1105-gd.gif (2402 bytes)
posted: 06.11.2005

      III. NGHI VẤN HỒI KÝ HAY NHẬT KÝ:

1. Hồi ký hay nhật ký dạng hồi ký?

Trở lại vấn đề Đặng thùy Trâm viết hồi ký hay nhật ký ?

Th vào Quảng Ngãi tháng 1.1966. Ngày 17.2.66 Th có viết thư cho Niệm ( Dương đức Niệm, Phó Giáo sư chủ nhiệm khoa Nga kiêm Bí thư Đảng uỷ Trường ĐHSPNN, Hà Nội) theo lời kể của anh mà Vinh Thu ghi chép trong ''Đi tìm Sulicu''. Khoảng thời gian này, Th chưa viết nhật ký vì không có tài liệu nào chứng minh. Một thắc mắc được đặt ra: Tại sao người yêu thích viết nhật ký như Th mà lại phải chờ đến ngày 8.4.68 mới viết   tức là sau ngày viết thư cho anh Niệm gần hai năm?.

Cuốn ''Nhật ký Đặng thuỳ Trâm'' của nhà xuất bản Hội nhà văn Việt Nam phát hành bao gồm hai cuốn nhập lại : Cuốn một viết từ ngày 8.4.68 đến 4.12.69. Cuốn hai từ ngày 31.12.69 đến 20.6.70 chính xác ngày tháng năm so với bản chép tay không có gì bàn cãi. Vấn đề ở chỗ ở cuốn thứ nhất có nhiều dữ kiện chưa hợp lý khi căn cứ vào nội dung nhật ký đã ghi.

- Trong thời gian này, Th biết mình đã mất hai cuốn ngày 28.6.69 trong một trận giặc càn vào Đồng Răm. ( Khi Th đang viết những dòng cho ngày 15.1.70 thì nhớ lại ngày 28.6.69 đó). Một thời gian hai mươi tháng, Th viết tới hai cuốn. Như vậy, số trang không đơn giản chỉ bấy nhiêu ?. Dĩ nhiên, ta thấy viết ít hay nhiều tuỳ thuộc vào khả năng người viết trong hoàn cảnh nào được cho phép. Nguyễn văn Thạc chỉ tám tháng viết 240 trang chép tay trong khi Th gần hai năm còn ít hơn con số trang của Thạc. Điều đáng bàn ở đây là Thạc không mất nhật ký mà Th lại mất. Chính vì vậy, số trang nhật ký hai năm cộng thêm phần cắt bỏ cũng chỉ bằng tám tháng của Thạc.

 Tôi chắc chắn rằng nếu không có một bằng chứng thêm nào về hai cuốn mất trước ngày 29.6.69 thì ĐTT đã viết ''hồi ký'' dưới dạng ''nhật ký'' bằng ''cái đầu'' nhớ lại của  mình như Th đã nói lấp lửng ở ngày 15.1.70. Vì viết lại bằng cái đầu nên có những dữ kiện rất đáng được ghi, Th lại như quên mà không ghi vào. Ví dụ như: Tháng ngày kết nghĩa với Nghĩa, Thường, nhất là nhân vật chị Khiêm. Nhân vật này có thật trong cuộc đời, còn sống và đã được   Ngọc Tấn ghi lại lời kể của chị trong bài: '' Đặng thùy Trâm qua lời kể của chị kết nghĩa'' (web Việt nam.net). Chị kể lại là chị kết nghĩa với Th cùng Thường, Nghĩa, Thuận. Nhưng lạ thay, trong nhật ký, Th hình như chưa hề nhắc đến chi tiết về người chị kết nghĩa này ngoài từ ''chị hai'' hai lần trong cả cuốn sách và những lá thư Th viết cho chị ta với những câu quan trọng như nhờ chị mang nhật ký về cho gia đình cũng không được Th nhắc đến như sau:

 ''Một lần vào đầu năm 1968, Thuỳ Trâm cùng chúng tôi xuống đồng bằng cõng gạo. Biết đoạn đường qua Đồng Lớn địch thường phục kích, trước khi đi Thùy Trâm lấy cuốn nhật ký bỏ vào ăng-gô dặn tôi : ‘'Nếu em mệnh hệ gì thì chị nhớ gởi về cho gia đình em’''.  Kỳ quái ở đây là nếu chị Khiêm nói đúng thì ĐTT viết nhật ký trước năm 68. Cuốn đó giờ ở đâu ?.  Vì bản chép tay và sách in ghi rõ ràng ĐTT viết nhật ký bắt đầu từ 8.4.68 thì lấy đâu ra có cuốn viết ''đầu năm 68'' mà Th đã như ''trăn trối'' với chị Khiêm?.  Nếu ĐTT đúng thì chị Khiêm nhớ lầm. Giữa hai cái đúng sai này, ta không thể  chọn  một mà  cần dung hòa : Th viết nhật ký trước năm 68, tức là ít nhất năm 67. Đây chính là một trong hai cuốn mất tại Đồng Răm ngày 28.6.68.

 Theo chị Khiêm, Th viết thư cho chị ngày 20.10.69 nhưng dòng nhật ký của Th ngày đó chỉ ghi cảm xúc trước cái chết của anh Tám Vinh mà thôi. Tương tự, thư ngày 22.4.70  mà chị Khiêm nói, Th chỉ dành vỏn vẹn tám dòng cho ''em'' chớ không nói năng gì Th đã viết thư cho chị cả. Thư ngày 20.5.70 cũng cùng chung số phận vì ngày này, Th không ghi nhật ký.

 Như vậy xét về tính chất nhật ký của Th, những sự kiện như mình đã làm gì trong ngày? hầu như Th đã thiếu sót. Nhật ký là phải ghi công việc của mình làm hằng ngày, những gì xảy ra trong ngày chứ không phải chỉ có ''tiếng lòng''. ( Nhật ký của Thạc cũng vậy, chất trữ tình ngoài đề nhiều hơn  có thể thành ''tùy bút'' vì những trang nhật ký qúa ít ỏi). Xem ra, lời kể của người sống và sự ghi chép của người viết đã không ăn nhập gì với nhau cho lắm.

 - Nhật ký của Thạc có những trang viết về tình bè bạn, thầy trò thắm thiết về trường ĐHBK. Ở nhật ký Th, tình thầy trò hầu như vắng bóng mà bạn bè cũng không có những cái tên : Niệm, Nhàn, Điềm, Huy...những người đã được Th viết thư thường xuyên như lời họ kể. Có gì kỳ lạ?.

Có lẽ vì ''hồi ký'' nên Th đã chẳng thể nào nhớ hết ?. Cũng không thể nghĩ xa hơn sự trung thực của Th. Như chúng ta đã thấy, Th không ghi mở đầu cho cuốn một là ''Nhật ký 1968'' hay ''Nhật ký 1969'' như Th đã ghi rõ trong cuốn hai ( mất tại Ba Tơ và Th hy sinh ở đây) là ''Nhật ký 1970 Xuân Canh Tuất ''. Biên tập không chú ý và nhà xuất bản đã lầm tưởng toàn bộ là nhật ký.

 - Có thể nói : Th đã ''hồi ký'' toàn bộ hai cuốn nhật ký đã mất từ ngày 8.4.68 đến ngày 28.6.69. ( Lại xảy ra sự việc nữa là đã ''hồi ký '' sao Th không ''hồi ký'' luôn những trang trước năm 68 hay đầu năm 68 như chị Khiêm kể ?) . Sau đó, Th trở lại viết nhật ký như thường từ ngày 29.6.68 trở đi đến 4.12.69 thì dứt cuốn một như bây giờ. Nhưng ta có thể suy luận một chút: Nhật ký mất ngày 28 mà qua ngày 29, Th cũng không có lấy một chữ nào về sự mất mác hai cuốn nhật ký thì coi bộ cô ĐTT này chẳng tha thiết gì đến kiếp tầm ''rút ruột nhả tơ'' của mình mà Th cho là ''rất qúy báu''?.  Phải mất gần bảy tháng sau, Th mới cho người đọc biết mình mất hai cuốn nhật ký?.   Đó là một điều khó tin cho một con người yêu thích viết nhật ký. Vả lại, nếu Fred lấy được cuốn vừa hồi ký, vừa nhật ký này thì lấy ở chỗ khác chớ nhất định không phải ''tại Đồng Răm''.  Như vậy, trường hợp nào mất và mất lúc nào?.

- Mất hai cuốn đầu, nếu Th không ''hồi ký'' lại thì lấy đâu ra cho chàng sĩ quan tình báo Fred thu được cuốn hiện giờ đầy đủ  nhất mà nhà xuất bản hội nhà văn Việt Nam in sách bán?. Giả sử Fred lấy được thì chỉ lấy một trong hai cuốn đã mất vì cuốn thứ hai Fred có được là lúc Th bị bắn chết tại vùng núi Ba Tơ. Nhưng Th viết ''giặc đã cướp đi của mình hai cuốn nhật ký'' tại Đồng Răm thì Fred phải lấy hai cuốn tại đây chớ sao có một cuốn?. Nếu một cuốn thì chắc chắn ngày tháng năm sẽ không bao giờ có đầy đủ liên tục như bây giờ ta đọc được. Th làm sao có lại hai cuốn đã mất mà viết tiếp những trang cho đến ngày 4.12.69?.

- Còn một vấn đề nữa cần bàn ở đây: Nếu thật sự hai cuốn đã mất ngày 28.6.69 thì Th đã lấy cuốn khác mà viết tiếp trang 29.6.69 đến ngày 4.12.69. Một thời gian gần năm tháng, Th viết chỉ hơn hai mươi trang nhật ký !. Với cuốn sách vỏn vẹn hơn hai mươi trang thì lý do nào Th phải đổi cuốn khác mà viết  bắt đầu từ 31.12.69 đến ngày cuối cùng 20.6.70?. Như vậy, sơ sơ, Th đã có đúng ba cuốn nhật ký từ ngày 28.6.69 đến 4.12.69. Nhưng nội dung ba cuốn này thì chạy về nhập cục lại trong bản chép tay của Th ngon ơ. Thật không tưởng tượng nổi có một bàn tay  vô hình nào đó như trêu cợt lịch sử!. Nếu Fred lấy thêm một cuốn nữa thì chỉ có lấy một trong ba cuốn đó mà thôi. Sao cuốn chép tay này của Th lại đầy đủ như chưa hề bị mất cuốn nào?. Th có trung thực hay không ?

- Xét lại, Th quả thật có mất hai cuốn nhật ký nhưng cuốn thứ ba với hơn hai mươi trang thì chưa chắc có. Chỉ tồn tại một giả thuyết : Th viết hồi ký và nhật ký trong thời gian 8.4.68 đến 4.12.69  và cuốn này đã mất trong một trận càn nào mà Th cũng không nhắc tới cũng chính là cuốn thứ nhất mà Fred lấy được. Th lại không nhắc tới mất mác này trong cuốn nhật ký 1970 cuối cùng ngay ở trang đầu tiên?.

Nhìn tận mắt, đọc cuốn sách in và so bản chép tay của ĐTT (Bản chép tay in ra từ mạng của trường đại học Texas, Mỹ),  người đọc cứ thấy thời gian nhật ký trôi đi tuồn tuột như không vướng mắc cọng gai chùm kết nào cũng như không hề có chuyện Th mất hai cuốn nhật ký trước cuốn thứ hai gần cả năm trời!. Người đọc cứ tưởng Th chỉ có hai cuốn nhật ký bị mất và người Mỹ đã lấy được, đã cất giữ và trả lại sau ba mươi lăm năm !.

- Như vậy, nếu không có gì đủ chứng minh cuốn một là nhật ký hoàn toàn thì nó chỉ là hồi ký phần đầu trong cuốn một ( 68-69 ) viết dưới dạng nhật ký. Vấn đề xác định loại thể một tác phẩm xin nhường lại cho những nhà nghiên cứu văn học xem xét và cho kết quả.

2. Ảnh hưởng tính trung thực của tác phẩm ''Nhật ký ĐTT'' và tác giả :

      a. Điều chỉnh lại không muộn:

Những người nước ngoài đang nhìn về ''Nhật ký ĐTT'' bằng con mắt thán phục hai chiều vì Việt Nam là nước có nhiều phụ nữ ra trận đã trở thành anh hùng. Những đài SBC, BBC , những mạng web hay báo chí nước ngoài như : Houston Chronicle, Guardian, Charlotte Observer, English Forum, The Independent, Xieng-Ixan..( theo Hoài Việt ) đều có những lời hết sức tốt đẹp về cuốn sách dù có những bài viết chống lại sự tuyên truyền hiện tượng ĐTT thái quá.

Cho nên, nếu người ta đã xem cuốn sách này như ''cầu nối'' tình dân tộc với dân tộc thì sẽ hụt hẩng khi biết người viết cuốn nhật ký này chưa rõ ràng nếu không nói là chưa xác thật với dữ kiện mất mác và thiếu một chứng minh về một cuốn sách ''hồi ký hay nhật ký''?. Và điều kiện nào đã khiến những cuốn mất nhiều hơn cuốn được lấy mà nội dung không thiếu phần nào ?. Một cuốn sách chưa minh bạch thể loại. Thời điểm mất và có lại chưa thống nhất vì người viết đã ghi lại những dữ kiện thiếu tính xác thực. Lỗi này không phải ở những người Mỹ hay người dịch hoặc biên tập và xuất bản mà ở chính tác giả. Nhưng cuốn sách lại được in ấn trong sự tùy tiện cắt xén, thêm thắt từ ngữ mất tính trung thực gây nhiều làn sóng bất mãn là lỗi về phía biên tập, nhà xuất bản và nơi cấp giấy phép. Điều này dẫn tới những cuốn nhật ký đã phát hành trước và sau đó bị đặt trong nghi vấn như nhật ký ĐTT.

Thương yêu, kính trọng anh hùng, liệt sĩ, thương binh, ta cứ thương, cứ kính. Tự hào dân tộc thì vẫn tự hào nhưng lịch sử cần sự trung thực còn con người cần sự ''tín dụng''. Khi một người bị ''bad credit'' về kinh tế thì có thể lấy lại chữ đó nhưng  trong tư cách làm người, nếu mất hai chữ ''tín dụng'' coi như tàn một đời!.

Với ĐTT, khi nào chưa xác định những nghi vấn trên thì đừng vội ''khua chiêng gõ trống''.  ĐTT từng viết: Khán giả chỉ vỗ tay khi diễn viên hay. Ai đang làm diễn viên?. Ai là khán giả?. Sự thật lúc nào cũng đi sau những nghi vấn khi được hóa giải. Nếu không, tất cả chỉ còn là sân khấu với diễn viên mà không khán giả. Mọi chuyện  sẽ trở nên tốt đẹp, chỉ cần biên tập và nhà xuất bản ghi vài câu vào bìa : ''Nhật ký và hồi ký Đặng thùy Trâm'' cùng nguyên bản những gì Th đã viết là đủ. Người đọc sẽ cảm thông và những nghi vấn trên nếu tìm ra được thì tốt, bằng không thì ''hãy để ngày ấy lụi tàn ''. Ai đi bới tro than tìm mảnh áo tàn lần nữa cho thêm đau xót.

b. Một sự thực nhật ký vẫn còn giá trị:

Dù sao đi nữa, ta không phủ nhận nội dung cuốn sách in và chép tay của ĐTT. Nó vừa là bài ca ca ngợi vừa là bản cáo trạng :

- Với cán bộ Đảng : Là mẹ hiền, đồng thời là mẹ ghẻ. ( Ta đừng quên gia đình Đảng chỉ có...mười ba người mẹ mà phải chăn tới ba mươi triệu ''con ruột'' và hơn năm mươi triệu ''con ghẻ'' thì còn thần thánh nào hơn mà không lăn ra ...phục sát đất luôn. Một gia đình đủ hai vợ chồng chăn bốn đứa con còn muốn...tắt thở, huống hồ...). Là thiểu số thống trị đa số. Là trên còn phải tuỳ thuộc vào dưới (phép vua thua lệ làng). Là đội quân tiên phong lẫn lũ sâu, lũ mọt. Là những cán bộ tốt bụng đi chung với những kẻ ghen tị, nhỏ nhen, tham nhũng từng đồ vật...

- Với đồng chí, đồng nghiệp: Thương yêu, giúp đỡ nhau và có người không muốn người khác hơn mình thường tìm cách khoét về ''chuyên môn''.

- Với cuộc đời, quê hương: Sống chết cho xứng là người chân chính và cũng có nhiều người khi đất nước cần thì tìm cách thoái lui.

- Với tình yêu: Dám yêu hết mình, dám thương một đời, dám giận một kiếp bên cạnh những kẻ có mắt cú vọ xoi mói và những người coi nhẹ tình yêu.

- Nhắn gởi cuối cùng : Hãy yêu thương nhau lúc sống để không vô nghĩa khi thể hiện tình thương lúc chết.

Hồi ký hay nhật ký quan trọng ở chỗ tính chân thực cần làm sáng tỏ còn nội dung xuyên suốt vẫn là vấn đề ''làm sao sống và chết như một người chân chính''  mà chúng ta trăn trở hôm nay.Tất nhiên, nếu một cuốn sách nhật ký không có vấn đề thiếu tính chính xác thì nội dung sẽ được nâng cấp cao hơn và đi vào lòng người nhẹ nhàng hơn một cuốn nhật ký ''có vấn đề'' từ khâu tác giả viết rồi mất đến kẻ lấy được, người kể, người biên tập và khâu xuất bản.

Thế giới con người với mọi đức tính đều có trong ''Nhật ký ĐTT''. Ta là ai trong những mẫu người ấy?. Soi bóng mình vào gương hôm nay để luận bàn lịch sử tương lai sao mà buồn như chưa bao giờ biết buồn!. Ngay cả nhật ký mà cũng nhiều cái để bàn thì cuộc đời phức tạp đến mức nào!. May sao! Tiếng cười vô tư của con ta đã nhắc ta trở về thực tại: Hiện thực là những tờ giấy trắng cho con ta đến trường với dòng chữ mở đầu ''xin gởi tặng quê hương''. Yêu thương dạy con ta mang về điểm mười. Hận thù dạy con ta trở về với con dao, khẩu súng trên tay. Đó sẽ là một đáp số cho những gì ta đầu tư hôm nay cho con em ta tương lai . Thế mới nói:

           Hào quang nào lóe lên rồi cũng tắt
           Sự thật trụi trần- dao khắc vết vào tim-.

Nhà thơ Phùng Quán trong ''Lời mẹ dạy'' có viết:

             Dù ai ngon ngọt nuông chiều
             Cũng không nói yêu thành ghét.
             Dù ai cầm dao dọa giết
             Cũng không nói ghét thành yêu
    ....     Bút giấy tôi ai cướp giật đi
             Tôi sẽ dùng dao viết văn trên đá.

Sự thực của ''Nhật ký Đặng thùy Trâm'' về cộng, trừ, nhân, chia ...đã làm xong. Coi như NTH ta đã mang lại cho độc giả chút hương vị cà phê đắng sau những giờ giải lao và tiếp tục quay trở lại công việc của mình quan trọng hơn nhâm nhi ly cà phê đen này.

Theo như Phùng Quán, coi bộ NTH ta cũng sắp tới ngày ''bẻ bút cầm dao''!. Bỏ bút, bỏ đao, ta còn sống ào ào chớ bỏ cái ...cọ nghề chắc ta dùng xương thay áo!.

Anh hùng ĐTT làm cho ta đây nổi sóng bất bình ''rút đao tương trợ'', ai dè đâu đao ta lại vì chữ ''nghĩa khí'' mà tìm đến một sự thật trần truị thì coi như ta cũng tự chém ta một nhát vào lương tâm vậy. Mong rằng hương hồn Th chớ có giận ta. Hãy coi đây như một khúc nhạc lòng mà ta đưa tiễn những đau thương của Th đi về  một cõi mênh mông...

Nhật ký! Bản thân nó là một sự thật    chín mươi phần trăm thì cũng đừng biến nó xuống cấp đã được có của nó. Đời ngắn ngủi sao ta không một lần sống với lương tâm. Đó cũng là tiếng lòng của ĐTT cách ba mươi bảy năm về trước.

''Đặng thùy Trâm -Bài thơ gởi lại-'' có nắng ấm trên quê hương, có lý tưởng của con người sống trong một  thời đại, một chế độ, có lửa căm hờn, có những tình yêu thương một đời khó giải, có bốn mùa đi qua nỗi nhớ thiết tha và những giọt nước mắt trộn máu đã hoá thành những đám mây ngũ sắc trong gió thanh bình. Hãy để nguyên cây ngũ sắc ấy và nếu  muốn bắt sâu cũng xin chớ chặt cành .

Và người đời hãy chọn lấy sắc màu nào mình thích, mình yêu. Có hơn không?. Cuộc đời đi qua chúng ta mỗi ngày như từng trang nhật ký mà chúng ta vô tình không hay biết đó thôi !.

Hãy chăm chút cho'' nhật ký'' của người còn sống. Những gì tốt đẹp trong cuộc đời hãy dành cho nhau đừng chờ khi chết rồi mới biết yêu thương những  hồn  ma hư ảnh đã tan thành mây gió mong manh...

                                                                         Tháng 10/28/05
                                                                         Ngọc thiên Hoa

TƯ LIỆU THAM KHẢO CÓ SỬ DỤNG:

1. Nhật ký Đặng thùy Trâm, nxbhnvVN 2005.

2. Mãi mãi tuổi hai mươi, nxbTN 2004.

3. VN 1945-1995, tập I, Lê xuân Khoa, Tiên Rồng 2004.

4. Đại cương Lịch sử VN, tập III, nxbGD 2004.

5. Văn bút Châu Âu, tập II, Viên giác 94.

6. Hà Nội một thời xa, Lê văn Ba, nxbTN 2002.

7. Phận bạc, Làng văn, 1997.

8. Tiểu thuyết VN hiện đại, Phan cự Đệ, nxbGD 2001.

9.Tự điển tác giả, tác phẩm dùng trong nhà trường, nxbĐHSP, 2004

10.Đặc san ''Lướt sóng'', 2002.

11.Những trích đoạn thơ của các tác giả ( đã ghi rõ trong bài )

12.Những bài viết lẻ trên các web đã ghi rõ nơi xuất xứ trích dẫn cũng như tác giả trong bài viết.

          Xin chân thành cám ơn.

 

© Copyright 2005 giaodiem.com

 

 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

 

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com