như Fred nên dưới cặp mắt của miền Bắc, anh hùng chỉ có trong lịch sử
ĐCSVN. Những kẻ bên kia trận, sống chết gì cũng là “tội nhân thiên cổ”. Tính cách căm thù, yêu thương nhìn một
chiều của Th cũng đã nói lên được cả một quan niệm phiến diện thiếu
nhân bản về gốc độ dân tộc, đã đào thêm “hố bom” về phía nạn
nhân cuộc chiến. Nó còn là một nhát dao rạch thêm vào vết thương thù hận
những người anh em cùng ăn hạt gạo quê hương, cùng uống dòng nước cội
nguồn mà lại có những niềm riêng một đời dấu kín !. ''Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ'' của Tô
Hoài mà Th đưa vào nhật ký hay Paven, Actơ… của Nicolai cũng chìm vào biển
lòng quên lãng. Người ta không hứng thú để hướng về lý tưởng cách mạng
( đổi mới ) bị tiếm dụng làm ''quà'' riêng chỉ một chế độ, một thời
đại nữa. Người ta xông xáo vào hiện thực, tìm ra những hỏng hóc mà họ
không có quyền lực dù dư khả năng may vá. ''Bến không chồng'' của Dương
Hương lênh đênh còn “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh tồn tại ước
mơ hạnh phúc ngậm ngùi nhớ lại cũng bị chiến tranh ủi đến láng bóng
!. Những bà Bầm, bà Bủ của Tố Hữu hay “Bà mẹ đào hầm” của Bùi
minh Quốc ''từ lúc tóc còn xanh, nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc'', đã bị
sập hầm do chính mình đào ra để tìm “con đường sáng nhất” từ nơi
“hầm tối” một sức mạnh Việt Nam vĩ đại! . Hoàng Cầm với “Bên kia sông
Đuống” châm ngọn lửa nhưng lửa ''leo lét'' quá:
Lịch sử sẽ nói
dùm họ chuyện mà họ không bao giờ được nói. Và những “anh hùng cách
mạng” ra đi với ''Giấc mơ Nguyễn Huệ'', khi trở về như một nấm mồ
ma trong ''Nhà tôi'' của Yên Thao:
Chủ nghĩa anh hùng
cách mạng bừng lên trong “Dáng đứng Việt Nam” của Lê anh Xuân với
hình tượng độc đáo: “máu anh phun theo với lửa đạn cầu vòng”. Nếu
“Vết chân tròn trên cát” của Trần Tiến đã ''để lại một bài ca
trên cát trắng bao la'' thì “Dáng đứng Việt Nam” đã tạc vào thế kỷ.
Cái chết như báo trước và đã thành bất tử trong nước mắt của sự
đổ vỡ một khát khao hạnh phúc -chủ đề chính của con ngưòi trên từng
cây số-. Trong ''Mãi mãi tuổi
hai mươi'', Thạc đã thích bài hát "Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây''
của Hoàng Hiệp, thơ của Phạm tiến Duật và
hay chìm vào câu hỏi của Dương hương Ly về '' Hạnh phúc là gì?'' mà
''nghĩ hoài nghĩ mãi chưa ra'' bằng sự rạo rực tình yêu của mình và Như
Anh thì trong ''Nhật ký ĐTT'', Th đã
nâng niu những câu thơ trích trong “Núi đôi” của Vũ Cao để nhớ về
người yêu mình là M. như một tình yêu tang tóc :
Bài thơ ấy cũng
như đã dành cho Th, cho những người con gái trong nhật ký là Hường là
Liên và bao người con gái khác :
“Núi đôi” đã
hòa vào “Quê hương” của Giang Nam mà khi sống, Khiêm cũng rất thích,
thành tiếng nức nở, nghẹn ngào :
Tiếng khóc của
thi ca. Tiếng khóc của quê hương tình yêu và tuổi trẻ. Ai chắc rồi tiếng
khóc này không có ngày lặp lại trên quê hương?. Th có một bài thơ không
tên năm 70. Thạc có một bài thơ về chiến tranh
là ''Đêm trắng'' năm 72:
Một chất thơ trí
tuệ giữa hai đêm anh và đêm em. Một hiện thực và ước mơ khao khát.
Xanh vàng gì cũng trắng bốc với thức thao. Chao, câu thơ liệt sĩ ''ấp
ủ những mặt trời''. Một mặt trời thôi đủ rồi. Nhiều mặt trời quá,
thiêu cháy ước mơ và ''quay chín'' mộng tưởng. Người đi cho thỏa chí
tang bồng, để mảnh tang lòng cho người
còn ở lại. Phạm tiến Duật đã viết :
Nhưng nhà thơ kia có
biết nước mình còn lại được mấy hòn đá vọng phu?. Tượng Phật mấy
ngàn năm ở Aphúhãn còn bị kéo sập huống hồ chi ba cái đá vọng phu!.
Nhật ký người chết bán được sao đá không được bán ?. Bảo Ninh ở
đâu mà không cầm bút lên viết tiếp
''Nỗi buồn sau chiến tranh'' ?. Nhà văn này chỉ còn biết nói : ''Có thể chúng ta sẽ có cuốn
tiểu thuyết vĩ đại của ngày hôm nay hoặc có thể không. Còn nhà văn lớn
của chúng ta có thể đang là đứa trẻ đánh giày ngoài đường ấy''.
Có thể là chị bán hột vịt lộn, là em giũa móng tay ?. Có những bài thơ
dù viết cho một thời đại nhưng mất mác chung đã phát ra tiếng nghẹn
ngào của dân tộc nên vượt thời gian, vượt thời đại để đi vào
lòng người. Thơ ca một thời chống chiến tranh với chủ nghĩa anh hùng
cách mạng là như vậy khi xét về phương diện những con người nhất là
phụ nữ dám hy sinh ở tư thế đối đầu. Tất cả những con người như
thế, không phân biệt thành phần, chế độ, thời đại, đất nước đều
là những anh hùng. Nếu đem chính nghĩa và phi nghĩa luận anh hùng thì đâu
có ai chịu nhận mình là “phi nghĩa”. Những con người phải chiến đấu
cho một cuộc chiến phi nghĩa muốn khỏi ô danh chỉ còn một con đường:
tự sát!. Có ai dám làm cái ''sĩ khả sát, bất khả nhục'' này không?. “Việc mình không thể
làm được thì đừng ép người ta làm” và kẻ quay đầu chưa hẳn là kẻ
phản bội còn người bên hông chưa chắc lòng đã trung thành !. Chủ nghĩa anh hùng
cách mạng sau chiến tranh đã trở thành những đóa hoa tàn. Mùa xuân vẫn
về mỗi năm và người trong cuộc chiến, còn lại, cuối đầu nhặt cánh
hoa tàn, phơi khô cất làm kỷ niệm có một thời như thế trong đời. 4. Những dòng riêng cho
ĐTT: Riêng Th, cô gái tiểu tư sản trí thức vô
cùng may mắn được “chết đúng lúc” giữa độ tuổi mãi thanh xuân
trong khi những hy sinh còn lạc loài hồn phách không nơi nương tựa trên khắp
nẻo đường đất nước. Những huân chương?. Xin người đời cứ cất lấy làm kỷ niệm
vì cuộc đời Th chỉ mong ước duy nhất là hòa bình và ước mơ hạnh phúc.
Hạnh phúc về một mái ấm gia đình riêng tư đã vì cuộc chiến tranh mà
vùi trong bom đạn thì hãy coi như bầu trời thương yêu này, thế giới
này là ''mái ấm gia đình'', Th đã về yên nghĩ nghìn thu nơi mẹ đã ru Th
những lời đầu tiên và vẫn còn ru cho đến suốt đời. Huế- Hà Nội một
thời đã xa, nay đã về trong yêu thương. Ta chìa bàn tay xa lạ từ bên kia
đại dương cho Th nắm lấy như mong ước cuối cùng của Th trước phút
đi xa : “Hãy đến với mình, nắm chặt bàn tay trong lúc cô đơn, truyền
cho mình tình thương và sức mạnh để vượt qua những chặng đường gian
khổ trước mắt”. Người đời nhìn Th qua cuốn nhật
ký bị cắt xén được xuất bản với con số kỷ lục thế kỷ mà ''khâm
phục''. Ta nhìn vể chiều sâu cuốn nhật ký để thấy nỗi lòng và khát
vọng của Th mà chia xẻ cùng Th “những nỗi niềm riêng một đời giấu
kín”, có ''như rong, như rêu” thì Th cũng không đem mà “hoán vị” bằng
tiền bạc phải không?. Khát khao được sống và được yêu
làm trái tim nhân hậu của Th có lửa. Hãy biến ngọn lửa căm thù ấy
thành ngọn hải đăng giữa lòng biển cả. Hãy chìa tay để nắm lấy những
bàn tay cô đơn lạnh lẽo mà chuyển cho họ “hơi ấm tình thương”. Thành
phố buồn không biết bạn hay thù, thành phố buồn là một cõi thiên thu
mà ai cũng sẽ một lần viếng thăm và ở lại mãi mãi. Hãy nắm lấy bàn
tay của những người bỏ mình trong lửa đạn, thiên tai cả những hồn
ma, bóng quế không cửa không nhà. Họ chính là những người xứng đáng
để được Th nắm tay vì bàn tay họ sinh ra không phải để nắm bạc tiền-thứ
mà có nó, lương tâm con người trở thành tù nhân và lý trí đã bị dạt
vào lãnh cung lạnh lẽo. Đừng nguyền rủa bóng tối mà hãy thắp lên ánh
sáng. Đấy mới là cái đích của cuộc đời. © Copyright 2005 giaodiem.com |
In ra @
Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com